Monaco

Monaco, tên chính thức là Thân vương quốc Monaco (tên gọi tiếng Việt phổ biến nhưng không chính xác: Công quốc Monaco, tiếng Pháp: Principauté de Monaco; Tiếng Monaco: Principatu de Múnegu; tiếng Ý: Principato di Monaco; tiếng Occitan: Principat de Mónegue), là một quốc gia-thành phố có chủ quyền tại châu Âu. Monaco có ba mặt tiếp giáp với nước Pháp và mặt còn lại giáp với Địa Trung Hải và trung tâm của công quốc cách nước Ý khoảng 16 km (9,9 dặm). Diện tích của Monaco là 1,98 km² (0,76 mi²) và dân số năm 2011 là 35.986 người. Monaco là nước có GDP trên danh nghĩa cao nhất thế giới bình quân đầu người là 215.163 Đô la Mỹ và là quốc gia có mật độ dân cư cao nhất trên thế giới. Monaco cũng có tuổi thọ cao nhất thế giới với con số 90, và là nước có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất. Sau những lần lấn biển gần đây, tổng diện tích của Monaco là 2,05 km² (0,79 mi²).

Thân vương quốc Monaco

Flag of Monaco Coat of arms of Monaco
Quốc kỳ Huy hiệu
Bản đồ
Vị trí của Monaco
Vị trí của Monaco
Tiêu ngữ
"Deo Juvante"  (Latinh)
"Với sự giúp đỡ của Chúa"
Quốc ca

Hymne Monégasque
Hành chính
Chính phủNhà nước đơn nhất
Quân chủ lập hiến nghị viện
Thân vươngAlbert II
Thủ tướngSerge Telle
Thủ đôMonaco1[1]
43°44′B 7°25′Đ / 43,733°B 7,417°Đ
Thành phố lớn nhấtMonte Carlo
Địa lý
Diện tích2,02 km² (hạng 194)
Diện tích nước0,0[2] %
Múi giờCET (UTC+1); mùa hè: CEST (UTC+2)
Lịch sử
Độc lập
1297Nhà Grimaldi
17 tháng 5 năm 1814Độc lập từ Pháp
1861Hiệp định Pháp-Monaco
1911Hiến pháp
Ngôn ngữ chính thứcTiếng Pháp[3]
Dân số ước lượng (2016)38.400[4] người (hạng 211)
Mật độ18.713 người/km² (hạng 1)
GDP (danh nghĩa) (2014)Tổng số: 7,1 tỷ USD[5]
Bình quân đầu người: 187.650 USD[6] (hạng 1)
Đơn vị tiền tệEuro (EUR)
Thông tin khác
Tên miền Internet.mc

Địa lý

Monaco là một đất nước ở khu vực Tây Âu, nằm ở một eo biển nhỏ phía nam nước Pháp, bên bờ biển Côte d’Azur. Lãnh thổ Monaco trải dài trên 3 km, bề rộng không vượt quá từ 200 m đến 300 m, gồm bốn khu đô thị: Monaco-Ville, Monte Carlo, Condamine, Fontvieille.

Lịch sử

Monaco là nơi định cư của người Phoenicia từ thời Cổ đại. Năm 1215, người Genova đến xây dựng một lâu đài kiên cố trên khu đất thuộc Monaco hiện nay. Quyền kiểm soát lãnh thổ này lại chuyển sang cho dòng họ Grimaldi năm 1297.

Monaco là xứ bảo hộ của Tây Ban Nha (1524-1641) rồi đến Pháp (1641-1793) và bị sáp nhập vào Pháp từ năm 1793 đến năm 1814, đến năm 1861 Monaco mới được độc lập khỏi Pháp. Từ năm 1865, liên minh thuế quan đã nối kết Monaco với Pháp và hiệp định cơ bản năm 1918 thừa nhận quyền đại diện ngoại giao của thân vương quốc. Monaco gia nhập Liên Hiệp Quốc năm 1993, và vẫn duy trì hiệp định chung về thuế quan với Pháp.

Hiến pháp năm 1911 quy định Monaco là một nước quân chủ lập hiến, Thân vương là quốc trưởng. Ban lãnh đạo gồm một thủ hiến và 4 quan chức trong hội đồng Chính phủ. Thủ hiến là một công dân Pháp do Thân vương chọn từ những người do Pháp giới thiệu.

Thỏa ước Versailles năm 1918 cho phép Pháp có quyền "giúp bảo vệ hạn chế".

Thân vương cũng chia sẻ quyền lực với Hội đồng quốc gia (Quốc hội) gồm 24 thành viên làm việc theo nhiệm kỳ 5 năm

+ Các Thân vương Monaco:

  1. Francois - Rainier I: 1297 - 1301; Phụ thuộc vào Cộng hòa Genoise - Ghibelline từ 1301 - 1331
  2. Charles I - Rainier II: 1331 - 1357, riêng Rainier II lên đồng cai trị với cha cho tới khi cha mất (1352 - 1357)
  3. Louis - Jean I: 1395
  4. Louis I: 1397 - 1402
  5. Jean I - Ambroise - Catalan: 1419 - 1454, riêng Ambroise cai trị đến 1427 thì thoái vị, Catalan cai trị trong vai tháng của năm 1427 thì mất sớm.
  6. Claudine: 1457 - 1458
  7. Lamberto: 1458 – 1494
  8. Jean II: 1494 – 1505
  9. Lucien: 1505 – 1523
  10. Honoré I: 1523 – 1581
  11. Charles II: 1581 – 1589
  12. Hercule: 1589 – 1604
  13. Honoré II: 1604 - 1662
  14. Louis I: 1662 – 1701, Thân vương Monaco
  15. Antonio I: 1701 – 1731
  16. Louise Hippolyte: 1731
  17. Jacques I: 1731 – 1751
  18. Honoré III: 1751 – 1795

=> Thuộc Pháp (1793 - 1814):

  1. Joseph Barriera
  2. Armand Louis de Gontaut
  3. Henri Grégoire
  4. Grégoire Marie Jagot: 1793 - 1814; Napoleon I
  1. Honoré IV: 1814 – 1819
  2. Honoré V: 1819 – 1841
  3. Florestan I: 1841 – 1856
  4. Charles III: 1856 – 1889
  5. Albert I: 1889 – 1922
  6. Louis II: 1922– 1949
  7. Rainier III: 1949 – 2005
  8. Albert II: 2005 - nay
  9. Jacques II: (sẽ kế vị)

Chính trị

Ngày 17 tháng 12 năm 1962, Hiến pháp Monaco được ban hành, quy định quyền lập pháp thuộc về Thân vương và Hội đồng quốc gia (bao gồm 24 thành viên được bầu cử trực tiếp, nhiệm kỳ 5 năm). Quyền hành pháp được Thân vương giao cho Thủ tướng và 5 Cố vấn Chính phủ (Bộ trưởng). Quyền tư pháp hoàn toàn độc lập với Chính phủ, thuộc về các toà án. Nguyên thủ quốc gia là Thân vương Albert II (kế vị năm 2005). Thủ tướng là Jean Paul Proust. Cố vấn Chính phủ về Quan hệ đối ngoại và các vấn đề Kinh tế và Tài chính quốc tế là Frank Biancheri.

