Negev

Negev (còng được gọi là Negeb; tiếng Hebrew: נֶּגֶב, phát âm Tiberia: Néḡeḇ, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: Necef Çölü) là một khu vực hoang mạcbán hoang mạc nằm về phía nam của Israel. Người Ả rập, bao gồm người bản địa Bedouin gọi khu vực này là al-Naqab (tiếng Ả Rập: النقب‎). Nguồn gốc của từ Negev bắt nguồn trong tiếng Hebrew có nghĩa là 'khô'. Trong kinh thánh từ Negev được dùng để chỉ về hướng nam.

Zin Valley in the Negev Desert of Israel 2
Thung lũng Zin nhìn từ Midreshet Ben Gurion, nơi chôn cất David Ben-Gurion.

Địa lý

NachalParan1
Wadi ở Nahal Paran, Negev, Israel.

Hoang mạc Negev chiếm hơn một nửa diện tích của Israel, vào khoảng 12.000 km² (4.600 dặm vuông) và chiếm trên một nửa diện tích đất liền của nước này[1]. Sa mạc này có hình tam giác đảo ngược với đỉnh nằm dưới, bờ phía tây nối liền với sa mạc của Bán đảo Sinai, và bờ phía đông nằm ở thung lũng Arabah. Sa mạc Negev chứa đựng trong nó nhiều thắng cảnh thiên nhiên và đặc điểm văn hóa kỳ thú. Đặc biệt là ba kiến tạo địa hình giống như hố thiên thạch được gọi là makhtesh, độc nhất cho khu vực này bao gồm: Makhtesh Ramon, Makhtesh Gadol, và Makhtesh Katan.

Negev là một sa mạc đá. Địa hình của nơi này là một sự kết hợp giữa các ngọn núi nâu, đầy đá, bụi bị ngắt quãng bởi các wadi (các dòng sông khô cằn chỉ có nước sau mưa) và các miệng núi lửa. Có thể chia sa mạc làm năm vùng địa lý khác nhau: bắc, tây và trung tâm Negev, cao nguyên và thung lũng Arabah. Khu vực bắc Negev, hay vùng Địa Trung Hải nhận được 300 mm nước mưa hằng năm và có đất đai tương đối màu mỡ. Khu vực tây Negev nhận được khoảng 250 mm nước mưa hằng năm, và có đất xốp và được bao phủ một phần bởi cát. Các đụn cát có thể đạt chiều cao mét ở khu vực này. Là nơi tọa lạc của thành phố Beersheba, khu vực trung tâm Negev có lượng mưa hằng năm là 200 mm và đất ở nơi này có đặc điểm là không thấm nước, do đó nước chảy thành dòng trên mặt đất gây ra xói mòn, với chỉ có một lượng ít nước là có thể ngấm vào đất. Khu vực cao nguyên của Ramat HaNegev (tiếng Hebrew: רמת הנגב‎, The Negev Heights) nằm trên mặt nước biển trong khoảng 370 mét và 520 mét với khí hậu, có khí hậu khắc nghiệt với nhiết độ đặc biệt cao trong mùa hè và xuống thấp trong mùa đông. Khu vực này nhận được 100 mm nước mưa hằng năm, và đất ở đây kém màu mỡ, một phần bị nhiễm mặn. Thung lũng Arabah nằm dọc theo biên giới Jordan kéo dài 180 km từ Eilat ở phía nam đến đầu mút biển Chết ở phía bắc. Thung lũng Arabah có khí hậu đặc biệt khô cằn chỉ nhận được 50 mm mưa hằng năm. Đất ở nơi này cằn cỗi và chỉ một vài loài thực vật có thể sinh trưởng mà không cần tưới tiêu và bổ sung thêm đất màu.

Khí hậu

Khí hậu của sa mạc Negev đặc biệt khô hạn, chỉ nhận được rất ít mưa do vị trí nằm ngay phía đông sa mạc Sahara (đối lập với khu vực Địa Trung Hải ở phía tây Israel), và nhiệt độ cao nhất nằm ở vĩ tuyến 31 bắc.

Lượng mưa trung bình từ tháng 6 đến tháng 10 là bằng không.[2]

Lịch sử

MakhteshGadolAcacia
Cây Acacia ở Makhtesh Gadol.

Du mục

Các cư dân du mục xuất hiện tại Negevdates ít nhất là 4.000 năm trước đây [5] và có thể là đến 7.000 năm trước.[6] Các khu định cư đầu tiên được thành lập bởi một phức hợp các nhóm Canaan, Amalekite, và Edomite khoảng 2000 năm trước công nguyên.[5] Các Pharaon Ai Cập được cho là đã truyền kỹ thuật nấu và khai thác đồng đến Negev và Sinai trong khoảng 1400 và 1300 năm trước công nguyên.[5][7]

Kinh thánh

Theo ghi chép Kinh thánh Hebrew, phía bắc Negev là nơi định cư của Bộ lạc Judah và phía nam Negev là Bộ lạc Shimon. Sau đó Negev trở thành một phần của Vương quốc Solomon và sau nữa là Vương quốc Judah.

Trong thế kỷ 9 trước công nguyên, việc phát triển và mở rộng khai khoáng ở cả Negev và Edom (Jordan ngày nay) xảy ra đồng thời với sự bành trướng của Đế quốc Assyria.[8] Thành đô Beersheba vốn là thành phố chính của vùng và là trung tâm giao thương trong thế kỷ 8 trước công nguyên.[8] Các khu vực định cư nhỏ của người Do Thái trong các vùng quanh Beersheba tồn tại trong khoảng thời gian giữa năm 1020 và 928 trước công nguyên.[8]

Nabataeans

Ruins in Negev desert Israe
Các tàn tích trong sa mạc Negev.

Vào thế kỷ 4 trước công nguyên, sự có mặt của người Nabateans mang lại sự phát triển hệ thống tưới tiêu, nhờ đó đã giúp phát triển năm khu vực định cư là: Avdat, Mamshit, Shivta, al-Khalasa (hay Elusa), và Nitzana.[8] Người Nabateans cũng kiểm soát việc buôn bán và tuyến đường gia vị giữa thủ đô Petra của họ và cảng biển Gazan. Tiền tệ của người Nabatean và các mảng gốm sứ đỏ và nâu, được xác định là một dấu hiệu của nền văn minh của họ, vẫn được tìm thấy dọc theo tuyến đường xưa kia.[8]

Việc người Nabataeans kiểm soát miền nam Palestine đã kết thúc thời kì đế quốc La Mã sát nhập các vùng đất của họ vào lãnh thổ đế quốc năm 106 sau công nguyên.[8] Dân số ở đây gồm phần lớn là các bộ lạc du cư người Ả rập và người Nabataeans định cư, phần lớn vẫn theo lối sống bộ lạc và độc lập đối với người La Mã với một hệ thống tôn giáo theo thuyết vật linh.[8]

Byzantine và La Mã

Dưới thời Đế quốc Byzantine cai trị vào thế kỷ thứ tư sau công nguyên, đạo Cơ đốc được truyền tới Negev.[8] Các thành phố sống dựa vào nông nghiệp được thiết lập và dân số tại đây tăng đột biến.[8]

