Núi ngầm chóp phẳng

Trong địa chất biển, một Guyot (phát âm là /ɡˈj/), còn được gọi là một núi ngầm chóp phẳng, là một ngọn núi bị cô lập dưới núi lửa (núi ngầm) với đỉnh bằng phẳng hơn 200 m (660 ft) dưới mặt biển. Đường kính của các đỉnh phẳng này có thể vượt quá 10 km (6,2 mi).[1] Guyot thường được tìm thấy nhiều nhất ở Thái Bình Dương, nhưng chúng đã được phát hiện ở tất cả các đại dương trừ Bắc Băng Dương.

Bear Seamount guyot
Bear Seamount (trái), một guyot ở phía bắc Đại Tây Dương

Lịch sử

Guyot lần đầu tiên được công nhận vào năm 1945 bởi Harry Hammond Hess, người đã thu thập dữ liệu bằng cách sử dụng thiết bị phát ra tiếng vang trên một con tàu mà ông chỉ huy trong Thế chiến II.[2] Dữ liệu của ông cho thấy một số ngọn núi dưới đáy biển có đỉnh bằng phẳng. Hess gọi những ngọn núi dưới đáy biển này là "guyot", bởi vì chúng giống với tòa nhà sinh học và địa chất mái bằng tại Đại học Princeton, Guyot Hall, được đặt theo tên của nhà địa lý học thế kỷ 19 Arnold Henry Guyot.[3] Hess cho rằng chúng từng là những hòn đảo núi lửa bị chặt đầu bởi tác động của sóng, nhưng giờ đây chúng nằm sâu dưới mực nước biển. Ý tưởng này đã được sử dụng để giúp củng cố lý thuyết về kiến tạo mảng.[2]

Sự hình thành

Guyot cho thấy bằng chứng đã từng ở trên bề mặt, với sụt lún dần dần qua các giai đoạn từ rạn san hô rìa, đảo san hô, và cuối cùng là một ngọn núi chìm trên đỉnh bằng phẳng.[1] được tạo ra bằng cách đùn các dung nham được đưa lên theo các giai đoạn từ các nguồn trong lớp phủ của Trái đất, thường là các điểm nóng, đến các lỗ thông hơi dưới đáy biển. Các núi lửa luôn luôn ngừng lại sau một thời gian, và các quá trình khác chiếm ưu thế. Khi một ngọn núi lửa dưới đáy biển phát triển đủ cao để ở gần hoặc phá vỡ bề mặt đại dương, tác động của sóng và / hoặc sự phát triển của rạn san hô có xu hướng tạo ra một đỉnh núi bằng phẳng. Tuy nhiên, tất cả các lớp vỏ đại dương và các guyot hình thành từ magma nóng và / hoặc đá, chúng nguội dần theo thời gian. Khi lớp thạch quyển mà các guyot tương lai "cưỡi" từ từ nguội đi, nó trở nên dày đặc hơn và chìm xuống thấp hơn trong lớp phủ của Trái đất, thông qua quá trình đẳng nhiệt.

Đây là quá trình tương tự làm tăng địa hình đáy biển cao hơn tại các rặng đại dương, như Sống núiĐại Tây Dương, và đại dương sâu hơn ở đồng bằng biển thẳmrãnh đại dương, như rãnh Mariana. Do đó, hòn đảo hoặc bãi cạn cuối cùng sẽ trở thành một guyot dần dần lắng xuống sau hàng triệu năm. Ở những vùng khí hậu phù hợp, sự phát triển của san hô đôi khi có thể theo kịp sự sụt lún, dẫn đến sự hình thành đảo san hô, nhưng cuối cùng san hô chìm quá sâu để phát triển và hòn đảo trở thành một bãi rác. Lượng thời gian trôi qua càng lớn, các guyot càng trở nên sâu hơn.[4]

Núi ngầm cung cấp dữ liệu về chuyển động của các mảng kiến tạo mà chúng đi trên và về lưu biến học của lớp thạch quyển bên dưới. Xu hướng của một núi ngầm theo dõi chuyển động của lớp thạch quyển trên một nguồn nhiệt cố định ít nhiều trong tầng quyển mềm bên dưới, một phần của lớp phủ Trái đất bên dưới thạch quyển.[5] Người ta cho rằng có tới 50.000 núi ngầm trong lưu vực Thái Bình Dương.[6] Các Chuỗi núi ngầm Hawaii-Emperor là một ví dụ tuyệt vời của toàn bộ một chuỗi núi lửa trải qua quá trình này, từ núi lửa hoạt động, đối với tăng trưởng rạn san hô, đến đảo sa hô vòng, đến sự lún của các đảo và trở thành guyot.