Monaco có 8 Đại sứ quán bổ nhiệm tại 17 quốc gia (tính đến ngày 1 tháng 5 năm 2008), chủ yếu tại Tây Âu, MỹToà thánh Vatican. Monaco có 2 Đại sứ không thường trực, được bổ nhiệm tại Úc, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật BảnBồ Đào Nha. Ngoài ra, có 4 Phái đoàn thường trực bên cạnh các tổ chức quốc tế: tại New York bên cạnh Liên Hợp Quốc, tại Genève bên cạnh các tổ chức chuyên trách của Liên Hợp Quốc và các tổ chức quốc tế có trụ sở tại Thụy Sĩ, tại Strasbourg bên cạnh Hội đồng châu Âu và tại Bỉ bên cạnh Liên minh châu Âu. Monaco có 113 Lãnh sự quán hoạt động tại 62 quốc gia, hai Tổng Lãnh sự quán tại LondonNew York.

2 Đại sứ quán thường trú tại Monaco là Sứ Quán Pháp và Sứ Quán Italia. 42 quốc gia bổ nhiệm Đại sứ kiêm nhiệm Monaco từ Paris, Madrid hoặc Bruxelles. Ngoài ra có 74 lãnh sự quán được bổ nhiệm tại Monaco.

Kinh tế

Monaco fontvieille
Cảng Fontvieille.

Kinh tế Monaco chủ yếu dựa vào du lịch. Dịch vụ ngân hàng và các sòng bạc được thành lập từ năm 1862. Chính sách thuế quan ưu đãi thu hút các công ty nước ngoài. Các ngành công nghiệp gồm có: chế tạo mĩ phẩm, hóa chất, điện tử, đóng tàu, xây dựng... Monaco hoàn toàn hợp nhất thuế quan với Pháp để thu và giảm thuế mậu dịch, đồng thời tham gia vào hệ thống thị trường EU qua liên minh thuế quan với Pháp.

Dịch vụ du lịch và thu thuế từ các sòng bạc là nguồn thu nhập chủ yếu của Monaco (25% PIB). Ngành ngân hàng-tài chính phát triển mạnh và đều. Ngành công nghiệp tập trung chủ yếu vào công nghiệp nhẹ, không huỷ hoại môi trường và có hàm lượng giá trị gia tăng cao chiếm 8% nguồn thu nhập ngân sách.

Tuy chưa là thành viên chính thức của EU nhưng Monaco có quan hệ mật thiết với tổ chức này thông qua Hiệp định chung về thuế quan với Pháp. Đồng tiền của Monaco cũng là đồng euro.

Dân tộc

Dân cư Monaco có điều khác thường là người Monegasque bản địa hiện chỉ chiếm thiểu số trên đất nước của mình. Phần lớn cư dân là người Pháp (28%), sau đó là người Monegasque (21.6%), người Ý (19%), người Anglo-Saxon (7,5% Anh & 1% Hoa Kỳ), người Đức, người Thụy Sĩ và người Bỉ mỗi dân tộc chiếm khoảng từ 2,5 đến 3%; 15% dân cư tự nhận là thuộc các dân tộc "khác".[7]

Ngôn ngữ

Ngôn ngữ chính thức của Monaco là tiếng Pháp. Ngôn ngữ quốc gia theo truyền thống là Monégasque, nhưng hiện chỉ được một thiểu số nhỏ dân cư sử dụng. Ngôn ngữ này tương tự như Tiếng Ligurian được sử dụng tại Genoa. Ở khu vực cũ của Monaco, các bảng hiệu trên đường phố được thể hiện bằng cả tiếng Pháp và Monégasque. Tiếng Ý cũng được một phần khá lớn cư dân Monaco sử dụng, đa số họ những người nhập cư từ Ý. Tiếng Anh được cư dân người Anh và Mỹ sử dụng.

Tôn giáo

Công giáo

Monaco BW 2011-06-07 16-07-20
Nhà thờ Saint Nicholas, Monaco.

Điều 9 của Hiến pháp Monaco công nhận Công giáo La Mã là giáo hội chính thức của Monaco, và là tôn giáo chiếm đa số với 83,2% dân số. Tự do tôn giáo cũng được hiến pháp bảo đảm. Giáo hội Công giáo Monaco là một phần của Giáo hội Công giáo Rôma, dưới sự lãnh đạo tinh thần của Giáo hoànggiáo triều Rôma. Tổng Giáo phận Monaco là một phần của Giáo hội Công giáo địa phương Pháp. Đất nước này tạo thành một tổng giáo phận duy nhất.

Anh giáo

Có một nhà thờ Anh giáo (Giáo hội của Thánh Phaolô), nằm tại Avenue de Grande Bretagne ở Monte Carlo. Có 135 cư dân theo Anh giáo trong thân vương quốc, tuy nhiên nhà thờ này cũng đang phục vụ một số lượng lớn đáng kể tín hữu Anh giáo tạm thời trong nước, chủ yếu là khách du lịch. Nhà thờ Anh giáo Monaco là một phần của giáo phận Anh giáochâu Âu.

Hành chính

Monaco-wards
Các phường của Monaco
MonacoLibreDeDroits
Một góc Monaco

Monaco là quốc gia có diện tích nhỏ thứ hai trên thế giới chỉ sau Vatican. Monaco cũng là nền quân chủ nhỏ thứ hai trên thế giới và là nước có mật độ dân số cao nhất trên thế giới. Quốc gia này chỉ bao gồm một khu tự quản (commune, xã). Không có ranh giới địa lý giữa đất nước và thành phố Monaco mặc dù trách nhiệm của chính quyền cấp trung ương và cấp thành phố là khác nhau. Theo Hiến pháp 1911, thân vương quốc được chia thành 3 khu tự quản:

  • Monaco (Monaco-Ville), phần thành phố cũ trên một mũi đất đá thẳng ra Địa Trung Hải, hoặc được gọi đơn giản là Le Rocher (khối đá), nơi mà cung điện tọa lạc;
  • Monte Carlo, khu vực nhà ở của cư dân và các khu nghỉ dưỡng và Sòng bạc Monte Carlo ở phía đông và đông bắc;
  • La Condamine, phần đông bắc bao gồm khu vực cảng Hercule.

