Nam Hoa Kỳ

Miền Nam Hoa Kỳ (tiếng Anh: Southern United States) còn được biết phổ biến như American South, Dixie, Down South hay đơn giản là the South—bao gồm một vùng lớn rõ rệt nằm trong đông nam và trung-nam Hoa Kỳ. Vì di sản lịch sử và văn hoá độc đáo của vùng gồm có người bản thổ Mỹ; các khu định cư châu Âu xưa kia có vết tích di sản Tây Ban Nha, Anh Quốc, Pháp; tầm quan trọng của hàng ngàn người nô lệ châu Phi; sự gia tăng tỉ lệ dân số lớn người Mỹ gốc châu Phi, sự lệ thuộc vào sức lao động nô lệ, và di sản của Liên minh miền Nam sau Nội chiến Hoa Kỳ nên miền Nam Hoa Kỳ đã hình thành nên phong tục, thể loại âm nhạc, văn chương, và ẩm thực riêng biệt cho mình.

Trong vài thập niên vừa qua, miền Nam đã trở nên công nghiệp hoá và đô thị hoá hơn, hấp dẫn di dân quốc tế và nội địa. Khi nhiều phần của miền Nam nằm trong số các khu vực phát triển nhanh nhất tại Hoa Kỳ thì chúng cũng phát triển nền văn hoá mới.

Map of the Southern United States modern definition
Định nghĩa hiện thời: Các tiểu bang màu đỏ thẩm hầu như luôn được tính theo cách định nghĩa hiện thời về miền Nam Hoa Kỳ trong khi đó các tiểu bang màu đỏ trung thường được tính vào. Một số nguồn xếp MarylandMissouri thuộc miền Nam và Delaware chỉ hiếm khi được xếp chung vào vùng. Tây Virginia thường được xem là thuộc miền Nam Hoa Kỳ vì nó từng là một phần của Virginia.[1][2][3]
Southern United States Civil War map
Miền Nam Hoa Kỳ trong lịch sử: Các tiểu bang màu đỏ là thuộc Liên minh miền Nam Hoa Kỳ và từ trước đến giờ trong lịch sử đã được xem là hình thành nên "miền Nam". Những tiểu bang màu đỏ sọc được xem là các tiểu bang "Biên cương" và đã từng ủng hộ theo các cấp độ khác nhau cho Liên minh miền Nam mặc dù chúng vẫn còn nằm trong Liên bang miền Bắc. (Hình này mô tả các ranh giới liên-Allegheny và ranh giới ban đầu của Virginia và không có biểu thị riêng Tây Virginia. Xem hình phía dưới để tìm ranh giới sau năm 1863 giữa Virginia và Tây Virginia.) Trong khi Oklahoma ngã theo và bị Liên minh miền Nam kiểm soát nhưng nó không được biểu thị bằng màu lợt vì vào lúc đó nó là Lãnh thổ của người bản thổ Mỹ, và vì thế không phải 1 tiểu bang.
Census Regions and Divisions
Miền Nam là một trong bốn vùng của Cục điều tra dân số Hoa Kỳ.

Địa lý

Như định nghĩa của Cục điều tra dân số Hoa Kỳ,[4] vùng Nam Hoa Kỳ gồm có 16 tiểu bang và Đặc khu Columbia. Dân số tổng cộng cho vùng được ước tính là 109.083.752 người vào năm 2006. Ba mươi sáu phần trăm dân số Hoa Kỳ sống trong vùng Nam Hoa Kỳ. Vùng đông dân nhất của quốc gia. Cục điều tra dân số phân chia vùng này thành ba đơn vị nhỏ hơn hay còn gọi là phân vùng:

Các thuật từ khác có liên quan đến miền Nam gồm có:

Định nghĩa phổ biến nhất về thuật từ "Miền Nam" thì không chính thức lắm và thường có liên quan với việc các tiểu bang ly khai trong Nội chiến Hoa Kỳ để thành lập Liên minh miền Nam. Các tiểu bang này chia sẻ chung lịch sử và văn hóa mà vẫn còn hiện hữu cho đến ngày nay.

Về mặt tự nhiên, miền Nam là một vùng đa dạng và rộng lớn có nhiều vùng khí hậu gồm có khí hậu ôn hòa, cận nhiệt đới, nhiệt đới và khô cằn – mặc dù miền Nam thường được xem là nóng và ẩm ướt có mùa hè dài và mùa đông ôn hòa ngắn, nhưng nó khá ấm áp hơn các vùng phía bắc của nó (và thường thường có các chỉ số nóng cao nhất quốc gia). Nhiều thứ cây trồng phát triển dễ dàng trên đất và có thể phát triển mà không sợ giá rét ít nhất là sáu tháng trong năm. Một số khu vực trong miền Nam, đặc biệt là Đông nam, có quang cảnh thiên nhiên phong phú với sự hiện diện của nhiều loại cây cỏ như cây sồi, mộc lan. Môi trường phổ biến khác của Nam Hoa Kỳ là bayou và đầm lầy của Duyên hải Vịnh Mexico, đặc biệt tại Louisiana và Texas. Miền Nam là nạn nhân của loài cây leo kudzu, phát triển rất nhanh bao phủ phần lớn đất và giết chết các loài thảo mộc khác. Kudzu là vấn nạn lớn đặc biệt là tại những vùng dưới chân đồi của Mississippi, Alabama, và Georgia.[7]

Các thành phố lớn Nam Hoa Kỳ

Hạng Thành phố Tiểu bang và/hay Lãnh thổ 1 tháng 7 năm 2007
Ước tính dân số
1 Houston Texas 2.208.180
2 San Antonio Texas 1.328.984
3 Dallas Texas 1.266.372
4 Jacksonville Florida 805.605
5 Austin Texas 743.074
6 Fort Worth Texas 681.818
7 Memphis Tennessee 674.028
8 Charlotte Bắc Carolina 671.588
9 El Paso Texas 606,913
10 Nashville Tennessee 590.807

