Metro-Goldwyn-Mayer

Metro–Goldwyn–Mayer Inc., hay MGM, là một tập đoàn truyền thông của nước Mỹ, hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất phim truyện và chương trình truyền hình.

MGM được thành lập năm 1924 khi Marcus Loew thâu tóm Metro Pictures, Goldwyn Pictures Corporation và Louis B. Mayer Pictures. Loew hợp nhất ba tập đoàn và Mayer là đầu não sản xuất chính. Metro–Goldwyn–Mayer được dự định cung cấp phim truyện cao cấp cho chuỗi nhà hát Loew và hoàn toàn thuộc sở hữu của tập đoàn giải trí Loews Cineplex Entertainment.

Suốt thời kì phim câm cho đến hết thế chiến II, Metro–Goldwyn–Mayer là tập đoàn điện ảnh hùng mạnh nhất tại Hollywood, với nguồn doanh thu khổng lồ. Vào thời điểm đỉnh cao, hãng phát hành trung bình một bộ phim mỗi tuần, cùng với nhiều chương trình và loạt phim ngắn.

Sáng lập 1924, MGM cùng với Columbia Pictures, đứng thứ 5 trong số những tập đoàn có lịch sử lâu đời nhất. Khẩu hiệu của hãng, "Ars Gratia Artis", là một câu tiếng Latin có nghĩa là "Nghệ thuật vì nghệ thuật".

Ngày 16 tháng 4 năm 2009, MGM đã kỉ niệm 85 năm ngày thành lập.

Metro–Goldwyn–Mayer Inc.
Loại hình
Công ty tư nhân
Ngành nghềĐiện ảnh
Thành lập17 tháng 4, 1924
Trụ sở chínhLos Angeles, California, U.S.
(Metro–Goldwyn–Mayer Studios, Inc.)
Nhân viên chủ chốt
Harry Sloan (Chủ tịch tập đoàn kiêm Giám đốc điều hành)
Sản phẩmPhim điện ảnh
Chương trình truyền hình
Chủ sở hữuProvidence Equity Partners
TPG Capital, L.P.
Sony Corporation of America
Comcast
DLJ Merchant Banking Partners
Quadrangle Group [1]
Số nhân viên
1,440 (năm 2004) [2]
Công ty mẹMGM Holdings, Inc.
Websitehttp://www.mgm.com/

Xem thêm

  • Leo the Lion, công ty con
  • Metro-Goldwyn-Mayer Animation
  • Metro-Goldwyn-Mayer cartoon studio
  • MGM HD
  • MGM Mirage, công ty con kinh doanh khách sạn ở Las Vegas, Nevada.
  • MGM Television
  • MGM Worldwide Television
  • RPA (Rubin Postaer and Associates)

Tham khảo

  • The MGM Story by John Douglas Eames (Octopus, 1975)
  • Fade Out: The Calamitous Final Days of MGM by Peter Bart (Morrow, 1990). Refers to the final days of MGM as a historic film studio in Culver City. MGM still exists as a company.
  • MGM: When the Lion Roars by Peter Hay (Turner, 1991)
  • Hollywood Dreams Made Real: Irving Thalberg and the Rise of M-G-M by Mark A. Vieira (Abrams, 2008)

Liên kết ngoài

Chocolate (bài hát của Kylie Minogue)

"Chocolate" là bài hát của nữ nghệ sĩ thu âm người Úc Kylie Minogue, trích từ album phòng thu thứ 9 Body Language (2003). Do chính nhà sản xuất Johnny Douglas sáng tác cùng Karen Poole, đây là một bản ballad sử dụng hình ảnh chocolate để so sánh với nỗi ám ảnh của Minogue trong tình yêu. Bài hát có chứa các yếu tố nhạc disco và funk cùng chất giọng thì thầm và mang tiếng thở. "Chocolate" phát hành dưới dạng đĩa đơn thứ 3 và là đĩa đơn cuối trích từ album vào ngày 28 tháng 6 năm 2004 bởi hãng thu âm Parlophone.

