Nam Á

Nam Á (còn gọi là tiểu lục địa Ấn Độ) là thuật ngữ dùng để chỉ khu vực miền nam của châu Á, gồm các quốc gia hạ Himalaya và lân cận. Về mặt địa hình, mảng Ấn Độ chi phối Nam Á, nằm về phía nam dãy HimalayaHindu Kush. Nam Á có Ấn Độ Dương bao quanh ở phía nam, còn trên đất liền thì giáp với Tây Á, Trung Á, Đông ÁĐông Nam Á.

Nam Á bao gồm các lãnh thổ hiện tại của Afghanistan, Ấn Độ, Bangladesh, Bhutan, Maldives, Nepal, PakistanSri Lanka.[7] Hiệp hội Nam Á vì sự Hợp tác Khu vực (SAARC) là một tổ chức hợp tác kinh tế trong khu vực, cơ cấu này được thành lập vào năm 1985 và bao gồm toàn bộ tám quốc gia thuộc Nam Á.[8]

Nam Á có diện tích khoảng 5,2 triệu km², chiếm 11,71% diện tích châu Á và chiếm 3,5% diện tích bề mặt đất liền của Trái đất.[7] Dân số Nam Á là khoảng 1,749 tỉ người vào năm 2013, chiếm khoảng một phần tư dân số thế giới, và đây là khu vực địa lý đông dân nhất cũng như có mật độ dân số cao nhất trên thế giới.[3] Về tổng thể, Nam Á chiếm khoảng 39,49% dân số châu Á, hơn 24% dân số thế giới, và có nhiều dân tộc.[9][10][11]

Năm 2010, Nam Á đứng đầu thế giới về số lượng tín đồ Ấn Độ giáo, Jaina giáoSikh giáo. Khu vực cũng là nơi có số lượng tín đồ Hồi giáo đông đảo nhất tại châu Á-Thái Bình Dương,[12][13] ngoài ra còn có hơn 35 triệu tín đồ Cơ Đốc giáo và 25 triệu tín đồ Phật giáo tại Nam Á.[14]

Nam Á
South Asia (orthographic projection)
Quốc gia[1]
Dân số1,749 tỉ (2013)[2]
Hạng dân số1 (thế giới)[3]
GDP (danh nghĩa)3,12 nghìn tỉ USD[4][5]
GDP (PPP)11,67 nghìn tỉ USD[4]
Ngôn ngữChủ yếu thuộc nhóm Ấn-Arya, ngoài ra còn có các nhóm khác như Dravida, Iran, Nam ÁHán-Tạng
Múi giờUTC+04:30, UTC+05:00, UTC+5:30, UTC+5:45, UTC+06:00
Thủ đô
Thành phố lớn nhất

Định nghĩa

South Asia UN
Bản đồ Nam Á của Liên Hiệp Quốc.[15] Tuy nhiên, Liên Hiệp Quốc không xác nhận định nghĩa nào hoặc ranh giới của khu vực.

Tổng diện tích của Nam Á và phạm vi địa lý của khu vực vẫn chưa rõ ràng vì định hướng chính sách đối ngoại của các quốc gia trong khu vực khá bất đồng.[16] Ngoài phần trung tâm của Nam Á, vốn từng là bộ phận của Đế quốc Anh, thì còn nhiều khác biệt về vấn đề các quốc gia khác thuộc Nam Á.[17][18][19][20]

Các định nghĩa hiện đại về Nam Á bao gồm các quốc gia Afghanistan, Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh, Sri Lanka, Nepal, Bhutan và Maldives.[21][22][23][24][25][26] Myanmar được một số học giả xếp vào Nam Á, song những người khác lại đưa quốc gia này vào trong phạm vi của Đông Nam Á.[18][27] Một số người không tính đến Afghanistan,[18] những người khác đặt vấn đề về việc nên nhìn nhận Afghanistan là bộ phận của Nam Á hay Trung Đông.[28][29]

Lãnh thổ hiện nay của Ấn Độ, BangladeshPakistan thuộc về Đế quốc Anh trước năm 1947, và họ tạo thành phần trung tâm của Nam Á, bên cạnh Afghanistan[21][22][23][24][25][26] vốn là một lãnh thổ được Anh bảo hộ cho đến năm 1919, sau khi người Afghanistan thất bại trước người Anh trong Chiến tranh Anh-Afghanistan lần thứ hai. Các quốc gia vùng núi là NepalBhutan, và các đảo quốc Sri LankaMaldives cũng thường được xếp vào Nam Á. Myanmar (trước gọi là Miến Điện) cũng thường được đưa vào Nam Á, và theo một số định nghĩa lệch lạc khác nhau thì Lãnh thổ Ấn Độ Dương thuộc AnhKhu tự trị Tây Tạng cũng được xếp vào Nam Á.[16][30][31][32][33][34][35][36][37]

Khái niệm phổ biến về Nam Á phần lớn được kế thừa từ ranh giới hành chính của Ấn Độ thuộc Anh,[38] cùng một số ngoại lệ. Thuộc địa Aden, Somaliland thuộc Anh và Singapore mặc dù có thời gian thuộc quyền quản lý của Ấn Độ thuộc Anh song không được đề xuất thuộc về Nam Á.[39] Về mặt cai quản, Miến Điện thuộc về Ấn Độ thuộc Anh trước năm 1937, song hiện được nhìn nhận là bộ phận của Đông Nam Á và là một thành viên của ASEAN. 562 thân vương quốc được chính quyền Ấn Độ thuộc Anh bảo hộ nhưng không cai quản trực tiếp, họ trở thành bộ phận của Nam Á khi gia nhập Ấn Độ hoặc Pakistan.[40][41][42] Về mặt địa chính trị, Nam Á hình thành toàn bộ lãnh thổ của Đại Ấn Độ,[27][43]

Hiệp hội Nam Á vì sự Hợp tác Khu vực (SAARC) hoạt động từ năm 1985 với bảy thành viên là Ấn Độ, Bangladesh, Bhutan, Maldives, Nepal, Pakistan và Sri Lanka, đến năm 2007 thì Afghanistan trở thành thành viên thứ tám.[44][45] Trung Quốc và Myanmar cũng đã nộp đơn xin quyền thành viên đầu đủ trong SAARC.[46][47]. The World Factbook dựa trên cơ sở địa chính trị, dân cư và kinh tế đã định nghĩa rằng Nam Á gồm có Afghanistan, Ấn Độ, Bangladesh, Bhutan, Lãnh thổ Ấn Độ Dương thuộc Anh, Maldives, Nepal, Pakistan và Sri Lanka.[48] Hiệp định Thương mại Tự do Nam Á kết nạp Afghanistan vào năm 2011, và Ngân hàng Thế giới nhóm toàn bộ các quốc gia này vào Nam Á,[49][50] giống như Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF).[51][52]

Sắp xếp phân vùng của Cơ quan Thống kê Liên Hiệp Quốc nhóm toàn bộ các quốc gia SAARC cùng Iran thuộc về Nam Á[53] chỉ áp dụng cho mục đích thống kê.[54] Mạng lưới thông tin dân số (POPIN) xếp Afghanistan, Ấn Độ, Bangladesh, Myanmar, Nepal, Pakistan và Sri Lanka thuộc Nam Á. Maldives theo quan điểm của họ được xếp vào thành viên của mạng lưới phân vùng Thái Bình Dương POPIN.[55] Chỉ số Hirschman–Herfindahl của Ủy ban Kinh tế và Xã hội Liên Hiệp Quốc về châu Á và Thái Bình Dương xếp bảy thành viên ban đầu SAARC vào khu vực Nam Á.[56]

Lãnh thổ Ấn Độ Dương thuộc Anh được liên kết với khu vực trong một ấn phẩm của Jane's vì nguyên nhân an ninh.[57] Khu vực cũng có thể bao gồm lãnh thổ tranh chấp Aksai Chin, nó từng là bộ phận của thân vương quốc Jammu và Kashmir, song nay được quản lý dưới quyền khu tự trị Tân Cương của Trung Quốc.[58]

Việc đưa Myanmar vào khu vực Nam Á không nhận được sự nhất trí, do nhiều người nhận định quốc gia này thuộc về Đông Nam Á và có những người khác cho rằng đây là quốc gia Nam Á.[18][27] Afghanistan có ý nghĩa quan trọng đối với Đế quốc Anh, đặc biệt là sau Chiến tranh Anh-Afghanistan lần thứ hai vào năm 1878–1880. Afghanistan duy trì là một lãnh thổ bảo hộ được Anh bảo hộ cho đến năm 1919, khi một hiệp định với Vladimir Lenin có điều khoản trao độc lập cho Afghanistan. Sau phân chia Ấn Độ, Afghanistan thường được xếp vào Nam Á, song một số người cho rằng quốc gia này thuộc về Tây Nam Á.[16] Trong Chiến tranh của Liên Xô tại Afghanistan (1979–1989), chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ nhìn nhận Pakistan và Afghanistan thuộc Tây Nam Á, trong khi những nguồn khác xếp họ vào Nam Á.[7] Không có nhất trí tổng thể trong giới học giả về các quốc gia thuộc Nam Á.[18]

Trong quá khứ, việc thiếu một định nghĩa nhất quán về Nam Á dẫn đến việc không chỉ thiếu nghiên cứu hàn lâm, mà còn khiến thiếu quan tâm về các nghiên cứu như vậy.[59] Sự mập mờ tồn tại cũng do thiếu một ranh giới rõ ràng về địa lý, địa chính trị, văn hoá-xã hội, kinh tế và lịch sử giữa Nam Á và các bộ phận khác thuộc châu Á, đặc biệt là với Trung Đông và Tây Nam Á.[60] Nhận dạng một bản sắc Nam Á cũng ít quan trọng theo một khảo sát khắp Ấn Độ, Bangladesh, Nepal, Pakistan và Sri Lanka.[61] Tuy nhiên, các định nghĩa hiện nay về Nam Á rất thống nhất trong việc xếp Afghanistan, Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh, Sri Lanka, Nepal, Bhutan và Maldives là các quốc gia cấu thành.[21][22][23][24][25][26]

Tiểu lục địa Ấn Độ

Theo từ điển tiếng Anh Oxford, thuật ngữ "tiểu lục địa" nghĩa là "phân vùng của một lục địa vốn có một bản sắc địa lý, chính trị hoặc văn hoá riêng biệt" và cũng là một "đại lục lớn hay nhỏ hơn một chút so với một lục địa".[62][63] Các sử gia Catherine Asher và Cynthia Talbot cho rằng thuật ngữ "tiểu lục địa Ấn Độ" mô tả một đại lục vật chất tự nhiên tại Nam Á, tương đối cô lập khỏi phần còn lại của đại lục Á-Âu.[64] Tiểu lục địa Ấn Độ cũng là một thuật ngữ địa lý để chỉ đại lục trôi giạt về phía đông bắc từ siêu lục địa Gondwana cổ đại, va chạm với mảng Á-Âu gần 55 triệu năm trước, vào cuối Thế Paleocen. Khu vực địa chất này xét theo phạm vi lớn gồm có Ấn Độ, Bangladesh, Bhutan, Maldives, Nepal, Pakistan và Sri Lanka.[65]

Việc sử dụng thuật ngữ tiểu lục địa Ấn Độ bắt đầu từ thời Đế quốc Anh, và đã là một thuật ngữ đặc biệt thông dụng trong các quốc gia kế thừa nó.[66] Khu vực cũng được định danh là "Ấn Độ" (trong bối cảnh cổ đại và tiền hiện đại), "Đại Ấn Độ", hoặc là Nam Á.[27][43]

Theo nhà nhân loại học John R. Lukacs, "Tiểu lục địa Ấn Độ chiếm phần lớn đại lục của Nam Á",[67] trong khi giáo sư khoa học chính trị Tatu Vanhanen cho rằng "bảy quốc gia Nam Á về mặt địa lý tạo thành một khu vực kết tụ quanh tiểu lục địa Ấn Độ".[68] Theo Chris Brewster, Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh, Sri Lanka, Nepal và Bhutan tạo thành tiểu lục địa Ấn Độ; còn khi đưa Afghanistan và Maldives vào thì thường được gọi là Nam Á.[69] Biên giới địa chính trị của tiểu lục địa Ấn Độ, theo quan điểm của Dhavendra Kumar, bao gồm "Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh, Sri Lanka, Nepal, Bhutan và các đảo nhỏ khác trên Ấn Độ Dương".[70] Maldives là quốc gia gồm một quần đảo nhỏ ở phía tây nam bán đảo Ấn Độ, và được nhìn nhận là thuộc tiểu lục địa Ấn Độ.[71]

Thuật ngữ "tiểu lục địa Ấn Độ" và "Nam Á" đôi khi được sử dụng thay thế cho nhau.[30][66] Thuật ngữ Nam Á đặc biệt phổ biến khi các học giả hoặc quan chức tìm cách phân biệt khu vực này với Đông Á.[72] Theo các sử gia Sugata Bose và Ayesha Jalal, tiểu lục địa Ấn Độ được gọi là Nam Á "theo cách nói gần đây và trung lập hơn."[73] Quan điểm "trung lập" này là chỉ đến mối quan tâm của Pakistan và Bangladesh, đặc biệt là với các xung đột giữa Ấn Độ và Pakistan, do "Ấn Độ" trong tên gọi có thể xúc phạm một số tình cảm chính trị.[27]

Không tồn tại định nghĩa được toàn cầu chấp thuận về các quốc gia thuộc Nam Á hoặc tiểu lục địa Ấn Độ.[18][19][20] Afghanistan không được cho là một phần của tiểu lục địa Ấn Độ, song quốc gia này thường được xếp vào Nam Á.[20] Tương tự, Myanmar được một số học giả xếp vào Nam Á song không được cho là thuộc tiểu lục địa Ấn Độ.[27]

Lịch sử

Thời kỳ cổ đại

Lịch sử của vùng lõi Nam Á bắt đầu cùng với bằng chứng về hoạt động mang tính con người của Homo sapiens từ 75.000 năm trước, hoặc là với các loài thuộc họ Người trước đó như Homo erectus từ khoảng 500.000 năm trước.[74] Văn minh lưu vực sông Ấn được truyền bá và hưng thịnh tại phần tây bắc của Nam Á từ khoảng năm 3300 đến năm 1300 TCN tại khu vực nay thuộc Bắc Ấn Độ, Pakistan và Afghanistan, và là nền văn minh lớn đầu tiên tại Nam Á.[75] Một nền văn hoá đô thị phức tạp và tiến bộ về công nghệ được phát triển trong giai đoạn Mature Harappan từ năm 2600 đến năm 1900 TCN.[76]

Nền văn hoá tiền sử sớm nhất có nguồn gốc trong các di chỉ thời kỳ đồ đá giữa, được chứng minh thông qua các bức hoạ trên đá trong các hang đá Bhimbetka có niên đại trong giai đoạn 30.000 TCN hoặc từ trước đó; cũng như từ thời kỳ đồ đá mới. Theo nhà nhân loại học Possehl, nền văn minh lưu vực sông Ấn tạo ra một sự logic, nếu có chút tuỳ tiện thì có thể xem là điểm khởi đầu các tôn giáo Nam Á, song các liên kết giữa tôn giáo sông Ấn với các truyền thống Nam Á sau này là chủ đề tranh chấp mang tính học thuật.[77]

Giai đoạn Vệ-đà được đặt tên theo tôn giáo Vệ-đà của người Ấn-Arya, kéo dài từ khoảng 1900 đến 500 TCN.[78][79] Người Ấn-Arya là những mục dân[80] di cư đến tây bắc Ấn Độ sau khi nền văn minh lưu vực sông Ấn sụp đổ,[81][82] Các dữ liệu ngôn ngữ học và khảo cổ học thể hiện một thay đổi về văn hoá sau năm 1500 TCN,[81] vì dữ liệu ngôn ngữ và tôn giáo thể hiện rõ các liên kết với ngôn ngữ và tôn giáo của người Ấn-Âu.[83] Đến khoảng năm 1200 TCN, văn hoá và phương thức sinh hoạt nông nghiệp Vệ-đà được hình thành tại phần tây bắc và bắc của đồng bằng sông Hằng tại Nam Á.[80][84][85] Các hình thức nhà nước sơ khai xuất hiện, trong đó liên minh Kuru-Pañcāla có ảnh hưởng nhất.[86][87] Xã hội cấp độ nhà nước đầu tiên được xác nhận tại Nam Á tồn tại vào khoảng 1000 TCN.[80] Trong giai đoạn này, theo lời Samuel, đã xuất hiện các tầng Brahmana và Aranyaka của văn bản Vệ-đà, hợp nhất với Upanishad từ lúc sơ khởi.[88] Các văn bản này bắt đầu hỏi về ý nghĩa của một nghi lễ, tăng thêm mức độ về nghiên cứu triết học và siêu hình,[88] hay là "sự tổng hợp Hindu".[89]

Quá trình đô thị hoá tại Ấn Độ tăng lên trong khoảng từ 800 đến 400 TCN, và có khả năng là do các bệnh dịch đô thị lây lan nên quá trình này có đóng góp khiến trỗi dậy phong trào khổ hạnh và các tư tưởng mới thách thức Bà-la-môn giáo chính thống.[90] Các tư tưởng này dẫn đến các phong trào Sramana, các nhân vật xuất chúng nhất trong đó là người đề xướng Jaina giáo Mahavira (khoảng 549–477 TCN), và người sáng lập Phật giáo là Tất-đạt-đa (khoảng 563-483 TCN).[91]

Quân đội Hy Lạp dưới quyền Alexandros Đại đến trú tại khu vực Hindu Kush của Nam Á trong vài năm và sau đó chuyển đến khu vực thung lũng sông Ấn. Sau đó, Đế quốc Maurya bành trướng ra hầu hết Nam Á vào thế kỷ 3 TCN. Phật giáo được truyền bá ra ngoài tiểu lục địa Ấn Độ, theo hướng tây bắc đến Trung Á. Các tượng Phật tại Bamiyan của Afghanistan và các chỉ dụ của Ashoka gợi ý rằng các hoà thượng truyền bá Phật giáo (Dharma) tại các khu phía đông của Đế quốc Seleucos, và thậm chí có thể xa hơn đến Tây Á.[92][93][94] Phật giáo Theravada (Nam tông) truyền bá từ Ấn Độ về phía nam đến Sri Lanka vào thế kỷ 3 TCN, sau đó truyền sang Đông Nam Á.[95] Đến thế kỷ cuối TCN, Phật giáo đã trở nên nổi bật tại khu vực Himalaya, Gandhara, Hindu Kush và Bactria.[96][97][98]

Từ khoảng 500 TCN đến 300 CN, sự tổng hợp Vệ-đà-Bà-la-môn hay "sự tổng hợp Ấn Độ giáo" vẫn tiếp tục.[89] Các tư tưởng Ấn Độ giáo cổ điển và Sa Môn (đặc biệt là Phật giáo) truyền bá trong tiểu lục địa Ấn Độ, cũng như ra bên ngoài Nam Á.[99][100][101] Đế quốc Gupta cai trị một lãnh thổ lớn trên tiểu lục địa từ thế kỷ 4 đến thế kỷ 7, trong giai đoạn này diễn ra việc xây dựng các ngôi đền, tu viện và đại học quy mô lớn như Nalanda.[102][103][104] Trong giai đoạn này, và suốt thế kỷ 10, nhiều tu viện và đền thờ trong hang động như quần thể hang động Ajanta, đền thờ hang động Badamicác hang động Ellora được xây dựng tại Nam Á.[105][106][107]