Các vùng đô thị chính tại Nam Hoa Kỳ

Hạng Vùng thống kê đô thị Tiểu bang và/hay lãnh thổ 1 tháng 7 năm 2007
Ước tính dân số
1 Dallas–Fort Worth–Arlington TX 6.300.006
2 Houston–Sugar Land–Baytown TX 5.728.143
3 Miami–Fort Lauderdale–Pompano Beach FL 5.414.772
4 Atlanta–Sandy Springs–Marietta GA 5.376.285
5 Washington–Arlington–Alexandria DCVAMDWV 5.358.130
6 Tampa–St. Petersburg–Clearwater FL 2,733,761
7 Baltimore–Towson MD 2.667.117
8 Orlando-Kissimmee FL 2.054.574
9 San Antonio TX 2,031,445
10 Charlotte–Gastonia–Concord NCSC 1.701.799
11 Virginia Beach–Norfolk–Newport News VANC 1.658.292
12 Austin–Round Rock TX 1,652,602
13 Nashville-Davidson–Murfreesboro–Franklin TN 1.550.733
14 Jacksonville FL 1.313.228
15 Memphis TNMSAR 1,285,732
16 Louisville–Quận Jefferson KYIN 1.244.696
17 Richmond VA 1.225.626
18 Thành phố Oklahoma OK 1.206.142
19 New Orleans–Metairie–Kenner LA 1.134.029
20 Birmingham–Hoover AL 1.117.608
21 Raleigh–Cary NC 1,088,765
22 Tulsa OK 916.079
23 Baton Rouge LA 770.037
24 El Paso TX 734.669
25 Columbia SC 716.030

Ghi chú

  1. ^ Wilson, Charles & William Ferris Encyclopedia of Southern Culture ISBN 978-0-8078-1823-7; Univ. of Pennsylvania Telsur Project Telsur Map of Southern Dialect
  2. ^ Vance, Rupert Bayless, Regionalism and the South, Univ. of North Carolina Press, 1982, pg. 166 "West Virginia is found to have its closest attachment to the Southeast on the basis of agriculture and population."
  3. ^ David Williamson (ngày 2 tháng 6 năm 1999). “UNC-CH surveys reveal where the ‘real’ South lies”. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2007. Đã bỏ qua tham số không rõ |dateformat= (trợ giúp)
  4. ^ U.S. Census Bureau: Official Map.
  5. ^ Johnston, Mary. "Pioneers of the Old South, A Chronicle of English Colonial Beginnings." Accessed ngày 19 tháng 5 năm 2007.
  6. ^ "United States: The Upper South." Encyclopædia Britannica, Inc.
  7. ^ Britton, Kerry O.; Orr, David; Sun, Jianghua (2002), “Kudzu”, trong Van Driesche, R., Biological Control of Invasive Plants in the Eastern United States, USDA Forest Service, FHTET-2002-04, truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2008

Tham khảo

  • Cash, Wilbur J. The Mind of the South (1941),
  • Richard N. Current và đồng nghiệp (1987). American History: A Survey 7th ed. New York: Alfred A. Knopf. ISBN 0-394-31549-9.
  • Flynt, J. Wayne Dixie's Forgotten People: The South's Poor Whites (1979). deals with 20th century.
  • David M. Katzman. “Black Migration”. The Reader's Companion to American History. Houghton Mifflin Company.
  • James Grossman (1996). “Chicago and the 'Great Migration'. Illinois History Teacher 3 (2).
  • Grady McWhiney. In Cracker Culture: Celtic Ways in the Old South (1988)
  • Mary Odem "Global Lives, Local Struggles: Latin American Immigrants in Atlanta'" Southern Spaces 2006
  • John O. Allen and Clayton E. Jewett (2004). Slavery in the South: A State-by-State History. Greenwood Press. ISBN 0-313-32019-5.
  • Rayford Logan (1997). The Betrayal of the Negro from Rutherford B. Hayes to Woodrow Wilson. New York: Da Capo Press. ISBN 0-306-80758-0.
  • William B. Hesseltine (1936). A History of the South, 1607-1936. Prentice-Hall.
  • George Sanchez "Latinos, the American South, and the Future of U.S. Race Relations" Southern Spaces 2007
  • Robert W. Twyman. and David C. Roller, ed. biên tập (1979). Encyclopedia of Southern History. LSU Press. ISBN 0-8071-0575-9.
  • Winders, Jamie. "Latino Migration and Nashville, Tennessee," Southern Spaces 2004.
  • Charles Reagan Wilson and William Ferris, ed. biên tập (1989). Encyclopedia of Southern Culture. University of North Carolina Press. ISBN 0-8078-1823-2.

Liên kết ngoài

Arkansas

Arkansas (phát âm trong tiếng Anh bằng chữ IPA: /ˈɑ(r)k(ə)nˌsɑː/ hay /ˈɑ(r)k(ə)nˌsɔ/; thường được phát âm trong tiếng Việt như A-can-xò) là tiểu bang Hoa Kỳ thuộc về miền nam Hoa Kỳ.

Ðây là nơi sinh của Tổng thống Bill Clinton (tại Hope).

Boeing B-17 Flying Fortress

Boeing B-17 Flying Fortress (Pháo đài bay B-17) là kiểu máy bay ném bom hạng nặng 4 động cơ được phát triển cho Không lực Lục quân Hoa Kỳ (USAAC) và được đưa vào sử dụng vào cuối những năm 1930. Cạnh tranh cùng với Douglas và Martin trong một hợp đồng chế tạo 200 máy bay ném bom, thiết kế của hãng Boeing vượt trội hơn cả hai đối thủ và vượt xa những yêu cầu của Không lực. Cho dù Boeing bị mất hợp đồng do máy bay nguyên mẫu bị rơi, Không lực Mỹ vẫn bị ấn tượng bởi thiết kế của Boeing và đặt hàng 13 chiếc B-17. B-17 Flying Fortress tiếp tục được đưa vào sản xuất và được xem là chiếc máy bay lớn đầu tiên sản xuất hàng loạt, lần lượt trải qua nhiều phiên bản cải tiến từ B-17A đến B-17G.

B-17 được Không lực Mỹ sử dụng chủ yếu trong các chiến dịch ném bom chiến lược chính xác ban ngày vào các mục tiêu công nghiệp, quân sự và dân sự của Đức trong Thế Chiến II. Các đơn vị Mỹ là Không Lực 8 đóng tại Anh và Không Lực 15 đóng tại Ý góp phần bổ sung cho nhiệm vụ ném bom khu vực ban đêm của Bộ chỉ huy Không quân Ném bom thuộc Không quân Hoàng gia Anh trong chiến dịch Pointblank, giúp đạt được ưu thế trên không trên các thành phố, nhà máy và chiến trường Tây Âu chuẩn bị cho Trận chiến Normandy. B-17 cũng tham gia, với quy mô hạn chế hơn, tại Mặt trận Thái Bình Dương, không kích vào tàu bè và sân bay Nhật Bản.