Người Bedouin: dân cư và lịch sử từ năm 1000 sau công nguyên đến năm 1948

Các bộ lạc du mục sinh sống ở Negev phần lớn đều độc lập với nhau và ít bị quy phục trong khoảng thời gian một ngàn năm tiếp theo.[8] Hầu hết những kiến thức chúng ta biết về khoảng thời gian này ở Negev đều do các câu chuyện lịch sử truyền miệng và các truyện dân gian bắt nguồn từ khu vực Wadi Musa và Petra, nơi mà hiện nay thuộc Jordan[8]

Người Bedouin ở Negev tồn tại trong lịch sử chủ yếu dựa vào chăn nuôi cừu và dê. Sự khan hiếm nước và nguồn cỏ ăn cho gia súc khiến họ di chuyển thường xuyên và sống theo lối du mục. Người Bedouin trong quá khứ cũng đã thiết lập được một vài khu định cư dài hạn, nhưng sau đó những căn nhà đá của họ lại bị bỏ hoang và được gọi là 'baika.' [6] Năm 1900, Đế quốc Ottoman thiết lập một trung tâm cai quản miền nam Palestine nằm tại Beersheba, họ xây dựng ở đây trường học và một trạm xe lửa.[8] Trong khi đó, chủ quyền của các thủ lĩnh bộ lạc ở khu vực này vẫn được thừa nhận bởi người Ottoman.[8] Một đường ray nối nơi này với cảng Rafah được xây. Đến năm 1922, dân số ở đây là 2.356 người, bao gồm cả 98 người Do Thái và 235 người Cơ đốc giáo.[9] Nhưng theo một bản báo cáo năm 1914, chính quyền người Turk đã ước tính dân số của các bộ lạc du mục vào khoảng 55.000 người.[10]

Trước năm 1948, các cuộc điều tra dân số chủ yếu đề cập đến năm bộ lạc chính ở Negev: Tayaha, Tarabn, Azazma, Jabarat và Hanajra.

Nền văn hóa bộ lạc và lối sống của người Bedoin đã có những biến đổi quan trọng trong thời gian gần đây, ngày nay khó mà tìm thấy được một cư dân Bedouin nào của Israel còn duy trì lối sống du mục.[11]

Người Bedouin ở Israel 1948-nay

Rahat largest Bedouin city in Israel
Rahat, thành phố lớn nhất của người Bedouin ở Negev.

Trong khoảng thời gian từ năm 1948 đến năm 1967, Nhà nước Israel tiến hành các cuộc chiến tranh kiểm soát các vùng đất của người Ả rập và xác định rằng 85% đất của người Negev là "Đất Nhà nước." Do đó tất cả cư dân Bedouin sinh sống trong các khu vực sinh sống trước đây đều bị coi là bất hợp pháp và "không được công nhận." Hiện tại các vùng đất của người Negev sinh sống trên 500 năm đều được xác định là đất của nhà nước, do đó người Bedouin không còn có thể làm các công việc nuôi sống chính bản thân họ là trồng trọt và chăn nuôi. Sau đó chính phủ đã ép buộc các bộ lạc Bedouin định cư trong khu vực tam giác Siyag tạo bởi ba đỉnh là Beersheba, AradDimona [12]. Hiện nay, có ít nhất 75.000 cư dân sinh sống trong 40 ngôi làng không được công nhận.

Beer-Sheeva Negev
Rìa phía bắc Makhtesh Ramon trên đường nối giữa BeershebaEilat.

Nhằm siết chặt lệnh cấm chăn nuôi ngoài khu vực Siyag, chính phủ đã thiết lập một cơ chế ràng buộc thông qua Luật Dê Đen năm 1950. Luật này ngăn cấm chăn thả súc vật bên ngoài các phần đất được nhà nước công nhận cho các cá thể vì lý do ngăn chặn sự xói mòn đất. Do đó rất ít phần đất do người Bedouin tuyên bố chủ quyền được công nhận, và pần lớn đất chăn thả bị đưa vào diện bất hợp pháp. (Trước kia cả người Ottoman và Anh đều thất bại trong việc kiểm soát vùng Negev. Phần lớn người Bedouin đều chọn giải pháp không đăng ký đất đai của họ nhằm tránh các khoản thuế từ nhà nước). Những người Bedouin trước kia không đăng ký đất đai của họ, gần như không thể chăn thả dê chỉ trong khu vực cho phép, và vào thập niên 1970 và 80, chỉ còn lại một thiểu số người Bedouin vẫn tiếp tục nghề chăn dê của cha ông họ. Thay vì sống theo lối du cư tìm đồng cỏ cho đàn dê, đa số người Bedouin chuyển sang tìm kiếm các công việc được trả lương.[13]

Năm 1979, Bộ trưởng Nông nghiệp Ariel Sharon ra tuyên bố rằng 1.500 kilomet vuông ở Negev, trở thành khu bảo tồn tự nhiên, khiến cho phần lớn diện tích Negev nằm ngoài vùng chăn thả của người Bedouin. Thêm vào đó, ông còn thành lập lực lượng 'Tuần tra Xanh,' [14] là 'đơn vị bán vũ trang môi trường' có nhiệm vụ ngăn chặn những người Bedouin ‘xâm nhập' vào đất đai quốc gia Israel không cho họ chăn thả gia súc ở nơi này. Trong suốt nhiệm kỳ Bộ trưởng Nông nghiệp của Sharon (1977–1981), lực lượng Tuần tra Xanh đảo dỡ bỏ 900 lều trại của người Bedouin và cắt giảm số lượng người chăn thả xuống hơn 1/3.[15] Ngày nay, dê đen ở nơi này gần như rơi vào tình trạng tuyệt chủng, và người Bedouin ở Israel không có đủ lông cừu để dệt lều cho chính họ. Bị cưỡng ép từ bỏ phương cách sinh sống của cha ông, chịu thiệt thòi về khả năng tiếp cận nước, điện, đường sá, giáo dục, và chăm sóc sức khỏe ở các ngôi làng không được công nhận, và tin tưởng vào lời hứa của chính phủ rằng họ sẽ nhận được các dịch vụ nếu rời đi; trong thập niên 1970 và 80, mười ngàn nười Bedouin đã tái định cư tại 7 thị trấn hợp pháp được xây dựng bởi chính phủ.[16] Tuy nhiên, các thị trấn này thiếu các cơ sở kinh doanh tạo đủ việc làm cần thiết và lan tràn các tệ nạn xã hội do tình trạng thiếu việc làm[17].

Negev hiện tại

Ngày nay, ít nhất 80.000 cư dân Bedouin sống trong các ngôi làng không được công nhận dưới nguy cơ bị dỡ bỏ bất cứ lúc nào; những cư dân này luôn chống lại việc di dời thông qua Luật Chống Xâm nhập.[18]

Campus at Jacob Blaustein Institutes for Desert Research
Sân Học viện nghiên cứu sa mạc Jacob Blaustein, là trung tâm nghiên cứu năng lượng mặt trời của Israel.

Thành phố lớn nhất trong vùng và trung tâm hành chính là Beersheba (dân số 185.000), nằm ở phía bắc. Nằm về phía nam gần vịnh Aqaba của vùng có thành phố du lịch Eilat. Nơi này có vài thị trấn phát triển bao gồm Dimona, Arad, Mitzpe Ramon, tồn tại song song với các thành phố nhỏ của người Bedouin gồm Rahat và Tel as-Sabi. Nơi đây có vài kibbutz, bao gồm Revivim và Sde Boker; nơi mà Thủ tướng Israel đầu tiên nghỉ hưu, David Ben-Gurion, sau khi rời khỏi chính trường.