Các đánh giá đến "Chocolate" trải dài từ tích cực đến trung lập; một vài nhà phê bình yêu thích tính thương mại và chất giọng của Minogue trong bài hát, trong khi một số lại phê bình tính lỗi thời của nó. Tại Úc, bài hát không thể đạt đến top 10 mà chỉ vươn đến vị trí thứ 14. Bài hát đạt thành công hơn tại Anh Quốc, khi trở thành bài hát ăn khách đạt top 10 thứ 27 của cô tại UK Singles Chart. Đĩa đơn này còn xếp hạng trong top 20 tại Hungary và Ý.

Một video âm nhạc cho "Chocolate" đạo diễn bởi Dawn Shadforth với nhiều hình ảnh tri ân đến các tác phẩm nhạc kịch của Metro-Goldwyn-Mayer. Video chủ yếu cho thấy cảnh Minogue cùng dàn vũ công khiêu vũ tại đại sảnh, với phần vũ đạo do Michael Rooney đảm nhận. Minogue trình bày trực tiếp bài hát trong đêm nhạc cố định Money Can't Buy và chương trình truyền hình Top of the Pops. "Chocolate" còn xuất hiện trong các chuyến lưu diễn Showgirl: The Greatest Hits và Showgirl: The Homecoming của Minogue.

Chú báo hồng (phim hoạt hình 1993)

Chú báo hồng là loạt phim hoạt hình 1993 được sản xuất bởi Metro-Goldwyn-Mayer Animation, Mirisch-Geoffrey DePatie-Freleng và United Artists và do Claster Television phát hành.

Cặp đôi hoàn cảnh (phim 2015)

Cặp đôi hoàn cảnh (tiếng Anh: Hot Pursuit) là một bộ phim hành động hài do Anne Fletcher đạo diễn và viết kịch bản bởi David Feeney và John Quaintance. Với sự tham gia của Reese Witherspoon, Sofía Vergara và Robert Kazinsky, phim dự kiến khởi chiếu ngày 8 tháng 5 năm 2015 bởi Warner Bros., New Line Cinema và Metro-Goldwyn-Mayer.

Danh sách 100 phim hay nhất của Viện phim Mỹ (phiên bản kỷ niệm 10 năm)

Danh sách 100 phim hay nhất của Viện phim Mỹ – phiên bản kỷ niệm 10 năm là phiên bản cập nhật năm 2007 của Danh sách 100 phim hay nhất của Viện phim Mỹ. Danh sách đầu tiên ra mắt công chúng vào năm 1998.

Giải Oscar cho phim hay nhất

Giải Oscar cho phim hay nhất (tiếng Anh: Academy Award for Best Picture; còn có tên gọi khác là Giải Oscar cho phim truyện xuất sắc nhất) là hạng mục quan trọng nhất trong hệ thống Giải Oscar, giải được trao cho bộ phim được các thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh (Academy of Motion Picture Arts and Sciences, AMPAS) của Hoa Kỳ) đánh giá là xuất sắc nhất trong năm bầu chọn. Đây cũng là hạng mục duy nhất của giải Oscar mà tất cả các thành viên thuộc các nhánh khác nhau của AMPAS đều có quyền đề cử và bầu chọn.

Trong năm đầu tiên trao giải Oscar (giải 1927/28, trao năm 1929), không có hạng mục "Phim xuất sắc nhất" mà thay vào đó là hai hạng mục "Sản xuất xuất sắc nhất" (Most Outstanding Production) và "Chất lượng nghệ thuật xuất sắc nhất" (Most Artistic Quality of Production). Năm sau đó, Viện Hàn lâm quyết định gộp hai giải này thành một giải duy nhất "Sản xuất xuất sắc nhất" (Best Production). Từ năm 1931, hạng mục này mới được đổi tên thành "Phim xuất sắc nhất" (Best Picture).

Từ năm 1944 AMPAS mới đề ra quy đinh hạn chế số đề cử cho giải phim xuất sắc nhất xuống còn 5 phim mỗi năm. Năm 2010 số lượng đề cử được tăng lên 10 phim. Tính cho đến Giải Oscar lần thứ 79 đã có tổng cộng 458 bộ phim được đề cử cho giải Oscar phim xuất sắc nhất. Toàn bộ các bộ phim này đều được lưu giữ đến ngày nay trừ trường hợp duy nhất của bộ phim The Patriot được đề cử năm 1929 đã bị thất lạc.