Ngay từ trước chiến tranh, Không lực Mỹ (sau này là Không quân Hoa Kỳ) đã xem máy bay này là vũ khí chiến lược quan trọng có uy lực lớn, bay cao, ném bom tầm xa, có sức phá hủy lớn trong khi có khả năng tự phòng thủ, và nhất là khả năng quay về sân bay nhà cho dù hư hại nặng trong chiến đấu. Độ bền của nó, nhất là đáp bằng bụng và đáp trên mặt nước, nhanh chóng lan truyền như một huyền thoại. Những câu chuyện và hình ảnh những chiếc B-17 sống sót sau những hư hại trong chiến đấu được truyền tay nhau, càng nâng cao tính biểu tượng của nó. Cho dù tầm bay và tải trọng bom đều kém hơn so với chiếc B-24 Liberator vốn có số lượng nhiều hơn, một cuộc điều tra trên các phi đội của Không Lực 8 cho thấy mức độ hài lòng cao hơn dành cho chiếc B-17. Với trần bay cao hơn mọi máy bay Đồng Minh đương thời, bản thân B-17 trở thành một hệ thống vũ khí tuyệt vời, ném nhiều bom hơn bất kỳ máy bay Mỹ nào khác trong Thế Chiến II. Trong số 1,5 triệu tấn bom từng được máy bay ném xuống Đức, 640.000 tấn đã được ném bởi B-17.

Bộ Cá da trơn

Bộ Cá da trơn hay bộ Cá nheo (danh pháp khoa học: Siluriformes) là một bộ cá rất đa dạng trong nhóm cá xương. Các loài cá trong bộ này dao động khá mạnh về kích thước và các thức sinh sống, từ loài nặng nhất là cá tra dầu (Pangasius gigas) ở Đông Nam Á tới loài dài nhất là cá nheo châu Âu (Silurus glanis) của đại lục Á-Âu, hay những loài chỉ ăn xác các sinh vật chết ở lớp nước đáy, hay các loài cá ký sinh nhỏ bé như Vandellia cirrhosa. Có các loài với các kiểu tấm xương bảo vệ cũng như các loài không có tấm xương bảo vệ này, nhưng tất cả chúng đều không có vảy. Không phải loài cá da trơn nào cũng có râu; các đặc trưng để xác định bộ Siluriformes trên thực tế là các đặc điểm chung của hộp sọ và bong bóng. Bộ cá này có tầm quan trọng kinh tế đáng kể; nhiều loài được chăn nuôi ở quy mô lớn để cung cấp cá thực phẩm, một vài loài được nuôi thả như là cá câu thể thao. Nhiều loài cá nhỏ, cụ thể là các loài trong chi Corydoras, được nuôi làm cá cảnh trong các bể cá.

Cá da trơn là loài thủy sinh vật được chăn nuôi phổ biến ở nhiều nước trên thế giới và trở thành một nguồn thủy hải sản quan trọng trong công nghiệp thực phẩm, được chế biến và tiêu thụ rộng rãi trên toàn cầu. Tại Hoa Kỳ, các loài catfish (cá mèo hay cá trê Mỹ) thuộc họ Ictaluridae của bộ Cá da trơn được chăn nuôi với quy mô công nghiệp. Các chủ trại nuôi cá catfish đã thành lập một hiệp hội nghề nghiệp nuôi cá catfish để truyền bá, trao đổi kinh nghiệm chăn nuôi loài cá này và bảo vệ quyền lợi cho các thành viên trong trường hợp gặp phải sự cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường. Cũng trong cuộc cạnh tranh này, đã có thời kỳ, các loài cá tra nuôi (Pangasius hypophthalmus) và cá ba sa (Pangasius bocourti) của Nam Bộ, mặc dù thuộc họ Pangasiidae (tiếng Anh gọi là shark catfish) cũng trong bộ Cá da trơn nhưng vẫn bị cho là thuộc họ Cá trê (Clariidae) và cho tới nay tại thị trường Mỹ vẫn không được dán nhãn là catfish và áp dụng thuế chống phá giá lên các loài cá nhập khẩu này.

Ở Việt Nam có nhiều loài thuộc bộ Cá da trơn như cá trê, cá nheo, cá bông lau, cá ba sa, cá tra v.v Đại đa số chúng sinh sống tự nhiên trong các ao, đầm, sông, hồ. Chỉ đến gần đây, khi nhu cầu tiêu thụ loại cá này dưới dạng thực phẩm tăng lên một cách đột biến, một số loài cá thuộc bộ này bắt đầu được các chủ trại nuôi cá ở Việt Nam chăn nuôi, mặc dù với quy mô không lớn.

Céline Dion

Céline Marie Claudette Dion, CC OQ ChLD (; tiếng Pháp: [selin djɔ̃] ( nghe); sinh ngày 30 tháng 3 năm 1968) là nữ ca sĩ người Canada. Sinh ra trong một đại gia đình tại Charlemagne, tỉnh Québec, Dion nổi lên như một ngôi sao ở lứa tuổi thiếu niên trong cộng đồng Pháp ngữ sau khi người quản lý và đồng thời là chồng tương lai của cô, René Angélil cho vay nhà để chi trả đĩa nhạc đầu tiên của Dion. Dion lần đầu được biết đến vào thập niên 1980, khi giành chiến thắng tại hai cuộc thi World Popular Song Festival của Yamaha năm 1982 và đại diện cho đoàn Thụy Sĩ tham gia Eurovision Song Contest năm 1988. Vào năm 1990, cô phát hành album tiếng Anh mang tựa đề Unison, giúp cô trở thành nghệ sĩ nhạc pop có triển vọng tại Bắc Mỹ và các khu vực sử dụng tiếng Anh khác trên thế giới.

Trong thập niên 1990, với sự giúp đỡ của Angélil, danh tiếng của cô lan rộng toàn cầu khi hợp tác với hãng thu âm Epic Records và phát hành một vài album tiếng Anh xen kẽ với các album tiếng Pháp. Các album Falling into You (1996) và Let's Talk About Love (1997) đều đạt chứng nhận đĩa Kim cương ở Hoa Kỳ, trong khi D'eux (1995) là album tiếng Pháp bán chạy nhất mọi thời đại. Cô còn ra mắt một loạt đĩa đơn quán quân trên toàn cầu, bao gồm "The Power of Love", "Think Twice", "Because You Loved Me", "It's All Coming Back to Me Now", "My Heart Will Go On" và "I'm Your Angel". Khi đang ở đỉnh cao của sự nghiệp, Dion đột ngột tạm ngừng công tác trong ngành giải trí nhằm thu xếp công việc gia đình và dành thời gian chăm sóc người chồng được chẩn đoán mắc bệnh ung thư. Cô quay lại sự nghiệp âm nhạc vào năm 2002 và ký một hợp đồng tham gia biểu diễn trong A New Day... (2003–07), một chương trình kịch nghệ hằng đêm tại Caesars Palace, Paradise, Nevada. Đây là chương trình cố định thành công nhất mọi thời đại, thu về 385 triệu đô-la Mỹ.