Negev là nơi đặt trụ sở Đại học Ben-Gurion của Negev, bao gồm các cơ sở Học viện nghiên cứu Sa mạc Jacob Blaustein và Trường Quốc tế nghiên cứu Sa mạc Albert Katz, cả hai đều tọa lạc tại Midreshet Ben-Gurion cận kề với Sde Boker.

Ngày nay, Negev là nơi có sự hiện diện đông đảo quân đội Israel và là nơi toạ lạc nhiều căn cứ chính của Các Lực lượng Phòng vệ Israel. Vào năm 2010, Negev là nơi sinh sống của khoảng 630.000 người, (hay 8,2% dân số Israel) trong khi sa mạc này chiếm hơn 55% diện tích đất liền nước này. 470.000 cư dân chiếm 75% dân số ở Negev là người Do Thái trong khi 160.000 người chiếm 25% dân số là người Negev Bedouin.[19] Trong thiểu số người Bedouin; một nửa sống trong các ngôi làng không được công nhận, và một nửa sống trong các thị trấn được xây dựng bởi chính phủ trong khoảng thời gian giữa hai thập niên 1960 và 1980 như Rahat, đồng thời là thành phố lớn nhất được xây.

Các vấn đề môi trường hiện tại

85% diện tích Negev được sử dụng bởi Lực lượng phòng vệ Israel nhằm mục đích huấn luyện.[20] Phần còn lại được dùng cho mục đích dân sự, một số đông cư dân sinh sống trong các cộng đồng gần nhau với cơ sở hạ tầng khá nguy hiểm, bao gồm một nhà máy hạt nhân, 22 nhà máy hoá dầu, một kho dầu, các khu vực quân sự kế cận, các mỏ đá, một lò thiêu chất thải độc hại Ramat Hovav, một nhà máy năng lượng, các trạm tiếp sóng, vài sân bay, một nhà tù và con sông để xả chất thải.[17]

Midreshet Ben Gurion
Cảnh người nằm nghỉ trên mặt đất tại Midreshet Ben Gurion.

Thành phố Tel Aviv thải rác ra khu vực Sa mạc Negev,[21] tại bãi rác Dudaim. Năm 2005, Hiệp hội Các nhà sản xuất Israel quyết định bắt đầu lên kế hoạch di dời 60 trong 500 cơ sở công nghiệp đang hoạt động trong vùng Tel Aviv đến Negev.[22]

Nhà máy chất thải độc hại Ramat Hovav được xây dựng trong khu vực Beer Sheva và Wadi el-Na'am vào năm 1979 vì lý do những khảo sát trước đó cho thấy nơi đây có thể tránh được rò rỉ chất đội ra môi trường. Tuy nhiên, chỉ trong vòng mười năm, các vết nứt được tìm thấy trong nền đá dưới nhà máy Ramat Hovav.[23] Và kể từ phát hiện này, tại nhà máy đã xảy ra liên tiếp nhiều tai nạn và nhiều lần phải tạm ngưng hoạt động; trong quá khứ, hội đồng vùng thường xuyên khám phá ra các hồ nước bay hơi của nhà máy hóa học Ramat Hovavhad bị quá tải và nước thải bị rò rỉ từ ống xả vào hồ chứa nước. Gần mười năm sau khi được thành lập, sự trồi lên của nền đá vôi bên dưới Ramat Hovav làm xuất hiện các mảnh nứt có nguy cơ dẫn đến các tai nạn ô nhiễm đất và nguồn nước ngầm trong tương lai.[15]

Năm 2004, Bộ trưởng Y tế Israel công bố các khám phá nghiên cứu của Đại học Ben Gurion giải thích các vấn đề sức khỏe của các cộng đồng dân cư nằm trong khu vực phụ cận trong vòng bán kính 20 km quanh nhà máy Ramat Hovav. Nghiên cứu này, được tài trợ phần lớn bởi nhà máy Ramat Hovav, phát hiện thấy tỉ lệ ung thư và tử vong của 350.000 người sống trong khu vực đã lên tới mức khủng hoảng sức khỏe công cộng. Trước khi được công bố cho các phương tiện truyền thông thông qua nguồn vô danh, nghiên cứu sơ bộ đã khiến công chúng thiếu tin tưởng;[24] tuy nhiên, kết luận cuối cùng – rằng các cư dân Bedouin và Do Thái sống gần Ramat Hovav dễ bị mắc bị mắc các chứng sẩy thai, khuyết tật bẩm sinh nghiêm trọng, và các bệnh hô hấp hơn phần còn lại của dân số - được các cấp chính phủ thông qua vài tháng sau đó.[25]

Blueprint Negev planned community
Một cộng đồng nhà di động Blueprint Negev.

Quỹ Quốc gia Do Thái dã giới thiệu chương trình Blueprint Negev vào năm 2005, đây là một kế hoạch trị giá 600 triệu dollar nhằm mục đích thu hút 500.000 các người định cư mới đến Negev và xây dựng các khu định cư mới cho họ. Theo dự kiến, kế hoạch sẽ làm tăng dân số ở Negev lên đến 250.000 người vào năm 2013, cải thiện cơ sở hạ tầng giao thông, tạo các cơ hội việc làm và kinh doanh, bảo tồn nguồn nước và bảo vệ môi trường.[26] Kế hoạch Blueprint Negev tạo các con sông nhân tạo trong sa mạc, hồ bơi và các sân golf dấy lên mối quan ngại giữa các nhà môi trường về vấn đề thiếu nước ở Israel.[27][28] Động cơ chính dẫn đến các chỉ trích là phương cách xử lý thích hợp đối với việc tăng dân số không phải là thu hút thêm hàng trăm ngàn người định cư mới, và việc giải quyết vấn đề phát triển quá mức ở phía bắc không phải là xây dựng các không gian mở cuối cùng trong khu vực đông dân cư thứ nhì của đất nước; mà phải lập một kế hoạch duy nhất phát triển các mảng xanh cho các trung tâm dân cư đang sinh sống ở Negev, đầu tư vào các cơ sở đảm bảo sinh hoạt cho các ngôi làng Bedouin, dọn dẹp nhiều nhà máy độc hại (như Ramat Hovav), và phát triển một kế hoạch khả thi tập trung tạo việc làm hơn là làm tăng làn sóng nhập cư và tạo việc làm cho họ.[29][30][31][32]

Năng lượng mặt trời

David Faiman of the Ben-Gurion National Solar Energy Center
Nhà khoa học David Faiman thuộc Trung tâm Năng lượng Mặt trời Quốc gia đứng trước chảo parabol mặt trời lớn nhất thế giới.