Các khu tự quản được sáp nhập thành một vào năm 1917, sau khi người dân cao buộc chính quyền áp dụng phương thức "chia để trị" và được thay thế bằng "phường". Hiện Monaco được chia thành 10 phường cộng thêm Le Portier, là phường đang được đề nghị thành lập:

Số Phường Diện tích
(km²)
Dân số
(Thông kê
năm 2008)
Mật độ
km2
Khối phố
(îlots)
Điểm nhấn
Nguyên thuộc khu tự quản Monaco
05 Monaco-Ville 0,19 1.034 5597 19 Thành phố cũ và cung điện
Nguyên thuộc khu tự quản Monte Carlo
01 Monte Carlo/Spélugues (Bd. Des Moulins-Av. de la Madone) 0,30 3.834 10779 20 Sòng bạc và các khu nghỉ dưỡng
02 La Rousse/Saint Roman (Annonciade-Château Périgord) 0,13 3.223 30633 15 Le Ténao
03 Larvotto/Bas Moulins (Larvotto-Bd Psse Grace) 0,34 5.443 16570 15 khu vực bờ biển phía đông
10 Saint Michel (Psse Charlotte-Park Palace) 0,14 3.907 26768 24 khu trung tâm dân cư
Nguyên thuộc khu tự quản La Condamine
04 La Condamine 0,27 3.947 16213 27 khu vực cảng ở phía tây bắc
07 La Colle (Plati-Pasteur-Bd Charles III) 0,11 2.829 15005 15 trên biên giới phía tây với Cap d'Ail, Pháp
08 Les Révoires (Hector Otto-Honoré Labande) 0,08 2.545 33203 11 bao gồm Jardin Exotique de Monaco
09 Moneghetti/ Bd de Belgique (Bd Rainier III-Bd de Belgique) 0,10 3.003 28051 18
Vùng đất mới nhờ lấn biển
06 Fontvieille 0,35 3.901 10156 9 Bắt đầu từ năm 1971
11 Le Portier 0,12(1) - - Thân vương Albert II đề nghị thành lập năm 2009
Monaco 2,05 35.352 16217 173
(1) Diện tích chưa được tính tổng, chỉ là kế hoạch.

Chú ý: Để phục vụ cho mục đích thống kê, các phường của Monaco được chia tiếp thành 173 khối phố (îlots).

Giáo dục

Các trường tiểu học và trung học

Monaco có 10 trường công đang hoạt động, bao gồm: 7 nhà trẻtiểu học, với các trường trung học: Collège Charles III, Lycée Albert 1er (đào tạo về công nghệ), Lycée technique et hôtelier de Monte-Carlo (đào tạo nghề khách sạn). Ngoài ra còn có 2 trường tư, bao gồm cả viện François d'Assise Nicolas Barré và École des Sœurs Dominicaines. Trường tư còn lại là Trường quốc tế Monaco (International School of Monaco).

Các trường cao đẳng và đại học

Có một trường đại học nằm ở Monaco, cụ thể là Đại học Quốc tế Monaco (IUM), một trường dạy bằng tiếng Anh chuyên về đào tạo kinh doanh, được điều hành bởi Viện des Hautes Études et économiques Commerciales (INSEEC).

Tham khảo

  1. ^ “History & Heritage”. Council of Government. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2008.
  2. ^ Monaco en Chiffres, Principauté de Monaco. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2010.
  3. ^ “Constitution de la Principauté”. Council of Government. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2008.
  4. ^ “Monaco Statistics / IMSEE — Monaco IMSEE” (bằng tiếng Pháp). Imsee.mc. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2016.
  5. ^ “National Accounts Main Aggregates Database”. United Nations Statistics Division. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2012.
  6. ^ “UNdata - country profile - Monaco”. data.un.org.
  7. ^ Monaco IQ (English language), referencing Chapter One of Files and Reports&InfoSujet=General Population Census 2008&6Gb|2008 census (gouv.mc not an English source)
Chú thích
  1. ^ Trong các ngôn ngữ khác:
.mc

.mc là tên miền quốc gia cấp cao nhất (ccTLD) của Monaco.

AS Monaco FC

Association Sportive de Monaco Football Club (thường được biết đến với biệt danh AS Monaco hay đơn giản là Monaco) là một câu lạc bộ bóng đá có trụ sở tại Monaco. Câu lạc bộ được thành lập vào năm 1924 và hiện đang chơi ở Ligue 1, giải đấu hạng cao nhất của bóng đá Pháp, là một trong số các câu lạc bộ thi đấu tại giải của quốc gia khác. Sân nhà của đội là sân Stade Louis II ở Fontvieille. Monaco được quản lý bởi huấn luyện viên Thiery Henry và có đội trưởng là Jérémy Toulalan.

Bảng mã IOC

Ủy ban Olympic Quốc tế (IOC) sử dụng ba ký tự tiêu biểu cho mã quốc gia và chùm ký tự này sẽ đại diện cho các vận động viên trong các kì Đại hội Olympic. Mỗi chùm ký tự đại diện cho Ủy ban Olympic của các quốc gia; nhưng cũng có thể trong các sự kiện quá khứ nó được dùng để đại diện cho liên hiệp các quốc gia hay tập thể cá nhân không đại diện cho bất kì một quốc gia nào.

Bảng mã này có một vài điểm khác biệt so với bảng chuẩn ISO 3166-1 alpha-3. Trong một số tổ chức thể thao khác, chẳng hạn FIFA hay Liên đoàn Thịnh vượng chung Anh, dùng ký hiệu giống với bảng này.

Chính sách thị thực của Monaco

Monaco không có chính sách thị thực riêng và áp dụng chính sách thị thực khối Schengen. Mặc dù Monaco không phải một phần của Liên minh Châu Âu, hay khối Schengen, lãnh thổ của nó là một phần của Khối Schengen bởi thỏa thuận 1963 giữa Pháp và Monaco. Quy ước 1963 được sửa để nó là một phần của Khối Schengen nếu nó là một phần của Pháp.

Cúp bóng đá Pháp

Cúp bóng đá Pháp (tiếng Pháp: Coupe de France) là giải bóng đá được tổ chức cho cả các đội bóng chuyên nghiệp và nghiệp dư ở Pháp.

Danh sách các quốc gia không có lực lượng vũ trang

Đây là một danh sách các quốc gia không có lực lượng vũ trang. Thuật ngữ "quốc gia" được sử dụng với nghĩa lãnh thổ độc lập, do đó nó chỉ áp dụng với các quốc gia có chủ quyền và không phải là thuộc địa (ví dụ như Guam, Quần đảo Bắc Mariana, Bermuda), nơi mà quốc phòng thuộc trách nhiệm của một quốc gia khác hoặc một phương án thay thế quân đội. Thuật ngữ "lực lượng vũ trang" đề cập đến tất cả lực lượng quân đội do chính phủ tài trợ được sử dụng để mở rộng các chính sách đối nội và đối ngoại. Một vài quốc gia trong danh sách, ví dụ như Iceland và Monaco, không có quân đội, nhưng vẫn có lực lượng quân đội dân sự.Rất nhiều quốc gia trong danh sách có một hiệp ước lâu đời với mẫu quốc cũ; một ví dụ là hiệp ước giữa Monaco và Cộng hòa Pháp đã tồn tại ít nhất 300 năm. Các nước trong Hiệp ước Liên kết Tự do gồm Quần đảo Marshall, Liên bang Micronesia (FSM) và Cộng hòa Palau không có quyền quyết định trong các vấn đề quốc phòng, và có rất ít tiếng nói trong các quan hệ quốc tế. Ví dụ như khi FSM thương lượng một hiệp ước quốc phòng với Hoa Kỳ, họ ở trong thế yếu vì phụ thuộc hầu như hoàn toàn vào trợ cấp của người Mỹ. Andorra có một lực lượng quân đội nhỏ và có thể yêu cầu viện trợ quốc phòng nếu cần thiết, trong khi Iceland từng có một hiệp ước độc đáo với Hoa Kỳ tồn tại cho đến năm 2006, yêu cầu họ phải cung cấp sự bảo vệ cho Iceland nếu cần thiết.Các quốc gia còn lại chịu tự trách nhiệm cho vấn đề quốc phòng của đất nước mình, với bất cứ lực lượng vũ trang nào hoặc các lực lượng vũ trang bị hạn chế. Một vài quốc gia, như Costa Rica, Haiti và Grenada, đang trong quá trình giải trừ quân bị. Các quốc gia khác được thành lập mà không có lực lượng vũ trang, như Samoa hơn 50 năm trước; cũng là lý do chính khiến họ đã hoặc đang nằm trong sự bảo vệ của một nước khác trong thời điểm giành độc lập.

