Martin Campbell

Martin Campbell (sinh ngày 24 tháng 10 năm 1943) là một đạo diễn điện ảnh và truyền hình người New Zealand có cơ sở tại Anh Quốc. Ông nổi tiếng nhất nhờ chỉ đạo loạt mini-sêri được đánh giá cao của Anh Edge of Darkness (1985) (giúp ông giành giải BAFTA) và hai tác phẩm trong loạt James Bond là GoldenEye (1995) và Sòng bạc hoàng gia (2006). Ông còn đạo diễn các bộ phim như The Mask of Zorro (1998), The Legend of Zorro (2005), Green Lantern (2011) và Kẻ ngoại tộc (2017).

Martin Campbell
Martin Campbell
Campbell tại CES 2012 – hội thảo kỉ niệm 50 năm loạt phim James Bond của Panasonic
Sinh24 tháng 10, 1943
Hastings, Hawkes Bay, New Zealand
Quốc tịchNew Zealand
Nghề nghiệpĐạo diễn điện ảnh và truyền hình
Vợ/chồngSol E. Romero[1]
Giải thưởngGiải thưởng Viện hàn lâm Truyền hình Vương quốc Anh Đạo diễn xuất sắc nhất
Edge of Darkness 1986

Danh sách phim

Điện ảnh

  • The Sex Thief (1973)
  • Three for All (1975)
  • Eskimo Nell (1975)
  • Intimate Games (1976, Uncredited)
  • Criminal Law (1988)
  • Defenseless (1991)
  • No Escape (1994)
  • GoldenEye (1995)
  • The Mask of Zorro (1998)
  • Vertical Limit (2000)
  • Beyond Borders (2003)
  • The Legend of Zorro (2005)
  • Sòng bạc hoàng gia (2006)
  • Edge of Darkness (2010)
  • Green Lantern (2011)
  • Kẻ ngoại tộc (2017)

Truyền hình

  • The Professionals (1978–1980; 5 tập)
  • Minder (1980; 2 tập)
  • Shoestring (1980; 1 tập)
  • Reilly: The Ace of Spies (1983; 5 tập)
  • Charlie (mini-sêri 4 phần 1984)
  • Edge of Darkness (1985; mini-sêri 6 phần)
  • Screen Two (1986; 1 tập "Frankie and Johnnie")
  • Cast a Deadly Spell (1991)
  • Homicide: Life On The Street (1993; 1 tập Three Men and Adena)
  • 10-8: Officers on Duty (2003; 1 tập)
  • Last Resort (2012; 1 tập)

Chú thích

  1. ^ Nair, Drishya (19 tháng 7 năm 2011). “Martin Campbell says director Forster messed up 'Quantum of Solace'. International Business Times. Truy cập 14 tháng 12 năm 2018.

Liên kết ngoài

Edgar F. Codd

Edgar Frank "Ted" Codd (19 tháng 8 năm 1923 - 18 tháng 4 năm 2003) là một nhà khoa học máy tính người Anh, khi làm việc cho IBM, đã phát minh ra mô hình quan hệ để quản lý cơ sở dữ liệu, cơ sở lý thuyết cho cơ sở dữ liệu quan hệ và hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu quan hệ. Ông đã có những đóng góp có giá trị khác cho khoa học máy tính, nhưng mô hình quan hệ, một lý thuyết chung có ảnh hưởng rất lớn về quản lý dữ liệu, vẫn là thành tựu được đề cập, phân tích và tôn vinh nhất của ông. .

Edge of Darkness (phim 2010)

Bên lề bóng đêm hoặc Quyền lực và tội ác (tựa tiếng Anh: Edge of Darkness) là bộ phim hành động - tâm lý Mỹ năm 2010 của đạo diễn Martin Campbell. Phim có sự tham gia của diễn viên Mel Gibson và Ray Winstone. Edge of Darkness dựa theo một phim truyền hình có cùng tên năm 1985 của BBC.

Eva Green

Eva Gaëlle Green (tiếng Pháp: [ɡʁin]; tiếng Thuỵ Điển: [ˈɡɾeːn]; sinh 6 tháng 7 năm 1980) là một nữ diễn viên, người mẫu Pháp. Cô bắt đầu sự nghiệp của mình tại nhà hát trước khi thực hiện bộ phim đầu tiên ra mắt vào năm 2003, The Dreamers của Bernardo Bertolucci. Cô được khán giả quốc tế công nhận khi hóa thân thành Sibylla, nữ hoàng Jerusalem trong bộ phim sử thi Kingdom Kingdom of Heaven (2005) của đạo diễn Ridley Scott và đóng vai Bond girl Vesper Lynd trong bộ phim về James Bond, Casino Royale (2006). Năm 2006, Green được trao giải BAFTA dành cho ngôi sao triển vọng, BAFTA.