Sa mạc Negev và khu vực phụ cận, bao gồm Thung lũng Arava, là những vùng có nắng chiếu nhiều nhất của Israel và chỉ một phần nhỏ đất đai ở đây là có thể trồng trọt được, đây là những lý do khiến cho nơi này trở thành trung tâm công nghiệp mặt trời của Israel.[33] David Faiman, một chuyên gia hàng đầu thế giới về năng lượng mặt trời, dự đoán nhu cầu năng lượng trong tương lai của Israel có thể được đáp ứng bởi các nhà máy năng lượng mặt trời ở Negev. Hiện tại với chức vụ giám đốc Trung tâm Năng lượng Mặt trời Quốc gia Ben-Gurion, ông đang điều hành các chảo năng lượng mặt trời lớn nhất trên thế giới.[34]

Một công viên năng lượng mặt trời 250 MW ở Ashalim, một khu vực phía bắc Negev, đang được lên kế hoạch xây dựng trong vòng năm năm, và được mong đợi sẽ hoạt động sau năm 2013.[35] Năm 2008, công việc xây dựng ba nhà máy năng lượng mặt trời được khởi động gần thành phố; hai nhà máy nhiệt mặt trời và một quang điện.[36]

Tổ hợp Công nghiệp Rotem ở ngoại vi Dimona, Israel có công nghệ năng lượng mặt trời sử dụng các tấm kính tập trung tia nắng lên một ngọn tháp để đốt nóng nước để tạo ra hơi nước làm quay turbine tạo ra điện. Luz II, Ltd. lên kế hoạch sử dung công nghệ mới này để xây dựng ba nhà máy ở California cho Pacific Gas and Electric Company.[37][38][39]

Tham khảo

  1. ^ Kevin Avruch. “Topography”. A Country Study: Israel. Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2010.
  2. ^ “Beersheba, ISR Weather”. MSN. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2008.
  3. ^ “Averages and Records for Beersheba (Precipitation, Temperature and Records [Excluding January and June] written in the page)”. Israel Meteorological Service. Tháng 8 năm 2011.
  4. ^ “Records Data for Israel (Data used only for January and June)”. Israel Meteorological Service.
  5. ^ a ă â Mariam Shahin. Palestine: A Guide. (2005) Interlink Books. ISBN 156656557
  6. ^ a ă Israel Finkelstein; Avi Perevolotsky (tháng 8 năm 1990). “Processes of Sedentarization and Nomadization in the History of Sinai and the Negev”. Bulletin of the American Schools of Oriental Research (279): 67–88.
  7. ^ J.M. Tebes (2008) Centro y periferia en el mundo antiguo. El Negev y sus interacciones con Egipto, Asiria, y el Levante en la Edad del Hierro (1200-586 A.D.) ANEM 1. SBL - CEHAO.
  8. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k Mariam Shahin. Palestine:A Guide. (2005) Interlink Books. ISBN 156656557
  9. ^ Palestine, Report and General Abstracts of the Census of 1922, October 1922, J.B. Barron, Superintendent of the Census, tr 10.
  10. ^ ibid, Census of Palestine 1922,'Explanatory note',page 4.
  11. ^ Kurt Goering (Autumn 1979). “Israel and the Bedouin of the Negev”. Journal of Palestine Studies 9 (1): 3–20. doi:10.1525/jps.1979.9.1.00p0173n.
  12. ^ http://bustan.org/LIFE%20-%20BUSTAN%20-%20End%20of%20Self-subsistence%20-%20english.pdf
  13. ^ http://bustan.org/APRIL-%20CRIMINALIZING%20SELF-SUBSISTENCE.pdf
  14. ^ “Uprooting Weeds”. Truy cập 26 tháng 3 năm 2015.
  15. ^ a ă http://bustan.org/FEB%20-%20BEDOUIN%20AS%20ENVIRONMENTAL%20HAZARDS.pdf
  16. ^ Falah, Ghazi. "The Spatial Pattern of Bedouin Sedentarization in Israel," GeoJournal, 1985 Vol. 11, No. 4, tr  361–368
  17. ^ a ă http://www.alternativenews.org/news/english/bedouin-vilified-among-top-10-environmental-hazards-in-israel-20070418.html
  18. ^ http://www.zmag.org/content/showarticle.cfm?ItemID=9434
  19. ^ “A Bedouin welcome”. ynet. Truy cập 26 tháng 3 năm 2015.
  20. ^ http://bustan.org/OCT%20-%20NFW%20-%20American%20Money%2C%20Demographics%20and%20Negev%20Development.pdf
  21. ^ Gali Berger. "Sin of waste / Municipal garbage that's out of sight, out of mind"; Haaretz, ngày 12 tháng 10 năm 2005
  22. ^ Hadas Manor."Manufacturers promoting transfer of 60 factories to Negev"; Globes - ngày 11 tháng 8 năm 2005
  23. ^ http://bustan.org/2007/08/a_desert_timeline_the_socioenv.html
  24. ^ Rebecca Manski."The Bedouin as Worker-Nomad"; Bustan, 2005
  25. ^ Sarov, Batia, and peers at Ben Gurion University: "Major congenital malformations and residential proximity to a regional industrial park including a national toxic waste site: An ecological study;" Environmental Health: A Global Access Science Source 2006, 5:8; Bentov et al., licensee BioMed Central Ltd.
  26. ^ THE 12 POINTS OF BLUEPRINT NEGEV
  27. ^ Daniel Orenstein."When an ecological community is not"; ngày 25 tháng 3 năm 2007
  28. ^ Water use concerns
  29. ^ Daniel Orenstein and Steven Hamburg."The JNF's Assault on the Negev"; The Jerusalem Report, ngày 28 tháng 11 năm 2005
  30. ^ Rebecca Manski.A Desert Mirage: The Rising Role of US Money in Negev Development;News from Within October/November 2006
  31. ^ Ohalah resolution
  32. ^ Neohasid's Save the Negev Campaign
  33. ^ Head of Kibbutz Movement: We will not be discriminated against by the government, Ehud Zion Waldoks, Jerusalem Post, ngày 10 tháng 3 năm 2008.
  34. ^ Giant solar plants in Negev could power Israel's future, John Lettice, The Register, ngày 25 tháng 1 năm 2008
  35. ^ The solar vote, Yosef I. Abramowitz and David Lehreer, Haaretz, ngày 2 tháng 11 năm 2008.
  36. ^ Solar energy could raise electricity prices Haaretz, ngày 6 tháng 8 năm 2008
  37. ^ Calif. solar power test begins — in Israeli desert, Associated Press, ngày 12 tháng 6 năm 2008; accessed ngày 23 tháng 12 năm 2008.
  38. ^ Israel site for California solar power test, Ari Rabinovitch, Reuters, ngày 11 tháng 6 năm 2008.
  39. ^ [1]

Liên kết ngoài

Tọa độ: 30°30′00″B 34°55′01″Đ / 30,5°B 34,917°Đ

Arad, Israel

Arad, Israel (tiếng Hebrew: עֲרָד (audio) ; tiếng Ả Rập: عِرَادَ‎) là một thành phố Israel. Thành phố thuộc quận Nam. Thành phố có diện tích 93,140 km2, dân số năm 2009 là 23.400 người. Arad nằm trên biên giới của các sa mạc Negev và Judean, 25 km (15,5 dặm) về phía tây của Biển Chết và 45 km (28,0 dặm) về phía đông của thành phố Beersheba. Thành phố này có thành phần dân cư đa dạng bao gồm cả người Do Thái Ashkenazi và Sephardi, thế tục và tôn giáo, Bedouin và người Do Thái đen, cũng như nguồn gốc sinh ra tại Israel và người mới nhập cư. Thành phố này là nổi bật với không khí khô sạch, và phục vụ như một điểm thu hút lớn đối với bệnh nhân hen trên toàn thế giới.