Đặc điểm

Độ dốc của hầu hết các guyot là khoảng 20 độ. Về mặt kỹ thuật để được coi là một guyot hay núi đỉnh bằng, chúng phải cao ít nhất 900 m (3.000 ft).[7] Cụ thể, một guyot, Núi đỉnh bằng Đại thiên thạch ở Đông Bắc Đại Tây Dương, có độ cao hơn 4.000 m (13.000 ft), với đường kính 110 km (68 mi).[8] Tuy nhiên, có nhiều ngọn núi dưới đáy biển có thể dao động từ dưới 90 m (300 ft) đến khoảng 900 m (3.000 ft). Các công trình núi lửa đại dương rất lớn, rộng hàng trăm km, được gọi là cao nguyên đại dương. Guyots có diện tích lớn hơn nhiều (trung bình 3.313 km2) so với núi ngầm thông thường (diện tích trung bình là 790 km2).[9]

Có 283 guyot trong các đại dương trên thế giới, với Bắc Thái Bình Dương có 119, Nam Thái Bình Dương 77, Nam Đại Tây Dương 43, Ấn Độ Dương 28, Bắc Đại Tây Dương 8, Nam Đại Dương 6 và 2 guyot ở Địa Trung Hải; không có ở Bắc Băng Dương, mặc dù người ta tìm thấy dọc theo eo biển Fram ở phía đông bắc Greenland.[10] Guyot cũng liên quan đến các dạng sống cụ thể và lượng chất hữu cơ khác nhau. Sự gia tăng cục bộ của chất diệp lục a, tỷ lệ kết hợp carbon tăng cường và những thay đổi trong thành phần loài thực vật phù du có liên quan đến núi ngầm.[11]

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ a ă Guyot Encyclopædia Britannica Online, 2010. Retrieved January 14, 2010.
  2. ^ a ă Bryson, Bill. "A Short History of Nearly Everything". New York: Broadway, 2003. p. 178
  3. ^ Guyot, Arnold in A Princeton Companion
  4. ^ “Guyot”. www.utdallas.edu. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2019.
  5. ^ Seamounts are made by extrusion of lavas piped upward in stages from sources within the Earth's mantle to vents on the seafloor. Seamounts provide data on movements of tectonic plates on which they ride, and on the rheology of the underlying lithosphere. The trend of a seamount chain traces the direction of motion of the lithospheric plate over a more or less fixed heat source in the underlying asthenosphere part of the Earth's mantle.
  6. ^ Hillier, J. K. (2007). “Pacific seamount volcanism in space and time” (PDF). Geophysical Journal International 168 (2): 877–889. Bibcode:2007GeoJI.168..877H. doi:10.1111/j.1365-246X.2006.03250.x.
  7. ^ “Seamount and guyot”. Access Science. doi:10.1036/1097-8542.611100. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2016.
  8. ^ “Great Meteor Tablemount (volcanic mountain, Atlantic Ocean) – Britannica Online Encyclopedia”. britannica.com. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2019.
  9. ^ Harris, P.T.; Macmillan-Lawler, M.; Rupp, J.; Baker, E.K. (2014). “Geomorphology of the oceans”. Marine Geology 352: 4–24. Bibcode:2014MGeol.352....4H. doi:10.1016/j.margeo.2014.01.011.
  10. ^ . doi:10.1002/2015GC0059310 (không tích cực 2019-02-20). |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  11. ^ Sahfos

Liên kết ngoài

Chuỗi núi ngầm Hawaii-Emperor

Chuỗi núi ngầm Hawaii-Emperor (tiếng Anh: Hawaiian-Emperor seamount chain) là một dãy các núi ngầm trong Thái Bình Dương và nhô khỏi mặt biển ở quần đảo Hawaii. Chuỗi được hợp thành từ hai bộ phận chính là sống núi Hawaii (Hawaiian Ridge) ở phía nam và chuỗi núi ngầm Emperor (Emperor Seamounts) ở phía bắc, trải dài từ rãnh Aleut ở tây bắc Thái Bình Dương đến núi ngầm Lōʻihi ở đông nam đảo Hawaii. Chuỗi núi ngầm Hawaii-Emperor là một ví dụ minh hoạ cho sự biến đổi dần dần từ đảo núi lửa thành các núi ngầm chóp phẳng. Điều này thể hiện rõ từ đông nam lên tây bắc, từ các núi lửa còn hoạt động như Mauna Loa ở đảo Hawaii, đi qua các tàn tích đảo núi lửa như Nihoa, Necker, qua các rạn san hô vòng như Midway, Kure đến các núi ngầm chóp phẳng Ojin và Suiko thuộc chuỗi Emperor.

Rạn san hô vòng

Rạn san hô vòng (còn gọi là rạn vòng, a-tôn hoặc ám tiêu san hô vòng; tiếng Anh: atoll) là loại rạn san hô có hình dạng vòng đai bao quanh một đầm nước lặng (gọi là vụng biển). Theo Charles Darwin, rạn vòng hình thành khi đảo núi lửa chìm xuống đại dương và để lại vòng san hô đã phát triển xung quanh đảo núi lửa từ trước đó. Một hay nhiều phần trên đới mặt bằng rạn của rạn vòng có thể nổi khỏi mặt nước và từ đó trở thành một hay nhiều đảo. Rạn vòng có thể mất từ 100.000 đến 30.000.000 năm để hình thành hoàn chỉnh.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.