Thời kỳ trung đại

Hồi giáo trở thành một thế lực chính trị tại vùng rìa của Nam Á vào thế kỷ 8 khi Tướng quân người Ả Rập Muhammad bin Qasim chinh phục SindhMultan tại miền nam Punjab nay thuộc Pakistan.[108] Đến năm 962, các vương quốc Ấn Độ giáo và Phật giáo tại Nam Á phải đương đầu với một làn sóng tấn công từ các đội quân Hồi giáo đến từ Trung Á.[109] Trong số này có Mahmud của Ghazni, ông tấn công và cướp bóc các vương quốc tại miền bắc Ấn Độ nằm từ phía đông sông Ấn đến phía tây sông Yamuna trong 17 lần từ năm 997 đến năm 1030.[110] Mahmud của Ghazni tấn công vào ngân khố song sau đó đều rút đi, chỉ mở rộng quyền cai trị của Hồi giáo đến miền tây Punjab.[111][112]

Các làn sóng tấn công của chiến binh Hồi giáo vào các vương quốc miền bắc và miền tây Ấn Độ vẫn tiếp tục sau thời Mahmud của Ghazni, họ cướp bóc các vương quốc này.[113] Các cuộc tấn công không tạo thành hoặc mở rộng biên giới cố định của các vương quốc Hồi giáo. Ghurid Sultan Mu'izz al-Din Muhammad bắt đầu một cuộc chiến tranh có hệ thống nhằm bành trướng đến miền bắc Ấn Độ vào năm 1173.[114] Ông tìm cách tạo ra một lãnh địa cho mình bằng cách bành trướng thế giới Hồi giáo.[110][115] Mu'izz nỗ lực để vương quốc Hồi giáo Sunni của mình bành trướng về phía đông của sông Ấn, nhờ đó ông đặt nền móng cho một vương quốc Hồi giáo mà sau này trở thành Vương quốc Hồi giáo Delhi.[110] Một số sử gia ghi vào biên biên sử về Vương quốc Hồi giáo Delhi từ năm 1192 do từ khi đó có sự hiện diện và yêu sách địa lý của Mu'izz al-Din tại Nam Á.[116] Vương quốc Hồi giáo Delhi bao phủ nhiều phần khác nhau của Nam Á, thuộc quyền cai trị của nhiều triều đại là Mamluk, Khalji, Tughlaq, Sayyid và Lodi. Muhammad bin Tughlaq lên nắm quyền vào năm 1325, ông phát động một cuộc chiến nhằm bành trướng lãnh thổ, kết quả là Vương quốc Hồi giáo Delhi đạt đến phạm vi lãnh thổ lớn nhất trên tiểu lục địa Ấn Độ trong thời gian trị vì 26 năm của ông.[117] Một sultan theo Hồi giáo Sunni là Muhammad bin Tughlaq tiến hành ngược đãi những người không theo Hồi giáo như tín đồ Ấn Độ giáo, cũng như ngược đãi những người Hồi giáo không theo hệ Sunni như tín đồ Shia và Mahdi.[118][119][120]

Các cuộc khởi nghĩa chống lại Vương quốc Hồi giáo Delhi nổ ra tại nhiều nơi của Nam Á trong thế kỷ 14. Sau khi Muhammad bin Tughlaq qua đời, Vương quốc Hồi giáo Bengal trỗi dậy vào năm 1352 do Vương quốc Hồi giáo Delhi bắt đầu tan rã. Vương quốc Hồi giáo Bengal duy trì được thế lực đến đầu thế kỷ 16. Quốc gia này bị quân đội của Đế quốc Mughal chinh phục. Quốc giáo của Vương quốc Hồi giáo Bengal là Hồi giáo, và khu vực nằm dưới quyền cai quản của quốc gia này, nay là Bangladesh, đã phát triển một dạng Hồi giáo hổ lốn.[121][122] Trong khu vực Deccan, Đế quốc Vijayanagara theo Ấn Độ giáo hình thành vào năm 1336 và duy trì nắm quyền đến thế kỷ 16, sau đó nó cũng bị Đế quốc Mughal chinh phục.[123][124]

Khoảng năm 1526, Thống đốc Punjab là Dawlat Khan Lodī liên hệ với Babur tại Trung Á và mời ông ta tấn công Vương quốc Hồi giáo Delhi. Babur đánh bại và giết chết Sultan của Delhi là Ibrahim Lodi trong trận Panipat vào năm 1526. Cái chết của Ibrahim Lodi đánh dấu chấm hết cho Vương quốc Hồi giáo Delhi, thế chỗ của nó là Đế quốc Mughal.[125]

Thời kỳ hiện đại

Giai đoạn lịch sử hiện đại của Nam Á bắt đầu từ thế kỷ 16, cùng với quyền cai trị của triều đại Mughal đến từ Trung Á, họ có nguồn gốc Thổ-Mông Cổ và theo thần học Hồi giáo Sunni. Babur cai trị một đế quốc mở rộng về phía tây bắc và đồng bằng Ấn-Hằng của Nam Á. Còn khu vực Deccan và đông bắc của Nam Á phần lớn vẫn nằm dưới quyền các quân chủ theo Ấn Độ giáo như Đế quốc Vijayanagara và Vương quốc Ahom,[126] còn một số khu vực thuộc TelanganaAndhra Pradesh ngày nay nằm dưới quyền cai trị của các vương quốc Hồi giáo địa phương như Golconda.[127]

Đế quốc Mughal tiếp tục các cuộc chiến tranh nhằm bành trướng lãnh thổ sau khi Babur qua đời. Đến khi các vương quốc Rajput cũng như Vijayanagara thất thủ, biên giới đế quốc vươn đến toàn bộ phần phía tây, cũng như các khu vực nói tiếng Marathi và Kannada của bán đảo Deccan. Đế quốc Mughal ghi dấu ấn với một giai đoạn giao lưu nghệ thuật và một sự tổng hợp kiến trúc Trung Á và Nam Á, với các công trình xuất chúng như Taj Mahal.[128] Đế quốc còn ghi dấu ấn bằng một giai đoạn ngược đãi tôn giáo kéo dài.[129] Hai trong số các thủ lĩnh của Sikh giáo là Guru Arjan và Guru Tegh Bahadur bị bắt giữ theo lệnh của các hoàng dế Mughal, bị yêu cầu đổi sang Hồi giáo, và bị hành quyết khi họ từ chối.[130][131][132] Đế quốc áp đặt các khoản thuế tôn giáo với người không theo Hồi giáo, có tên là jizya. Các đền thờ Phật giáo, Ấn Độ giáo và Sikh giáo bị mạo phạm. Tuy nhiên, không phải tất cả các quân chủ Hồi giáo đều ngược đãi người không theo Hồi giáo, như Akbar đã theo đuổi khoan dung tôn giáo và bãi bỏ jizya.[133] Sau khi ông mất, việc ngược đãi người không theo Hồi giáo tại Nam Á được khôi phục.[134] Ngược đãi và bạo lực tôn giáo tại Nam Á đạt đỉnh điểm trong giai đoạn Aurangzeb cai trị, ông ban hành các sắc lệnh vào năm 1669 để yêu cầu thống đốc các tỉnh phá huỷ các trường học và đền thờ của người ngoại đạo.[135][136] Trong thời kỳ Aurangzeb cai trị, hầu như toàn bộ Nam Á đều bị Đế quốc Mughal yêu sách lãnh thổ. Tuy nhiên, yêu sách này gặp phải thách thức mãnh liệt tại nhiều khu vực của Nam Á, đặc biệt là Guru Gobind Singh theo Sikh giáo tại tây bắc,[137] và từ Shivaji trên các khu vực Deccan.[138]

Mậu dịch hàng hải giữa các thương nhân Nam Á và châu Âu bắt đầu sau khi nhà thám hiểm người Bồ Đào Nha Vasco de Gama trở về châu Âu. Sau khi Aurangzeb qua đời và Đế quốc Mughal sụp đổ, Nam Á nằm dưới quyền cai trị của nhiều vương quốc nhỏ theo Hồi giáo hoặc Ấn Độ giáo. Thực dân Anh, Pháp và Bồ Đào Nha đạt được hiệp ước với các quân chủ này, và lập nên các thương cảng của họ. Tại phía tây bắc của Nam Á, một khu vực lớn được hợp nhất thành Đế quốc Sikh dưới quyền Ranjit Singh.[139][140] Sau khi người này qua đời, Đế quốc Anh bành trướng lợi ích của họ đến khu vực Hindu Kush. Về phía đông, khu vực Bengal bị Đế quốc Anh phân chia thành Đông Bengal theo Hồi giáo và Tây Bengal theo Ấn Độ giáo vào đầu thế kỷ 20, song sau đó bị đảo ngược. Tuy nhiên, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, trước khi Ấn Độ độc lập, khu vực Bengal lại được phân chia thành Đông Pakistan và Tây Bengal. Đông Pakistan trở thành Bangladesh vào năm 1971.[141][142]

Địa lý

Indian subcontinent
Bản đồ địa hình Nam Á

Theo Saul Cohen, các nhà chiến lược thời kỳ đầu thực dân xếp chung Nam Á với Đông Á, song trên thực tế khu vực Nam Á ngoại trừ Afghanistan là một khu vực địa chính trị riêng biệt so với các địa hạt địa chính trị lân cận.[143] Khu vực có nhiều đặc điểm địa lý, như các sông băng, rừng mưa, thung lũng, hoang mạc và đồng cỏ, là điển hình của các lục địa lớn hơn nhiều. Bao quanh Nam Á là ba vùng biển  – vịnh Bengal, Ấn Độ Dươngbiển Ả Rập – và có các đới khí hậu rất khác nhau. Mũi của bán đảo Ấn Độ có ngọc trai chất lượng cao nhất.[144]

Ranh giới của Nam Á thay đổi tuỳ theo định nghĩa về khu vực. Ranh giới phía bắc, đông và tây có khác nhau, còn Ấn Độ Dương là giới hạn phía nam. Hầu hết khu vực nằm trên mảng Ấn Độ và cô lập với phần còn lại của châu Á qua các chướng ngại vật là núi.[145][146] Phần lớn Nam Á nằm trên một bán đảo khá giống với một viên kim cương, giới hạn bởi Himalaya về phía bắc, Hindu Kush về phía tây và Arakan về phía đông,[147] và kéo dài về phía nam nhô ra Ấn Độ Dương.[30][32]

Theo Robert M. Cutler,[148] các thuật ngữ Nam Á, Tây Nam Á và Trung Á là riêng biệt, song có lẫn lộn và bất đồng nảy sinh do vận động địa chính trị để mở rộng không gian của Đại Nam Á, Đại Tây Nam Á và Đại Trung Á. Ranh giới của Đại Nam Á, theo lời Cutler, trong giai đoạn 2001–2006 đã được mở rộng về mặt địa chính trị đến miền đông Iran và miền tây Afghanistan ở phía tây, và tại phía bắc đã mở rộng đến đông bắc của Iran, miền bắc Afghanistan, và miền nam Uzbekistan.[148]

Hầu hết khu vực là một tiểu lục địa nằm trên mảng Ấn Độ, là phần phía bắc của mảng Ấn-Úc, tách biệt với phần còn lại của mảng Á-Âu. Mảng Ấn Độ tạo thành một đại lục trải dài từ Himalaya đến một phần của bồn địa bên dưới Ấn Độ Dương, bao gồm một số phần của Hoa Nam và Đông Indonesia, cũng như các dãy Côn LuânKarakoram,[149][150][151] và mở rộng tới song không bao gồm Ladakh, Kohistan, dãy Hindu KushBalochistan.[152][153][154] Có thể lưu ý rằng về mặt địa vật lý thì sông Yarlung Tsangpo tại Tây Tạng nằm ngoài ranh giới của cấu trúc tiểu lục địa, trong khi dãy núi Pamir tại Tajikistan nằm trong ranh giới này.[155] Tiểu lục địa Ấn Độ từng là một lục địa riêng biệt trước khi va chạm với mảng Á-Âu vào khoảng 50-55 triệu năm trước, tạo ra dãy Himalayan và cao nguyên Thanh-Tạng.

Khí hậu

South Asia map of Köppen climate classification
Bản đồ phân loại khí hậu Köppen của Nam Á[156] dựa trên thảm thực vật, nhiệt độ, giáng thuỷ và tính chất mùa.
  Cận nhiệt đới ẩm, mùa đông khô (Cwa)
  Cận nhiệt đới ẩm, không khô (Cfa)
  Lục địa mùa hè nóng (Dsa)
  Lục địa mùa hè ấm (Dsb)
  Lục địa mùa đông khô (Dwb)
  Cận cực (Dwc)

Khí hậu của Nam Á khác biệt đáng kể giữa các địa phương, từ nhiệt đới gió mùa ở phía nam đến ôn đới tại phía bắc. Sự đa dạng này chịu ảnh hưởng không chỉ bởi độ cao, mà còn do các yếu tố khác như khoảng cách với bờ biển và tác động theo mùa của gió mùa. Phần phía nam hầu hết sẽ nóng vào mùa hè và có mưa vào các giai đoạn gió mùa. Dải đồng bằng Ấn-Hằng ở phía bắc cũng nóng vào mùa hè, song mát hơn vào mùa đông. Vùng núi phía bắc lạnh hơn và có tuyết ở những nơi có độ cao lớn trên dãy Himalaya. Do dãy Himalaya ngăn gió lạnh Bắc Á nên nhiệt độ tại các đồng bằng ôn hoà hơn đáng kể. Hầu hết các địa phương có khí hậu gió mùa, duy trì ẩm trong mùa hè và khô trong mùa đông, và tạo thuận lợi để trồng đay, trà, lúa gạo và các loại cây khác.

Nam Á nhìn chung được phân thành bốn đới khí hậu lớn:[157]

  • Rìa bắc của Ấn Độ và vùng cao phía bắc Pakistan có khí hậu cận nhiệt đới lục địa khô
  • Viễn nam của Ấn Độ và phần tây nam của Sri Lanka có khí hậu xích đạo
  • Hầu hết phần bán đảo có khí hậu nhiệt đới với các biến thể:
    • Khí hậu cận nhiệt đới ẩm tại phần tây bắc của Ấn Độ
    • Khí hậu nhiệt đới nóng có mùa đông mát tại Bangladesh
    • Khí hậu bán khô hạn nhiệt đới tại trung tâm
  • Dãy Himalaya có khí hậu núi cao

Độ ẩm tương đối cao nhất là trên 80%, được ghi nhận tại vùng đồi Khasi và Jaintia thuộc Đông Bắc Ấn Độ, và Sri Lanka, trong khi khu vực Pakistan và miền tây Ấn Độ ghi nhận được mức dưới 20%–30%.[157] Khí hậu Nam Á phần lớn có đặc điểm do gió mùa. Nam Á phụ thuộc rất nhiều vào mưa do gió mùa.[158] Hai hệ thống gió mùa tồn tại trong khu vực:[159]

  • Gió mùa mùa hè: Gió thổi từ phía tây nam đến hầu hết các địa phương của khu vực. Nó gây ra 70%–90% lượng giáng thuỷ thường niên.
  • Gió mùa mùa đông: Gió thổi từ phía đông bắc, chiếm ưu thế tại Sri Lanka và Maldives.

Giai đoạn ấm nhất trong năm là trước mùa gió mùa (tháng 3 đến giữa tháng 6). Trong mùa hè, áp thấp tập trung trên đồng bằng Ấn-Hằng và gió áp cao từ Ấn Độ Dương thổi vào trung tâm. Gió mùa là mùa mát thứ nhì trong năm vì nó có độ ẩm cao và có sương mù bao phủ. Tuy nhiên, vào đầu tháng 6 các dòng tia biến mất trên cao nguyên Thanh-Tạng, áp thấp trên thung lũng sông Ấn giảm sâu và đới hội tụ nhiệt đới (ITCZ) chuyển đến. Diễn ra sự thay đổi dữ dội. Các áp thấp gió mùa khá mạnh hình thành trên vịnh Bengal và đổ bộ từ tháng 6 đến tháng 9.[157]

Dữ liệu thống kê

Quốc gia
[160][160][161][162]
Thủ đô
[162][163][164]
Diện tích
(km2)
[165]
Dân số
(2017)[166]
Mật độ
(trên km2)
GDP danh nghĩa
(2017)[167]
GDP/người
(2017)[168]
HDI

(2016)[169]

 Afghanistan Kabul 652.864 34.169.169 53,3 20,57 tỉ USD 559 USD 0,479
 Ấn Độ New Delhi 3.287.263 1.342.512.706 408,4 2,45 nghìn tỉ USD 1.850 USD 0,624
 Bangladesh Dhaka 147.570 164.827.718 1.116,6 248,85 tỉ USD 1.520 USD 0,579
 Bhutan Thimphu 38.394 792.877 20,6 2,31 tỉ USD 2.870 USD 0,607
 Maldives Malé 298 375.867 1.261,3 3,58 tỉ USD 9.950 USD 0,701
   Nepal Kathmandu 147.181 29.187.037 198,3 23,32 tỉ USD 799 USD 0,558
 Pakistan Islamabad 881.913 207.774.520 223,1 304,4 tỉ USD 1.629 USD 0,550
 Sri Lanka Colombo 65.610 20.905.335 318,6 84,02 tỉ USD 3.930 USD 0,766

Dân số quá khứ và trong tương lai

Rank Country Area (km2) 1950 2000 2020 2050 2100
1 Ấn Độ Ấn Độ 3,287,263 369,881 1,006,301 1,350,100 1,656,564 1,659,786
2  Pakistan 881,913 40,383 152,430 214,050 300,848 364,283
3  Bangladesh 147,570 45,646 132,510 167,900 201,249 169,541
4    Nepal 147,181 8,990 24,819 29,700 36,107 29,677
5  Sri Lanka 65,610 7,534 19,042 20,900 25,167 14,857
6  Bhutan 38,394 164 606 800 972 793
7  Maldives 298 80 300 451 465 438
Total 4.568.221 480,829 1,358,111 1,794,351 2,295,046 2,297,013

Nhân khẩu

Dân số Nam Á đạt khoảng 1,749 tỉ người vào năm 2013, là khu vực đông dân nhất thế giới.[170] Đây là một khu vực có xã hội rất hỗn tạp, có nhiều nhóm ngôn ngữ và tôn giáo, và hoạt động xã hội trong một tôn giáo có thể khác biệt lớn giữa các địa phương.[171]

Nam Á có một số thành thị thuộc nhóm đông dân nhất thế giới, trong đó Delhi, Karachi, MumbaiDhaka là bốn siêu thành phố thuộc hàng lớn nhất thế giới.