Mặc dù nỗ lực định cư tại khu vực đã được thực hiện từ năm 1921, thành phố chỉ được thành lập trong tháng 11 năm 1962 như một trong hai thị trấn phát triển cuối cùng được thành lập, và là thành phố quy hoạch đầu tiên ở Israel. Dân số của Arad tăng lên đáng kể với Aliyah từ Cộng đồng các quốc gia độc lập vào những năm 1990, và đạt đỉnh điểm vào năm 2002 tại 24.500 cư dân. Thành phố đã chứng kiến một sự suy giảm dân số hơn bao giờ hết.

Là thành phố lớn thứ hai ở Israel diện tích, Arad có chứa một số khu vực và cơ sở nơi công cộng, chẳng hạn như những tàn tích Tel Arad, công viên Arad, sân bay phục vụ các chuyến bay nội địa, và vòng đua hợp pháp đầu tiên của Israel. Nó cũng nổi tiếng với lễ hội âm nhạc hàng năm của nó, là một trong những sự kiện âm nhạc hàng năm phổ biến nhất trong nước cho đến năm 1995.

Ashdod

Ashdod (tiếng Hebrew: אַשְׁדּוֹד; tiếng Ả Rập: إسدود‎, Isdud), nằm ở quận Namcủa Israel, có dân số hơn 200.000 người, cách Jerusalem và Beer Sheba 70 ki-lô-mét (43 mi). Đây là thành phố cảng ở đồng bằng duyên hải miền nam Israel. Ashdod nằm ở 5 km về phía bắc của điểm khảo cổ Ashdod, một trong 5 trung tâm chính trị chính của Philistines vào thế kỷ 11 trước Công nguyên. Thành phố nằm bên bờ đông của Địa Trung Hải, 30 km về phía nam của Tel Aviv-Yafo. Một số chiến dịch của Philistine chống lại người Israel đã diễn ra ở Ashdod. Ashdod bị người Assyria chiếm năm 722 trước Công nguyên và đã được nhập vào vương quốc Hasmonea Do Thái vào năm 147 trước Công nguyên. Trong thời kỳ Thập Tự Chinh, lâu đài và bến cảng của thành phố đã được sử dụng cho trận chiến. Sau đó thành phố giảm tầm quan trọng dù đây là nơi diễn ra trận đánh lớn trong thời kỳ xung đột Ả Rập - Israel 1948-1949.

Do yêu cầu một cảng nước sâu thứ 2 bên bờ Địa Trung Hải, thành phố này đã lấy lại tầm quan trọng của mình vào thập niên 1950. Hải cảng đã được xây dựng và được khai trương năm 1965. Cảng này đã tiếp quản tất cả các hoạt động của cảng Tel Aviv-Yafo - một cảng được đóng cửa vào thời điểm đó. Cuối thập niên 1960, hải cảng của Ashdod đã bốc dỡ gần 2 phần 5 tổng lượng hàng của Israel. Hiện hải cảng Ashdod chiếm 60% lượng hàng hóa nhập khẩu của Israel.

Khu định cư ở Ashdod mà tài liệu ghi chép được ở là về văn hóa Canaan vào thế kỷ 17 trước Công nguyên, khiến cho thành phố này là một trong những nơi cổ nhất trên thế giới. Ashdod được đề cập đến 13 lần trong Kinh Thánh. Trong quá trình lịch sử, thành phố đã là nơi sinh sống của người Philistine, người Israel, người Byzantine, đoàn Thập Tự Chinh và người Ả Rập.Ashdod hiện đại được thành lập vào năm 1956 trên các đồi cát gần địa điểm khảo cổ, thành phố được lập năm 1968, với diện tích đất khoảng 60 square kilometers (23,2 sq mi). Là một thành phố có quy hoạch, việc mở rộng thành phố theo một quy hoạch phát triển nên giao thông thuận lợi và tránh ô nhiễm không khí ở các khu dân cư dù dân số gia tăng. Theo Cục thống kê Trung ương Israel, Ashdod có dân số 204.200 cuối năm 2006, là thành phố lớn thứ 5 ở Israel và có diện tích 47.242 dunam (47,242 km2; 18,240 sq mi).

Thành phố này xuất khẩu các loại cam chanh, quặng đồng, phốtphát khai thác từ vùng sa mạc Negev desert và kali từ Biển Chết. Phía đông của cảng này là khu phát triển công nghiệp.

Beersheba

Beersheba (tiếng Hebrew: בְּאֵר שֶׁבַע, Be'er Sheva) là thành phố lớn nhất ở sa mạc Negev miền nam Israel. Thường được gọi là "Thủ đô của Negev", nó đã trở thành thành phố lớn thứ sáu của Israel năm 2008 khi dân số đạt 202.208 người. đã được nhắc đến trong Kinh Thánh cùng với Abraham và Isaac. Thành phố Beersheba ngày này nằm về hơi về phía tây nam của thành phố cổ. Nguồn nước tốt ở trong và xung quanh thành phố này đã khiến khu vực này là một nguồn thủy lợi quan trọng cho khu vực xung quanh. Thành phố này đã phát triển thành một trung tâm công nghiệp, hành chính và văn hóa của Negev. Đại học Ben Gurion Negev (thành lập năm 1965) nằm ở đây.

Trước khi thành lập nướcIsrael, Beersheba đã là một thị xã Ả Rập có tên là Bir Seb'a. Khi các quốc gia Ả Rập xâm chiếm Israel, người Ai Cập đã đóng quân ở đây. Lực lượng phòng vệ Israel đã chiếm thành phố ngày 21 tháng 10 năm 1948 trong chiến dịch Mười Tai họa (Operation Ten Plagues).Beersheba đã phát triển đáng kể từ thời điểm độc lập của Israel năm 1948; phần lớn dân số là người Do Thái thuộc thành phần di cư từ các nước Ả Rập sau năm 1948, và sau đó là người từ Ethiopia và từ Liên Xô cũ. Thành phố có nhiều đô thị vệ tinh bao quanh, bao gồm các thành phố chủ yếu là người Do Thái sinh sống: Omer, Lehavim, Meitar, Rahat, Tel as-Sabi và Lakiya.

Beersheba là thành phố ở Israel, nằm về phía tây nam của Jerusalem, đã được nhắc đến trong Kinh Thánh cùng với Abraham và Isaac. Thành phố Beersheba ngày này nằm về hơi về phía tây nam của thành phố cổ.

Catocala lesbia

Catocala lesbia là một loài bướm đêm thuộc họ Erebidae. Loài này có ở Trung Đông, in regions without severe winters. In Thổ Nhĩ Kỳ, đông nam of the Anatolian Plateau, in oases và desert foothills ở Iraq, phía nam as far as the Sinai và Ai Cập. In Israel Loài này có ở Great Rift Valley và Negev.

Con trưởng thành bay từ tháng 6 đến tháng 9 tùy theo địa điểm. Có một lứa một năm in hầu hết its range. There are two generations in Iraq.

Ấu trùng ăn Populus euphratica.