Âm nhạc của Dion chịu ảnh hưởng bởi nhiều thể loại, trải dài từ rock và R&B cho đến nhạc Phúc âm và cổ điển. Cô chủ yếu thu âm bằng tiếng Pháp và tiếng Anh, cho dù có thể hát bằng tiếng Tây Ban Nha, tiếng Ý, tiếng Đức, tiếng La Tinh, tiếng Nhật và Quan thoại. Dù tác phẩm của Dion thường nhận các ý kiến trái chiều từ giới phê bình, giọng ca của cô lại được ca ngợi nhờ kỹ năng thanh nhạc điêu luyện. Dion đã thắng 5 Giải Grammy, trong đó có giải "Album của năm" và "Thu âm của năm". Cô là nữ nghệ sĩ có doanh số đĩa nhạc lớn thứ hai tại Mỹ trong kỷ nguyên Nielsen SoundScan. Năm 2003, Liên đoàn Công nghiệp ghi âm quốc tế (IFPI) công nhận Dion với 50 triệu đĩa nhạc bán ra ở châu Âu. Dion vẫn là nghệ sĩ gốc Canada có doanh số đĩa nhạc lớn nhất và là một trong những nghệ sĩ âm nhạc có số doanh thu lớn nhất mọi thời đại, với hơn 200 triệu album trên toàn thế giới.

Georgia

Georgia là một tiểu bang tại Đông Nam Hoa Kỳ.

Ðây là nơi sinh của Tổng thống Jimmy Carter (tại Plains).

Hoa Kỳ

Hoa Kỳ (tiếng Anh: United States - U.S) hay Mỹ (tiếng Anh: America) tên gọi đầy đủ là Hợp chúng quốc Hoa Kỳ hoặc Hợp chúng quốc Mỹ (tiếng Anh: United States of America - USA) là một nước cộng hòa lập hiến liên bang gồm 50 tiểu bang và 1 đặc khu liên bang. Quốc gia này nằm gần hoàn toàn trong Tây Bán cầu: 48 tiểu bang lục địa và thủ đô Washington, D.C., nằm giữa Bắc Mỹ, giáp Thái Bình Dương ở phía tây, Đại Tây Dương ở phía đông, Canada ở phía bắc, và México ở phía nam. Tiểu bang Alaska nằm trong vùng tây bắc của lục địa Bắc Mỹ, giáp với Canada ở phía đông. Tiểu bang Hawaii nằm giữa Thái Bình Dương. Hoa Kỳ cũng có 14 lãnh thổ hay còn được gọi là vùng quốc hải rải rác trong vùng biển Caribe và Thái Bình Dương.

Với 3,79 triệu dặm vuông (9.833.520 triệu km²) và 324,1 triệu dân (2018), Hoa Kỳ là quốc gia lớn thứ 3 hoặc thứ 4 về tổng diện tích (xem phần địa lý để biết thêm chi tiết) và thứ 3 về dân số trên thế giới. Hoa Kỳ là một trong những quốc gia đa dạng chủng tộc nhất trên thế giới, do kết quả của những cuộc di dân đến từ nhiều quốc gia khác trên thế giới. Nền kinh tế quốc dân của Hoa Kỳ lớn nhất trên thế giới và đứng thứ 2 thế giới (tính theo sức mua tương đương). Tổng sản phẩm nội địa (GDP) của Mỹ được ước tính cho năm 2015 là trên 18,1 ngàn tỷ đô la (khoảng 23% tổng sản lượng thế giới dựa trên GDP danh nghĩa, và khoảng 16% theo sức mua tương đương). GDP bình quân đầu người của Hoa Kỳ là 56.421 đô la, đứng hạng 5 thế giới theo giá trị thực và hạng 10 theo sức mua tương đương.Quốc gia được thành lập ban đầu với 13 thuộc địa của Liên hiệp Anh nằm dọc theo bờ biển Đại Tây Dương. Sau khi tự tuyên bố trở thành các "tiểu quốc", cả 13 cựu thuộc địa này đã đưa ra tuyên ngôn độc lập vào ngày 4 tháng 7 năm 1776. Các tiểu bang nổi loạn đã đánh bại Đế quốc Anh trong Chiến tranh Cách mạng Mỹ, đây là cuộc chiến tranh thuộc địa giành độc lập đầu tiên thành công trong lịch sử. Hội nghị Liên bang quyết định sử dụng bản Hiến pháp Hoa Kỳ hiện tại vào ngày 17 tháng 9 năm 1787. Việc thông qua bản hiến pháp một năm sau đó đã biến các cựu thuộc địa thành một phần của một nước cộng hòa duy nhất. Đạo luật nhân quyền Hoa Kỳ gồm có mười tu chính án hiến pháp được thông qua năm 1791.

Theo tư tưởng Vận mệnh hiển nhiên, Hoa Kỳ đã bắt đầu cuộc mở rộng lãnh thổ mạnh mẽ trên khắp Bắc Mỹ trong thế kỷ XIX. Sự kiện này bao gồm việc tiêu diệt các dân tộc bản địa (Diệt chủng người da đỏ), đánh chiếm những lãnh thổ mới, và từng bước thành lập các tiểu bang mới. Nội chiến Hoa Kỳ kết thúc chế độ nô lệ tại Hoa Kỳ và ngăn ngừa sự chia xé quốc gia. Đến cuối thế kỷ XIX, Hoa Kỳ đã mở rộng đến Thái Bình Dương, và trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới. Chiến tranh Tây Ban Nha – Hoa Kỳ và Chiến tranh thế giới thứ nhất đã xác định vị thế cường quốc quân sự toàn cầu của Hoa Kỳ. Chiến tranh thế giới thứ hai đã xác định vị thế siêu cường toàn cầu của Hoa Kỳ, là quốc gia đầu tiên có vũ khí hạt nhân, và là một trong năm thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Là siêu cường duy nhất còn lại sau Chiến tranh Lạnh, Hoa Kỳ được nhiều quốc gia nhìn nhận như là một thế lực quân sự, văn hóa, và kinh tế có ảnh hưởng lớn nhất trên thế giới. Tuy nhiên, xã hội Hoa Kỳ cũng đang tồn tại những vấn đề nan giải khó giải quyết (chênh lệch giàu nghèo cao, nạn xả súng bừa bãi, nạn phân biệt chủng tộc, tỷ lệ tội phạm cao, chi phí y tế đắt đỏ...).