Giải Oscar cho phim hoạt hình ngắn hay nhất

Giải Oscar cho phim hoạt hình ngắn là một giải do Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh trao hàng năm như một phần của giải Oscar, kể từ lần trao giải Oscar thứ 5, từ năm 1931-1932 tới nay.

Từ năm 1932 tới năm 1970, thể loại này được gọi là "Short Subjects, Cartoons" (Các phim hoạt họa, Các chủ đề ngắn) và từ năm 1971 tới năm 1973 gọi là "Short Subjects, Animated Films" (Các phim hoạt hình, Các chủ đề ngắn). Tên hiện nay bắt đầu từ giải năm 1974.

Trong danh sách dưới đây, tên in chữ đậm là tên đoạt giải, theo sau là các tên in chữ thường gồm các tên phim được đề cử cho năm đó. Đáng chú ý là thể loại này đã trao cho hãng Walt Disney 12 giải trong số 22 giải Oscar mà hãng này đoạt được, kể cả 1 giải truy tặng năm 1968, và cũng là 10 trong số 12 giải đầu tiên thuộc thể loại này. Cho tới năm 1952, chỉ các phim Mỹ mới được đề cử cho giải này, và chỉ năm 1960 mới có 1 phim không làm tại Bắc Mỹ được đề cử.

Trong 5 thập niên đầu tiên, giải được trao tặng cho các nhà sản xuất phim hoạt hình ngắn. Theo điều lệ hiện nay, giải được trao tặng cho "cá nhân có trách nhiệm trực tiếp nhất về ý niệm và việc thực hiện sáng tạo phim. Trong trường hợp có hơn một cá nhân cùng tham gia trực tiếp vào các quyết định sáng tạo quan trọng, thì một tượng (giải thưởng) thứ nhì sẽ được trao (cho người thứ hai)".Bản mẫu:TOCDecades30

Greta Garbo

Greta Garbo (18 tháng 9 năm 1905 - 15 tháng 4 năm 1990) là một diễn viên người Mỹ gốc Thụy Điển và là một trong những diễn viên nổi tiếng nhất trong thời kỳ vàng son của Hollywood.

Được coi là một trong những diễn viên đỉnh cao của hãng truyền thông Metro-Goldwyn-Mayer cũng như điện ảnh Mỹ, Garbo đã nhận được giải Oscar danh dự cho "những vai diễn không thể quên trên màn ảnh".

Năm 1999, bà được Viện phim Mỹ vinh danh trong số những huyền thoại màn bạc vĩ đại nhất mọi thời đại, vị trí thứ 5.

Hãng phim lớn

Một hãng phim lớn là một hãng phân phối và sản xuất điện ảnh thực hiện việc phát hành một số lượng đáng kể các phim điện ảnh thường niên và kiểm soát thị phần lớn trong tổng doanh thu phòng vé tại một thị trường xác định. Tại Bắc Mỹ, các nước phương Tây và các thị trường khác trên thế giới, các hãng phim lớn thường được coi là sáu tập đoàn truyền thông đa dạng với các công ty con chuyên về phân phối và sản xuất điện ảnh chiếm tới 80 đến 85 phần trăm doanh thu phòng vé của Mỹ và Canada. Thuật ngữ này còn được sử dụng trực tiếp cho công ty con kinh doanh phim điện ảnh của từng tập đoàn.

Các hãng phim lớn được gọi là "Big Six", với trụ sở chính được đặt quanh vùng Los Angeles của Hollywood, đều chủ yếu là các hãng phim đã hoạt động từ Kỷ nguyên Vàng của Hollywood trong khoảng những năm 1930 tới 1940. Ba hãng phim, 20th Century Fox, Warner Bros. và Paramount, cũng đều là một trong năm "Big Five" của Kỷ nguyên này. Trong khi đó, Columbia và Universal, hai hãng phim lớn tại thời điểm hiện tại, thì trong thời kì đó lại xếp ở hạng thấp hơn, và là một phần của "Little Three". Walt Disney Studios từng là một công ty sản xuất độc lập trong Kỷ nguyên Vàng, tuy nhiên khi đó công ty lại không phải là một hãng phim lớn. Metro-Goldwyn-Mayer, United Artists, và RKO là ba hãng phim từng được coi là hãng phim lớn trước đây.