Catocala olgaorlovae

Catocala olgaorlovae là một loài bướm đêm thuộc họ Erebidae. Nó là loài duy nhất được tìm thấy ở miền nam Levant ở đó nó was collected in two oases of miền trung Negev, En Avdat và En Ziq, và từ Egyptian miền trung bán đảo Sinai near Santa Katharina.

Sải cánh dài 86–95 mm. Con trưởng thành bay từ tháng 8 đến tháng 9.

Con đường hương liệu và các thành phố vùng hoang mạc Negev

Đường hương liệu – Các thành phố hoang mạc vùng Negev là tên một nhóm các thành phố trong vùng hoang mạc Negev ở miền nam Israel, nơi xưa kia là đường buôn bán hương liệu từ bán đảo Ả Rập tới vùng Địa Trung Hải. Khu vực này đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới từ năm 2005.

4 thành phố Avdat, Haluza, Mamshit và Shivta, nằm trong vùng hoang mạc Negev trên con đường buôn bán hương liệu gồm nhũ hương, nhựa cây trám thơm và cả gia vị thời xưa đi qua - từ thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên tới thế kỷ thứ 2 sau Công nguyên. Đường buôn bán này bắt đầu từ bán đảo Ả Rập tới các nước trong vùng Địa Trung Hải.

Các thành phố trên có nhiều pháo đài cổ và các cảnh quan nông nghiệp trong vùng hoang mạc. Hiện nay vẫn còn các vết tích của các pháo đài cổ, các mương của những hệ thống tưới tiêu và các quán dành cho đoàn lữ hành dừng chân (caravanserai), chứng tỏ người thời xưa đã dùng hoang mạc để canh tác và để buôn bán các đồ xa xỉ.

David Ben-Gurion

David Ben-Gurion (tiếng Hebrew: דָּוִד בֶּן-גּוּרְיּוֹן, tên khai sinh David Grün, 16 tháng 10 năm 1886 - 1 tháng 12 năm 1973) là thủ tướng đầu tiên của Israel. Ấp ủ hoài bão về công cuộc phục quốc của người Do Thái từ đầu đời, David Ben-Gurion đã đóng vai trò then chốt trong sự thành lập nhà nước Israel. Sau khi lãnh đạo Israel dành thắng lợi trong Chiến tranh Ả Rập-Israel 1948, Ben-Gurion đã đóng góp trong việc xây dựng hiến pháp quốc gia và chứng kiến sự di dân của người Do Thái từ khắp nơi trên thế giới tới định cư tại Israel. Sau khi giã từ sự nghiệp chính trị năm 1970, ông chuyển tới sống tại Sde Boker cho tới khi qua đời. Ben-Gurion được tạp chí Time bầu chọn là một trong 100 nhân vật quan trọng nhất của thế kỷ 20.

Eilat

Eilat (tiếng Hebrew: אֵילַת [eˈlat] ()) là một thành phố ở Quận Nam của Israel với dân số 51.935. Thành phố sở hữu một bến cảng và khu nghỉ mát tấp nập người qua lại ở rìa bắc Biển Đỏ, ven vịnh Eilat (vịnh Aqaba). Thành phố được coi là trung tâm du lịch cho các khách du lịch trong nước và quốc tế.

Eilat nằm tại phía nam hoang mạc Negev, cực nam Arava, giáp làng Taba của Ai Cập về phía nam, giáp thành phố cảng Aqaba của Jordan về phía đông, và ngăn cách với thành phố Haql của Ả Rập Xê Út bởi vịnh Aqaba.

Khí hậu hoang mạc nóng và độ ẩm thấp của Eilat được điều hòa nhờ vùng biển ấm. Nhiệt độ thường vượt quá 40 °C (104 °F) vào mùa hè, và 21 °C (70 °F) vào mùa đông, trong khi nhiệt độ nước ở trong khoảng 20 và 26 °C (68 và 79 °F). Eilat có trung bình 360 ngày nắng một năm.

Haluza

Haluza, cũng gọi là Halasa hoặc Elusa, là một thành phố trong vùng hoang mạc Negev, xưa kia nằm trên tuyến đường buôn bán hương liệu (nhũ hương, trầm hương) của người Nabataean từ bán đảo Ả Rập tới các nước vùng Địa Trung Hải từ thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên tới thế kỷ thứ 2 sau Công nguyên.

Do tầm quan trọng về lịch sử, thành phố Haluza cùng với 3 thành phố Mamshit, Avdat, Shivta của vùng hoang mạc Negev đã được UNESCO đưa vào danh sách di sản thế giới từ năm 2005.

Thành phố này là một trong 2 địa điểm chính có khả năng là thành phố Ziklag được nói tới trong Thánh Kinh. Trong trường hợp này Ziklag được coi như là sự sửa đổi sai lạc của Halusah, có nghĩa là pháo đài, đồn lũy.Các nghiên cứu khảo cổ trong khu vực bị ngăn trở phần nào bởi sự hiện diện của các đụn cát chung quanh thành phố, tuy nhiên người ta đã tìm thấy các đường phố của thời đại người Nabataean, cùng với 2 nhà thờ, 1 nhà hát, 1 nhà ép nho và tháp.Không giống các thành phố khác trên tuyến đường hương liệu, Haluza đã được khai quật mà không được chăm sóc đầy đủ để đưa các tảng đá trở lại vị trí nguyên thủy của chúng, gây hại cho việc khai quật trong tương lai. Ngoài ra, nơi đây cũng ít được trông nom săn sóc.

IMI Negev

IMI Negev là loại súng máy hạng nhẹ dùng đạn 5.56mm NATO do công ty công nghiệp vũ khí Israel Military Industries (gọi tắt là IMI) của Israel sản xuất. Nhằm bổ sung và thay thế cho súng trường tấn công IMI Galil, nó có hộp đạn di động nhằm đảm bảo đạn dược để duy trì hỏa lực. Nó được nghiên cứu năm 1985 và chính thức trang bị cho Các lực lượng Phòng vệ Israel (IDF) năm 1995. Nó được đặt tên theo tên của khu vực hoang mạc Negev ở Israel.