Hướng đạo

Hướng đạo (Scouting), hay còn được biết với tên là Phong trào Hướng đạo (Scout Movement), là một phong trào thanh thiếu niên có phạm vi toàn cầu với mục đích được nêu rõ là trợ giúp giới trẻ trong việc phát triển tâm linh, tâm trí và sức khỏe để đóng những vai trò xây dựng trong xã hội. Thường thường tên gọi "Hướng đạo" được dùng để chỉ chung tất cả nam và nữ hướng đạo sinh nhưng đôi khi cũng được dùng để chỉ riêng nam hướng đạo sinh. Trong khi đó Nữ Hướng đạo được dùng để chỉ riêng nữ hướng đạo sinh.

Hướng đạo bắt đầu vào năm 1907 khi Robert Baden-Powell, một trung tướng trong quân đội Anh, tổ chức một cuộc cắm trại Hướng đạo đầu tiên tại Đảo Brownsea ở Anh. Baden-Powell viết ra các nguyên tắc của Hướng đạo trong sách Hướng đạo cho nam (Luân Đôn, 1908), dựa vào các sách quân đội trước đây của ông, cùng với sự ảnh hưởng và trợ lực từ Frederick Russell Burnham, từ Ernest Thompson Seton là sáng lập viên phong trào Woodcraft Indians, từ William Alexander Smith là sáng lập viên Lữ đoàn Nam (Boys' Brigade) và từ nhà xuất bản của ông là Cyril Arthur Pearson. Trong nửa đầu thế kỷ XX, phong trào phát triển bao gồm ba lứa tuổi chính là Ấu, Thiếu, và Tráng.

Phong trào dùng Phương pháp Hướng đạo, một chương trình giáo dục không chính thức chú ý đặc biệt vào các hoạt động thực hành ngoài trời, bao gồm cắm trại, kỹ năng sống trong rừng, trò chơi dưới nước, đi bộ đường dài, mang trang bị sau lưng, và các trò thể thao. Một đặc điểm của phong trào dễ được nhận ra là đồng phục Hướng đạo với khăn quàng và mũ vận động hay mũ đội đầu tương ứng. Huy hiệu đặc biệt trên đồng phục bao gồm hoa bách hợp và hình ba lá, cũng như các chuyên hiệu (bằng chuyên môn hay phù hiệu chuyên môn) và những phù hiệu đẳng cấp khác.

Năm 2007, Hướng đạo nam và nữ cộng lại có trên 38 triệu thành viên trong 216 quốc gia. Hai tổ chức Hướng đạo chính lớn nhất thế giới: một là Tổ chức Phong trào Hướng đạo Thế giới dành cho nam và các hội Hướng đạo có cả nam và nữ, hai là Hội Nữ Hướng đạo Thế giới dành cho nữ nhưng đôi khi cũng chấp nhận các hội Hướng đạo có nam và nữ. Đây cũng là năm đánh dấu một trăm năm Hướng đạo trên toàn thế giới, có nhiều tổ chức thành viên dự định các chương trình trên toàn thế giới để kỷ niệm sự kiện này.

Kentucky

Thịnh vượng chung Kentucky (tiếng Anh: Commonwealth of Kentucky, phát âm như "Ken-tắc-ky") là tiểu bang thứ 15 của Hoa Kỳ. Kentucky thường được coi là tiểu bang miền Nam.

Ðây là nơi sinh của Tổng thống Abraham Lincoln (tại Hardin County).

Liên minh miền Nam Hoa Kỳ

Liên minh miền Nam Hoa Kỳ hay Hiệp bang miền Nam Hoa Kỳ (tiếng Anh: Confederate States of America, gọi tắt Confederate States, viết tắt: CSA) là chính phủ thành lập từ 11 tiểu bang miền nam Hoa Kỳ trong những năm Nội chiến (1861–1865).

Năm 1861 Abraham Lincoln đắc cử tổng thống và muốn thay đổi dự luật để xóa bỏ thể chế nô lệ. Bảy tiểu bang miền nam Hoa Kỳ phản đối chính sách cởi mở này và tuyên bố ly khai chính phủ liên bang, thành lập chính phủ riêng do Jefferson Davis làm tổng thống. Chính quyền Abraham Lincoln không công nhận chính phủ liên minh miền Nam này. Khi quân miền Nam tấn công đồn Sumter, Nội chiến Hoa Kỳ bùng nổ và thêm 4 tiểu bang khác gia nhập phe miền nam chống lại lực lượng Liên bang miền Bắc. Tuy các cường quốc châu Âu như Anh và Pháp lợi dụng cơ hội bán vũ khí và tàu chiến cho chính phủ miền Nam, chính phủ này không được quốc tế công nhận.

Chính phủ Liên minh miền Nam Hoa Kỳ tan rã sau khi hai đại tướng Robert E. Lee và Joseph Johnston của quân miền Nam đầu hàng quân miền Bắc vào tháng 4 năm 1865.

Louisiana

Louisiana ( () hay (); tiếng Pháp Louisiana: La Louisiane, [la lwizjan] hay [la luzjan]; tiếng Creole Louisiana: Léta de la Lwizyàn; tiếng Pháp chuẩn État de Louisiane, [lwizjan] ( nghe)) là một tiểu bang tọa lạc ở miền Nam Hoa Kỳ. Louisiana là bang rộng lớn thứ 31 và bang đông dân thứ 25 trong 50 tiểu bang của Hoa Kỳ. Thủ phủ là Baton Rouge, còn thành phố lớn nhất là New Orleans. Louisiana là bang duy nhất của Hoa Kỳ mà phân cấp hành chính được gọi là "parish", tương đương với "county" ở các bang khác. Parish lớn nhất theo dân số là Đông Baton Rouge, và lớn nhất theo diện tích là Plaquemines. Louisiana tiếp giáp với Arkansas về phía bắc, Mississippi về phía đông, Texas về phía tây, và vịnh México về phía nam.

Đa phần đất đai của bang được tạo nên từ trầm tích sông Mississippi, tạo nên những châu thổ rộng lớn và những khu vực bát ngát đầm lầy và đồng lầy ven biển. Tại đây có sự phong phú về sinh vật điển hình miền Nam Hoa Kỳ, với ví dụ là các loài cò quăm và cò trắng. Cũng có nhiều loài ếch cây, và cá như cá tầm và cá tầm thìa. Ở nơi cao hơn một chút, cháy rừng là một hiện tượng phổ biến, và ở đó có những khu rừng thông lá dài bạt ngàn và xavan ngập nước. Những điều này hỗ trợ cho sự sinh tồn của một số lớn thực vật, gồm nhiều loài lan và thực vật ăn thịt. Louisiana có nhiều tộc người bản địa hơn bất kỳ bang miền nam nào khác, trong đó bốn được công nhận cấp liên bang, mười được công nhận cấp bang, và bốn chưa được công nhận.