Hạng Thành phố Địa phương Quốc gia Dân số (2015)[172] Diện tích (km2)[172] Mật độ (/km2)[172]
1 Delhi Lãnh thổ Liên bang Delhi  Ấn Độ 24.998.000 2.072 12.100
2 Karachi Sindh  Pakistan 24.300.000[173][174] 945 23.400
3 Mumbai Maharashtra  Ấn Độ 17.712.000 546 32.400
4 Dhaka Dhaka  Bangladesh 15.669.000 360 43.500
5 Kolkata Tây Bengal  Ấn Độ 14.667.000 1.204 12.200
6 Lahore Punjab  Pakistan 10.052.000 790 12.700
7 Bengaluru Karnataka  Ấn Độ 9.807.000 1.116 8.400
8 Chennai Tamil Nadu  Ấn Độ 9.714.000 375 25.900
9 Hyderabad Telangana  Ấn Độ 8.754.000 971 10.000
10 Ahmedabad Gujarat  Ấn Độ 7.186.000 464 20.600

Ngôn ngữ

South Asian Language Families
Phân bố các nhóm ngôn ngữ tại Nam Á.

Nam Á có nhiều ngôn ngữ, ngôn ngữ nói phần lớn phân chia theo địa lý và vượt qua ranh giới tôn giáo, song chữ viết được phân chia rõ ràng theo ranh giới tôn giáo. Cụ thể, người Hồi giáo tại Nam Á như tại Afghanistan và Pakistan sử dụng chữ cái Ả Rập-Ba Tư. Trước năm 1971, người Hồi giáo Bangladesh (khi đó là Đông Pakistan) từng được yêu cầu chỉ sử dụng chữ cái Nastaliq Ba Tư, song sau đó chọn các chữ cái trong khu vực và cụ thể là Bengal. Người không theo Hồi giáo tại Nam Á, cùng một số người Hồi giáo tại Ấn Độ lại sử dụng các chữ viết là di sản từ truyền thống cổ xưa, như các kiểu chữ viết bắt nguồn từ chữ Brahmi đối với các ngôn ngữ Ấn-Âu và các chữ cái phi Brahmi đối với các ngôn ngữ Dravida và các ngôn ngữ khác.[175]

Chữ Nagari mang tính đại diện trong các chữ viết Nam Á truyền thống.[176] Chữ Devanagari được sử dụng cho hơn 120 ngôn ngữ Nam Á,[177] như Hindi,[178] Marath, Nepal, Pali, Konkan, Bodo, SindhMaithil, do đó nó là một trong các hệ thống chữ viết được sử dụng và chấp nhận nhiều nhất trên thế giới.[179] Chữ Devanagari cũng được dùng trong các văn bản Sanskrit cổ đại.[177]

Ngôn ngữ nói lớn nhất trong khu vực Nam Á là Hindi, tiếp đến là Bengal, Telugu, Tamil, Gujarat và Punjab.[175] Trong thời hiện đại, các ngôn ngữ hổ lốn mới đã được phát triển trong khu vực, như Urdu được người Hồi giáo tại miền bắc tiểu lục địa Ấn Độ sử dụng (đặc biệt là tại Pakistan và các bang phía bắc Ấn Độ).[180] Tiếng Punjab được tín đồ ba tôn giáo là Hồi giáo, Ấn Độ giáo và Sikh giáo sử dụng, ngôn ngữ nói tương đồng giữa họ, song mỗi cộng đồng lại dùng một kiểu chữ viết. Người theo Sikh giáo sử dụng chữ Gurmukhi, người Punjab theo Hồi giáo tại Pakistan sử dụng chữ Nastaliq, còn người Punjab theo Ấn Độ giáo tại Ấn Độ sử dụng chữ Gurmukhi hoặc chữ Nāgarī. Các chữ Gurmukhi và Nagari là riêng biệt song thân cận về cấu trúc, song chữ Nastaliq Ba Tư rất khác biệt.[181]

Tiếng Anh theo chính tả Anh Quốc được sử dụng phổ biến trong các khu vực đô thị, và là một ngôn ngữ chung trong kinh tế tại Nam Á ở mức độ lớn.[182]

Tôn giáo

Prevailing world religions map
Bản đồ các tôn giáo lớn trên thế giới

Tính đến năm 2010, Nam Á có số lượng tín đồ Ấn Độ giáo, Jaina giáo và Sikh giáo đông đảo nhất thế giới,[12] cùng khoảng 510 triệu người Hồi giáo,[12] cùng hơn 25 triệu tín đồ Phật giáo và 35 triệu tín đồ Cơ Đốc giáo.[14] Tín đồ Ấn Độ giáo chiếm khoảng 63% hay khoảng 1 tỉ người, còn người Hồi giáo chiếm 31% dân số Nam Á,[183][184]. Tín đồ Ấn Độ giáo, Phật giáo, Jaina giáo, Sikh giáo và Cơ Đốc giáo tập trung tại Ấn Độ, Nepal, Sri Lanka và Bhutan, còn tín đồ Hồi giáo tập trung tại Afghanistan (99%), Bangladesh (90%), Pakistan (96%) và Maldives (100%).[12]

"Các tôn giáo Ấn Độ" được dùng để chỉ các tôn giáo có nguồn gốc từ tiểu lục địa Ấn Độ; gồm Ấn Độ giáo, Jaina giáo, Phật giáoSikh giáo.[185] Các tôn giáo Ấn Độ khác biệt song chia sẻ thuật ngữ, khái niệm, mục tiêu và tư tưởng, và từ tiểu lục địa Ấn Độ chúng được truyền bá sang Đông Á và Đông Nam Á.[185] Cơ Đốc giáo và Hồi giáo ban đầu được đưa đến các khu vực ven biển của Nam Á, từ các thương gia đến định cư trong cộng đồng địa phương. Sau đó Sindh, Balochistan, và nhiều nơi của Punjab bị chinh phục bởi các đế quốc của người Ả Rập, cùng với đó là một dòng người Hồi giáo đến từ Ba Tư và Trung Á, kết quả là truyền bá cả Hồi giáo Shia và Sunni đến nhiều nơi thuộc phần tây bắc của Nam Á. Tiếp đến, dưới ảnh hưởng của các quân chủ Hồi giáo trong các vương quốc Hồi giáo và Đế quốc Mughal, Hồi giáo được truyền bá khắp Nam Á.[186][187]

Afghanistan[188] Hồi giáo (99%), Ấn Độ giáo, Sikh giáo và Cơ Đốc giáo (1%)
Ấn Độ[189][190] Ấn Độ giáo (79,5%), Hồi giáo (14,5%), Cơ Đốc giáo (2,3%), Sikh giáo (1,7%), Phật giáo (0,7%), Jaina giáo (0,4%), khác (0,9%)
Bangladesh[191] Hồi giáo (90%), Ấn Độ giáo (9%), Phật giáo (0,6%), Cơ Đốc giáo (0,3%), khác (0,1%)
Bhutan[189] Phật giáo (75%), Ấn Độ giáo (25%)
Maldives[192] Sunni Hồi giáo (100%) (One must be a Sunni Muslim to be a citizen on the Maldives[193][194])
Nepal[195] Ấn Độ giáo (82%), Phật giáo (9,0%), Hồi giáo (4,4%), Kirat (3,1%), Cơ Đốc giáo (1,4%), khác (0,8%)
Pakistan[196] Hồi giáo (96,28%), Ấn Độ giáo (2%), Cơ Đốc giáo (1,59%), Ahmaddiyya (0,22%)
Sri Lanka[197] Phật giáo (70,19%), Ấn Độ giáo (12,61%), Hồi giáo (9,71%), Cơ Đốc giáo (7,45%).

Kinh tế

Mumbai Skyline at Night
Quang cảnh Mumbai về đêm

Đến năm 2015, Ấn Độ là nền kinh tế lớn nhất và tăng trưởng nhanh nhất trong khu vực, chiếm khoảng 82% kinh tế Nam Á; đây là nền kinh tế lớn thứ bảy thế giới xét theo GDP danh nghĩa và đứng thứ 3 nếu tính theo sức mua tương đương.[198] Ấn Độ là quốc gia Nam Á duy nhất là thành viên của nhóm các nền kinh tế lớn G-20BRICS. Ấn Độ là nền kinh tế lớn có mức tăng trưởng nhanh nhất thế giới, và thuộc vào hàng cao nhất thế giới với 7,3% trong năm tài chính 2014–15. Pakistan là nền kinh tế lớn thứ hai trong khu vực và có GDP/người đứng thứ 5,[199] tiếp đến là Bangladesh. Sri Lanka là nền kinh tế lớn thứ tư, có GDP/người đứng thứ nhì trong khu vực. Theo một báo cáo của Ngân hàng Thế giới vào năm 2015, nhờ thúc đẩy từ tăng trưởng mạnh mẽ tại Ấn Độ, cộng với giá dầu mỏ thuận lợi, từ quý cuối của năm 2014 Nam Á trở thành khu vực tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới[200]

Các thị trường chứng khoán lớn trong khu vực là sàn chứng khoán Bombay (BSE), sàn giao dịch chứng khoán quốc gia Ấn Độ (NSE), và sàn giao dịch chứng khoán Karachi.[201]

Theo dữ liệu từ Quỹ Tiền tệ quốc tế, vào tháng 4 năm 2017:.[198]

Quốc gia
[160][160][161][162]
Tiền tệ Dân số
(2017)[166]
GDP danh nghĩa
(2017)[167]
GDP/người

(2017)[168]

Tăng trưởng GDP

(2017)[202]

Lạm phát

(2017)[203]

 Afghanistan ؋ Afghani 34.169.169 20,57 tỉ USD 559 3% 6%
 Bangladesh Taka 164.827.718 248,85 tỉ USD 1.520 USD 6,9% 6,4%
 Bhutan Nu. Ngultrum 792.877 2,31 tỉ USD 2.870 5,9% 4,1%
 Ấn Độ Rupee 1.342.512.706 2,45 nghìn tỉ USD 1.850 USD 7,2% 4,8%
 Maldives ރ Rufiyaa 375.867 3,58 tỉ USD 9.950 USD 4,1% 2,5%
   Nepal रु Rupee 29.187.037 23,32 tỉ USD 799 USD 5,5% 6,7%
 Pakistan Rupee 207.774.520 304,4 tỉ USD 1.629 USD 5% 4,3%
 Sri Lanka රු Rupee 20.905.335 84,02 tỉ USD 3.930 USD 4,5% 5,8%

Y tế

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, Nam Á có hai trong ba quốc gia trên thế giới vẫn chịu tác động từ bệnh bại liệt là Pakistan và Afghanistan.[204] Các nỗ lực nhằm diệt trừ bệnh bại liệt chịu ảnh hưởng nặng nề từ phản đối của các chiến binh tại hai quốc gia vì sợ bị do thám.[205]

Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới vào năm 2011, có khoảng 24,6% cư dân Nam Á sống dưới ngưỡng nghèo quốc tế là 1,25 USD mỗi ngày.[206] Afghanistan và Bangladesh có tỷ lệ cao nhất với lần lượt là 30,6% và 43,3%. Bhutan, Maldives và Sri Lanka có tỷ lệ cư dân sống dưới mức nghèo thấp hơn, lần lượt là 2,4%, 1,5% và 4,1%. Ấn Độ đã đưa khoảng 140 triệu người lên trên ngưỡng nghèo trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2011. Tính đến năm 2011, 21,9% dân số ngưỡng nghèo, so với 41,6% vào năm 2005.[207][208]

Ngân hàng Thế giới ước tính Ấn Độ là một trong các quốc gia xếp hạng cao nhất trên thế giới về số lượng trẻ em bị kém dinh dưỡng. Tỷ lệ trẻ em thiếu cân tại Ấn Độ nằm vào hàng cao nhất trên thế giới, và gần gấp đôi so với tỷ lệ của châu Phi hạ Sahara, gây ra hậu quả nghiêm trọng đến tính lưu động, tỷ lệ tử, sản xuất và tăng trưởng kinh tế.[209] Cũng theo Ngân hàng thế giới, 70% cư dân Nam Á và 75% người nghèo Nam Á sống tại các khu vực nông thôn và hầu hết dựa vào nông nghiệp để sinh sống[210] theo Tổ chức Lương nông Liên Hiệp Quốc. Năm 2015, khoảng 281 triệu người trong khu vực bị suy dinh dưỡng. Báo cáo cho biết rằng Nepal tiếp cận được mục tiêu của WFS cũng như của MDG và đang hướng đến giảm số lượng người thiếu ăn xuống dưới 5% dân số.)[211] Bangladesh đạt được mục tiêu của MDG với chỉ 16,5% dân số thiếu ăn. Tại Ấn Độ, số người suy dinh dưỡng chiếm hơn 15% dân số. Tại Pakistan, số người suy dinh dưỡng trong khu phố giảm trong thập niên qua, song số lượng người thiếu ăn lại có chiều hướng gia tăng. Trong thập niên 1990, Pakistan có 28,7 triệu người đói, và tăng dần đến 41,3 triệu người vào năm 2015 tức 22% dân số bị suy dinh dưỡng. Khoảng 194,6 triệu người bị thiếu ăn tại Ấn Độ.[211][212]

Báo cáo vào năm 2006 cho biết "vị thế thấp kém của nữ giới tại các quốc gia Nam Á và việc họ thiếu kiến thức về dinh dưỡng là các yếu tố quyết định dẫn đến mức độ phổ biến của trẻ thiếu cân trong khu vực". Tham nhũng và thiếu sáng kiến trong một bộ phận chính phủ là một trong các vấn đề lớn có liên quan đến dinh dưỡng tại Ấn Độ. Tỷ lệ mù chữ trong các làng được cho là một trong các vấn đề lớn mà chính phủ cần chú ý hơn. Báo cáo cho rằng mặc dù đã có sự suy giảm về suy dinh dưỡng do Cách mạng xanh tại Nam Á, song có lo ngại rằng Nam Á "thực hiện nuôi dưỡng và chăm sóc không đầy đủ đối với trẻ nhỏ".[213]

Chính quyền

Quốc gia Thủ phủ Chính thể nhà nước Nguyên thủ quốc gia Người đứng đầu chính phủ Cơ quan lập pháp Ngôn ngữ chính thức Quốc huy
 Afghanistan Kabul Cộng hoà Hồi giáo tổng thống chế đơn nhất
Tổng thống
Viện nguyên lão,

Viện Nhân dân

Pashto

Dari

Quốc huy Afghanistan
 Ấn Độ New Delhi Cộng hoà lập hiến nghị viện liên bang Tổng thống Thủ tướng Rajya Sabha,

Lok Sabha

Hindi

Anh

Quốc huy Ấn Độ
 Bangladesh Dhaka Cộng hoà lập hiến nghị viện đơn nhất Tổng thống Thủ tướng Jatiya Sangsad Bangla Quốc huy Bangladesh
 Bhutan Thimphu Quân chủ lập hiến nghị viện đơn nhất Quốc vương Thủ tướng Hội đồng Quốc gia,

Quốc hội

Dzongkha Quốc huy Bhutan
 Maldives Malé Cộng hoà lập hiến tổng thống chế đơn nhất
Tổng thống
Majlis Nhân dân Dhivehi Quốc huy Maldives
   Nepal Kathmandu Cộng hoà lập hiến nghị viện liên bang Tổng thống Thủ tướng Nghị viện lập pháp Nepal Quốc huy Nepal
 Pakistan Islamabad Cộng hoà Hồi giáo nghị viện liên bang Tổng thống Thủ tướng Thượng viện,

Hội nghị quốc gia

Urdu

Anh

Quốc huy Pakistan
 Sri Lanka Colombo Cộng hoà lập hiến bán tổng thống chế đơn nhất Tổng thống Thủ tướng Nghị viện Sinhala

Tamil

Anh

Quốc huy Sri Lanka
Định nghĩa mở rộng
Quốc gia/Khu vực Thủ phủ Loại hình Người đứng đầu chính phủ Diện tích

(km2)

Dân số Ngôn ngữ chính thức Huy hiệu
Lãnh thổ Ấn Độ Dương thuộc Anh Lãnh thổ Ấn Độ Dương thuộc Anh Diego Garcia Lãnh thổ hải ngoại thuộc Anh Ủy viên hội đồng 54.400 2.500 Anh Coat of arms of the British Indian Ocean Territory (Shield).svg
 Myanmar Naypyidaw Cộng hoà lập hiến nghị viện đơn nhất Cố vấn nhà nước 676.578 51.486.253 Miến Điện State seal of Myanmar.svg
Trung Quốc Khu tự trị Tây Tạng (TQ) Lhasa Khu tự trị Chủ tịch 1.228.400 3.180.000 Tạng,

Quan thoại

National Emblem of the People's Republic of China.svg

Ấn Độ[214][215][216] và Pakistan[217][218] là các thế lực chính trị chiếm ưu thế trong khu vực. Ấn Độ là quốc gia rộng lớn vượt trội, chiếm khoảng ba phần tư diện tích của tiểu lục địa. Ấn Độ có dân số đông nhất, gấp khoảng ba lần tổng dân số của các quốc gia còn lại trên tiểu lục địa.[219] Ấn Độ cũng được nhìn nhận là nền dân chủ lớn nhất thế giới[220] Ngân sách quốc phòng của Ấn Độ trong năm 2013–14 là 39,2 tỉ USD[221] bằng với tổng ngân sách liên bang của Pakistan là 39,3 tỉ USD vào năm 2014–15.[222]

Bangladesh là một nhà nước đơn nhất và có thể chế dân chủ nghị viện.[223] Bangladesh cũng được nhìn nhận là một trong số ít quốc gia Hồi giáo có chính thể dân chủ, đây là một quốc gia ôn hoà và nói chung là thế tục và khoan dung. Mặc dù pháp luật Bangladesh mang tính thế tục, song nhiều công dân theo đuổi một thể thức Hồi giáo bảo thủ, và một số thúc đẩy luật sharia. Các chuyên gia cho rằng sự trỗi dậy của chủ nghĩa bảo thủ cho thấy ảnh hưởng của các tổ chức từ thiện Hồi giáo do nước ngoài tài trợ và người dân đi xuất khẩu lao động tại vùng vịnh Ba Tư mang theo thể thức Hồi giáo khắt khe hơn khi họ hồi hương.[224]

Quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia Nam Á chủ yếu được thúc đẩy bởi chính trị dân tuý, với bối cảnh trung tâm là xung đột Ấn Độ-Pakistan từ khi hai quốc gia giành được độc lập vào năm 1947, và sau đó là thành lập Bangladesh trong tình huống căng thẳng vào năm 1971. Vào đỉnh cao của Chiến tranh lạnh, các nhà lãnh đạo chính trị tinh hoa của Pakistan liên kết với Hoa Kỳ, còn Ấn Độ giữ vai trò chủ chốt trong việc thành lập Phong trào không liên kết và duy trì quan hệ hữu hảo với Liên Xô.

Chính trường Pakistan thuộc vào hàng có tranh chấp nhiều nhất trong khu vực. Quân đội cai trị và chính phủ bất ổn định tại Pakistan trở thành một mối quan tâm đối với khu vực Nam Á. Tại Nepal, chính trường phải đấu tranh để đi đến dân chủ, và đến thế kỷ 21 đã có các biểu hiện ủng hộ hệ thống dân chủ. Tình hình chính trị tại Sri Lanka chịu chi phối từ chủ nghĩa dân tộc Sinhala ngày càng quyết đoán, và sự trỗi dậy của phong trào ly khai Tamil dưới quyền LTTE, song nó đã bị dập tắt vào năm 2009.