Nhật Bản không nằm trong danh sách này vì trong khi đất nước không có quân đội chính thức theo Điều 9 trong Hiến pháp, Nhật Bản vẫn có Lực lượng Phòng vệ, một đội quân bảo vệ chủ quyền đất nước chỉ có thể được điều động bên ngoài biên giới Nhật Bản bởi Liên hiệp quốc cho nhiệm vụ gìn giữ hòa bình.

Danh sách mã bưu chính ở Pháp

Mã bưu chính được xuất hiện tại Pháp vào năm 1964, khi La Poste giới thiệu loại tự động. Chúng đã được cập nhật để sử dụng hệ thống 5 chữ số như hiện nay vào năm 1972.

Pháp sử dụng năm mã số bưu chính, hai chữ số đầu tiên đại diện cho lãnh thổ hải thuộc các thành phố. Các con số thổ hải được phân theo thứ tự bảng chữ cái vào giữa năm 1860 và 1870, nhưng đã thay đổi sau đó (chẳng hạn như đổi tên và tách các số thổ hải) có nghĩa là danh sách không còn để đúng chữ cái. Hệ thống này cũng kéo dài đến các vùng lãnh thổ và hải ngoại của Pháp. Lưu ý rằng trong cả hai số thổ hải Corsica bắt đầu bằng "20" đã giao cho Corsica trước khi nó được chia thành hai số hải thổ, mà bây giờ được đánh số 2A và 2B.

Ba chữ số cuối cùng xác định một vị trí chính xác hơn, 000 là nói chung, dành riêng cho các tỉnh. Tuy nhiên, ở Paris, Lyon và Marseille, hai chữ số cuối cùng chỉ ra các quận. Ví dụ, 80000 tương ứng với Amiens, đó là các tỉnh Somme hoặc quận 80, trong khi 69.008 tương ứng với Quận 8 của Lyon.

Danh sách trận Siêu cúp châu Âu

Siêu cúp châu Âu (tiếng Anh: UEFA Super Cup) là một trận đấu bóng đá thường niên giữa hai nhà vô địch của UEFA Champions League và UEFA Europa League. Khởi tranh từ năm 1972, trong quá khứ đây là cuộc so tài giữa nhà vô địch cúp C1 châu Âu (đổi tên thành UEFA Champions League từ năm 1993) và nhà vô địch UEFA Cup Winners' Cup (hay Cúp C2 châu Âu) cho đến năm 1999 - thời điểm Liên đoàn bóng đá châu Âu (UEFA) quyết định ngừng tổ chức Winners' Cup. Trận Siêu cúp cuối cùng diễn ra theo thể thức cũ là trận đấu năm 1999 giữa Lazio và Manchester United, kết thúc với chiến thắng 1-0 cho Lazio. Lúc đầu giải đấu diễn ra theo thể thức hai lượt trận, mỗi trận tổ chức trên sân nhà của mỗi đội góp mặt và diễn ra trong những tháng mùa đông; nhưng kể từ mùa 1998, giải đấu chỉ còn là một trận duy nhất diễn ra tại một địa điểm trung lập vào tháng 8. Từ năm 1998 đến 2012, sân vận động Stade Louis II tại Monaco là nơi đăng cai các trận Siêu cúp, nhưng kể từ năm 2013, giải đấu được tổ chức hàng năm tại mỗi sân vận động khác nhau trên khắp sân cỏ châu Âu.Milan và Barcelona đồng chia sẻ nhiều danh hiệu nhất khi mỗi đội có 5 lần đăng quang. Riêng Milan sở hữu hai danh hiệu liên tiếp vào các năm 1989 và 1990, giúp họ trở thành đội bóng đầu tiên bảo vệ thành công chức vô địch. Bên cạnh đó Real Madrid cũng có hai năm đăng quang liên tiếp vào các năm 2016 và 2017. Barcelona là đội có nhiều lần góp mặt nhất (9 lần) cũng như giành ngôi á quân nhiều nhất (4 lần) trong các trận tranh Siêu cúp. Các đại diện của Tây Ban Nha vô địch giải đấu nhiều nhất với 13 lần đăng quang so với 9 lần vô địch của các đội đến từ Ý. Những nhà đương kim vô địch đang là câu lạc bộ Liverpool, đội đã đánh bại nhà vô địch UEFA Europa League 2018-19 Chelsea trên chấm đá luân lưu với tỉ sổ chung cuộc 5-4 trong trận tranh Siêu cúp 2019.

Frank Lampard

Frank James Lampard Jr. (sinh ngày 20 tháng 6 năm 1978) là một cựu cầu thủ bóng đá người Anh, hiện là huấn luyện viên của Chelsea. Thời còn thi đấu, vị trí của anh là tiền vệ trung tâm và cũng chơi ở vị trí tiền vệ tấn công. Anh là cầu thủ có hiệu suất ghi bàn khá cao. Lampard đang nắm giữ một số kỷ lục như cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất trong lịch sử câu lạc bộ Chelsea với 211 bàn thắng tại mọi giải đấu; 164 trận liên tiếp ra sân trong đội hình xuất phát ở Giải bóng đá ngoại hạng Anh; tiền vệ ghi bàn nhiều nhất cho Chelsea; tiền vệ thứ hai trong lịch sử Giải bóng đá ngoại hạng Anh ghi được hơn 100 bàn thắng, sau Matthew Le Tissier. Anh được vinh danh là một trong những tiền vệ xuất sắc nhất thế giới với thành tích đứng nhì trong hai cuộc bầu chọn Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA và Quả bóng vàng châu Âu vào năm 2005. Mùa giải 2007-08, anh được bầu là Tiền vệ xuất sắc nhất năm của Cúp các đội vô địch bóng đá quốc gia châu Âu.