Mississippi

Mississippi là một tiểu bang phía nam của Hoa Kỳ. Tên của tiểu bang lấy từ tên sông Mississippi, chảy dọc theo biên giới phía tây. Cái tên đó có nguồn gốc hoặc là từ tiếng Ojibwe, một loại tiếng của người bản địa Bắc Mỹ được nói ở thượng nguồn dòng sông, hoặc là trong tiếng Algonquian, với nghĩa là "sông lớn". Một số tên hiệu khác được gán cho Mississippi là Magnolia State và Hospitality State.

New Mexico

New Mexico (phiên âm: Niu Mê-hi-cô, tiếng Tây Ban Nha: Nuevo México [ˈnweβo ˈmexiko]; tiếng Navajo: Yootó Hahoodzo [jò:txó hàhò:tsò]) là một tiểu bang tọa lạc ở vùng Tây Nam Hoa Kỳ. New Mexico trở thành bang thứ 47 vào ngày 6 tháng 1 năm 1912. Nó thường được xem là một tiểu bang miền Núi. New Mexico có diện tích lớn thứ năm, dân số lớn thứ 36, và mật độ dân số thấp thứ sáu trong 50 tiểu bang Hoa Kỳ.

Đã có người sinh sống từ hàng nghìn năm trước khi người châu Âu đến khai phá, New Mexico trở thành một phần của thuộc địa Tân Tây Ban Nha của đế quốc Tây Ban Nha năm 1598. Sau đó, nó là một phần của nước México độc lập trước khi trở thành một lãnh thổ Hoa Kỳ và cuối cùng thành một tiểu bang Hoa Kỳ do kết quả của cuộc Chiến tranh Hoa Kỳ-México. Trong các tiểu bang, New Mexico có tỉ lệ người Hispano cao nhất, gồm con cháu của thực dân Tây Ban Nha, những người đã sống ở đây hơn 400 năm. Nó cũng có tỉ lệ người bản địa cao thứ nhì sau Alaska, và có tổng số người bản địa cao thứ tư sau California, Oklahoma, và Arizona. Đa số người bản địa thuộc các dân tộc Navajo, Pueblo, và Apache. Nền văn hóa tiểu bang được định hình qua các ảnh hưởng Hispano và người bản địa này và được thể hiện qua bang kỳ. Màu đỏ và vàng được lấy từ hoàng kỳ Tây Ban Nha, với biểu tượng mặt trời cổ xưa của người Zia.Có một niềm tin sai lầm rằng New Mexico, hay Nuevo México trong tiếng Tây Ban Nha, lấy tên theo quốc gia México. Tuy nhiên, khi người Tây Ban Nha khai phá New Mexico năm 1563, và lần nữa năm 1581, họ tin rằng nó cũng có nền văn hóa Mexica tương tự của Đế quốc Aztec. Cái tên này đơn giản là được chấp nhận, dù tiểu bang không có liên hệ gì với các bộ tộc tại México.

North Carolina

North Carolina ( ()) hay Bắc Carolina là một tiểu bang phía nam của Hoa Kỳ. Là một trong những tiểu bang đầu tiên, đó là thuộc địa đầu tiên của Anh ở châu Mỹ. Đây cũng là nơi những chuyến bay đầu tiên của anh em nhà Wright bằng máy bay — những khí cụ bay đầu tiên nặng hơn không khí.

Ðây là nơi sinh của các Tổng thống James Knox Polk (tại Mecklenburg County), Andrew Johnson (tại Raleigh).

Ronald Reagan

Ronald Wilson Reagan (; 6 tháng 2 năm 1911 – 5 tháng 6 năm 2004) là tổng thống thứ 40 của Hoa Kỳ (1981–1989). Trước đó, ông là Thống đốc thứ 33 của bang California (1967–1975), và từng là diễn viên truyền hình, truyền thanh và điện ảnh.

Reagan sinh ra tại thành phố Tampico, Illinois, và lớn lên ở Dixon. Ông học Đại học Eureka và có bằng cử nhân về kinh tế và xã hội học. Sau khi tốt nghiệp, đầu tiên ông chuyển đến tiểu bang Iowa để làm việc trong vai trò phát thanh viên, sau đó vào năm 1937, ông đến thành phố Los Angeles nơi ông khởi nghiệp trong vai trò diễn viên điện ảnh và sau đó là diễn viên truyền hình. Một số bộ phim nổi bật nhất của ông gồm có Knute Rockne, All American (1940), Kings Row (1942), và Bedtime for Bonzo (1951). Reagan làm chủ tịch liên đoàn lao động Screen Actors Guild và sau đó là người phát ngôn cho công ty General Electric (GE). Ông bắt đầu tham gia chính trị trong thời kỳ làm việc cho công ty GE. Ban đầu ông là đảng viên Dân chủ. Thiên hướng của ông bắt đầu chuyển đổi sang cánh hữu vào thập niên 1950 và sau đó ông đổi sang đảng Cộng hòa vào năm 1962. Sau khi đọc một bài diễn văn mạnh mẽ ủng hộ ứng cử viên tổng thống Barry Goldwater năm 1964, mọi người thuyết phục ông chạy đua vào chức Thống đốc tiểu bang California. Ông thắng cử thống đốc tiểu bang California hai năm sau đó và tái đắc cử lần nữa vào năm 1970. Ông thất bại trong các lần chạy đua tìm sự đề cử của đảng Cộng hòa ra tranh cử tổng thống Hoa Kỳ vào các năm 1968 và năm 1976 nhưng sau cùng ông giành được sự đề cử của đảng Cộng hòa và chiến thắng trong Tổng tuyển cử năm 1980, đánh bại đương kim tổng thống Jimmy Carter.Trong vai trò tổng thống, Reagan thực hiện các đề xướng kinh tế và chính trị mới có tầm cỡ. Các chính sách kinh tế trọng cung của ông, được gọi là "Reaganomics", chủ trương giảm tỉ lệ thuế để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kiểm soát nguồn tiền để giảm lạm phát, bãi bỏ kiểm soát kinh tế, và giảm chi tiêu của chính phủ. Trong nhiệm kỳ đầu tiên, ông thoát chết trong một vụ ám sát; ông kiên quyết chống lại các công đoàn lao động, và ra lệnh xâm chiếm Grenada. Reagan tái đắc cử tổng thống một cách vang dội vào năm 1984 và tuyên bố rằng điều này là "bình minh tại Mỹ". Nhiệm kỳ thứ hai của ông để lại với những vấn đề còn gây tranh cãi, chủ yếu vì các vấn đề đối ngoại, thí dụ như sự kết thúc Chiến tranh lạnh, vụ không kích Libya năm 1986, và vụ bê bối Iran-Contra bị phơi bày. Công khai mô tả Liên Xô là một "đế quốc ma quỷ", Reagan ủng hộ các phong trào chống cộng sản trên toàn thế giới và dành ra nhiệm kỳ đầu tiên của mình hủy bỏ chiến lược giảm thiểu tối đa căng thẳng giữa phương Tây và khối Xô Viết, thường được gọi là chiến lược détente, bằng cách ra lệnh tăng cường mạnh mẽ sức mạnh quân sự trong cuộc chạy đua vũ trang với Liên Xô. Reagan thương thuyết với Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô là Mikhail Gorbachev và kết quả đỉnh điểm là sự ra đời của Hiệp ước Lực lượng Hạt nhân tầm trung và việc giảm thiểu kho vũ khí hạt nhân của cả hai nước.