Tham khảo

  1. ^ “The World Factbook: South Asia”. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2015.
  2. ^ “World Population Prospects - Population Division - United Nations”. esa.un.org.
  3. ^ a ă “South Asia Regional Overview”. South Asian Regional Development Gateway. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2008.
  4. ^ a ă “Report for Selected Countries and Subjects”. www.imf.org.
  5. ^ “Report for Selected Countries and Subjects”. www.imf.org.
  6. ^ Brunn, Stanley D.; Williams, Jack F.; Zeigler, Donald J. biên tập (2003). “Cities of South Asia”. Cities of the World: World Regional Urban Development (ấn bản 3). Rowman & Littlefield Publishers, Inc. tr. 332. ISBN 978-0847698981.
  7. ^ a ă â “Afghanistan”. Regional and Country Profiles South Asia. Institute of Development Studies.;
    “Composition of macro geographical (continental) regions, geographical sub-regions, and selected economic and other groupings: Southern Asia”. United Nations Statistics Division.;
    Arnall, A (24 tháng 9 năm 2010). “Adaptive Social Protection: Mapping the Evidence and Policy Context in the Agriculture Sector in South Asia”. Institute of Development Studies (345).;
    “The World Bank”.;
    “Institute of Development Studies: Afghanistan”.;
    “Harvard South Asia Institute: "Afghanistan".;
    “The BBC. "Afghanistan".;
    “The Brookings Institution”.;
    “CIA "The World Factbook".
  8. ^ SAARC Summit. “SAARC”. SAARC Summit. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2013.
  9. ^ Desai, Praful B. 2002. Cancer control efforts in the Indian subcontinent. Japanese Journal of Clinical Oncology. 32 (Supplement 1): S13-S16. "The Indian subcontinent in South Asia occupies 2.4% of the world land mass and is home to 16.5% of the world population...."
  10. ^ "Asia" > Overview. Encyclopædia Britannica. Encyclopædia Britannica Online, 2009: "The Indian subcontinent is home to a vast diversity of peoples, most of whom speak languages from the Indo-Aryan subgroup of the Indo-European family."
  11. ^ "Indian Subcontinent". Encyclopedia of Modern Asia. Macmillan Reference USA (Gale Group), 2006: "The area is divided between five major nation-states, Bangladesh, India, Nepal, Pakistan and Sri Lanka, and includes as well the two small nations of Bhutan and the Maldives Republic... The total area can be estimated at 4.4 million square kilometres, or exactly 10 percent of the land surface of Asia... In 2000, the total population was about 22 percent of the world's population and 34 percent of the population of Asia."
  12. ^ a ă â b “Region: Asia-Pacific”. 27 tháng 1 năm 2011.
  13. ^ “10 Countries With the Largest Muslim Populations, 2010 and 2050”. Pew Research Center's Religion & Public Life Project. 2 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2017.
  14. ^ a ă Religion population totals in 2010 by Country Pew Research, Washington DC (2012)
  15. ^ United Nations Cartographic Centre Retrieved 18 June 2015
  16. ^ a ă â Ghosh, Partha Sarathy (1989). Cooperation and Conflict in South Asia. Technical Publications. tr. 4–5. ISBN 978-81-85054-68-1.
  17. ^ Bertram Hughes Farmer, An Introduction to South Asia, pages 1, Routledge, 1993, ISBN 0-415-05695-0
  18. ^ a ă â b c d Jona Razzaque (2004). Public Interest Environmental Litigation in India, Pakistan, and Bangladesh. Kluwer Law International. tr. 3 with footnotes 1 and 2. ISBN 978-90-411-2214-8.
  19. ^ a ă Michael Mann (2014). South Asia's Modern History: Thematic Perspectives. Taylor & Francis. tr. 13–15. ISBN 978-1-317-62445-5.
  20. ^ a ă â Ewan W. Anderson; Liam D. Anderson (2013). An Atlas of Middle Eastern Affairs. Routledge. tr. 5. ISBN 978-1-136-64862-5., Quote: "To the east, Iran, as a Gulf state, offers a generally accepted limit to the Middle East. However, Afghanistan, also a Muslim state, is then left in isolation. It is not accepted as a part of Central Asia and it is clearly not part of the Indian subcontinent".
  21. ^ a ă â “The World Bank”.
  22. ^ a ă â “Institute of Development Studies: Afghanistan”.
  23. ^ a ă â “Harvard South Asia Institute: "Afghanistan".
  24. ^ a ă â “The BBC. "Afghanistan".
  25. ^ a ă â “The Brookings Institution”.
  26. ^ a ă â “CIA "The World Factbook".
  27. ^ a ă â b c d Sushil Mittal and Gene Thursby, Religions of South Asia: An Introduction, page 3, Routledge, 2006, ISBN 9781134593224
  28. ^ Keith Robbins (2012). Transforming the World: Global Political History since World War II. Palgrave Macmillan. tr. 386. ISBN 978-1-137-29656-6., Quote: "Some thought that Afghanistan was part of the Middle East and not South Asian at all".
  29. ^ Phillip Margulies (2008). Nuclear Nonproliferation. Infobase Publishing. tr. 63. ISBN 978-1-4381-0902-2., Quote: "Afghanistan, which lies to the northwest, is not technically a part of South Asia but is an important neighbor with close links and historical ties to Pakistan."
  30. ^ a ă â McLeod, John (2002). The History of India. Greenwood Publishing Group. tr. 1. ISBN 978-0-313-31459-9.
  31. ^ Arthur Berriedale Keith, A Constitutional History of India: 1600–1935, pages 440–444, Methuen & Co, 1936
  32. ^ a ă "Indian subcontinent". New Oxford Dictionary of English (ISBN 0-19-860441-6) New York: Oxford University Press, 2001; p. 929: "the part of Asia south of the Himalayas which forms a peninsula extending into the Indian Ocean, between the Arabian Sea and the Bay of Bengal. Historically forming the whole territory of greater India, the region is now divided between India, Pakistan, and Bangladesh.
  33. ^ N.D. Arora, Political Science for Civil Services Main Examination, page 42:1, Tata McGraw-Hill Education, 2010, 9780070090941
  34. ^ Stephen Adolphe Wurm, Peter Mühlhäusler & Darrell T. Tryon, Atlas of languages of intercultural communication in the Pacific, Asia, and the Americas, pages 787, International Council for Philosophy and Humanistic Studies, Published by Walter de Gruyter, 1996, ISBN 3-11-013417-9
  35. ^ "Indian subcontinent" > Geology and Geography.
  36. ^ The Columbia Electronic Encyclopedia, 6th ed. Columbia University Press, 2003: "region, S central Asia, comprising the countries of Pakistan, India, and Bangladesh and the Himalayan states of Nepal, and Bhutan. Sri Lanka, an island off the southeastern tip of the Indian peninsula, is often considered a part of the subcontinent."
  37. ^ Haggett, Peter (2001). Encyclopedia of World Geography (Vol. 1). Marshall Cavendish. tr. 2710. ISBN 0-7614-7289-4.
  38. ^ Navnita Chadha Behera, International Relations in South Asia: Search for an Alternative Paradigm, page 129, SAGE Publications India, 2008, ISBN 9788178298702
  39. ^ United Nations, Yearbook of the United Nations, pages 297, Office of Public Information, 1947, United Nations
  40. ^ Encyclopædia Britannica: A New Survey of Universal Knowledge (volume 4), pages 177, Encyclopædia Britannica Inc., 1947
  41. ^ Ian Copland, The Princes of pre-India in the Endgame of the British Empire: 1917–1947, pages 263, Cambridge University Press, 2002, ISBN 0-521-89436-0
  42. ^ Ben Cahoon. “Pakistan Princely States”. Worldstatesmen.org. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2010.
  43. ^ a ă Kathleen M. Baker and Graham P. Chapman, The Changing Geography of Asia, page 10, Routledge, 2002, ISBN 9781134933846
  44. ^ Sarkar, Sudeshna (16 tháng 5 năm 2007). “SAARC: Afghanistan comes in from the cold”. Current Affairs – Security Watch. Swiss Federal Institute of Technology, Zürich. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2011.
  45. ^ “South Asian Organisation for Regional Cooperation (official website)”. SAARC Secretariat, Kathmandu, Nepal. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2011.
  46. ^ Chatterjee Aneek, International Relations Today: Concepts and Applications, page 166, Pearson Education India, ISBN 9788131733752
  47. ^ “SAARC Membership: India blocks China's entry for the time being”. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2015.
  48. ^ “South Asia”. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2015.
  49. ^ South Asia: Data, Projects and Research, The World Bank
  50. ^ “SAFTA Protocol”. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2015.
  51. ^ “South Asia”. Unicef.org. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2016.
  52. ^ “UNICEF ROSA”. Unicef.org. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2016.
  53. ^ Geographical region and composition, Composition of macro geographical (continental) regions, geographical sub-regions, and selected economic and other groupings, United Nations
  54. ^ “Standard Country or Area Codes for Statistical Use”. Millenniumindicators.un.org. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2012. Quote: "The assignment of countries or areas to specific groupings is for statistical convenience and does not imply any assumption regarding political or other affiliation of countries or territories by the United Nations."
  55. ^ Asia-Pacific POPIN Consultative Workshop Report, Asia-Pacific POPIN Bulletin, Vol. 7, No. 2 (1995), pages 7–11
  56. ^ Mapping and Analysis of Agricultural Trade Liberalization in South Asia, Trade and Investment Division (TID), United Nations Economic and Social Commission for Asia and the Pacific
  57. ^ Territories (British Indian Ocean Territory), Jane's Information Group
  58. ^ Dale Hoiberg and Indu Ramchandani, Students' Britannica India (vol. 1), page 45, Popular Prakashan, 2000, ISBN 978-0-85229-760-5
  59. ^ Vernon Marston Hewitt, The international politics of South Asia, page xi, Manchester University Press, 1992, ISBN 0-7190-3392-6
  60. ^ Dallen J. Timothy and Gyan P. Nyaupane, Cultural Heritage and Tourism in the Developing World: A Regional Perspective, page 127, Routledge, 2009, ISBN 9781134002283
  61. ^ Kishore C. Dash, Regionalism in South Asia, pages 172–175, Routledge, 2008, ISBN 0-415-43117-4
  62. ^ “subcontinent”. Oxford English Dictionary (ấn bản 3). Oxford University Press. Tháng 9 năm 2005. (yêu cầu Đăng ký hoặc có quyền thành viên của thư viện công cộng Anh.)
  63. ^ “Indian subcontinent”. Oxford English Dictionary (ấn bản 3). Oxford University Press. Tháng 9 năm 2005. (yêu cầu Đăng ký hoặc có quyền thành viên của thư viện công cộng Anh.)
  64. ^ Asher, Catherine B.; Talbot, Cynthia (16 tháng 3 năm 2006), India Before Europe, Cambridge University Press, tr. 5–8, 12–14, 51, 78–80, ISBN 978-0-521-80904-7
  65. ^ Robert Wynn Jones (2011). Applications of Palaeontology: Techniques and Case Studies. Cambridge University Press. tr. 267–271. ISBN 978-1-139-49920-0.
  66. ^ a ă John McLeod, The history of India, page 1, Greenwood Publishing Group, 2002, ISBN 0-313-31459-4
    Milton Walter Meyer, South Asia: A Short History of the Subcontinent, pages 1, Adams Littlefield, 1976, ISBN 0-8226-0034-X
    Jim Norwine & Alfonso González, The Third World: states of mind and being, pages 209, Taylor & Francis, 1988, ISBN 0-04-910121-8
    Boniface, Brian G.; Christopher P. Cooper (2005). Worldwide destinations: the geography of travel and tourism. Butterworth-Heinemann. ISBN 978-0-7506-5997-0.
    Judith Schott & Alix Henley, Culture, Religion, and Childbearing in a Multiracial Society, pages 274, Elsevier Health Sciences, 1996, ISBN 0-7506-2050-1
    Raj S. Bhopal, Ethnicity, race, and health in multicultural societies, pages 33, Oxford University Press, 2007, ISBN 0-19-856817-7
    Lucian W. Pye & Mary W. Pye, Asian Power and Politics, pages 133, Harvard University Press, 1985, ISBN 0-674-04979-9
    Mark Juergensmeyer, The Oxford handbook of global religions, pages 465, Oxford University Press US, 2006, ISBN 0-19-513798-1
    Sugata Bose & Ayesha Jalal, Modern South Asia, pages 3, Routledge, 2004, ISBN 0-415-30787-2
  67. ^ John R. Lukacs, The People of South Asia: the biological anthropology of India, Pakistan, and Nepal, page 59, Plenum Press, 1984, ISBN 9780306414077
  68. ^ Tatu Vanhanen, Prospects of Democracy: A Study of 172 Countries, page 144, Routledge, 1997, ISBN 9780415144063
  69. ^ Chris Brewster and Wolfgang Mayrhofe, Handbook of Research on Comparative Human Resource Management, page 576, Edward Elgar Publishing, 2012, ISBN 9780857938718
  70. ^ Dhavendra Kumar (2012). Genomics and Health in the Developing World. Oxford University Press. tr. 889. ISBN 978-0-19-537475-9.
  71. ^ Mariam Pirbhai (2009). Mythologies of Migration, Vocabularies of Indenture: Novels of the South Asian Diaspora in Africa, the Caribbean, and Asia-Pacific. University of Toronto Press. tr. 14. ISBN 978-0-8020-9964-8.
  72. ^ Ronald B. Inden, Imagining India, page 51, C. Hurst & Co. Publishers, 2000, ISBN 1850655200, Quote:"It is very common today in academic and official circles to speak of the Indian subcontinent as 'South Asia', thereby distinguishing it from an 'East Asia'."
  73. ^ Sugata Bose & Ayesha Jalal, Modern South Asia, pages 3, Routledge, 2004, ISBN 0415307872, Quote:"Indian subcontinent – or South Asia – as it has come to be known in more recent and neutral parlance"
  74. ^ G. Bongard-Levin, A History of India (Progress Publishers: Moscow, 1979) p. 11.
  75. ^ Romila Thapar, A History of India (Penguin Books: New York, 1966) p. 23.
  76. ^ Romila Thapar, A History of India, p. 24.
  77. ^ Possehl 2002, tr. 141–156.
  78. ^ Michaels 2004, tr. 32.
  79. ^ Witzel 1995, tr. 3-4.
  80. ^ a ă â Witzel 1995.
  81. ^ a ă Michaels 2004, tr. 33.
  82. ^ Flood 1996, tr. 30-35.
  83. ^ Flood 1996, tr. 33.
  84. ^ Samuel 2010, tr. 41-48.
  85. ^ Stein 2010, tr. 48-49.
  86. ^ Witzel 1995, tr. 6.
  87. ^ Samuel 2010, tr. 51-53.
  88. ^ a ă Samuel 2010, tr. 25.
  89. ^ a ă Hiltebeitel 2007, tr. 12.
  90. ^ Flood 1996, tr. 81–82.
  91. ^ Jacob Neusner (2009). World Religions in America: An Introduction. Westminster John Knox Press. ISBN 978-0-664-23320-4.
  92. ^ Gombrich 2006, tr. 135.
  93. ^ Trainor 2004, tr. 103, 119.
  94. ^ Jason Neelis (2010). Early Buddhist Transmission and Trade Networks: Mobility and Exchange Within and Beyond the Northwestern Borderlands of South Asia. BRILL Academic. tr. 102–106. ISBN 90-04-18159-8.
  95. ^ John Guy (2014). Lost Kingdoms: Hindu-Buddhist Sculpture of Early Southeast Asia. Metropolitan Museum of Art. tr. 9–11, 14–15, 19–20. ISBN 978-1-58839-524-5.
  96. ^ Jason Neelis (2010). Early Buddhist Transmission and Trade Networks: Mobility and Exchange Within and Beyond the Northwestern Borderlands of South Asia. BRILL Academic. tr. 114–115, 144, 160–163, 170–176, 249–250. ISBN 90-04-18159-8.
  97. ^ Deborah Klimburg-Salter (1989), The Kingdom of Bamiyan: Buddhist art and culture of the Hindu Kush, Naples – Rome: Istituto Universitario Orientale & Istituto Italiano per il Medio ed Estremo Oriente, ISBN 978-0877737650 (Reprinted by Shambala)
  98. ^ Barbara Crossette (1996). So Close to Heaven: The Vanishing Buddhist Kingdoms of the Himalayas. Vintage. tr. 84–85. ISBN 978-0-679-74363-7.
  99. ^ HJ Klimkeit; R Meserve; EE Karimov; C Shackle (2000). “Religions and religious movements”. Trong CE Boxworth; MS Asimov. History of Civilizations of Central Asia. UNESCO. tr. 79–80. ISBN 978-92-3-103654-5.
  100. ^ Samuel 2010, tr. 193–228, 339–353, specifically pp. 76–79 and 194–199.
  101. ^ John Guy; Pierre Baptiste; Lawrence Becker; Bérénice Bellina; Robert L. Brown; Federico Carò (2014). Lost Kingdoms: Hindu-Buddhist Sculpture of Early Southeast Asia. Yale University Press. tr. 10–11. ISBN 978-0-300-20437-7.
  102. ^ Michell 1977, tr. 18, 40.
  103. ^ Hartmut Scharfe (2002). Handbook of Oriental Studies. BRILL Academic. tr. 144–153. ISBN 90-04-12556-6.
  104. ^ Craig Lockard (2007). Societies, Networks, and Transitions: Volume I: A Global History. Houghton Mifflin. tr. 188. ISBN 978-0618386123.
  105. ^ Walter M. Spink (2005). Ajanta: History and Development, Volume 5: Cave by Cave. BRILL Academic. tr. 1–9, 15–16. ISBN 90-04-15644-5.
  106. ^ “Ellora Caves – UNESCO World Heritage Centre”. Whc.unesco.org., Quote:"Ellora, with its uninterrupted sequence of monuments dating from A.D. 600 to 1000, brings the civilization of ancient India to life. Not only is the Ellora complex a unique artistic creation and a technological exploit but, with its sanctuaries devoted to Buddhism, Hinduism and Jainism, it illustrates the spirit of tolerance that was characteristic of ancient India."
  107. ^ Lisa Owen (2012). Carving Devotion in the Jain Caves at Ellora. BRILL Academic. tr. 1–10. ISBN 978-9004206298.
  108. ^ “History in Chronological Order”. Government of Pakistan. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2008.
  109. ^ See:
    • M. Reza Pirbha, Reconsidering Islam in a South Asian Context, ISBN 978-9004177581, Brill
    • The Islamic frontier in the east: Expansion into South Asia, Journal of South Asian Studies, 4(1), pp. 91–109
    • Sookoohy M., Bhadreswar – Oldest Islamic Monuments in India, ISBN 978-9004083417, Brill Academic; see discussion of earliest raids in Gujarat
  110. ^ a ă â Peter Jackson (2003), The Delhi Sultanate: A Political and Military History, Cambridge University Press, ISBN 978-0521543293, pp 3–30
  111. ^ T. A. Heathcote, The Military in British India: The Development of British Forces in South Asia:1600–1947, (Manchester University Press, 1995), pp 5–7
  112. ^ Lionel Barnett (1999), Antiquities of India: An Account of the History and Culture of Ancient Hindustan, tr. 1, tại Google Books, Atlantic pp. 73–79
  113. ^ Richard Davis (1994), Three styles in looting India, History and Anthropology, 6(4), pp 293–317, doi:10.1080/02757206.1994.9960832
  114. ^ Muhammad B. Sam Mu'izz Al-Din, T. W. Haig, Encyclopaedia of Islam, Vol. VII, ed. C. E. Bosworth, E. van Donzel, W. P. Heinrichs and C. Pellat, (Brill, 1993)
  115. ^ C.E. Bosworth, The Cambridge History of Iran, Vol. 5, ed. J. A. Boyle, John Andrew Boyle, (Cambridge University Press, 1968), pp 161–170
  116. ^ History of South Asia: A Chronological Outline Columbia University (2010)
  117. ^ Muḥammad ibn Tughluq Encyclopædia Britannica
  118. ^ Firoz Shah Tughlak, Futuhat-i Firoz Shahi – Autobiographical memoirs, Translated in 1871 by Elliot and Dawson, Volume 3 – The History of India, Cornell University Archives, pp 377–381
  119. ^ Vincent A Smith, The Oxford History of India: From the Earliest Times to the End of 1911, tr. 217, tại Google Books, Chapter 2, pp. 249–251, Oxford University Press
  120. ^ Annemarie Schimmel, Islam in the Indian Subcontinent, ISBN 978-9004061170, Brill Academic, pp 20–23
  121. ^ David Lewis (31 tháng 10 năm 2011). Bangladesh: Politics, Economy and Civil Society. Cambridge University Press. tr. 44. ISBN 978-1-139-50257-3. In 1346... what became known as the Bengal Sultanate began and continued for almost two centuries.
  122. ^ Syed Ejaz Hussain (2003). The Bengal Sultanate: Politics, Economy and Coins, A.D. 1205–1576. Manohar. ISBN 978-81-7304-482-3.
  123. ^ Kulke and Rothermund, Hermann and Dietmar (2004) [2004]. A History of India. Routledge (4th edition). tr. 187–188. ISBN 0-415-32919-1.
  124. ^ Nilakanta Sastri, K. A. (1955) [reissued 2002]. A history of South India from prehistoric times to the fall of Vijayanagar. New Delhi: Indian Branch, Oxford University Press. tr. 216, 239–250. ISBN 0-19-560686-8.
  125. ^ Lodi Dynasty Encyclopædia Britannica (2009)
  126. ^ Guptajit Pathak (2008). Assam's history and its graphics. Mittal. tr. 124. ISBN 978-81-8324-251-6.
  127. ^ C. E. Bosworth (2014). New Islamic Dynasties. Edinburgh University Press. tr. 179–180. ISBN 978-0-7486-9648-2.
  128. ^ Catherine Blanshard Asher (1992). Architecture of Mughal India. Cambridge University Press. tr. 1–2. ISBN 978-0-521-26728-1.
  129. ^ John F. Richards (1995). The Mughal Empire. Cambridge University Press. tr. 97–101. ISBN 978-0-521-56603-2.
  130. ^ Pashaura Singh (2005), Understanding the Martyrdom of Guru Arjan, Journal of Punjab Studies, 12(1), pages 29–62; Quote (p. 29): "most of the Sikh scholars have vehemently presented this event as the first of the long series of religious persecutions that Sikhs suffered at the hands of Mughal authorities.";
    Pashaura Singh (2006). Life and Work of Guru Arjan: History, Memory, and Biography in the Sikh Tradition. Oxford University Press. tr. 23, 217–218. ISBN 978-0-19-567921-2.
  131. ^ Chris Seiple (2013). The Routledge handbook of religion and security. New York: Routledge. tr. 96. ISBN 978-0-415-66744-9.
  132. ^ Pashaura Singh and Louis Fenech (2014). The Oxford handbook of Sikh studies. Oxford, UK: Oxford University Press. tr. 236–238, 442–445. ISBN 978-0-19-969930-8.
  133. ^ Annemarie Schimmel; Burzine K. Waghmar (2004). The Empire of the Great Mughals: History, Art and Culture. Reaktion. tr. 35, 115–121. ISBN 978-1-86189-185-3.
  134. ^ Matthew White (2011). The Great Big Book of Horrible Things. W. W. Norton. tr. 234. ISBN 978-0-393-08192-3. The Mughals traditionally had been tolerant of Hinduism... Aurangzeb, however... prohibited Hindus from riding horses or litters. He reintroduced the head tax non-Muslims had to pay. Aurangzeb relentlessly destroyed Hindu temples all across India.
  135. ^ Vincent Smith (1919), The Oxford History of India, Oxford University Press, page 437
  136. ^ John Bowman (2005). Columbia Chronologies of Asian History and Culture. Columbia University Press. tr. 282–284. ISBN 978-0-231-50004-3.
  137. ^ W. Owen Cole; Piara Singh Sambhi (1978). The Sikhs: Their Religious Beliefs and Practices. Routledge. tr. 36–37. ISBN 0-7100-8842-6.
  138. ^ Lisa Balabanlilar (2012). Imperial Identity in Mughal Empire: Memory and Dynastic Politics in Early Modern Central Asia. I.B.Tauris. tr. 97, 180–181. ISBN 978-1-84885-726-1.
  139. ^ J. S. Grewal (1990). “Chapter 6: The Sikh empire (1799–1849)”. The Sikh empire (1799–1849). The New Cambridge History of India. The Sikhs of the Punjab. Cambridge University Press.
  140. ^ Patwant Singh (2008). Empire of the Sikhs: The Life and Times of Maharaja Ranjit Singh. Peter Owen. tr. 113–124. ISBN 978-0-7206-1323-0.
  141. ^ Debjani Sengupta (2015). The Partition of Bengal: Fragile Borders and New Identities. Cambridge University Press. tr. 16–19. ISBN 978-1-316-67387-4.
  142. ^ Bashabi Fraser (2008). Bengal Partition Stories: An Unclosed Chapter. Anthem. tr. 7–16. ISBN 978-1-84331-299-4.
  143. ^ Saul Bernard Cohen, Geopolitics of the world system, pages 304–305, Rowman & Littlefield, 2003, ISBN 0-8476-9907-2
  144. ^ Xinru, Liu, "The Silk Road in World History" (New York: Oxford University Press, 2010), 40.
  145. ^ "Asia" > Geology and Geography. The Columbia Electronic Encyclopedia, 6th ed. Columbia University Press, 2003: "Asia can be divided into six regions, each possessing distinctive physical, cultural, economic, and political characteristics... South Asia (Afghanistan and the nations of the Indian subcontinent) is isolated from the rest of Asia by great mountain barriers."
  146. ^ "Asia" > Geologic history – Tectonic framework. Encyclopædia Britannica. Encyclopædia Britannica Online, 2009: "The paleotectonic evolution of Asia terminated some 50 million years ago as a result of the collision of the Indian subcontinent with Eurasia. Asia's subsequent neotectonic development has largely disrupted the continent's preexisting fabric. The first-order neotectonic units of Asia are Stable Asia, the Arabian and Indian cratons, the Alpide plate boundary zone (along which the Arabian and Indian platforms have collided with the Eurasian continental plate), and the island arcs and marginal basins."
  147. ^ Chapman, Graham P. & Baker, Kathleen M., eds. The changing geography of Asia. (ISBN 0-203-03862-2) New York: Taylor & Francis e-Library, 2002; p. 10: "This greater India is well defined in terms of topography; it is the Indian sub-continent, hemmed in by the Himalayas on the north, the Hindu Khush in the west and the Arakanese in the east."
  148. ^ a ă Robert M. Cutler (2007). Mehdi Amineh, biên tập. The Greater Middle East in Global Politics: Social Science Perspectives on the Changing Geography of the World Politics. BRILL. tr. xv, 112. ISBN 978-90-474-2209-9.
  149. ^ Sinvhal, Understanding Earthquake Disasters, page 52, Tata McGraw-Hill Education, 2010, ISBN 978-0-07-014456-9
  150. ^ Harsh K. Gupta, Disaster management, page 85, Universities Press, 2003, ISBN 978-81-7371-456-6
  151. ^ James R. Heirtzler, Indian ocean geology and biostratigraphy, American Geophysical Union, 1977, ISBN 978-0-87590-208-1
  152. ^ M. Asif Khan, Tectonics of the Nanga Parbat syntaxis and the Western Himalaya, page 375, Geological Society of London, 2000, ISBN 978-1-86239-061-4
  153. ^ Srikrishna Prapnnachari, Concepts in Frame Design, page 152, Srikrishna Prapnnachari, ISBN 978-99929-52-21-4
  154. ^ A. M. Celâl Şengör, Tectonic evolution of the Tethyan Region, Springer, 1989, ISBN 978-0-7923-0067-0
  155. ^ Valentin Semenovich Burtman & Peter Hale Molnar, Geological and Geophysical Evidence for Deep Subduction of Continental Crust Beneath the Pamir, page 10, Geological Society of America, 1993, ISBN 0-8137-2281-0
  156. ^ Peel, M. C.; Finlayson, B. L.; McMahon, T. A. (2007). “Updated world map of the Köppen–Geiger climate classification”. Hydrol. Earth Syst. Sci. 11 (5): 1633–1644. ISSN 1027-5606. doi:10.5194/hess-11-1633-2007. (direct: Final Revised Paper)
  157. ^ a ă â John E. Olive, The Encyclopedia of World Climatology, page 115-117, Springer, 2005, ISBN 9781402032646
  158. ^ Peter D. Tyson, Global-Regional Linkages in the Earth System, page 83, Springer, 2002, ISBN 9783540424031
  159. ^ Peter D. Tyson, Global-Regional Linkages in the Earth System, page 76, Springer, 2002, ISBN 9783540424031
  160. ^ a ă â b “Field Listing:: Names”. CIA. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2011.
  161. ^ a ă “UNGEGN List of Country Names” (PDF). United Nations Group of Experts on Geographical Names. 2007. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2011.
  162. ^ a ă â “List of countries, territories and currencies”. Europa. 9 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2011.
  163. ^ “Field Listing:: Capital”. CIA. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2011.
  164. ^ “UNGEGN World Geographical Names”. United Nations Group of Experts on Geographical Names. 29 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2011.
  165. ^ “Field Listing:: Area”. CIA. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2011.
  166. ^ a ă “Country Comparison:: Population”. CIA. Tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2012.
  167. ^ a ă “World Economic Outlook (April 2017) – Nominal GDP”. IMF. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2017.
  168. ^ a ă “World Economic Outlook (April 2017) – Nominal GDP per capita”. IMF. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2017.
  169. ^ “| Human Development Reports”. hdr.undp.org. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2017.
  170. ^ United Nations, Department of Economic and Social Affairs, Population Division (2014). World Urbanization Prospects: The 2014 Revision, custom data acquired via website. http://esa.un.org/unpd/wpp/Excel-Data/population.htm
  171. ^ Baten, Jörg (2016). A History of the Global Economy. From 1500 to the Present. Cambridge University Press. tr. 249. ISBN 9781107507180.
  172. ^ a ă â Cox, Wendell (tháng 1 năm 2015). “Demographia World Urban Areas” (PDF). Demographia. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2015.
  173. ^ Brinkhoff, Thomas. “The Principal Agglomerations of the World”. citypopulation.de. City Population. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2015.
  174. ^ “Population explosion: Put an embargo on industrialisation in Karachi”. Karachi: The Express Tribune. 6 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2014.
  175. ^ a ă Braj B. Kachru; Yamuna Kachru; S. N. Sridhar (2008). Language in South Asia. Cambridge University Press. tr. 122–127, 419–423. ISBN 978-1-139-46550-2.
  176. ^ George Cardona; Dhanesh Jain (2003). The Indo-Aryan Languages. Routledge. tr. 75–77. ISBN 978-0-415-77294-5.
  177. ^ a ă Devanagari (Nagari), Script Features and Description, SIL International (2013), United States
  178. ^ Hindi, Omniglot Encyclopedia of Writing Systems and Languages
  179. ^ David Templin. “Devanagari script”. Omniglot. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2015.
  180. ^ Shamsur Rahman Faruqi (2008), Urdu Literary Culture: The Syncretic Tradition, Shibli Academy, Azamgarh
  181. ^ Peter T. Daniels; William Bright (1996). The World's Writing Systems. Oxford University Press. tr. 395. ISBN 978-0-19-507993-7.
  182. ^ Braj B. Kachru; Yamuna Kachru; S. N. Sridhar (2008). Language in South Asia. Cambridge University Press. tr. 391–394. ISBN 978-1-139-46550-2.
  183. ^ "Region: South Asia". Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2017.
  184. ^ Editor, Daniel Burke, CNN Religion. “The moment American Muslims were waiting for”. CNN. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2017.
  185. ^ a ă Adams, C. J., Classification of religions: Geographical, Encyclopædia Britannica, 2007. Accessed: 15 July 2010; Quote: "Indian religions, including early Buddhism, Hinduism, Jainism, and Sikhism, and sometimes also Theravāda Buddhism and the Hindu- and Buddhist-inspired religions of South and Southeast Asia".
  186. ^ Alberts, Irving, T.,. D. R. M. (2013). Intercultural Exchange in Southeast Asia: History and Society in the Early Modern World (International Library of Historical Studies). I.B. Tauris.
  187. ^ Lisa Balabanlilar (2012). Imperial Identity in Mughal Empire: Memory and Dynastic Politics in Early Modern Central Asia. I.B. Tauris. tr. 1–2, 7–10. ISBN 978-1-84885-726-1.
  188. ^ “CIA – The World Factbook – Afghanistan”. CIA. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2012.
  189. ^ a ă “CIA – The World Factbook”. CIA. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2012.
  190. ^ “Indian Census”. Censusindia.gov.in. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2010.
  191. ^ “Bangladesh: AT A GLANCE”. Banbeis.gov.bd. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2010.
  192. ^ “religion”. Maldives. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2010.
  193. ^ “Maldives”. Law.emory.edu. 21 tháng 2 năm 1920. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2010.
  194. ^ Maldives – Religion, countrystudies.us
  195. ^ “NEPAL” (PDF). Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2010.
  196. ^ “Population by religions” (PDF). Statistics Division of the Government of Pakistan. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 17 tháng 6 năm 2006.
  197. ^ “Table 1”. Web.archive.org. 13 tháng 5 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2010.
  198. ^ a ă “Report for Selected Countries and Subjects”. www.imf.org.
  199. ^ “Welcome to WorldBank Group”. World Bank. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2010.
  200. ^ “South Asia, now the fastest-growing region in the world, could take greater advantage of cheap oil to reform energy pricing”.
  201. ^ Akhtar, Adeel. “About Pakistan Stock Exchange (www.psx.com.pk)”. ksestocks.com.
  202. ^ “World Economic Outlook (April 2017) – Real GDP growth”. IMF. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2017.
  203. ^ “World Economic Outlook (April 2017) – Inflation rate, average consumer prices”. IMF. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2017.
  204. ^ “GPEI”.
  205. ^ Haider, Sajjad; Khan, Shameen (31 tháng 12 năm 2014). “Lost — The battle against polio”.
  206. ^ “Poverty & Equity Data Portal”. povertydata.worldbank.org.
  207. ^ Chakravarty, Manas (13 tháng 10 năm 2014). “The World Bank on India’s poverty”.
  208. ^ “India - Data”. data.worldbank.org.
  209. ^ “World Bank Report”. The World Bank. 2009. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2009. World Bank Report on Malnutrition in India
  210. ^ “Agriculture in South Asia”. World Bank.
  211. ^ a ă “UN” (PDF).
  212. ^ Dawn.com (29 tháng 5 năm 2015). “India home to world's largest number of hungry people: report”.
  213. ^ Pandey, Geeta (13 tháng 10 năm 2006). 'Hunger critical' in South Asia”. BBC News. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2010.
  214. ^ “The EU's External Relations”. Europarl.europa.eu. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2010.
  215. ^ http://www.theindianrepublic.com/tbp/foreign-policy-seizing-initiative-maintaining-momentum-100037338.html
  216. ^ http://m.niticentral.com/2014/05/23/why-invitation-to-saarc-countries-is-modis-master-stroke-226470.html
  217. ^ Barry Buzan (2004). The United States and the great powers: world politics in the twenty-first century. Polity. tr. 71, 99. ISBN 978-0-7456-3374-9. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2011.
  218. ^ Hussein Solomon. “South African Foreign Policy and Middle Power Leadership”. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 6 năm 2002. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2011.
  219. ^ “Area and Population of Countries (mid-2006 estimates)”. Infoplease. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2010.
  220. ^ http://www.bbc.co.uk/learningzone/clips/india-worlds-largest-democracy/10104.html
  221. ^ http://m.economictimes.com/news/politics-and-nation/indias-defence-budget-is-one-third-of-china-pentagon/articleshow/36129618.cms
  222. ^ Haider, Irfan (3 tháng 6 năm 2014). “Finance minister unveils Rs3.945tr budget for 2014-15”. Dawn.com.
  223. ^ “The world factbook-Bangladesh”. CIA.
  224. ^ Gowen, Annie. “Bangladesh's political unrest threatens economic gains, democracy”. The Washington Post. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2014.