Israel

Israel (phiên âm tiếng Việt: I-xra-en; tiếng Hebrew: יִשְׂרָאֵל‎ Yisrā'el; tiếng Ả Rập: إِسْرَائِيل‎ Isrāʼīl), tên chính thức là Nhà nước Israel (tiếng Hebrew: מְדִינַת יִשְׂרָאֵל‎ Medīnat Yisrā'el [mediˈnat jisʁaˈʔel]; tiếng Ả Rập: دولة إِسْرَائِيل‎ Dawlat Isrāʼīl [dawlat ʔisraːˈʔiːl]), là một quốc gia tại Trung Đông, trên bờ đông nam của Địa Trung Hải và bờ bắc của Biển Đỏ. Israel có biên giới trên bộ với Liban về phía bắc, với Syria về phía đông bắc, với Jordan về phía đông, và lần lượt giáp với các lãnh thổ Bờ Tây và Dải Gaza của Palestine về phía đông và tây, và với Ai Cập về phía tây nam. Quốc gia này có diện tích tương đối nhỏ, song lại có đặc điểm địa lý đa dạng. Trung tâm tài chính và công nghệ của Israel là Tel Aviv và Jerusalem được tuyên bố là thủ đô vào năm 1980 , song chủ quyền của Israel đối với Đông Jerusalem không được quốc tế công nhận.Ngày 29 tháng 11 năm 1947, Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua một phương án phân chia cho Lãnh thổ ủy trị Palestine. Phương án này phân chia lãnh thổ ủy trị Palestine thành 2 nhà nước, một của người Ả Rập và một của người Do Thái, trong khi khu vực Jerusalem nằm dưới quyền quản lý của Liên Hiệp Quốc dưới một chính thể quốc tế. Thời điểm kết thúc quyền quản lý ủy trị của Anh đối với Palestine được định vào nửa đêm ngày 14 tháng 5 năm 1948. Đến ngày đó, một thủ lĩnh Do Thái là David Ben-Gurion tuyên bố "thành lập một nhà nước Do Thái tại Eretz Israel, được biết đến với tên gọi Nhà nước Israel", thể chế sẽ bắt đầu hoạt động khi kết thúc sự quản lý ủy trị. Biên giới của nhà nước mới không được xác định trong tuyên bố. Quân đội các quốc gia Ả Rập lân cận xâm chiếm cựu lãnh thổ do Anh quản lý ủy trị vào ngày sau đó và chiến đấu với lực lượng Israel. Kể từ đó, Israel chiến đấu trong một số cuộc chiến với các quốc gia Ả Rập lân cận, trong quá trình đó Israel chiếm đóng Bờ Tây, bán đảo Sinai (1956–57, 1967–82), bộ phận của miền nam Liban (1982–2000), Dải Gaza (1967–2005; vẫn bị xem là chiếm đóng sau 2005) và Cao nguyên Golan. Israel mở rộng pháp luật của mình đến Cao nguyên Golan và Đông Jerusalem, song không đến Bờ Tây. Các nỗ lực nhằm giải quyết xung đột Israel–Palestine không đạt được kết quả là hòa bình. Tuy nhiên, các hiệp ước hòa bình giữa Israel với Ai Cập và Jordan được ký kết thành công. Sự chiếm đóng của Israel tại Dải Gaza, Bờ Tây và Đông Jerusalem là hành động chiếm đóng quân sự dài nhất trong lịch sử hiện đại.Theo xác định của Cục Thống kê Trung ương Israel, dân số Israel vào năm 2017 ước đạt 8.747.080 người. Đây là quốc gia duy nhất trên thế giới mà người Do Thái chiếm đa số, với 6.388.800 hay 74,8% công dân được chỉ định là người Do Thái. Nhóm công dân lớn thứ nhì trong nước là người Ả Rập, có số lượng là 1.775.400 người (bao gồm người Druze và hầu hết người Ả Rập Đông Jerusalem). Đại đa số người Ả Rập Israel theo phái Hồi giáo Sunni, bao gồm một lượng đáng kể người Negev Bedouin bán du cư; còn lại là các tín đồ Cơ Đốc giáo và Druze cùng các nhóm khác. Israel còn có một lượng cư dân đáng kể là các công nhân ngoại quốc, và những người tị nạn từ châu Phi và châu Á không có quyền công dân, trong đó có những người nhập cư bất hợp pháp từ châu Phi.

Theo Luật Cơ bản, Israel tự xác định là một nhà nước Do Thái và dân chủ. Israel có thể chế dân chủ đại nghị có một hệ thống nghị viện, đại diện tỷ lệ và phổ thông đầu phiếu. Thủ tướng là người đứng đầu chính phủ và Knesset đóng vai trò cơ quan lập pháp. Israel là một quốc gia phát triển và là một thành viên của OECD, có nền kinh tế lớn thứ 34 thế giới theo GDP danh nghĩa tính đến năm 2016. Quốc gia này hưởng lợi từ lực lượng lao động có kỹ năng cao, và nằm trong số các quốc gia có giáo dục nhất trên thế giới với tỷ lệ công dân có bằng bậc đại học vào hàng đầu. Israel có tiêu chuẩn sinh hoạt cao nhất tại Trung Đông, và đứng thứ tư tại châu Á, và nằm trong các quốc gia có tuổi thọ dự tính cao nhất thế giới.

M60 (súng máy)

M60 là loại súng máy cỡ 7,62mm của Hoa Kỳ cùng họ với loại súng máy tầm dài bắn đạn nhọn 7.62 mm NATO.

Được đưa vào từ năm 1957, nó là loại rất phổ biến, hiện vẫn còn trong trang bị của các nhánh trong Quân đội Hoa Kỳ và quân đội các nước khác. Nó tiếp tục được sản xuất và cải tiến cho mục đích quân sự và mục đích thương mại trong thế kỷ 21 mặc dù nó sẽ bị thay thế dần bởi một số thiết kế mới hơn như M249 và IMI Negev.

Mamshit

Mamshit (tiếng Hebrew: ממשית‎) là thành phố Memphis của người Nabataean. Trong thời Nabataean, Mamshit là thành phố quan trọng vì nằm trên tuyến đường buôn bán hương liệu từ dãy núi Idumean tới Arabah (trong Thung lũng lớn do vết nứt Trái Đất), đi qua Ma'ale Akrabim tiếp tục tới Beer-Sheva hoặc tới Hebron và Jerusalem. Thành phố này rộng 40.500 m2, là thành phố nhỏ nhất, nhưng là thành phố được trùng tu tốt nhất trong vùng hoang mạc Negev. Các ngôi nhà sang trọng thời xưa theo lối kiến trúc bất thường chỉ thấy ở đây, không thấy có ở các thành phố khác của người Nabataean.

Kho tàng lớn nhất được tìm thấy tại Israel là ở Mamshit - 10.500 đồng tiền bằng (kim loại) bạc, 158 pounds plumbum tonque với dấu của xưởng đúc và một bó giấy papyrus với các bản văn bằng chữ Hy Lạp cổ xưa.

Thành phố được tái thiết này cho các du khách một cảm giác về dáng vẻ thành phố Mamshit thời xưa. Toàn bộ đường phố còn nguyên vẹn, nhiều nhóm nhà của người Nabataean với các phòng lộ thiên, các sân trong và các sân hiên nhà. Các viên đá xây dựng được chạm trổ cẩn thận và các khung vòm nâng trần nhà được kiến tạo xuất sắc.

Metlaouia autumna

Metlaouia autumna là một loài bướm đêm thuộc họ Noctuidae. Loài này có ở vùng Maghreb, Tripolitania, the Sinai ở Ai Cập và miền bắc Negev và miền bắc Arava ở Israel

Con trưởng thành bay vào tháng 11. Có thể có một lứa một năm.

Ấu trùng ăn Artemisia campestris.

Netivot

Netivot (tiếng Hebrew: נתיבות, tiếng Ả Rập: نتيبوت/نتيفوت) là một thành phố Israel. Thành phố thuộc quận Nam. Thành phố có diện tích 5,626 km2, dân số năm 2009 là 26.700 người.

Quận Nam (Israel)

Quận Nam (tiếng Hebrew: מחוז הדרום‎, Mehoz HaDarom; tiếng Ả Rập: استان جنوب‎) là một trong sáu quận hành chính của Israel, đây là quận có diện tích lớn nhất và có mật dộ dân cư thưa thớt nhất. Quận bao gồm hầu hết sa mạc Negev, cũng như thung lũng Arabah. Dân số của quận Nam là 1.002.400, trong đó 86% là người Do Thái và 14% là người Ả Rập (hấu hết là người Hồi giáo). Thủ phủ của quận là Beersheba, trong khi thành phố lớn nhất là Ashdod. Các đô thị túc xá của Beersheba là Omer, Meitar, và Lehavim đều tương đối dầu có, trong khi các đô thị phát triển (bao gồm Sderot, Netivot, và Ofakim) và bảy thành phố của người Bedouin có trình độ xã hội-kinh tế thấp hơn.