Hiện nay, Disney là thành viên duy nhất của Big Six có trụ sở công ty mẹ đặt gần Los Angeles. Năm công ty còn lại có trụ sở tập đoàn đặt tại Thành phố New York, Philadelphia, và Tokyo. Trong bộ sáu Big Six, Paramount là công ty duy nhất có trụ sở đặt trong Hollywood, và Paramount và Fox là hai công ty duy nhất đặt trụ sở trong vùng giới hạn của Los Angeles, trong khi Disney và Warner Bros. được đặt tại Burbank, Columbia tại Culver City, còn trụ sở Universal được đặt tại khu chưa hợp nhất của Universal City.

Hầu hết các hãng phim thuộc Big Six ngày nay đều quản lý các công ty con của mình thông qua các mạng lưới phân phối riêng tập trung vào các phim vị nghệ thuật (như Fox Searchlight Pictures) hay các phim có kinh phí thấp (như hãng Screen Gems của Sony); một vài trong số các công ty này đã bị đóng cửa vào khoảng những năm 2008 đến 2010. Bộ sáu hãng phim lớn đối lập hoàn toàn với những công ty phân phối và/hoặc sản xuất điện ảnh nhỏ hơn, thường được gọi là các hãng phim độc lập. Dẫn đầu trong số các hãng sản xuất/phân phối điện ảnh độc lập—Lionsgate Films, The Weinstein Company, và hãng phim trước đây từng là một trong các hãng phim lớn MGM—thường được gọi là các hãng phim "hạng trung". Từ năm 1998 cho tới 2005, DreamWorks SKG đã kiểm soát một lượng đủ thị phần để có thể trở thành hãng phim lớn thứ bảy. Năm 2006, DreamWorks được mua lại bởi Viacom, công ty mẹ của Paramount. Cuối năm 2008, DreamWorks một lần nữa lại trở thành một công ty sản xuất độc lập; các phim điện ảnh của hãng đều được phân phối bởi hãng Touchstone Pictures của Disney cho đến năm 2016, việc phân phối được chuyển qua cho Universal.

Các hãng phim thuộc Big Six hiện tại là các nhà phân phối và ủng hộ cho các phim điện ảnh do các công ty độc lập sản xuất. Các chi nhánh chuyên môn thường mua được quyền phân phối cho các phim điện ảnh mà trước đó hãng phim không hề có vai trò liên quan. Thường thì các hãng phim lớn chỉ thực hiện một số lượng nhỏ các công việc liên quan đến sản xuất cơ bản, các hoạt động chính của họ vẫn tập trung nhiều hơn vào việc phát triển sản phẩm, các vấn đề tài chính, tiếp thị và buôn bán. Các nghiệp vụ kinh doanh thường được tổ chức ở trong hoặc gần Los Angeles, dù hầu hết các phim điện ảnh ngày nay được quay một phần hoặc toàn bộ tại các địa điểm bên ngoài vùng Los Angeles.

Từ những ngày đầu của điện ảnh, các hãng phim lớn của Mỹ đã nắm quyền kiểm soát cả nền điện ảnh Hoa Kỳ cũng như ngành công nghiệp điện ảnh của thế giới. Các hãng phim Mỹ đã tạo được một lợi thế gia nhập đầu tiên mạnh mẽ khi trở thành những tên tuổi đầu tiên công nghiệp hóa ngành điện ảnh và làm chủ việc sản xuất quy mô lớn và phân phối những phim điện ảnh chất lượng cao với tính chất giao thoa văn hóa rõ ràng. Big Six ngày nay vẫn phân phối hàng trăm phim điện ảnh thường niên cho các thị trường chủ chốt (những nơi thu nhập khả dụng của khách hàng đủ cao để họ có thể ra rạp xem phim được). Một phim điện ảnh thường rất hiếm khi hoặc không thể đạt đủ lượng người xem quốc tế đa lục địa và đa ngôn ngữ nếu như phim đó không được lựa chọn phân phối bởi các hãng phim lớn.