Liên kết ngoài

Bộ Cá da trơn

Bộ Cá da trơn hay bộ Cá nheo (danh pháp khoa học: Siluriformes) là một bộ cá rất đa dạng trong nhóm cá xương. Các loài cá trong bộ này dao động khá mạnh về kích thước và các thức sinh sống, từ loài nặng nhất là cá tra dầu (Pangasius gigas) ở Đông Nam Á tới loài dài nhất là cá nheo châu Âu (Silurus glanis) của đại lục Á-Âu, hay những loài chỉ ăn xác các sinh vật chết ở lớp nước đáy, hay các loài cá ký sinh nhỏ bé như Vandellia cirrhosa. Có các loài với các kiểu tấm xương bảo vệ cũng như các loài không có tấm xương bảo vệ này, nhưng tất cả chúng đều không có vảy. Không phải loài cá da trơn nào cũng có râu; các đặc trưng để xác định bộ Siluriformes trên thực tế là các đặc điểm chung của hộp sọ và bong bóng. Bộ cá này có tầm quan trọng kinh tế đáng kể; nhiều loài được chăn nuôi ở quy mô lớn để cung cấp cá thực phẩm, một vài loài được nuôi thả như là cá câu thể thao. Nhiều loài cá nhỏ, cụ thể là các loài trong chi Corydoras, được nuôi làm cá cảnh trong các bể cá.

Cá da trơn là loài thủy sinh vật được chăn nuôi phổ biến ở nhiều nước trên thế giới và trở thành một nguồn thủy hải sản quan trọng trong công nghiệp thực phẩm, được chế biến và tiêu thụ rộng rãi trên toàn cầu. Tại Hoa Kỳ, các loài catfish (cá mèo hay cá trê Mỹ) thuộc họ Ictaluridae của bộ Cá da trơn được chăn nuôi với quy mô công nghiệp. Các chủ trại nuôi cá catfish đã thành lập một hiệp hội nghề nghiệp nuôi cá catfish để truyền bá, trao đổi kinh nghiệm chăn nuôi loài cá này và bảo vệ quyền lợi cho các thành viên trong trường hợp gặp phải sự cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường. Cũng trong cuộc cạnh tranh này, đã có thời kỳ, các loài cá tra nuôi (Pangasius hypophthalmus) và cá ba sa (Pangasius bocourti) của Nam Bộ, mặc dù thuộc họ Pangasiidae (tiếng Anh gọi là shark catfish) cũng trong bộ Cá da trơn nhưng vẫn bị cho là thuộc họ Cá trê (Clariidae) và cho tới nay tại thị trường Mỹ vẫn không được dán nhãn là catfish và áp dụng thuế chống phá giá lên các loài cá nhập khẩu này.