Shivta

Shivta hoặc Sobota (tiếng Hebrew: שבטה‎), là một di tích khảo cổ ở phía đông thành phố Nitzana, trong vùng hoang mạc Negev, miền nam Israel.

Thành phố này từ lâu đã được coi như thành phố cổ điển của người Nabataean và trạm chót của tuyến đường buôn bán đồ gia vị thời xưa. Ngày nay các nhà khảo cổ coi thành phố này có thể thực sự là thuộc địa nông nghiệp của Đế quốc Byzantine và là trạm nghỉ ngơi cho những người hành hương tới tu viện thánh Catarina được cho là ở trên núi Sinai, Ai Cập.

Việc đánh giá mới về Shivta dựa trên sự phân tích hệ thống dẫn nước tưới tiêu ở đây, tương đương với các cấu trúc Byzantine ở nơi khác. Cho tới nay, cái nổi bật của các tàn tích Byzantine được cho là di tích của một tu viện, được xây dựng trên di tích của một thành phố của người Nabataean trước kia.

Di tích Shivta gồm 3 nhà thờ Byzantine, một nhà ép nho, khu nhà ở và các tòa nhà hành chính. Sau khi người Ả Rập chiếm thành phố vào thế kỷ thứ 7, Shivta bắt đầu giảm dân số. Cuối cùng thành phố bị bỏ hoang vào thế kỷ thứ 8 hoặc thứ 9.

Cùng với 3 thành phố Haluza, Mamshit và Avdat, Shivta đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới từ tháng 6 năm 2005.

Đá phiến dầu

Đá phiến dầu là một loại đá trầm tích hạt mịn giàu chất hữu cơ và chứa một lượng lớn kerogen có thể chiết tách các loại hydrocacbon lỏng. Các nhà địa chất không xếp nó vào nhóm đá phiến sét, và hàm lượng kerogen cũng khác so với dầu thô. Kerogen đòi hỏi cần phải xử lý nhiều hơn để có thể sử dụng được so với dầu thô, các quá trình xử lý tốn nhiều chi phí so với sử dụng dầu thô cả về mặt tài chính và tác động môi trường. Sự tích tụ đá phiến dầu diễn ra trên khắp thế giới, đa số là ở Hoa Kỳ. Ước tính lượng tích tụ này trên toàn cầu đạt khoảng 2,8 đến 3,3 ngàn tỷ thùng (450×109 đến 520×109 m3) có thể thu hồi.Quá trình nhiệt phân hóa học có thể biến đổi kerogen trong đá phiến dầu thành dầu thô tổng hợp. Nung đá phiến dầu ở một nhiệt độ đủ cao sẽ tạo ra hơi, quá trình này có thể chưng cất để tạo ra dầu đá phiến giống dầu mỏ và khí đá phiến dầu có thể đốt được (khí đá phiến sét cũng được dùng để chỉ các khí xuất hiện tự nhiên trong đá phiến sét). Các ngành công nghiệp cũng có thể đốt trực tiếp đá phiến dầu như là một nguồn nhiên liệu cấp thấp để phát điện và sưởi ấm, và cũng có thể dùng nó như là nguyên liệu thô trong hóa học và sản xuất vật liệu xây dựng.Đá phiến dầu được chú ý đến như là một nguồn năng lượng khi mà giá dầu thô thông thường tăng cao và cũng là một lựa chọn đối với các khu vực phụ thuộc vào năng lượng cung cấp từ bên ngoài. Việc khai thác và xử lý đá phiến dầu liên quan đến các vấn đề môi trường như: sử dụng đất, chất thải, sử dụng nước, quản lý nước thải, phát thải khí nhà kính và ô nhiễm không khí. Estonia và Trung Quốc đã phát triển mạnh các ngành công nghiệp đá phiến dầu, bên cạnh đó Brazil, Đức, Israel và Nga cũng sử dụng đá phiến dầu.

Địa lý Israel

Bản mẫu:Địa lý Israel

Israel nằm ở rìa phía đông của Biển Địa Trung Hải. Nó có biên giới phía bắc giáp với Liban, phía đông bắc với Syri, phía đông và đông nam với Jordan, phía tây nam với Ai Cập, phía tây với Biển Địa Trung Hải. Trước tháng 6 năm 1967, vùng tạo thành Israel (kết quả của các đường biên giới ngừng bắn năm 1949 và 1950) khoảng 20.700 km² (8.000 mi²), gồm 445 km² (172 mi²) diện tích nước trong lục địa. Vì thế Israel có diện tích tương đương với Bang New Jersey, trải dài 424 kilômét (263 dặm) từ phía bắc xuống phía nam. Chiều rộng của nó thay đổi từ 114 kilômét (71 mi) tới, ở điểm hẹp nhất, 10 kilômét (6.2 mi). Sau cuộc chiến tranh tháng 6 năm 1967, tổng diện tích vùng lãnh thổ Israel chiếm đóng thêm là 7.099 km² (2.743 mi²). Những vùng lãnh thổ này gồm Bờ Tây, 5.879 km² (2.270 mi²); Đông Jerusalem (bị sáp nhập, theo luật Israel), 70 km² (27 mi²); và Cao nguyên Golan (sáp nhập trên thực tế (không chính thức)), 1.150 km² (444 mi²).

Các tọa độ địa lý:

gia 31°30′B 34°45′Đ

Dữ liệu khí hậu của Beersheba
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Cao kỉ lục °C (°F) 28.4 31.0 35.4 40.9 42.2 46.0 41.5 40.5 41.2 39.6 34.0 31.4 46,0
Trung bình cao °C (°F) 16.7 17.5 20.1 25.8 29.0 31.3 32.7 32.8 31.3 28.5 23.5 18.8 25,7
Trung bình thấp, °C (°F) 7.5 7.6 9.3 12.7 15.4 18.4 20.5 20.9 19.5 16.7 12.6 8.9 14,2
Thấp kỉ lục, °C (°F) −5 −0.5 2.4 4.0 8.0 13.6 15.8 15.6 13.0 10.2 3.4 3.0 −5
Giáng thủy mm (inch) 49.6
(1.953)
40.4
(1.591)
30.7
(1.209)
12.9
(0.508)
2.7
(0.106)
0.0
(0)
0.0
(0)
0.0
(0)
0.4
(0.016)
5.8
(0.228)
19.7
(0.776)
41.9
(1.65)
204,1
(8,035)
Số ngày giáng thủy TB 9.2 8.0 6.4 2.6 0.8 0.0 0.0 0.0 0.1 1.8 4.6 7.5 41,0
Nguồn: Israel Meteorological Service[3][4]
Các hoang mạc trên thế giới
Châu Phi
Châu Á
Châu Úc
Châu Âu
Bắc Mỹ
Nam Mỹ
Châu Đại Dương
Vùng cực
Thành phố
Hội đồng địa phương
Hội đồng vùng
Xem thêm

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.