Lampard bắt đầu sự nghiệp tại West Ham United vào năm 1994, nơi cha anh từng thi đấu. Bắt đầu từ mùa giải 1998-99, anh mới được bắt đầu có mặt trong đội hình chính thức của West Ham và có được chiếc cúp vô địch UEFA Intertoto năm 1999. Năm 2001, anh chính thức chuyển đến thi đấu cho Chelsea với giá 11 triệu bảng Anh. Tại Chelsea, Lampard đã giành được ba chức vô địch Giải bóng đá ngoại hạng Anh, bốn chức vô địch Cúp FA và hai chức vô địch Cúp Liên đoàn bóng đá Anh ở đấu trường quốc nội và một danh hiệu vô địch UEFA Champions League và một danh hiệu vô địch UEFA Europa League tại đấu trường châu lục. Tháng 8 năm 2008, anh đã gia hạn hợp đồng với câu lạc bộ thành London thêm 5 năm nữa, thời hạn đến hết mùa giải 2013-2014 và trở thành một trong những cầu thủ được trả lương cao nhất tại Giải bóng đá ngoại hạng Anh. Kết thúc mùa giải 2013-14, Lampard đã chính thức rời Chelsea sau 13 năm gắn bó.Trong màu áo đội tuyển Anh, Lampard đã từng tham gia Euro 2004 (ghi được ba bàn tại giải đấu này), World Cup 2006 và World Cup 2010. Anh khoác áo đội tuyển Anh lần đầu tiên vào tháng 10 năm 1999 và đến ngày 10 tháng 9 năm 2013, anh đã có trận đấu thứ 100 cho đội tuyển trong trận đấu giao hữu với Ukraina. Anh hiện có hai con gái, Luna và Isla, với người vợ cũ Elen Rives.

Ngày 2 tháng 2 năm 2017, Frank Lampard chính thức giã từ sự nghiệp thi đấu quốc tế sau 22 năm thi đấu chuyên nghiệp.

Grace Kelly

Grace Kelly (12 tháng 11 năm 1929 – 14 tháng 9 năm 1982) hay Thân vương phi Grace là nữ minh tinh điện ảnh người Mỹ. Sau này bà trở thành vương phi của Công quốc Monaco sau khi kết hôn với Thân vương Rainier III của Monaco vào tháng 4 năm 1956.

Bắt đầu sự nghiệp diễn xuất vào năm 1950, ở tuổi 20, Kelly trong các tác phẩm kịch nghệ tại New York và hơn 40 tập trong các bộ phim truyền hình trực tiếp phát sóng trong "Thời đại vàng của truyền hình" vào đầu thập niên 50. Tháng 10 năm 1953, bà đã trở thành ngôi sao của bộ phim Mogambo, đã giúp Kelly giành được 1 giải Quả Cầu Vàng và đề cử cho giải Oscar năm 1954. Tiếp đó, Kellly vào vai chính trong 5 phim điện ảnh có The Country Girl (1954), sự thể hiện diễn xuất được tán dương đã giúp Kelly nhận một Giải Oscar cho nữ diễn viên chính xuất sắc nhất. Các phim khác là High Noon (1952) đóng cùng Gary Cooper, Dial M for Murder (1954) với Ray Milland, Rear Window (1954) với James Stewart, To Catch a Thief (1955) với Cary Grant và High Society (1956) cùng Frank Sinatra và Bing Crosby.

Kelly từ bỏ sự nghiệp diễn xuất ở tuổi 26 khi nhận lời cầu hôn của Thân vương Rainier và trở thành Thân vương phi Monaco. Cặp đôi có ba con: Caroline - Công chúa xứ Monaco/Vương phi xứ Hanover, Thân vương Albert II và Stéphanie. Kelly giữ gốc gác là người Mỹ và duy trì quyền công dân song tịch Hoa Kỳ và Monaco. Bà qua đời ngày 14 tháng 9 năm 1982 do đột quỵ khi đang lái xe dẫn đến tai nạn lật xe trước đó một ngày.

Kế hoạch Marshall

Kế hoạch Marshall (Marshall Plan) là một kế hoạch trọng yếu của Hoa Kỳ nhằm tái thiết và thiết lập một nền móng vững chắc hơn cho các quốc gia Tây Âu, đẩy lùi chủ nghĩa cộng sản sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Mang tên chính thức "Kế hoạch phục hưng châu Âu" (European Recovery Program - ERP), nhưng Kế hoạch Marshall thường được gọi theo tên của Ngoại trưởng Mỹ George Marshall, người đã khởi xướng và ban hành kế hoạch. Kế hoạch Marshall là thành quả lao động của các quan chức Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, trong đó ghi nhận sự đóng góp đặc biệt của William L. Clayton và George F. Kennan.

Kế hoạch tái thiết được phát triển tại cuộc họp mặt của các quốc gia Châu Âu ngày 12 tháng 7 năm 1947. Kế hoạch Marshall đề ra việc viện trợ tương đương cho Liên Xô và đồng minh của họ, nhưng không được chấp nhận. Kế hoạch được thực thi trong vòng 4 năm, kể từ tháng 7 năm 1947. Trong thời gian đó, có khoảng 17 tỷ đô la Mỹ viện trợ kinh tế và hỗ trợ kỹ thuật để giúp khôi phục các quốc gia châu Âu tham gia Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế - OECD. Nhiều quốc gia châu Âu đã nhận được viện trợ trước khi có Kế hoạch Marshall, kể từ năm 1945, cùng với các điều kiện chính trị kèm theo.

Kế hoạch Marshall cũng là một phần trong kế hoạch chính trị của Mỹ nhằm tăng cường ảnh hưởng đối với các nước Đồng minh Tây Âu và chống lại Liên Xô, cũng như để tạo thuận lợi cho việc kinh doanh của các Tập đoàn xuyên quốc gia Mỹ tại Tây Âu. Để phục vụ mục đích này, Mỹ đã viện trợ kinh tế cho cả chính quyền phát xít Tây Ban Nha, cũng như viện trợ chiến phí cho thực dân Pháp, thực dân Hà Lan quay trở lại xâm chiếm Đông Nam Á. Cho tới khi kết thúc dự án, nền kinh tế của các quốc gia nằm trong Kế hoạch, ngoại trừ Tây Đức, đã phát triển vượt mức trước chiến tranh.

Trong vòng hai thập kỷ tiếp đó, nhiều vùng ở Tây Âu tiếp tục đạt được mức tăng trưởng chưa từng có trước đó. Kế hoạch Marshall cũng được xem là một trong các thành tố của quá trình hội nhập châu Âu, vì nó xóa bỏ hàng rào thuế quan và thiết lập các cơ quan điều phối kinh tế tầm cỡ lục địa.

Trong những năm gần đây, các sử gia đặt câu hỏi về cả động cơ bên trong cũng như tính hiệu quả chung của Kế hoạch Marshall. Một số sử gia cho rằng hiệu quả của Kế hoạch Marshall thực tế là từ chính sách laissez-faire (tạm dịch: thả nổi) cho phép thị trường tự bình ổn qua sự phát triển kinh tế. Người ta cho rằng Tổ chức Cứu trợ và Phục hồi của Liên Hiệp Quốc, vốn giúp hàng triệu người tị nạn từ năm 1944 tới 1947, cũng giúp đặt nền móng cho sự phục hồi châu Âu thời hậu chiến.

Manchester United F.C.

Câu lạc bộ bóng đá Manchester United (tiếng Anh: Manchester United Football Club, hay ngắn gọn là MU hay Man Utd) là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp có trụ sở tại Old Trafford, Đại Machester, Anh. Câu lạc bộ đang chơi tại Giải bóng đá Ngoại hạng Anh, giải đấu hàng đầu trong hệ thống bóng đá Anh. Với biệt danh "Quỷ Đỏ" được thành lập ban đầu với tên gọi Newton Heath LYR Football Club vào năm 1878 sau đó đổi tên thành Manchester United vào năm 1902 và chuyển đến sân vận động hiện tại là sân Old Trafford vào năm 1910.