Ở Việt Nam có nhiều loài thuộc bộ Cá da trơn như cá trê, cá nheo, cá bông lau, cá ba sa, cá tra v.v Đại đa số chúng sinh sống tự nhiên trong các ao, đầm, sông, hồ. Chỉ đến gần đây, khi nhu cầu tiêu thụ loại cá này dưới dạng thực phẩm tăng lên một cách đột biến, một số loài cá thuộc bộ này bắt đầu được các chủ trại nuôi cá ở Việt Nam chăn nuôi, mặc dù với quy mô không lớn.

Chiến tranh biên giới Việt–Trung 1979

Chiến tranh biên giới 1979, hay thường được gọi là Chiến tranh biên giới Việt – Trung năm 1979, là một cuộc chiến ngắn nhưng khốc liệt giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, nổ ra vào ngày 17 tháng 2 năm 1979 khi Trung Quốc đưa quân tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới giữa 2 nước.Chiến tranh biên giới Việt - Trung bắt nguồn từ quan hệ căng thẳng kéo dài giữa hai quốc gia, kéo dài trong khoảng một tháng với thiệt hại về người và tài sản cho cả hai phía.

Cuộc chiến kết thúc khi Trung Quốc tuyên bố hoàn thành rút quân vào ngày 16 tháng 3 năm 1979 sau khi Chủ tịch Tôn Đức Thắng bên phía Việt Nam kí lệnh Tổng động viên toàn dân và Trung Quốc đã đánh chiếm các thị xã Lạng Sơn, Lào Cai, Cao Bằng và một số thị trấn vùng biên. Mặc dù chịu thiệt hại lớn và thất bại trong việc buộc Việt Nam phải rút quân khỏi Campuchia nhưng Trung Quốc đã chứng minh được rằng đối thủ Liên Xô sẽ không trực tiếp tham chiến để bảo vệ đồng minh Việt Nam của mình. Cuộc chiến cũng để lại hậu quả lâu dài đối với nền kinh tế Việt Nam và căng thẳng trong quan hệ giữa hai nước. Xung đột vũ trang tại biên giới giữa hai nước vẫn còn tiếp diễn thêm hơn mười năm. Tới năm 1991, Quan hệ ngoại giao Việt–Trung mới chính thức được bình thường hóa.

Chăm Pa

Chăm Pa (tiếng Phạn: चम्पा, Chữ Hán: 占婆 Chiêm Bà, tiếng Chăm: Campa) là một quốc gia cổ từng tồn tại độc lập liên tục qua các thời kỳ từ năm 192 đến năm 1832. Cương vực của Chăm Pa lúc mở rộng nhất trải dài từ dãy núi Hoành Sơn, Quảng Bình ở phía Bắc cho đến Bình Thuận ở phía nam và từ biển Đông cho đến tận miền núi phía tây của nước Lào ngày nay.

Qua một số danh xưng Lâm Ấp, Panduranga, Chăm Pa trên phần đất nay thuộc miền Trung Việt Nam. Văn hóa Chăm Pa chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ và Java đã từng phát triển rực rỡ với những đỉnh cao nghệ thuật là phong cách Đồng Dương và phong cách Mỹ Sơn A1 mà nhiều di tích đền tháp và các công trình điêu khắc đá, đặc biệt là các hiện vật có hình linga vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay cho thấy ảnh hưởng của Ấn giáo và Phật giáo là hai tôn giáo chính của chủ nhân vương quốc Chăm Pa xưa.

Chăm Pa hưng thịnh nhất vào thế kỷ 9 và 10 và sau đó dần dần suy yếu dưới sức ép của các vương triều Đại Việt từ phía Bắc và các cuộc chiến tranh với Đế quốc Khmer. Năm 1471, Chăm Pa chịu thất bại nặng nề trước Đại Việt và bị mất phần lớn lãnh thổ phía bắc vào Đại Việt. Phần lãnh thổ còn lại của Chăm Pa bị chia nhỏ thành các tiểu quốc, và tiếp tục sau đó dần dần bị các chúa Nguyễn thôn tính và đến năm 1832 toàn bộ vương quốc chính thức bị sáp nhập vào Việt Nam dưới triều vua Minh Mạng.

Danh sách quốc gia thành viên ASEAN

ASEAN là tổ chức liên kết của khu vực Đông Nam Á, được tạo dựng với mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ủng hộ hòa bình khu vực, và phát triển văn hóa giữa các thành viên. Danh sách dưới đây bao gồm các quốc gia thành viên của ASEAN (Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á). ASEAN được thành lập vào ngày 8/8/1967 với năm quốc gia thành viên đầu tiên là: Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Philippines và Singapore. Tính đến năm 2009, tổ chức này đã kết nạp hầu hết các quốc gia Đông Nam Á làm thành viên (trừ Đông Timor), chấp nhận Đông Timor và Papua New Guinea làm quan sát viên, và đang xem xét đơn xin gia nhập của Đông Timor.

Các thành viên của ASEAN +3 và Hội nghị thượng đỉnh Đông Á cũng được đề cập trong bài viết này. Ngoài ra, danh sách này cũng bao gồm thông tin về các quốc gia tham dự Diễn đàn hợp tác khu vực ASEAN (ARF), trong đó các quốc gia của tổ chức (tâm điểm là thành viên ASEAN) sẽ đẩy mạnh đối thoại và hợp tác, đóng góp hiệu quả cho hòa bình, ổn định và hợp tác ở Ðông Nam Á và châu Á-Thái Bình Dương, thực hiện các biện pháp xây dựng lòng tin, kết hợp từng bước triển khai các biện pháp ngoại giao phòng ngừa, lấy xây dựng lòng tin làm nền tảng để củng cố và tăng cường sự tin cậy giữa các nước tham gia.

Di sản thế giới tại Việt Nam

Những Di sản thế giới của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) là di chỉ, di tích hay danh thắng của một quốc gia được công nhận và quản lý bởi UNESCO. Di sản thế giới tại Việt Nam đã được UNESCO công nhận có đủ cả ba loại hình: di sản thiên nhiên thế giới, di sản văn hóa thế giới và di sản hỗn hợp văn hóa và thiên nhiên thế giới. Trong hệ thống các danh hiệu của UNESCO, di sản thế giới là danh hiệu danh giá nhất và lâu đời nhất.Các tiêu chí của di sản bao gồm tiêu chí của di sản văn hóa (bao gồm i, ii, iii, iv, v, vi) và di sản thiên nhiên (vii, viii, ix, x). Việt Nam hiện tại có 8 di sản thế giới được UNESCO công nhận. 5 trong số đó là di sản văn hoá, 2 là di sản tự nhiên và 1 di sản hỗn hợp. Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng, Vịnh Hạ Long là những di sản thiên nhiên. Quần thể di tích Cố đô Huế, Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn, Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long và Thành nhà Hồ là những di sản văn hoá. Quần thể danh thắng Tràng An là Di sản hỗn hợp duy nhất tại Việt Nam và Đông Nam Á, và là một trong số ít 38 di sản hỗn hợp được UNESCO công nhận.

Hoa Kỳ

Hoa Kỳ (tiếng Anh: United States - U.S) hay Mỹ (tiếng Anh: America) tên gọi đầy đủ là Hợp chúng quốc Hoa Kỳ hoặc Hợp chúng quốc Mỹ (tiếng Anh: United States of America - USA) là một nước cộng hòa lập hiến liên bang gồm 50 tiểu bang và 1 đặc khu liên bang. Quốc gia này nằm gần hoàn toàn trong Tây Bán cầu: 48 tiểu bang lục địa và thủ đô Washington, D.C., nằm giữa Bắc Mỹ, giáp Thái Bình Dương ở phía tây, Đại Tây Dương ở phía đông, Canada ở phía bắc, và México ở phía nam. Tiểu bang Alaska nằm trong vùng tây bắc của lục địa Bắc Mỹ, giáp với Canada ở phía đông. Tiểu bang Hawaii nằm giữa Thái Bình Dương. Hoa Kỳ cũng có 14 lãnh thổ hay còn được gọi là vùng quốc hải rải rác trong vùng biển Caribe và Thái Bình Dương.

Với 3,79 triệu dặm vuông (9.833.520 triệu km²) và 324,1 triệu dân (2018), Hoa Kỳ là quốc gia lớn thứ 3 hoặc thứ 4 về tổng diện tích (xem phần địa lý để biết thêm chi tiết) và thứ 3 về dân số trên thế giới. Hoa Kỳ là một trong những quốc gia đa dạng chủng tộc nhất trên thế giới, do kết quả của những cuộc di dân đến từ nhiều quốc gia khác trên thế giới. Nền kinh tế quốc dân của Hoa Kỳ lớn nhất trên thế giới và đứng thứ 2 thế giới (tính theo sức mua tương đương). Tổng sản phẩm nội địa (GDP) của Mỹ được ước tính cho năm 2015 là trên 18,1 ngàn tỷ đô la (khoảng 23% tổng sản lượng thế giới dựa trên GDP danh nghĩa, và khoảng 16% theo sức mua tương đương). GDP bình quân đầu người của Hoa Kỳ là 56.421 đô la, đứng hạng 5 thế giới theo giá trị thực và hạng 10 theo sức mua tương đương.Quốc gia được thành lập ban đầu với 13 thuộc địa của Liên hiệp Anh nằm dọc theo bờ biển Đại Tây Dương. Sau khi tự tuyên bố trở thành các "tiểu quốc", cả 13 cựu thuộc địa này đã đưa ra tuyên ngôn độc lập vào ngày 4 tháng 7 năm 1776. Các tiểu bang nổi loạn đã đánh bại Đế quốc Anh trong Chiến tranh Cách mạng Mỹ, đây là cuộc chiến tranh thuộc địa giành độc lập đầu tiên thành công trong lịch sử. Hội nghị Liên bang quyết định sử dụng bản Hiến pháp Hoa Kỳ hiện tại vào ngày 17 tháng 9 năm 1787. Việc thông qua bản hiến pháp một năm sau đó đã biến các cựu thuộc địa thành một phần của một nước cộng hòa duy nhất. Đạo luật nhân quyền Hoa Kỳ gồm có mười tu chính án hiến pháp được thông qua năm 1791.

Theo tư tưởng Vận mệnh hiển nhiên, Hoa Kỳ đã bắt đầu cuộc mở rộng lãnh thổ mạnh mẽ trên khắp Bắc Mỹ trong thế kỷ XIX. Sự kiện này bao gồm việc tiêu diệt các dân tộc bản địa (Diệt chủng người da đỏ), đánh chiếm những lãnh thổ mới, và từng bước thành lập các tiểu bang mới. Nội chiến Hoa Kỳ kết thúc chế độ nô lệ tại Hoa Kỳ và ngăn ngừa sự chia xé quốc gia. Đến cuối thế kỷ XIX, Hoa Kỳ đã mở rộng đến Thái Bình Dương, và trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới. Chiến tranh Tây Ban Nha – Hoa Kỳ và Chiến tranh thế giới thứ nhất đã xác định vị thế cường quốc quân sự toàn cầu của Hoa Kỳ. Chiến tranh thế giới thứ hai đã xác định vị thế siêu cường toàn cầu của Hoa Kỳ, là quốc gia đầu tiên có vũ khí hạt nhân, và là một trong năm thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Là siêu cường duy nhất còn lại sau Chiến tranh Lạnh, Hoa Kỳ được nhiều quốc gia nhìn nhận như là một thế lực quân sự, văn hóa, và kinh tế có ảnh hưởng lớn nhất trên thế giới. Tuy nhiên, xã hội Hoa Kỳ cũng đang tồn tại những vấn đề nan giải khó giải quyết (chênh lệch giàu nghèo cao, nạn xả súng bừa bãi, nạn phân biệt chủng tộc, tỷ lệ tội phạm cao, chi phí y tế đắt đỏ...).

Hà Nội

Hà Nội là thủ đô của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cũng là kinh đô của hầu hết các vương triều phong kiến tại Việt Nam trước đây. Do đó, lịch sử Hà Nội gắn liền với sự thăng trầm của lịch sử Việt Nam qua các thời kỳ. Hà Nội là thành phố trực thuộc trung ương có diện tích lớn nhất cả nước từ khi tỉnh Hà Tây sáp nhập vào, đồng thời cũng là địa phương đứng thứ nhì về dân số với hơn 8 triệu người (năm 2019), tuy nhiên, nếu tính những người cư trú không đăng ký thì dân số thực tế của thành phố này năm 2019 là gần 10 triệu người. Mật độ dân số của Hà Nội là 2.398 người/km², mật độ giao thông là 105,2 xe/km² mặt đường. Hiện nay, Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là hai đô thị loại đặc biệt của Việt Nam.

Năm 2018, Hà Nội là đơn vị hành chính Việt Nam xếp thứ 02 về Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP), xếp thứ 08 về GRDP bình quân đầu người, đứng thứ 41 về tốc độ tăng trưởng GRDP. GRDP đạt 706.495 tỉ Đồng (tương ứng với 38,405 tỉ USD), GRDP bình quân đầu người đạt 93,94 triệu đồng (tương ứng với 4.080 USD), tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 7,37%.Hà Nội nằm giữa đồng bằng sông Hồng trù phú, nơi đây đã sớm trở thành một trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa ngay từ những buổi đầu của lịch sử Việt Nam. Năm 1010, vua Lý Thái Tổ, vị hoàng đế đầu tiên của nhà Lý, quyết định xây dựng kinh đô mới ở vùng đất này với cái tên Thăng Long. Trong suốt thời kỳ của các triều đại Lý, Trần, Lê, Mạc, kinh thành Thăng Long là trung tâm văn hóa, giáo dục và buôn bán của cả nước. Khi Tây Sơn rồi nhà Nguyễn lên nắm quyền trị vì, kinh đô được chuyển về Huế và Thăng Long bắt đầu mang tên Hà Nội từ năm 1831, dưới thời vua Minh Mạng.

Năm 1902, Hà Nội trở thành thủ đô của Liên bang Đông Dương và được người Pháp xây dựng, quy hoạch lại, được mệnh danh là Tiểu Paris phương Đông thời bấy giờ. Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, Hà Nội là thủ đô của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sau khi thống nhất tiếp tục là thủ đô của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay. Đó là thủ đô của Đông Dương thuộc Pháp 1887-1946 và của miền Bắc Việt Nam trước khi thống nhất miền Bắc và miền Nam Việt Nam.

Sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, Hà Nội hiện nay gồm 12 quận, 1 thị xã và 17 huyện ngoại thành. Hiện nay, Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là hai trung tâm kinh tế-xã hội đặc biệt quan trọng của Việt Nam.

Hà Nội được Tổ chức Khoa học, Văn hóa và Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) trao tặng danh hiệu “Thành phố vì hòa bình” ngày 16/7/1999.

Hà Nội thường xuyên nằm ở top đầu các thành phố ô nhiễm, thậm chí nhiều ngày trong năm là thành phố ô nhiễm không khí nhất thế giới, với chỉ số bụi mịn ở mức nguy hiểm cho sức khỏe con người. Theo Báo cáo chất lượng không khí toàn cầu 2018 thì Hà Nội có hàm lượng bụi mịn cao gấp 4 lần mức khuyến cáo của WHO (40,8 mg/m3, mức khuyến cáo: 10 mg/m3). Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam thì Hà Nội là thành phố ô nhiễm không khí nhất với số ngày chất lượng không khí lên mức kém, xấu, nguy hại chiếm tỷ lệ cao. Ngoài ra, các con sông chảy qua Hà Nội (Sông Nhuệ, Sông Tô Lịch, Sông Kim Ngưu, Sông Lừ, Sông Sét) và các hồ cũng bị ô nhiễm rất nặng do 78% nước thải của Hà Nội xả thẳng trực tiếp ra sông, hồ mà không qua xử lý (Mỗi con sông của Hà Nội tiếp nhận hàng vạn mét khối (m3) nước thải đổ vào mỗi ngày).

Hồng Kông

Hồng Kông (tiếng Trung: 香港; Hán-Việt: Hương Cảng, Giọng Quảng Đông: [hœ́ːŋ.kɔ̌ːŋ] (), tiếng Anh: Hong Kong; ()), là một trong hai đặc khu hành chính của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, cùng với Macau. Hồng Kông nằm ở ngoài cửa sông Châu Giang, phía đông kênh Linh Đinh Dương, bắc giáp sông Thâm Quyến với thành phố Thâm Quyến của tỉnh Quảng Đông ở miền nam Trung Quốc. Với hơn 7,4 triệu người thuộc nhiều quốc tịch khác nhau trong một khu vực lãnh thổ rộng, Hồng Kông là một trong những nơi đông dân nhất thế giới.

Hồng Kông trở thành thuộc địa của Đế quốc Anh vào cuối Chiến tranh nha phiến lần đầu tiên vào năm 1842. Chủ quyền lãnh thổ được chuyển sang Trung Quốc vào năm 1997. Là một khu vực hành chính đặc biệt, Hồng Kông duy trì các hệ thống quản lý và kinh tế tách biệt với các hệ thống của Trung Quốc đại lục. Người dân ở đây có xu hướng xác định là người Hồng Kông hơn là người Trung Quốc.Ban đầu chỉ là một khu vực dân cư thưa thớt của các làng nông nghiệp và đánh cá, lãnh thổ này đã trở thành một trong những trung tâm tài chính và cảng thương mại quan trọng nhất thế giới. Nó được ước tính là nhà xuất khẩu lớn thứ mười của thế giới, nhà nhập khẩu lớn thứ chín thế giới, và thực thể thương mại lớn thứ bảy thế giới, và tiền tệ hợp pháp của nó (đồng đô la Hồng Kông) đứng thứ 13 thế giới trong danh sách tiền tệ giao dịch nhiều nhất. Hồng Kông là nơi tập trung nhiều cá nhân có giá trị ròng cực cao so với bất kỳ thành phố nào trên thế giới. Mặc dù thành phố có một trong những thu nhập bình quân đầu người cao nhất thế giới, nhưng cũng có sự bất bình đẳng thu nhập nghiêm trọng.Hồng Kông được phân loại là một thành phố thế giới alpha +, cho thấy ảnh hưởng của nó trên toàn thế giới. Hồng Kông là một trong những trung tâm tài chính toàn cầu quan trọng nhất, nắm giữ điểm số Chỉ số phát triển tài chính cao nhất và luôn được xếp hạng là khu vực kinh tế cạnh tranh và tự do nhất trên thế giới năm 2017. Thành phố có số lượng nhà chọc trời lớn nhất thế giới, xung quanh cảng Victoria. Hồng Kông liên tục được xếp hạng cao về Chỉ số phát triển con người và là một trong những lãnh thổ có tuổi thọ cao nhất trên thế giới. Hơn 90 phần trăm dân số của Hong Kong sử dụng giao thông công cộng. Tuy nhiên, ô nhiễm không khí từ các khu vực công nghiệp lân cận của Trung Quốc đại lục đã gây ra một lượng lớn các hạt khí quyển trong khu vực.