Mary Parent

Mary Parent (sinh năm 1968) là một nhà sản xuất phim người Mỹ, và cựu giám đốc hãng phim. Vào tháng 2 năm 2011, cô đồng sáng lập Disruption Entertainment, một công ty có giao dịch đầu tiên tại Paramount Pictures. Cô trước đây là Chủ tịch của Tập đoàn Điện ảnh Toàn cầu của Metro Goldwyn Mayer. Cô là cựu chủ tịch sản xuất của Universal Studios. Ở đó, cô chịu trách nhiệm cho Meet the Fockers, The Bourne Supremacy, Serenity và các bộ phim khác. Năm 2004, Parent và Scott Stuber được bổ nhiệm làm Phó chủ tịch sản xuất toàn cầu cho Universal Pictures. Vào năm 2005, Universal đã ký một hợp đồng sản xuất với bộ đôi dưới tác phẩm Stuber / Parent Productions. Theo Stuber / Parent, cô đã sản xuất những bộ phim như Role Models (2008), Welcome Home, Roscoe Jenkins (2008), The Kingdom (2007), và You, Me and Dupree (2006). Cô đã sản xuất phim Pacific Rim của Guillermo del Toro, Darren Aronofsky sử thi Noah và The SpongeBob Movie: Sponge Out of Water (2015). Cha mẹ của cô làm việc tại New Line Cinema vào những năm 1990.

Năm 2008, Parent đã xếp thứ 28 trong danh sách "50 Woman to Watch 2008" của Tạp chí Phố Wall.

Movies!

Movies! là một hệ thống mạng truyền hình thuộc sở hữu như là một liên doanh giữa Weigel Broadcasting và Fox Television Stations là công ty con của 21st Century Fox. Nó nhấn mạnh bộ phim, chương trình quảng cáo và hoạt động được dựa vào trụ sở của Weigel Broadcasting trên North Haslted Street ở Chicago, Illinois.

Nó có sẵn trong một số trường qua kỹ thuật số subchannel phái với phát sóng đài truyền hình, cũng như vận chuyển qua trên những kỹ thuật số tầng của một số cáp các nhà cung cấp thông qua một liên kết địa phương của các mạng. Phim! cung cấp cho chương trình 24 giờ một ngày và chương trình phát sóng trong 16:9 hình dạng có sẵn trong hai nét tiêu chuẩn hoặc cao tùy thuộc vào các trạm là ưu tiên.

Mạng cạnh tranh với hai tương tự như vậy được định dạng phát sóng mạng: This TV (được điều hành bởi Weigel trong một liên doanh với Metro-Goldwyn-Mayer, cho đến khi các cựu hoạt động của cổ được thực hiện bởi Tribune Broadcastingtrên tháng 1, 2013) và GetTV (thuộc sở hữu của Sony Pictures Entertainmení); bộ phim soạn nguồn tài chính và trẻ em của lập trình phụ trợ nguồn gốc của chương trình trên cả hai mạng, mặc dù điều ThisTV cũng phát kinh điển series phim truyền hình. Tuy nhiên không giống như This TV và GetTV, Movies! không sửa những bộ phim được phát sóng để làm cho phòng cho nhiều quảng cáo. Một ký hiệu trong Movies! tiêu đề thẻ nói không có bộ phim thay đổi được phát sóng vào đầu mỗi bộ phim phát sóng.

Mèo Tom

Mèo Thomas "Tom" là một nhân vật hư cấu, một trong hai nhân vật chính trong loạt phim hoạt hình Tom và Jerry của Metro-Goldwyn-Mayer. Được sáng tạo bởi William Hanna và Joseph Barbera, Tom là một con mèo nhà lông ngắn, xuất hiện lần đầu tiên trong phim hoạt hình ngắn Puss Gets the Boot vào năm 1940. Ban đầu Tom có tên là "Jasper" nhưng từ khi xuất hiện trong The Midnight Snack, nó được biết đến với tên gọi "Tom" hoặc "Thomas".

New Line Cinema

New Line Film Productions Inc, hay nói ngắn gọn là New Line Cinema là một hãng phim của Hoa Kỳ thành lập năm 1967 do Robert Shaye sáng lập, sau đó trở thành một hãng phim độc lập. Nó trở thành hàng phẩm phụ thuộc vào Turner Broadcasting, sau đó Time Warner năm 1996. Và đây là một trong những hãng phim lớn nhất của Warner Bros, cùng công ty con cùng tên hãng vào năm 2008.

Nhạc phim Tom và Jerry

Tom and Jerry and Tex Avery Too! Volume 1: The 1950s là một bộ album nhạc phim 2006 của Scott Bradley về phim ngắn Tom và Jerry, Droopy, và Tex Avery của Metro-Goldwyn-Mayer Những bài hát bên dưới của các bộ phimm hoạt hình lần đầu tiên được chọn phát hành với chất lượng âm thanh tốt nhất.