Manchester United là một trong những câu lạc bộ thành công nhất tại Anh, giữ kỷ lục 20 lần vô địch bóng đá Anh, đoạt 12 Cúp FA, 5 Cúp Liên đoàn và giữ kỷ lục 21 lần đoạt Siêu cúp Anh. Câu lạc bộ đã giành được 3 chức vô địch châu Âu, 1 UEFA Cup Winners' Cup, 1 UEFA Europa league, 1 Siêu cúp châu Âu, 1 Cúp Liên lục địa và 1 FIFA Club World Cup. Trong mùa giải 1998–99, Manchester United trở thành đội bóng Anh đầu tiên đoạt cú ăn ba trong một mùa giải gồm các chức vô địch Ngoại hạng Anh, cúp FA và UEFA Champions League.Thảm họa hàng không München năm 1958 đã cướp đi sinh mạng của tám cầu thủ. Năm 1968, dưới sự dẫn dắt của Matt Busby, Manchester United là câu lạc bộ bóng đá Anh đầu tiên giành Cúp C1 châu Âu. Huấn luyện viên Alex Ferguson đã giành 38 danh hiệu khi dẫn dắt câu lạc bộ kể từ năm 1986, trong đó có 13 chức vô địch Premier League, 5 Cúp FA và 2 UEFA Champions League, trước khi ông tuyên bố nghỉ hưu vào năm 2013. Huấn luyện viên chính gần đây nhất của câu lạc bộ là José Mourinho, người được bổ nhiệm cuối tháng 5 năm 2016. Với phong độ không được tốt của đội ngày 18 tháng 12 năm 2018, CLB đã chấm dứt hợp đồng sớm với ông để đưa Ole Gunnar Solskjaer, một huyền thoại của CLB về làm HLV tạm quyền và sau những trận đấu tỏa sáng cùng sao M.U. ông đã được kí hợp đồng chính thức.

Manchester United là câu lạc bộ bóng đá đứng thứ hai về doanh thu trên thế giới trong mùa giải 2013-14, với doanh thu hàng năm 518 triệu euro và đứng thứ ba về giá trị đội bóng trên thế giới trong năm 2015 với trị giá 1,98 tỷ USD. Tính đến tháng 6 năm 2015, câu lạc bộ có giá trị thương hiệu bóng đá lớn nhất thế giới, ước tính trị giá 1,2 tỷ USD. Đây là một trong những đội bóng có số lượng người hâm mộ lớn nhất trên thế giới. Câu lạc bộ được vận hành dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn cổ phần từ năm 1991 và sau khi được đưa lên sàn Chứng khoán Luân Đôn vào năm 1991, câu lạc bộ đã được Malcolm Glazer mua lại vào tháng 5 năm 2005 với giá gần 800 triệu bảng. Câu lạc bộ có một số kình địch, trong đó nổi bật là Liverpool, Manchester City và Leeds United, và gần đây là Arsenal.

Mariah Carey

Mariah Carey (sinh ngày 27 tháng 3 năm 1969 hoặc 1970) là nữ ca sĩ kiêm người viết bài hát, nhà sản xuất thu âm và diễn viên người Mỹ. Bà nổi danh sau khi phát hành album phòng thu đầu tay Mariah Carey vào năm 1990, giành chứng nhận đa Bạch kim và ra mắt 4 đĩa đơn quán quân bảng xếp hạng Billboard Hot 100 Hoa Kỳ; "Vision of Love", "Someday", "I Don't Wanna Cry" và "Love Takes Time". Dưới sự dìu dắt của người chồng là giám đốc hãng đĩa Columbia Records Tommy Mottola, Carey tiếp tục gặt hái thành công với các album Emotions (1991), Music Box (1993) và Merry Christmas (1994), trở thành nghệ sĩ thành công nhất của hãng đĩa Columbia. Daydream (1995) làm nên lịch sử khi "One Sweet Day", đĩa đơn thứ hai do Carey song ca cùng ban nhạc Boyz II Men, dẫn đầu Billboard Hot 100 trong 16 tuần liên tiếp và vẫn đang là đĩa đơn quán quân có thời gian trụ hạng dài nhất lịch sử xếp hạng Hoa Kỳ. Trong thời gian thu âm album này, Carey bắt đầu chuyển đổi từ phong cách R&B và ballad nhẹ nhàng ban đầu sang giai điệu hip-hop. Sự thay đổi trở nên rõ rệt hơn khi Carey phát hành Butterfly (1997), cùng lúc khi bà đang trong quá trình chia tay với Mottola.

Carey rời hãng Columbia vào năm 2000 và ký một hợp đồng thu âm trị giá 100 triệu đô-la Mỹ cùng Virgin Records America. Trước khi phát hành bộ phim Glitter (2001), bà trải qua hàng loạt những suy sụp nặng nề về thể chất lẫn tinh thần. Sau khi nhận được những phản hồi tiêu cực đến bộ phim lẫn album, hãng thu âm đã cắt đứt hợp đồng cùng bà với 50 triệu đô-la Mỹ. Bà ký một hợp đồng thu âm mới cùng Island Records vào năm 2002 và tiếp tục trải qua một giai đoạn thất bại khác, trước khi trở lại vị trí hàng đầu trên các bảng xếp hạng cùng The Emancipation of Mimi (2005). Đĩa đơn thứ hai trích từ album, "We Belong Together" trở thành đĩa đơn thành công nhất của bà trong thập kỷ 2000 và được vinh danh là "Bài hát của thập niên" bởi Billboard. Carey tiếp tục sự nghiệp điện ảnh trong Precious (2009), mang về cho bà "Giải thưởng diễn xuất đột phá" tại Liên hoan phim quốc tế Palm Springs.

Trong xuyên suốt sự nghiệp, Carey đã bán ra hơn 230 triệu đĩa hát toàn thế giới, giúp bà trở thành một trong những nghệ sĩ thu âm bán chạy nhất mọi thời đại. Vào năm 1998, bà được vinh danh là nghệ sĩ bán nhiều đĩa hát nhất thập niên 1990 và giành giải "Nữ nghệ sĩ bán chạy nhất thiên niên kỷ" tại giải thưởng Âm nhạc Thế giới. Theo Hiệp hội Công nghiệp Ghi âm Hoa Kỳ (RIAA), bà đứng thứ ba trong số những nữ nghệ sĩ âm nhạc có lượng đĩa bán chạy nhất tại quốc gia này, với 63.5 triệu chứng nhận album. Với "Touch My Body" (2008), Carey có tổng cộng 18 đĩa đơn quán quân tại Hoa Kỳ, nhiều hơn bất kỳ nghệ sĩ đơn ca nào. Vào năm 2012, Carey xếp thứ 2 trong danh sách "100 người phụ nữ vĩ đại nhất trong âm nhạc" do VH1 bình chọn. Bên cạnh các thành tựu thương mại, Carey đã giành 5 giải Grammy, 19 giải thưởng Âm nhạc Thế giới, 11 giải thưởng Âm nhạc Mỹ và 14 giải thưởng Âm nhạc Billboard. Được Sách Kỷ lục Guinness tôn vinh là "chim sơn ca tuyệt đỉnh", Carey nổi tiếng bởi âm vực trải dài 5 quãng tám, kỹ thuật hát luyến (melisma) và khả năng sử dụng quãng sáo (whistle register) trứ danh.