Indonesia

Indonesia tên chính thức là Cộng hòa Indonesia, (tiếng Indonesia: Republik Indonesia) trước đó trong tài liệu tiếng Việt quốc gia này từng được gọi là Nam Dương, là một đảo quốc lục địa nằm giữa Đông Nam Á và Châu Đại Dương. Indonesia được mệnh danh là "Xứ sở vạn đảo", lãnh thổ của nó bao gồm 13.487 hòn đảo và với dân số hơn 260 triệu người (năm 2019), đứng thứ tư thế giới về dân số và đứng thứ ba châu Á về dân số.

Indonesia là quốc gia có số dân theo Hồi giáo đông nhất thế giới; tuy nhiên khác với Malaysia và Brunei, trong Hiến pháp Indonesia không đề cập tới tôn giáo này là quốc giáo (do vậy không thể coi Indonesia là một quốc gia Hồi giáo giống như các nước Tây Á, Bắc Phi, Malaysia và Brunei). Indonesia theo thể chế cộng hòa với một bộ máy lập pháp và tổng thống do dân bầu. Indonesia có biên giới trên đất liền với Papua New Guinea, Đông Timor và Malaysia, ngoài ra giáp các nước Singapore, Philippines, Úc, và lãnh thổ Quần đảo Andaman và Nicobar của Ấn Độ. Thủ đô là Jakarta và đây cũng đồng thời là thành phố lớn nhất. Indonesia là 1 trong 5 thành viên sáng lập của ASEAN và là thành viên của G-20. Nền kinh tế Indonesia lớn thứ 16 toàn cầu theo GDP danh nghĩa và thứ 8 theo Sức mua tương đương, tuy nhiên do dân số đông nên GDP bình quân đầu người vẫn chỉ ở mức trung bình thấp.

Quần đảo Indonesia đã từng là một vùng thương mại quan trọng ít nhất từ thế kỷ VII, khi Vương quốc Srivijaya có hoạt động thương mại với Trung Quốc và Ấn Độ. Những vị vua cai trị địa phương dần tiếp thu văn hóa, tôn giáo và các mô hình chính trị Ấn Độ từ những thế kỷ đầu tiên của Công Nguyên, và các vương quốc Ấn Độ giáo cũng như Phật giáo đã bắt đầu phát triển. Lịch sử Indonesia bị ảnh hưởng bởi các cường quốc nước ngoài muốn nhòm ngó các nguồn tài nguyên thiên nhiên của họ. Các nhà buôn Hồi giáo đã đưa tới Đạo Hồi, và các cường quốc Châu Âu đã tranh giành để độc chiếm lĩnh vực thương mại trên các hòn đảo Hương liệu Maluku trong Thời đại Khám phá. Sau ba thế kỷ rưỡi dưới ách thực dân Hà Lan, Indonesia đã giành được độc lập sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Từ đó lịch sử Indonesia rơi vào cảnh biến động với các nguy cơ từ các thảm hoạ thiên nhiên, nạn tham nhũng và chia rẽ cũng như một quá trình dân chủ hoá, và các giai đoạn thay đổi kinh tế nhanh chóng.

Tuy gồm rất nhiều hòn đảo, Indonesia vẫn gồm các nhóm sắc tộc, ngôn ngữ và tôn giáo riêng biệt. Người Java là nhóm sắc tộc đông đúc và có vị thế chính trị lớn nhất. Với tư cách là một nhà nước duy nhất và một quốc gia, Indonesia đã phát triển một tính đồng nhất được định nghĩa bởi một ngôn ngữ quốc gia, sự đa dạng chủng tộc, sự đa dạng tôn giáo bên trong một dân số đa số Hồi giáo, và một lịch sử thực dân cùng những cuộc nổi dậy chống lại nó.

Khẩu hiệu quốc gia của Indonesia, "Bhinneka tunggal ika" ("Thống nhất trong đa dạng", theo nghĩa đen "nhiều, nhưng là một"), đã thể hiện rõ sự đa dạng hình thành nên quốc gia này. Tuy nhiên, những căng thẳng tôn giáo và chủ nghĩa ly khai đã dẫn tới những xung đột bạo lực đe doạ sự ổn định kinh tế và chính trị. Dù có dân số lớn và nhiều vùng đông đúc, Indonesia vẫn có nhiều khu vực hoang vu và là quốc gia có mức độ đa dạng sinh học đứng hàng thứ hai thế giới. Nước này rất giàu các nguồn tài nguyên thiên nhiên, có một lãnh thổ rộng nhất trong các nước Đông Nam Á, tuy vậy sự nghèo khó vẫn là một đặc điểm của Indonesia hiện đại.

Kế hoạch Marshall

Kế hoạch Marshall (Marshall Plan) là một kế hoạch trọng yếu của Hoa Kỳ nhằm tái thiết và thiết lập một nền móng vững chắc hơn cho các quốc gia Tây Âu, đẩy lùi chủ nghĩa cộng sản sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Mang tên chính thức "Kế hoạch phục hưng châu Âu" (European Recovery Program - ERP), nhưng Kế hoạch Marshall thường được gọi theo tên của Ngoại trưởng Mỹ George Marshall, người đã khởi xướng và ban hành kế hoạch. Kế hoạch Marshall là thành quả lao động của các quan chức Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, trong đó ghi nhận sự đóng góp đặc biệt của William L. Clayton và George F. Kennan.

Kế hoạch tái thiết được phát triển tại cuộc họp mặt của các quốc gia Châu Âu ngày 12 tháng 7 năm 1947. Kế hoạch Marshall đề ra việc viện trợ tương đương cho Liên Xô và đồng minh của họ, nhưng không được chấp nhận. Kế hoạch được thực thi trong vòng 4 năm, kể từ tháng 7 năm 1947. Trong thời gian đó, có khoảng 17 tỷ đô la Mỹ viện trợ kinh tế và hỗ trợ kỹ thuật để giúp khôi phục các quốc gia châu Âu tham gia Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế - OECD. Nhiều quốc gia châu Âu đã nhận được viện trợ trước khi có Kế hoạch Marshall, kể từ năm 1945, cùng với các điều kiện chính trị kèm theo.

Kế hoạch Marshall cũng là một phần trong kế hoạch chính trị của Mỹ nhằm tăng cường ảnh hưởng đối với các nước Đồng minh Tây Âu và chống lại Liên Xô, cũng như để tạo thuận lợi cho việc kinh doanh của các Tập đoàn xuyên quốc gia Mỹ tại Tây Âu. Để phục vụ mục đích này, Mỹ đã viện trợ kinh tế cho cả chính quyền phát xít Tây Ban Nha, cũng như viện trợ chiến phí cho thực dân Pháp, thực dân Hà Lan quay trở lại xâm chiếm Đông Nam Á. Cho tới khi kết thúc dự án, nền kinh tế của các quốc gia nằm trong Kế hoạch, ngoại trừ Tây Đức, đã phát triển vượt mức trước chiến tranh.

Trong vòng hai thập kỷ tiếp đó, nhiều vùng ở Tây Âu tiếp tục đạt được mức tăng trưởng chưa từng có trước đó. Kế hoạch Marshall cũng được xem là một trong các thành tố của quá trình hội nhập châu Âu, vì nó xóa bỏ hàng rào thuế quan và thiết lập các cơ quan điều phối kinh tế tầm cỡ lục địa.

Trong những năm gần đây, các sử gia đặt câu hỏi về cả động cơ bên trong cũng như tính hiệu quả chung của Kế hoạch Marshall. Một số sử gia cho rằng hiệu quả của Kế hoạch Marshall thực tế là từ chính sách laissez-faire (tạm dịch: thả nổi) cho phép thị trường tự bình ổn qua sự phát triển kinh tế. Người ta cho rằng Tổ chức Cứu trợ và Phục hồi của Liên Hiệp Quốc, vốn giúp hàng triệu người tị nạn từ năm 1944 tới 1947, cũng giúp đặt nền móng cho sự phục hồi châu Âu thời hậu chiến.

Nhàn mào

Nhàn mào (danh pháp hai phần: Thalasseus bergii) là một loài chim biển trong họ Nhàn, gồm năm phân loài, làm tổ thành từng tập đoàn dày đặc ở các bờ biển và hòn đảo tại các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới thuộc Cựu Thế giới. Loài này sinh sản ở các khu vực từ Cộng hòa Nam Phi, vòng quanh Ấn Độ Dương đến giữa Thái Bình Dương và nước Úc. Toàn bộ các cá thể sẽ di trú khỏi khu vực sinh sản sau khi làm tổ. Loài này có quan hệ rất gần gũi với Thalasseus maximus ("nhàn hoàng gia") và Thalasseus bengalensis ("nhàn mào nhỏ") nhưng có thể phân biệt được chúng qua kích cỡ và màu sắc của mỏ.

Phần trên cơ thể (phần lưng) của nhàn mào có màu xám, phần dưới (phần bụng) có màu trắng, mỏ vàng và cái mào bờm xờm màu đen (cụp ra phía sau vào mùa đông). Con non có bề ngoài khác biệt với bộ lông hằn rõ màu xám, nâu và trắng; chúng dựa vào nguồn thức ăn từ cha mẹ trong vài tháng sau khi đủ lông đủ cánh. Tương tự tất cả các thành viên trong chi Thalasseus, nhàn mào bắt cá bằng cách lao xuống nước (thường là ở biển); chim trống tặng cá cho chim mái như một phần của nghi thức tỏ tình.

Loài chim này có tính thích nghi và đã học được cách bám theo các thuyền đánh cá để ăn những con cá bị ngư dân vứt bỏ do không phải là thứ họ muốn đánh bắt. Chúng cũng tận dụng những địa điểm dị thường để làm tổ, ví dụ trên mái các toà nhà và trên các đảo nhân tạo trong các ruộng muối hay trong hồ xử lý nước thải. Trứng và chim non bị mòng biển và cò quăm ăn, đồng thời hoạt động đánh cá, săn bắn và khai thác trứng chim của loài người đã gây suy giảm số lượng cá thể loài này. Tuy nhiên, đây là loài ít quan tâm với số lượng cá thể giữ ổn định ở mức 500.000 trên phạm vi toàn cầu.

Phố cổ Hội An

Phố cổ Hội An là một đô thị cổ nằm ở hạ lưu sông Thu Bồn, thuộc vùng đồng bằng ven biển tỉnh Quảng Nam, Việt Nam, cách thành phố Đà Nẵng khoảng 30 km về phía Nam. Nhờ những yếu tố địa lý và khí hậu thuận lợi, Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, nơi gặp gỡ của những thuyền buôn Nhật Bản, Trung Quốc và phương Tây trong suốt thế kỷ XVII và XVIII. Trước thời kỳ này, nơi đây cũng từng có những dấu tích của thương cảng Chăm Pa hay được nhắc đến cùng con đường tơ lụa trên biển. Thế kỷ 19, do giao thông đường thủy ở đây không còn thuận tiện, cảng thị Hội An dần suy thoái, nhường chỗ cho Đà Nẵng khi đó đang được người Pháp xây dựng. Hội An may mắn không bị tàn phá trong hai cuộc chiến tranh và tránh được quá trình đô thị hóa ồ ạt cuối thế kỷ 20. Bắt đầu từ thập niên 1980, những giá trị kiến trúc và văn hóa của phố cổ Hội An dần được giới học giả và cả du khách chú ý, khiến nơi đây trở thành một trong những điểm du lịch hấp dẫn của Việt Nam.

Đô thị cổ Hội An ngày nay là một điển hình đặc biệt về cảng thị truyền thống ở Đông Nam Á được bảo tồn nguyên vẹn và chu đáo. Phần lớn những ngôi nhà ở đây là những kiến trúc truyền thống có niên đại từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19, phần bố dọc theo những trục phố nhỏ hẹp. Nằm xen kẽ giữa các ngôi nhà phố, những công trình kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng minh chứng cho quá trình hình thành, phát triển và cả suy tàn của đô thị. Hội An cũng là vùng đất ghi nhiều dấu ấn của sự pha trộn, giao thoa văn hóa. Các hội quán, đền miếu mang dấu tích của người Hoa nằm bên những ngôi nhà phố truyền thống của người Việt và những ngôi nhà mang phong cách kiến trúc Pháp. Bên cạnh những giá trị văn hóa qua các công trình kiến trúc, Hội An còn lưu giữ một nền văn hóa phi vật thể đa dạng và phong phú. Cuộc sống thường nhật của cư dân phố cổ với những phong tục tập quán, sinh hoạt tín ngưỡng, nghệ thuật dân gian, lễ hội văn hóa vẫn đang được bảo tồn và phát triển. Hội An được xem như một bảo tàng sống về kiến trúc và lối sống đô thị.

Với những giá trị nổi bật, tại kỳ họp lần thứ 23 cuối năm 1998 (ngày 4 tháng 12), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) đã công nhận đô thị cổ Hội An là một di sản văn hóa thế giới, dựa trên hai tiêu chí:

Hội An là biểu hiện vật thể nổi bật của sự kết hợp các nền văn hóa qua các thời kỳ trong một thương cảng quốc tế.

Hội An là điển hình tiêu biểu về một cảng thị châu Á truyền thống được bảo tồn một cách hoàn hảo.

Quần đảo Trường Sa

Quần đảo Trường Sa (tiếng Anh: Spratly Islands; giản thể: 南沙群岛; phồn thể: 南沙群島; bính âm: Nánshā Qúndǎo; tiếng Mã Lai và tiếng Indonesia: Kepulauan Spratly; tiếng Tagalog: Kapuluan ng Kalayaan) là một tập hợp thực thể địa lý được bao quanh bởi những vùng đánh cá trù phú và có tiềm năng dầu mỏ, khí đốt thuộc biển Đông. Tuy nhiên, quần đảo này đang trong tình trạng tranh chấp ở các mức độ khác nhau giữa sáu bên là Brunei, Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan), Malaysia, Philippines, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc) và Việt Nam. Ở cấp độ quốc tế, phạm vi của khái niệm Spratly Islands vẫn chưa được xác định rõ và đang trong vòng tranh cãi. Ở cấp độ quốc gia cũng có các cách hiểu khác nhau. Tuy Đài Loan, Trung Quốc và Việt Nam trên danh nghĩa đều tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ quần đảo, nhưng khái niệm quần đảo Nam Sa trong nhận thức của Đài Loan và Trung Quốc là bao hàm toàn bộ các thực thể địa lý nằm bên trong phần phía nam của đường chín đoạn. Đối với Philippines, phạm vi tuyên bố chủ quyền của nước này bao trùm hầu hết quần đảo và được gọi là Nhóm đảo Kalayaan. Về phần Malaysia, nước này đòi hỏi một số thực thể ở phía nam của quần đảo. Cuối cùng, chưa rõ Brunei đòi hỏi cụ thể thực thể địa lý nào vì chỉ thấy nước này đưa ra yêu sách về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa mà trong vùng đó có vài thực thể thuộc biển Đông.

Tại Hội nghị San Francisco năm 1951 về việc phân định các lãnh thổ hải đảo mà Đế quốc Nhật Bản từng chiếm giữ, quần đảo Trường Sa là đối tượng tuyên bố chủ quyền của nhiều bên tranh chấp: Liên hiệp Pháp, Trung Quốc, Đài Loan, Philippines, Malaysia và Indonesia. Kết quả là Hội nghị không công nhận chủ quyền của quốc gia nào, quần đảo này được coi là vô chủ và càng gây ra tranh chấp dữ dội hơn sau này.

Tất cả những nước tham gia tranh chấp này, trừ Brunei, đều có quân đội đồn trú tại nhiều căn cứ trên các đảo nhỏ và đá ngầm khác nhau. Năm 1956, Đài Loan chiếm giữ đảo Ba Bình. Đầu thập niên 1970, Philippines chiếm 7 đảo và rạn đá phía đông quần đảo. Tháng 3 năm 1988, Việt Nam và Trung Quốc đụng độ quân sự tại ba rạn đá là Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao. Tháng 2 năm 1995 và tháng 11 năm 1998, giữa Trung Quốc và Philippines đã hai lần bùng phát căng thẳng chính trị do hành động giành và củng cố quyền kiểm soát đá Vành Khăn của phía Trung Quốc. Dù rằng Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển đã ra đời nhằm xác định các vấn đề về ranh giới trên biển nhưng bản thân Công ước không có điều khoản nào quy định cách giải quyết các tranh chấp về chủ quyền đối với đảo.

Thành phố Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ Chí Minh (vẫn thường được gọi với tên cũ là Sài Gòn) là thành phố lớn nhất Việt Nam, đồng thời cũng là một trong những trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa và giáo dục quan trọng nhất của Việt Nam. Hiện nay, Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố trực thuộc trung ương được xếp loại đô thị đặc biệt của Việt Nam, cùng với thủ đô Hà Nội.

Năm 2018, Thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị hành chính Việt Nam xếp thứ nhất về Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP), xếp thứ nhất về GRDP bình quân đầu người, đứng thứ 24 về tốc độ tăng trưởng GRDP. GRDP đạt 1.331.440 tỉ Đồng (tương ứng với 52,92 tỉ USD), GRDP bình quân đầu người đạt 154,84 triệu đồng (tương ứng với 6.725 USD), tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 8,30%.

Vùng đất này ban đầu được gọi là Prey Nokor theo tiếng Khmer của người dân bản địa. Tên gọi này có nghĩa là "thành trong rừng". Vì sự sụp đổ của đế chế Khmer, vùng Nam Bộ trở thành đất vô chủ, về sau đã sáp nhập vào Đại Việt nhờ công cuộc khai phá miền Nam của chúa Nguyễn. Năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh cho lập phủ Gia Định, đánh dấu sự ra đời thành phố. Khi Pháp vào Đông Dương, để phục vụ công cuộc khai thác thuộc địa, thành phố Sài Gòn được thành lập và nhanh chóng phát triển, trở thành một trong hai đô thị quan trọng nhất Việt Nam. Sài Gòn cũng là thủ đô của Liên bang Đông Dương giai đoạn 1887–1901 (về sau, Pháp chuyển thủ đô Liên bang Đông Dương ra Hà Nội). Năm 1949, Sài Gòn trở thành thủ đô của Quốc gia Việt Nam, một chế độ do thực dân Pháp thành lập trong thời kỳ tái chiếm Việt Nam, và sau này là thủ đô của Việt Nam Cộng hòa (chế độ kế tục Quốc gia Việt Nam trong thời kỳ Mỹ đổ quân vào Việt Nam). Kể từ đó, thành phố này trở thành một trong những đô thị quan trọng nhất của miền Nam Việt Nam. Sau khi Việt Nam Cộng hòa sụp đổ trong sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, quân Mỹ rút lui hoàn toàn và lãnh thổ Việt Nam được thống nhất. Ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội nước Việt Nam thống nhất quyết định đổi tên Sài Gòn thành Thành phố Hồ Chí Minh, theo tên vị Chủ tịch nước đầu tiên của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ, Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay bao gồm 19 quận và 5 huyện, tổng diện tích 2.095,06 km². Theo kết quả điều tra dân số chính thức vào thời điểm ngày 1 tháng 4 năm 2009, thì dân số thành phố là 7.162.864 người (chiếm 8,34% dân số Việt Nam), mật độ dân số trung bình 3.419 người/km². Đến năm 2019, dân số thành phố tăng lên 8.993.082 người và cũng là nơi có mật độ dân số cao nhất Việt Nam. Tuy nhiên, nếu tính những người cư trú không đăng ký thì dân số thực tế của thành phố này năm 2018 là gần 14 triệu người. Giữ vai trò quan trọng bậc nhất trong nền kinh tế Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 21,3% tổng sản phẩm (GDP) và 29,38% tổng thu ngân sách của cả nước. Nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi, Thành phố Hồ Chí Minh trở thành một đầu mối giao thông quan trọng của Việt Nam và Đông Nam Á, bao gồm cả đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường không. Vào năm 2007, thành phố đón khoảng 3 triệu khách du lịch quốc tế, tức 70% lượng khách vào Việt Nam. Các lĩnh vực giáo dục, truyền thông, thể thao, giải trí, Thành phố Hồ Chí Minh đều giữ vai trò quan trọng bậc nhất.