Puss Gets the Boot

Puss Gets The Boot là phim hoạt hình năm 1940 của hãng MGM và là tập phim đầu tiên của Tom và Jerry. Phim được ra rạp vào ngày 10 tháng 2 năm 1940, do William Hanna và Joseph Barbera sản xuất.

Sòng bạc hoàng gia

Sòng bạc hoàng gia (tựa gốc tiếng Anh: Casino Royale) là phim điện ảnh đề tài gián điệp của vương quốc Anh công chiếu năm 2006, phần thứ 21 trong loạt phim điện ảnh James Bond của Eon Productions và bản chuyển thể màn ảnh thứ ba từ cuốn tiểu thuyết cùng tên năm 1963 của nhà văn Ian Fleming. Phim do Martin Campbell đạo diễn với phần kịch bản do đội ngũ biên kịch gồm Neal Purvis và Robert Wade cùng Paul Haggis chắp bút. Đây là phim điện ảnh đầu tiên có sự tham gia của nam diễn viên Daniel Craig trong vai điệp viên MI6 hư cấu James Bond. Tác phẩm do Eon Productions chịu trách nhiệm sản xuất cho Metro-Goldwyn-Mayer và Columbia Pictures, đánh dấu phim Bond đầu tiên do Eon hợp tác sản xuất với một xưởng phim thứ hai. Sau Die Another Day, Eon Productions quyết định khởi động lại loạt phim, cho phép họ thể hiện một nhân vật Bond ít kinh nghiệm và dễ tổn thương hơn.Sòng bạc hoàng gia lấy bối cảnh vào những năm đầu sự nghiệp của Bond ở vị trí đặc vụ 007, khi anh vừa nhận quyền được giết của mình. Nội dung phim kể về Bond trong một nhiệm vụ làm phá sản nhà tài trợ khủng bố Le Chiffre tại một giải đấu poker đánh cược lớn; Bond cũng rơi vào mối tình với Vesper Lynd, một nhân viên ngân quỹ được giao công việc cung cấp số tiền mà Bond cần cho giải đấu. Bộ phim khởi động một tiểu phần sẽ tiếp diễn trong Định mức khuây khỏa (2008).

Quá trình tuyển vai liên quan đến chiến dịch tìm kiếm mở rộng một nam diễn viên mới để kế nhiệm vai James Bond của Pierce Brosnan; lựa chọn cuối cùng là Craig được công bố vào tháng 10 năm 2005, dấy lên nhiều tranh cãi đáng chú ý. Địa điểm quay phim diễn ra tại Cộng hòa Séc, Bahamas, Ý và Anh Quốc với những cảnh dựng nội thất tại Barrandov Studios và Pinewood Studios.

Sòng bạc hoàng gia ra mắt tại Odeon Leicester Square vào ngày 14 tháng 11 năm 2006, đồng thời khởi chiếu tại Việt Nam vào ngày 29 tháng 12 năm 2006. Bộ phim nhận được đa số phản hồi tích cực với những nhận xét nhấn mạnh sự cách tân nhân vật của Craig và sự khởi đầu của phim từ ngụ ý của những phim Bond trước. Tác phẩm đã thu về 600 triệu USD toàn cầu và trở thành phim điện ảnh James Bond có doanh thu cao nhất cho đến thời điểm trước khi Tử địa Skyfall ra rạp vào năm 2012.

The Pebble and the Penguin

The Pebble and the Penguin là một phim hoạt hình sản xuất năm 1995. Phim dựa cuộc sống cạnh tranh con mái trong mùa sinh sản của Chim cánh cụt Adélie ở Châu Nam Cực. Phim được sản xuất và đạo diễn bởi Don Bluth và Gary Goldman. Phim được công chiếu rạp vào ngày 12 tháng 04 năm 1995 bởi Metro-Goldwyn-Mayer ở Hoa kỳ và trên thế giới bởi Warner Bros. Family Entertainment.

Các hãng phim điện ảnh tại MỹCanada
Nổi tiếng
Hạng trung
Hãng phim độc lập
Độc lập tài chính
Hãng độc lập thuộc sở hữu

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.