Monte Carlo

Monte Carlo (tiếng Pháp: Monte-Carlo, Occitan: Montcarles Monégasque: Monte-Carlu) là một khu vực hành chính của Công quốc Monaco.

Monte Carlo được biết đến rộng rãi với sòng bạc và sự nổi bật của nó. Dân số thường trú khoảng 15.000 trong quý. Monte Carlo quý bao gồm không chỉ thích hợp Monte Carlo Casino Le Grand nằm, nó cũng bao gồm các khu vực lân cận của Saint-Michel, Saint-Roman/Tenao, và cộng đồng các bãi biển của Larvotto. Nó cũng là một trong 10 phường của Monaco, với dân số khoảng 3.500. Giáp thị trấn của Pháp Beausoleil (đôi khi được gọi là Monte-Carlo-Supérieur).

Mỹ Tâm

Phan Thị Mỹ Tâm (sinh ngày 16 tháng 1 năm 1981) là nữ ca sĩ, nhạc sĩ và diễn viên người Việt Nam. Sinh ra tại Đà Nẵng, cô sớm bộc lộ năng khiếu về âm nhạc và liên tiếp giành chiến thắng tại nhiều cuộc thi ca hát lớn nhỏ lúc còn ở độ tuổi thiếu niên. Cô khởi nghiệp ca hát bằng album đầu tay Mãi yêu (2001) và album kế tiếp Đâu chỉ riêng em (2002) không lâu sau khi tốt nghiệp thủ khoa tại trường Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh. Album phòng thu thứ ba, Yesterday & Now (2003) giúp cô lập kỷ lục về doanh số bán ra tại thị trường trong nước.

Trong những năm còn lại của thập niên 2000, Mỹ Tâm phát hành một chuỗi các sản phẩm âm nhạc thành công về mặt chuyên môn và thương mại, bao gồm các album đề cử cho giải Cống hiến Hoàng hôn thức giấc (2005), Vút bay (2006), Trở lại (2008). Năm 2004, Mỹ Tâm tổ chức chương trình biểu diễn "Liveshow Ngày ấy & bây giờ", có mức kinh phí đầu tư lớn nhất tại Việt Nam lúc đó. Trong thập niên 2010, cô thực hiện chuyến lưu diễn "Heartbeat" và phát hành Tâm (2013) và Tâm 9 (2017), liên tiếp gặt hái thành công thương mại. Bên cạnh việc tự sáng tác, cô còn hát các ca khúc của tác giả khác như "Tóc nâu môi trầm", "Họa mi tóc nâu", "Ước gì", "Hát với dòng sông", "Xích lô" hay "Cây đàn sinh viên".

Mỹ Tâm giành được 5 giải Cống hiến, 1 giải Âm nhạc châu Âu của MTV, 11 lần liên tiếp nhận giải "Ca sĩ được yêu thích nhất" và 3 năm liên tiếp nhận giải "Gương mặt của năm" của Giải thưởng Làn Sóng Xanh. Tại sự kiện Top Asia Corporate Ball 2014 ở Kuala Lumpur, cô thắng giải "Huyền thoại Âm nhạc châu Á" và là "Nghệ sĩ có album bán chạy nhất lãnh thổ" do Liên đoàn Công nghiệp ghi âm quốc tế (IFPI) công nhận trong năm 2014. Cô xuất hiện trong danh sách "Top 50 Phụ nữ ảnh hưởng nhất Việt Nam" (2017) do tạp chí Forbes công bố. Cô còn là ca sĩ Việt Nam đầu tiên có một album lọt vào top 10 Billboard World Album vào tháng 1 năm 2018. Mỹ Tâm còn làm giám khảo cho các cuộc thi như Vietnam Idol: Thần tượng Âm nhạc Việt Nam (2012–13), Sao Mai điểm hẹn (2010), Giọng hát Việt (2015), góp mặt trong phim truyền hình Cho một tình yêu (2010). Năm 2019, cô lần đầu đạo diễn phim điện ảnh Chị trợ lý của anh.

Paris Saint-Germain F.C.

Paris Saint-Germain là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp tại Paris, thủ đô nước Pháp. Tiền thân là câu lạc bộ đa thể thao Stade Saint-Germain, Paris Saint-Germain chính thức được thành lập năm 1970 và hầu như liên tục thi đấu tại Ligue 1. Câu lạc bộ này còn được gọi phổ biến bằng những cái tên PSG hay Paris SG.

Từ khi tham dự giải Hạng nhất nước Pháp, Paris Saint-Germain đã 8 lần giành ngôi vô địch. Câu lạc bộ cũng 8 lần giữ vị trí á quân, trong đó có mùa bóng 1992–1993, Paris Saint-Germain từ chối chức vô địch sau khi Olympique de Marseille bị tước danh hiệu vì scandal. Với các giải đá cúp, câu lạc bộ có nhiều thành tích hơn với 12 lần đoạt Cúp bóng đá Pháp, 8 lần giành Cúp Liên đoàn bóng đá Pháp và 9 Siêu cúp bóng đá Pháp. Trên đấu trường châu Âu, thành tích lớn nhất mà Paris Saint-Germain đạt được là danh hiệu UEFA Cup Winners' Cup vào năm 1996.

Đại diện cho "kinh đô ánh sáng", trang phục thi đấu của Paris Saint-Germain mang hai màu xanh, đỏ chủ đạo, cũng chính là màu cờ của thành phố Paris. Sân nhà của câu lạc bộ có cái tên Công viên các Hoàng tử nằm tại Quận 16, kế bên rừng Boulogne, với sức chứa 48.712 chỗ ngồi.

Trong suốt một thời gian dài, câu lạc bộ thuộc quyền sở hữu của hai quỹ đầu tư Colony Capital và Butler Capital Partners cùng ngân hàng Hoa Kỳ Morgan Stanley, tuy nhiên, đội bóng ngày một thua lỗ và thành tích thi đấu ngày một kém cỏi. Mùa giải 2010-2011, dù có Cúp quốc gia Pháp, PSG chỉ xếp thứ 13 tại Ligue 1. Từ tháng 5 năm 2011, 70% quyền sở hữu Paris Saint-Germain thuộc về quỹ đầu tư quốc gia Qatar Investment Authority và quỹ đầu tư này tiến hành hàng loạt cải cách lớn mạnh. Tháng 8 năm 2011, họ mời Leonardo về làm Giám đốc kỹ thuật và chính ông đã mang hàng loạt ngôi sao mới về Parc des Princes, đồng thời thay máu toàn bộ nhân sự đội bóng, và đưa Paris Saint-Germain thành ứng cử viên hàng đầu của Ligue 1. Tới tháng 11 năm 2011, PSG bầu Nasser Al-Khelaïfi làm Chủ tịch mới (vị chủ tịch đầu tiên không phải là người Pháp). Cuối tháng 12 năm 2011, dù PSG vô địch lượt đi Ligue 1, Leonardo vẫn sa thải Antoine Kombouaré để mời Carlo Ancelotti làm huấn luyện viên đội bóng. Ngày 27 tháng 6 năm 2016, PSG chính thức thông báo HLV Laurent Blanc rời khỏi CLB Paris Saint-Germain, và một ngày sau đó ngày 28, CLB PSG chính thức công bố HLV Unai Emery của Sevilla F.C. là người kế nhiệm.