Reagan rời chức tổng thống vào năm 1989. Năm 1994, Reagan tiết lộ rằng ông bị mắc bệnh mất trí nhớ; ông mất 10 năm sau đó ở tuổi 93. Là một hình tượng bảo thủ, Reagan được xếp cao trong các cuộc thăm dò ý kiến công chúng và được công nhận vì đã tạo ra cuộc phục sinh ý tưởng chính trị cánh hữu Mỹ.

San Francisco

San Francisco (), tên chính thức Thành phố và Quận San Francisco (tiếng Anh: City and County of San Francisco), là một trung tâm văn hóa và tài chính hàng đầu của Bắc California và vùng vịnh San Francisco.

Là quận-thành phố thống nhất duy nhất của tiểu bang California, San Francisco chiếm một diện tích khoảng 46,9 dặm vuông Anh (121 km2) trên đầu phía bắc của bán đảo San Francisco. Mật độ dân số của nó là khoảng 17.620 người trên một dặm vuông Anh (6.803 người trên một cây số vuông). Đây là thành phố lớn (dân số trên 200 ngàn người) có mật độ dân cư đông nhất trong tiểu bang California và là thành phố lớn có mật độ dân số đông thứ hai tại Hoa Kỳ, chỉ sau Thành phố New York. San Francisco là thành phố đông dân thứ tư tại California, sau Los Angeles, San Diego và San Jose, và đứng thứ 14 đông dân nhất tại Hoa Kỳ theo ước tính điều tra dân số năm 2012 là 825.863. Thành phố cũng là một trung tâm văn hóa và tài chính của vùng thống kê kết hợp San Jose-San Francisco-Oakland với tổng dân số 8,4 triệu dân.

San Francisco (tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là "Thánh Phanxicô") được thành lập ngày 29 tháng 6 năm 1776 khi những người thực dân từ Tây Ban Nha thiết lập một doanh trại quân sự tại Golden Gate và một hội truyền giáo được đặt tên là Thánh Phanxicô thành Assisi cách đó vài dặm Anh. Cơn sốt vàng California năm 1849 mang đến sự phát triển nhanh chóng cho thành phố và biến nó thành thành phố lớn nhất trên Tây Duyên hải Hoa Kỳ vào thời điểm đó. Vì sự phát triển dân số, San Francisco trở thành một quận-thành phố thống nhất vào năm 1856.

Sau khi ba phần tư thành phố bị tàn phá bởi trận cháy và động đất năm 1906, San Francisco nhanh chóng được tái xây dựng và tổ chức Hội chợ Quốc Panama-Thái Bình Dương chín năm sau đó. Trong thời Chiến tranh thế giới thứ hai, San Francisco là cảng đưa quân phục vụ Mặt trận Thái Bình Dương. Sau chiến tranh, binh sĩ phục vụ chiến tranh trở về, cuộc di dân khổng lồ, những tư tưởng và thái độ tự do cấp tiến cũng như nhiều nhân tố khác đã hội tựu tại đây và hình thành một hiện tượng xã hội "Summer of Love" và phong trào dân quyền của người đồng tính, biến thành phố San Francisco thành một trung tâm của chủ nghĩa vận động cho tự do cấp tiến tại Hoa Kỳ.

Ngày nay, San Francisco được xếp thứ 44 là điểm đến du lịch trên thế giới, và hạng sáu điểm đến du lịch tại Hoa Kỳ vào năm 2011. Thành phố nổi tiếng vì mùa hè mát mẻ, sương mù, đồi dốc trùng điệp, kiến trúc đa dạng, và những danh lam thắng cảnh trong đó có cầu Cổng Vàng, xe chạy bằng dây cáp, nhà tù xưa trên đảo Alcatraz, và khu Phố Tàu. Thành phố cũng là một trung tâm tài chính và ngân hàng chính yếu.

Soul

Nhạc soul (tiếng Anh: Soul music, có nghĩa là "âm nhạc của tâm hồn") hoặc âm nhạc linh hồn là thể loại nhạc của người Mỹ gốc Phi nổi tiếng sinh ra trong cuối thập niên 1950 tại Hoa Kỳ và có nguồn gốc từ nhạc phúc âm và R&B. Ray Charles thường được coi là người làm cho thể loại nhạc soul được yêu chuộng với chuỗi các hit của 1954 bắt đầu với "I Got a Woman".

Tennessee

Tennessee ( (); tiếng Cherokee: ᏔᎾᏏ) là một trong 50 tiểu bang của Hoa Kỳ. Bang này nằm cạnh 8 tiểu bang khác: Kentucky và Virginia về phía bắc; Bắc Carolina ở phía đông; phía nam giáp Georgia, Alabama và Mississippi; và phía tây là Arkansas và Missouri. Tennessee là bang lớn thứ 36 về diện tích và thứ 17 về dân số ở Hoa Kỳ. Thủ phủ bang và là thành phố lớn thứ hai bang là Nashville, Tennessee, có dân số 609,644. Memphis, Tennessee là thành phố lớn nhất với dân số 652,050. Tennessee còn là quê hương của nhạc đồng quê.Tiểu bang Tennessee là bắt nguồn từ Hiệp hội Watauga, một hiệp ước biên giới 1772 nói chung được xem là chính phủ theo hiến đầu tiên ở phía tây của dãy Appalachian. Tennessee hiện nay là một phần của bang Bắc Carolina, và một phần Lãnh thổ Tây Nam. Tennessee được công nhận là một bang thứ 16 của Hoa Kỳ vào ngày 01 tháng 06 năm 1796. Trong nội chiến Hoa Kỳ, bang gia nhập vào Liên minh miền Nam Hoa Kỳ năm 1861 và gia nhập lại vào liên bang Hoa Kỳ sau khi chiến tranh kết thúc.