Tuy vậy, Thành phố Hồ Chí Minh đang phải đối diện với những vấn đề của một đô thị lớn có dân số tăng quá nhanh. Trong nội ô thành phố, đường sá trở nên quá tải, thường xuyên ùn tắc. Hệ thống giao thông công cộng kém hiệu quả. Môi trường thành phố cũng đang bị ô nhiễm do phương tiện giao thông, các công trường xây dựng và công nghiệp sản xuất. Triều cường gây ngập sâu ở một vài quận cũng là vấn đề nan giải của thành phố này.

Trận Trân Châu Cảng

Trận tấn công Trân Châu Cảng (hay Chiến dịch Hawaii và Chiến dịch AI của Hawaii, và như Chiến dịch Z, theo cách gọi của Bộ Tổng tư lệnh Đế quốc Nhật Bản) là một đòn tấn công quân sự bất ngờ được Không lực Hải quân Nhật Bản thực hiện nhằm vào căn cứ hải quân của Hoa Kỳ tại Trân Châu Cảng thuộc tiểu bang Hawaii vào sáng Chủ Nhật, ngày 7 tháng 12 năm 1941, dẫn đến việc Hoa Kỳ sau đó quyết định tham gia vào hoạt động quân sự trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Trận đánh này được trù tính sẽ ngăn ngừa và giữ chân Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ không can thiệp đến cuộc chiến mà Nhật Bản đang hoạch định nhằm xâm chiếm Đông Nam Á, chống lại Anh Quốc, Hà Lan và Hoa Kỳ. Cuộc tấn công bao gồm hai đợt không kích với tổng cộng 353 máy bay xuất phát từ 6 tàu sân bay Nhật Bản. Trận tấn công đã đánh chìm 4 thiết giáp hạm Hoa Kỳ (2 chiếc trong số đó sau này được vớt lên và đưa trở lại hoạt động), và gây hư hỏng cho 4 chiếc khác. Quân Nhật còn đánh chìm hoặc phá hoại 3 tàu tuần dương, 3 tàu khu trục và 1 tàu thả mìn, phá hủy 188 máy bay, gây tổn thất về nhân mạng là 2.402 người tử trận và 1.282 người khác bị thương. Các trạm phát điện, xưởng tàu, xưởng sửa chữa và các kho chứa nhiên liệu và ngư lôi, cùng các bến tàu dành cho tàu ngầm và tòa nhà sở chỉ huy (cũng là nơi đặt bộ phận tình báo) đã không bị đánh trúng. Nhật Bản thiệt hại ít nhất, chỉ mất 29 máy bay và 4 tàu ngầm mini, với 65 người thương vong.

Cuộc tấn công là một sự kiện lớn trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Nó đã diễn ra trước khi có bất cứ một lời tuyên chiến chính thức nào được đưa ra, cả trước khi phần cuối cùng trong một thông điệp gồm 14 phần được chuyển hoàn tất đến Bộ Ngoại giao ở Washington, D.C. Tòa Đại sứ Nhật Bản ở Washington đã được chỉ thị phải chuyển giao thông điệp này ngay trước thời điểm trù định cho cuộc tấn công ở Hawaii. Cuộc tấn công, và đặc biệt là bản chất "bất ngờ" của nó, là hai nhân tố khiến cho công chúng Hoa Kỳ thay đổi quan điểm từ những người theo chủ nghĩa biệt lập (Isolationism) như vào những năm giữa thập niên 1930 sang ủng hộ việc Hoa Kỳ tham chiến. Nhật Bản đã không đưa ra một lời tuyên chiến chính thức nào trước khi thình lình tấn công Trân Châu Cảng, trong khi hai quốc gia Hoa Kỳ và Nhật Bản vẫn còn đang trong giai đoạn đàm phán hoà bình, vì thế cuộc tấn công bất ngờ này bị dư luận quốc tế xem là đánh lén (sneak attack), và Tổng thống Franklin D. Roosevelt tuyên bố rằng ngày 7 tháng 12 năm 1941 "sẽ sống mãi trong sự ô nhục" ("A date which will live in infamy").

Tiếp theo Hoa Kỳ, Anh và các thuộc địa của Anh, chính phủ Hà Lan và một loạt các quốc gia Mỹ Latinh cũng tuyên chiến với Nhật. Về phía phe Trục, ngày 11 tháng 12, Đức Quốc xã và Ý cũng tuyên chiến với Hoa Kỳ lấy cớ là Hoa Kỳ đã phá vỡ "sự trung lập". Theo đó, România, Hungary, Bulgaria và Slovakia cũng tuyên chiến với Hoa Kỳ. Việc Đức nhanh chóng tuyên chiến với Hoa Kỳ mà không bị thúc ép bởi bất kỳ cam kết nào với Nhật Bản đã lập tức khiến Hoa Kỳ can dự vào Mặt trận châu Âu.

Tê giác Java

Tê giác Java hay tê giác Sunda, còn được gọi tê giác một sừng (Rhinoceros sondaicus) là một trong năm loài động vật guốc lẻ còn sống sót của họ Tê giác. Chúng cùng thuộc 1 chi với loài tê giác Ấn Độ, và cũng có 1 bộ da nếp gấp giống như 1 bộ áo giáp, tuy nhiên chúng chỉ dài có 3,1–3,2 m (10–10,5 ft) và cao 1,4–1,7 m (4,6–5,8 ft), nhỏ hơn tê giác Ấn Độ và gần tương đương với kích cỡ loài tê giác đen. Sừng của tê giác Java có độ dài thường dưới 25 cm (10 inch), nhỏ hơn các loài tê giác khác.

Trước kia là loài phổ biến nhất trong các loài tê giác châu Á, tê giác Java từng phân bố ở các đảo của Indonesia, trải rộng toàn bộ Đông Nam Á, tới cả Ấn Độ và Trung Quốc. Hiện nay chúng đang ở trong tình trạng cực kỳ nguy cấp, với chỉ 2 quần thể được ghi nhận trong môi trường tự nhiên và không có con nào trong các vườn thú. Nó có thể là loài động vật có vú lớn hiếm nhất trên thế giới. 1 quần thể có ít nhất 40 con sống tại Vườn quốc gia Ujung Kulon trên đảo Java của Indonesia, và quần thể còn lại được xác nhận là đã tuyệt chủng ở Việt Nam vào năm 2011. Sự suy giảm của loài này được cho là do việc săn bắt trộm, chủ yếu để lấy sừng, một loại dược liệu có giá trị cao trong y học phương Đông truyền thống và có thể bán được với giá lên tới 30.000 đôla 1 kg tại các chợ đen. Sự thu hẹp nơi cư trú, đặc biệt do hậu quả chiến tranh, như Chiến tranh Việt Nam tại Đông Nam Á, cũng góp phần làm suy giảm và cản trở việc khôi phục loài. Sự phân bố hiện nay chỉ tập trung ở 2 khu bảo tồn quốc gia, tuy nhiên những con tê giác Java vẫn còn đang gặp nguy hiểm bởi sự săn trộm, bệnh tật và sự giảm sút đa dạng di truyền gây ra bởi giao phối cận huyết.

Loài tê giác Java có thể sống đến khoảng 30–45 năm trong điều kiện hoang dã. Trong quá khứ chúng đã từng sinh sống trong những rừng mưa vùng đất thấp, vùng đồng cỏ ẩm ướt và các bãi bồi triền sông rộng lớn. Loài tê giác Java hầu hết thời gian sống đơn độc, trừ khi kết đôi và nuôi dạy tê giác con, dù rằng thỉnh thoảng chúng có thể tập hợp thành bầy gần các bãi đằm hay bãi liếm đất mặn. Con người là kẻ đi săn duy nhất các con tê giác trưởng thành. Chúng thường tránh xa con người, nhưng có thể sẽ tấn công nếu cảm thấy nguy hiểm. Các nhà khoa học và bảo tồn học hiếm khi nghiên cứu chúng trực tiếp, vì độ hiếm có của chúng và nguy cơ có thể can thiệp vào một loài sinh vật đang nguy cấp. Họ thường dựa vào những bẫy ảnh tự động (camera trap) và các mẫu phân để đánh giá sức khỏe và hoạt động của các con tê giác. Chính vì vậy, tê giác Java vẫn là loài được nghiên cứu ít nhất trong tất cả các loài tê giác hiện nay.

Viện Viễn Đông Bác cổ

Viện Viễn Đông Bác cổ (tiếng Pháp: École française d'Extrême-Orient, viết tắt EFEO) là một trung tâm nghiên cứu của Pháp về Đông phương học, chủ yếu trên thực địa. Tiền thân là Phái đoàn Khảo cổ tại Đông Dương từ năm 1898 và chính thức thành lập với tên gọi Viện Viễn Đông Bác cổ ngày 20 tháng 1 năm 1900, Viện có nhiệm vụ nghiên cứu, khai quật khảo cổ trên toàn bán đảo Đông Dương. Trụ sở đầu tiên của Viện Viễn Đông Bác Cổ ở Sài Gòn, Nam Kỳ trong ngày đầu thành lập năm 1900, tới năm 1902 Viện dời ra Hà Nội. Do chiến tranh, năm 1957, Viện phải rời Hà Nội tới Campuchia, sau đó lại rời Phnom Penh về Paris năm 1975. Hiện nay, Viện Viễn Đông Bác cổ thuộc Bộ Giáo dục đại học và Nghiên cứu Pháp, có 17 trung tâm nghiên cứu tại 12 quốc gia châu Á.

Trong hơn một thế kỷ tồn tại, Viện Viễn Đông Bác cổ đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng về Đông phương học. Tạp chí nghiên cứu Bulletin de l'École française d'Extrême-Orient (Tập san Viện Viễn Đông Bác cổ, viết tắt BEFEO), đã trở nên quen thuộc trong phần danh mục tham khảo của nhiều sách, bài viết về khảo cổ và lịch sử Á châu. Viện Viễn Đông Bác cổ cũng có những ảnh hưởng quan trọng đối với các sử gia Việt Nam thế kỷ 20.

Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng

Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng là một vườn quốc gia của Việt Nam, nằm tại huyện Bố Trạch, và Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình, cách thành phố Đồng Hới khoảng 50 km về phía Tây Bắc, cách thủ đô Hà Nội khoảng 500 km về phía nam. Vườn quốc gia này giáp khu bảo tồn thiên nhiên Hin Namno ở tỉnh Khammouan, Lào về phía tây, cách Biển Đông 42 km về phía đông kể từ biên giới của hai quốc gia.

Phong Nha-Kẻ Bàng nằm ở một khu vực núi đá vôi rộng khoảng 200.000 ha thuộc lãnh thổ Việt Nam, khu vực lãnh thổ Lào tiếp giáp vườn quốc gia này cũng có diện tích núi đá vôi khoảng 200.000 ha. Diện tích vùng lõi của vườn quốc gia là 85.754 ha và một vùng đệm rộng 195.400 ha. Tháng 8 năm 2013, Thủ tướng chính phủ đã có quyết định mở rộng vườn quốc gia này lên 1233,26 km2. Vườn quốc gia này được thiết lập để bảo vệ một trong hai vùng carxtơ lớn nhất thế giới với khoảng 300 hang động và bảo tồn hệ sinh thái bắc Trường Sơn ở khu vực Bắc Trung Bộ Việt Nam. Đặc trưng của vườn quốc gia này là các kiến tạo đá vôi, 300 hang động, các sông ngầm và hệ động thực vật quý hiếm nằm trong Sách đỏ Việt Nam và Sách đỏ thế giới. Các hang động ở đây có tổng chiều dài khoảng hơn 80 km nhưng các nhà thám hiểm hang động Anh và Việt Nam mới chỉ thám hiểm 20 km, trong đó 17 km ở khu vực Phong Nha và 3 km ở khu vực Kẻ Bàng.

Tháng 4 năm 2009, một đoàn thám hiểm thuộc Hiệp hội Hang động Hoàng gia Anh đã phát hiện và công bố hang Sơn Đoòng là hang động có kích thước lớn nhất thế giới (dài trên 5 km, cao 200 m, và rộng 150 m), lớn hơn nhiều so với hang Deer ở Vườn quốc gia Gunung Mulu ở Sarawak, Malaysia, lớn gấp 4 đến 5 lần so với Phong Nha. Trong đợt khảo sát này, đoàn thám hiểm cũng tìm thấy nhiều hang động khác .

Kiến tạo carxtơ của Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng được hình thành từ 400 triệu năm trước, từ thời kỳ Đại Cổ Sinh do đó là carxtơ cổ nhất ở châu Á.

Trải qua nhiều thay đổi lớn về địa tầng và địa mạo, địa hình khu vực này hết sức phức tạp. Phong Nha-Kẻ Bàng phô diễn các bằng chứng ấn tượng về lịch sử Trái Đất, giúp nghiên cứu lịch sử hiểu được lịch sử địa chất và địa hình của khu vực. Khu vực Phong Nha-Kẻ Bàng là một trong những mẫu hình riêng biệt và đẹp về sự kiến tạo carxtơ phức tạp ở Đông Nam Á. Được UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới theo tiêu chí địa chất, địa mạo năm 2003, và được UNESCO công nhận lần 2 là Di sản thiên nhiên thế giới với tiêu chí đa dạng sinh học, sinh thái vào ngày 3 tháng 7 năm 2015.

Địa lý châu Á

Địa lý châu Á có thể coi là phức tạp và đa dạng nhất trong số 5 châu lục trên mặt đất. Châu Á được phân biệt với các châu khác không chỉ bởi các biển và đại dương, mà còn bởi nhiều đặc điểm tự nhiên độc đáo khác: một châu lục có kích thước vĩ đại nhất, trên 44,4 triệu km², có lịch sử phát triển và cấu tạo địa chất phức tạp nhất, có địa hình bề mặt bị chia cắt mạnh nhất và có sự phân hóa cảnh quan, khí hậu vô cùng phong phú, đa dạng: từ băng giá vĩnh cửu, rừng lá kim cho tới hoang mạc nóng bỏng, rừng rậm nhiệt đới xanh um. Với sự phối hợp của các điều kiện tự nhiên nói trên, châu Á đã hình thành các khu vực địa lý tự nhiên có đặc điểm hoàn toàn khác nhau như Bắc Á, Trung Á, Đông Á, Đông Nam Á, Nam Á và Tây Nam Á.

Về mặt địa lý xã hội, châu Á cũng là châu lục đông dân cư nhất với hơn 4,4 tỉ người, có đủ các thành phần chủng tộc như Mongoloid, Europeoid, Negroid. Tôn giáo cũng rất đa dạng và đã có từ lâu đời như Phật giáo, Hồi giáo, Thiên Chúa giáo, Ấn Độ giáo...

Ấn Độ

Ấn Độ (tiếng Hindi: भारत, chuyển tự Bhārata, tiếng Anh: India), tên gọi chính thức là Cộng hòa Ấn Độ (tiếng Hindi: भारत गणराज्य, chuyển tự Bhārat Gaṇarājya, tiếng Anh: Republic of India), là một quốc gia tại Nam Á. Đây là quốc gia lớn thứ bảy về diện tích, và đông dân thứ nhì trên thế giới với trên 1,33 tỷ người. Ấn Độ tiếp giáp với Ấn Độ Dương ở phía Nam, biển Ả Rập ở phía Tây – Nam và vịnh Bengal ở phía Đông – Nam; có biên giới trên bộ với Pakistan ở phía Tây; với Trung Quốc, Nepal, và Bhutan ở phía Đông – Bắc; và Myanmar cùng Bangladesh ở phía Đông. Trên Ấn Độ Dương, Ấn Độ lân cận với Sri Lanka và Maldives; thêm vào đó, Quần đảo Andaman và Nicobar của Ấn Độ có chung đường biên giới trên biển với Thái Lan và Indonesia.

Tiểu lục địa Ấn Độ là nơi xuất hiện văn minh lưu vực sông Ấn cổ đại, có các tuyến đường mậu dịch mang tính lịch sử cùng những đế quốc rộng lớn, và trở nên giàu có về thương mại và văn hóa trong hầu hết lịch sử lâu dài của mình. Đây cũng là nơi bắt nguồn của bốn tôn giáo lớn: Ấn Độ giáo, Phật giáo, Jaina giáo và Sikh giáo; trong khi Do Thái giáo, Hỏa giáo, Cơ Đốc giáo và Hồi giáo được truyền đến vào thiên niên kỷ thứ nhất sau Công nguyên và cũng giúp hình thành nền văn hóa đa dạng của khu vực. Khu vực dần bị thôn tính và chuyển sang nằm dưới quyền quản lý của Công ty Đông Ấn Anh từ đầu thế kỷ XVIII, rồi nằm dưới quyền quản lý trực tiếp của Anh Quốc từ giữa thế kỷ XIX. Ấn Độ trở thành một quốc gia độc lập vào năm 1947 sau một cuộc đấu tranh giành độc lập dưới hình thức đấu tranh bất bạo động do Mahatma Gandhi lãnh đạo.

Nền kinh tế Ấn Độ lớn thứ 5 thế giới xét theo GDP danh nghĩa (năm 2018), được dự báo trở thành nền kinh tế thứ 4 thế giới vào năm 2021, hiện tại là nền kinh tế lớn thứ ba thế giới xét theo sức mua tương đương (PPP). Sau các cải cách kinh tế dựa trên cơ sở thị trường vào năm 1991, Ấn Độ trở thành một trong số các nền kinh tế lớn có mức tăng trưởng nhanh; và được nhận định là một nước công nghiệp mới. Tuy nhiên, quốc gia này vẫn tiếp tục phải đối diện với những thách thức từ nghèo đói, nạn tham nhũng, tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ em nông thôn, giáo dục và y tế công thiếu thốn, và chủ nghĩa khủng bố. Ấn Độ là một quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân và là một cường quốc trong khu vực, có quân đội thường trực lớn thứ ba và xếp hạng tám về chi tiêu quân sự trên thế giới, đồng thời được đánh giá là một siêu cường tiềm năng. Ấn Độ là một nước cộng hòa lập hiến liên bang theo thể chế nghị viện, gồm có 29 bang và 7 lãnh thổ liên bang. Ấn Độ là một xã hội đa nguyên, đa ngôn ngữ và đa dân tộc. Đây cũng là nơi có sự đa dạng về loài hoang dã trong nhiều khu vực được bảo vệ.

Các khu vực trên thế giới

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.