Roquebrune-Cap-Martin

Roquebrune-Cap-Martin (Roccabruna-Capo Martino trong tiếng Ý) là một xã ở tỉnh Alpes-Maritimes, vùng Provence-Alpes-Côte d’Azur ở đông nam nước Pháp. Xã này nằm giữa Monaco và Menton.

Thierry Henry

Thierry Daniel Henry (phát âm tiếng Pháp: [tjɛʁi ɑ̃ʁi]), sinh ngày 17 tháng 8 năm 1977, là một cựu cầu thủ và huấn luyện viên bóng đá chuyên nghiệp người Pháp. Vai trò gần đây nhất của anh là huấn luyện viên của câu lạc bộ bóng đá AS Monaco. Khi còn là cầu thủ, anh có biệt danh "Con trai thần gió".

Anh đã thi đấu cho các câu lạc bộ Monaco, Juventus, Barcelona, New York Red Bulls và dành 8 năm tại Arsenal nơi anh trở thành cầu thủ ghi bàn xuất sắc nhất mọi thời đại cấp câu lạc bộ. Ở cấp độ đội tuyển, anh thi đấu cho đội tuyển quốc gia Pháp và cũng là một trong số những chân sút vĩ đại nhất trong màu áo lam.

Henry sinh ra tại Les Ulis, Essonne, ngoại ô thủ đô Paris, anh đã chơi cho đội bóng địa phương trong khoảng thời gian từ năm 1983-1989, trước khi anh được phát hiện và ký hợp đồng với AS Monaco vào năm 1990. Anh bắt đầu sự nghiệp bóng đá chuyên nghiệp năm 1994 và chơi ở Monaco đến năm 1998. Phong độ tốt khi chơi bóng tại đây đã giúp anh được gọi vào đội tuyển quốc gia. Sau đó, Henry chuyển tới chơi cho nhà đương kim vô địch Serie A lúc bấy giờ là Juventus, nhưng sau một mùa giải thất vọng chơi ở vị trí tiền vệ cánh, anh gia nhập câu lạc bộ Anh Arsenal với giá chuyển nhượng 11 triệu Bảng Anh năm 1999.Tại Arsenal, anh nổi lên là một cầu thủ đẳng cấp thế giới, giúp anh tạo dựng được tên tuổi cũng như thương hiệu của mình. Cho dù ban đầu gặp khó khăn khi thích nghi với Premier League, anh là chân sút số một của đội bóng trong gần như mọi mùa giải. Dưới sự dẫn dắt của huấn luyện viên Arsène Wenger, Henry trở thành một tiền đạo sát thủ và là chân sút xuất sắc nhất mọi thời đại với 228 bàn thắng trên mọi đấu trường. Cầu thủ người Pháp giành hai chức vô địch quốc gia và ba cúp FA với Arsenal F.C., hai lần về nhì trong cuộc đua danh hiệu Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA, hai lần giành danh hiệu Cầu thủ của năm của Hiệp hội cầu thủ nhà nghề Anh và ba lần giành danh hiệu Cầu thủ của năm của Hiệp hội các nhà báo bóng đá Anh. Henry trải qua hai mùa giải cuối cùng tại Arsenal với tư cách đội trưởng và đưa đội bóng vào đến chung kết UEFA Champions League 2006.

Tháng 6 năm 2007, sau 8 năm tại Arsenal, anh chuyển đến chơi cho Barcelona với mức phí 24 triệu euro. Năm 2009, Henry góp phần quan trọng giúp câu lạc bộ đạt được cú ăn ba lịch sử khi họ giành chức vô địch La Liga, Cúp Nhà vua Tây Ban Nha và UEFA Champions League. Tiếp đó anh còn cùng câu lạc bộ giành cú ăn sáu vĩ đại khi thắng Siêu Cúp Tây Ban Nha, Siêu Cúp châu Âu và Giải vô địch thế giới các câu lạc bộ. Henry năm lần được góp mặt trong Đội hình xuất sắc năm của UEFA. Năm 2010, anh gia nhập New York Red Bulls tại giải Bóng đá nhà nghề Mỹ và giành một danh hiệu ngay năm đó. Năm 2012, anh trở lại Arsenal hai tháng theo dạng cho mượn. Năm 2013, Henry cùng New York Red Bulls giành thêm một danh hiệu nữa với thành tích cầu thủ xuất sắc nhất mùa giải. Cuối năm 2014, anh chính thức tuyên bố giải nghệ.

Henry có một sự nghiệp thành công trong màu áo đội tuyển quốc gia, giành chức vô địch World Cup 1998, EURO 2000 và cúp Liên đoàn các châu lục 2003. Tháng 10 năm 2007, anh vượt qua kỷ lục của Michel Platini để trở thành chân sút vĩ đại nhất lịch sử tuyển Pháp. Anh giã từ sự nghiệp thi đấu quốc tế sau World Cup 2010.

Ngoài đời, anh ủng hộ mạnh mẽ phong trào chống phân biệt chủng tộc trong bóng đá, một phần bởi trải nghiệm của chính mình. Anh kết hôn với người mẫu người Anh Nicole Merry năm 2003 và có một con gái, nhưng đã ly hôn vào năm 2007. Năm 2006, Henry từng đứng thứ 9 trong danh sách những cầu thủ kiếm tiền nhiều nhất thế giới.

Tiếng Occitan

Tiếng Occitan là một ngôn ngữ Romance được nói ở Occitania, tức là gồm miền Nam nước Pháp, thung lũng Occitan của Ý, Monaco và thung lũng Aran của Tây Ban Nha. Nó cũng được nói ở vùng Guardia Piemontese (Calabria, Italia). Nó là một trong số các ngôn ngữ chính thức tại Catalonia).. Tiếng Occitan hiện đại có quan hệ tương đối gần gũi với tiếng Catalan. Cách dùng các ngôn ngữ này ở giai đoạn đầu thời trung cổ cho thấy chúng có thể được coi là dạng biến thể của cùng một ngôn ngữ. Thuật ngữ Provençal thường được sử dụng để chỉ tiếng Occitan.

Khu vực mà tiếng Occitan được dùng phổ biến trong lịch sử là nơi sinh sống của 14 triệu người. Tiếng Occitan có thể được coi là ngôn ngữ mẹ đẻ của 1,5 triệu người tại Pháp, Ý, Tây Ban Nha và Monaco. Tại Monaco, tiếng Occitan cùng tồn tại với tiếng Monégasque Ligure, một ngôn ngữ bản địa khác.

Các quốc gia có chủ quyền và lãnh thổ phụ thuộc tại Châu Âu
Quốc gia
có chủ quyền

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.