Tây Nam Hoa Kỳ

Tây Nam Hoa Kỳ (tiếng Anh: Southwestern United States, còn gọi là American Southwest) được định nghĩa là các tiểu bang nằm ở phía tây Sông Mississippi và có một giới hạn ranh giới nào đó ở phía bắc, ví dụ như các vĩ tuyến 37, 38, 39 hay 40 độ bắc. Kinh tuyến 97,33 độ tây được dùng để phân chia Tây Nam ra khỏi Nam Hoa Kỳ.

Trong lịch sử, Tây Nam Hoa Kỳ bắt đầu ở phía viễn tây của thành phố Fort Worth, 10 dặm Anh về phía đông của khu vực trung tâm của thành phố Austin, và 55 dặm Anh về phía đông của khu vực trung tâm của thành phố San Antonio. Tuy nhiên một số nguồn lại đặt ranh giới của vùng này xa hơn về hướng tây và xếp phần lớn Texas và Oklahoma thành một tiểu vùng "tây nam" của chính Nam Hoa Kỳ và vì thế tách chúng ra khỏi các tiểu bang khác thường được xem là các tiểu bang Tây Nam.

Tây Nam Hoa Kỳ rất đa chủng với con số đáng kể dân số người Mỹ gốc châu Âu và người Mỹ gốc Hispanic ngoài ra còn có người Mỹ gốc châu Phi, người Mỹ gốc châu Á và người bản thổ Mỹ.

Vùng này cũng có những thành phố và vùng đô thị lớn. Tuy nhiên vùng này có mật độ dân số thưa ở những khu vực nông thôn. Houston, Dallas, Phoenix và San Antonio là trong số 10 thành phố đông dân hàng đầu tại Hoa Kỳ. Nhiều tiểu bang trong vùng này như Arizona, Nevada, New Mexico và Texas có sự tăng dân số cao nhất tại Hoa Kỳ. Các khu đô thị trong vùng này như Albuquerque, Austin, Las Vegas, Phoenix, Tucson và El Paso là một số thành phố phát triển nhanh nhất tại Hoa Kỳ.

Washington, D.C.

Washington, D.C. là thủ đô của Hoa Kỳ, được thành lập vào ngày 16 tháng 7 năm 1790, thường được gọi ngắn gọn là Washington, hoặc D.C. Địa danh này mang tên vị Tổng thống đầu tiên George Washington của Hợp chúng quốc, kết hợp với tên của người khám phá ra châu Mỹ Cristoforo Colombo. Tên chính thức là District of Columbia (viết tắt D.C.), có nghĩa Đặc khu Columbia, trong tiếng Việt cũng được dịch là Quận Columbia nhưng dễ nhầm lẫn vì có đến 8 quận tại Hoa Kỳ mang tên Columbia, đặc biệt nhất là quận Columbia, Washington, một quận nằm trong tiểu bang Washington; trong nhiệm kỳ tổng thống của George Washington, thành phố được kế hoạch bởi kỹ sư Pierre-Charles L'Enfant (1754–1825) và được xây dựng làm thủ đô. Về địa vị chính trị thì Washington, D.C. được xem là gần như tương đương với các tiểu bang của Hoa Kỳ.Thành phố Washington ban đầu là một đô thị tự quản riêng biệt bên trong Lãnh thổ Columbia cho đến khi một đạo luật của Quốc hội Hoa Kỳ năm 1871 có hiệu lực kết hợp thành phố và lãnh thổ này thành một thực thể duy nhất được gọi là Đặc khu Columbia. Đó là lý do tại sao thành phố này trong khi có tên gọi chính thức là Đặc khu Columbia lại được biết với tên gọi là Washington, D.C., có nghĩa là thành phố Washington, Đặc khu Columbia. Thành phố nằm bên bờ bắc sông Potomac và có ranh giới với tiểu bang Virginia ở phía tây nam và tiểu bang Maryland ở các phía còn lại. Tuy đặc khu này có dân số 672.228 người nhưng do nhiều người di chuyển ra vào từ các vùng ngoại ô lân cận nên dân số thực tế lên đến trên 1,1 triệu người trong suốt tuần làm việc. Vùng đô thị Washington, bao gồm cả thành phố, có dân số 6,1 triệu người là vùng đô thị lớn thứ 6 tại Hoa Kỳ.

Điều một trong Hiến pháp Hoa Kỳ có nói đến việc lập ra một đặc khu liên bang, không phụ thuộc vào bất cứ tiểu bang nào, để phục vụ như thủ đô vĩnh viễn của quốc gia. Các trung tâm của ba ngành trong chính phủ liên bang Hoa Kỳ cùng nhiều đài tưởng niệm và bảo tàng quốc gia đều nằm trong đặc khu. Washington, D.C. là nơi tiếp nhận 173 đại sứ quán ngoại quốc cũng như các tổng hành dinh của Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Tổ chức các quốc gia châu Mỹ (OAS), Ngân hàng Phát triển Liên Mỹ, và Tổ chức Y tế Liên Mỹ (PAHO). Ngoài ra còn có tổng hành dinh của các cơ quan khác như các liên đoàn lao động, các nhóm vận động hành lang, và các hội đoàn nghiệp vụ cũng đặt tại nơi đây.

Quốc hội Hoa Kỳ có quyền hành tối cao đối với Washington, D.C. vì vậy cư dân của thành phố có ít quyền tự trị hơn cư dân của các tiểu bang Hoa Kỳ. Đặc khu có một đại biểu quốc hội chung nhưng không có quyền biểu quyết và cũng không có thượng nghị sĩ nào. Cư dân Đặc khu Columbia trước đây không thể tham gia bầu Tổng thống Hoa Kỳ cho đến khi Tu chính án 23 Hiến pháp Hoa Kỳ được thông qua năm 1961. Nếu Washington, D.C. là một tiểu bang thì nó sẽ đứng cuối cùng tính theo diện tích, hạng hai từ cuối nếu tính theo dân số, đứng đầu tính theo mật độ dân số, đứng thứ 35 tính theo tổng sản phẩm nội địa tiểu bang, và đứng hạng nhất về phần trăm dân số người Mỹ gốc châu Phi, khiến cho Washington, D.C. trở thành một tiểu bang có đa số dân thiểu số.

4 Vùng
Đông Bắc
Trung Tây
Nam
Tây
Vùng khác

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.