Từ năm 2006, Green đã đóng vai chính trong các phim độc lập như Cracks (2009), Womb (2010) và Perfect Sense (2011). Cô cũng xuất hiện trên phim truyền hình Camelot (2011) và đóng vai Angelique Bouchard trong phim chuyển thể màn ảnh lớn Dark Shadows (2012) của đạo diễn Tim Burton. Vào năm 2014, cô đóng vai Artemisia trong phần tiếp theo phim 300, 300: Rise of a Empire (2014) và Ava Lord trong phần tiếp theo phim Sin City, Sin City: A Dame to Kill For (2014) của Frank Miller và Robert Rodriguez. Cô cũng đóng vai Vanessa Ives trong phim truyền hình kinh dị Penny Dreadful (2014-16) của kênh Showtime. Diễn xuất của cô trong phim đã giành được đề cử giải Nữ chính xuất sắc nhất phim truyền hình tại Giải Quả cầu vàng lần thứ 73. Năm 2016, cô đóng vai nhân vật chính trong phim giả tưởng Mái ấm lạ kỳ của cô Peregrine của đạo diễn Tim Burton.

Herman Hollerith

Herman Hollerith (1860-1929) là nhà thống kê học, nhà phát minh, doanh nhân người Mỹ. Vào cuối thế kỷ XIX, điện bắt đầu được sử dụng vào kỹ thuật. Lúc đó, Hollerith chế tạo thành công chiếc máy tính sử dụng bìa đục lỗ để lưu trữ và thống kê số liệu. Sự kiện này có ý nghĩa quan trọng vì dữ liệu đã được lưu trữ bằng thiết bị mà máy có thể đọc được. Loại máy kiểu này đã được sản xuất công nghiệp với số lượng lớn, được dùng ở nhiều quốc gia trên thế giới, chủ yếu là để xứ lý số liệu thống kê và trong công nghiệp dệt đê làm chương trình dệt hoa văn. Tiêu biểu là vào năm 1890, cuộc điều tra dân số Hoa Kỳ kéo dài chỉ có hai năm rưỡi so với lần trước năm 1880 cho kết quả kéo dài tới cả thập kỷ. Để có được thay đổi đáng kể đó, cuộc điều tra năm 1890 đã được số hóa với máy tính của Herman Hollerith. Một điều thú vị là công ty của Hollerith sau này trở thành IBM, một trong những công ty về máy tính lớn nhất và nổi tiếng nhất thế giới.

James Bond

James Bond (bí danh 007 hoặc là Điệp viên 007) là một nhân vật điệp viên hư cấu người Anh được tạo ra bởi nhà văn Ian Fleming vào năm 1953 và đã được đưa vào 12 cuốn tiểu thuyết, 2 tuyển tập cũng như loạt phim về các cuộc phiêu lưu của điệp viên này. Sau khi Ian Fleming mất vào năm 1964, các phần tiếp theo của tiểu thuyết về James Bond được viết tiếp bởi Kingsley Amis (dưới bút danh Robert Markham), John Pearson, John Gardner và Raymond Benson. Thêm vào đó Charlie Higson cũng đã bắt đầu một loạt sách về "Tuổi trẻ của James Bond". Năm 2007, Sebastian Faulks được công bố chính thức là người sẽ viết tiếp các phần sau của tiểu thuyết này bắt đầu từ năm 2008. Đồng thời, nhà văn Christopher Wood sẽ chuyển thể hai kịch bản phim, và một số nhà văn khác sẽ viết tiếp những phần không chính thức về nhân vật điệp viên bí ẩn này và thường được biết là sử dụng khẩu súng lục Walther PPK (thỉnh thoảng anh cũng dùng Walther P99).

Ban đầu thì James Bond được biết đến như một tiểu thuyết best-selling, còn nhân vật James Bond được biết đến nhiều nhất là từ các phim của hãng EON, phần thứ 23 của loạt phim này, Tử địa Skyfall vừa được hoàn thành năm 2012. Phần thứ 24 trong loạt phim về những cuộc phiêu lưu của James Bond, Spectre, đã được ra mắt vào năm 2015. Những bộ phim của hãng EON được gọi là những bộ phim "chính thức" về James Bond sau khi nhà sản xuất Harry Saltzman mua lại tác quyền của loạt tiểu thuyết này sau thập niên 1950; và thuật ngữ "chính thức" này được sử dụng trong tất cả các bài viết.

Lịch sử Internet

Lịch sử Internet bắt đầu với việc phát triển máy tính điện tử trong những năm 1950. Các khái niệm ban đầu về mạng diện rộng bắt nguồn từ một số phòng thí nghiệm khoa học máy tính ở Mỹ, Vương quốc Anh và Pháp. Bộ Quốc phòng Mỹ đã trao các hợp đồng sớm nhất là vào những năm 1960, bao gồm cả việc phát triển dự án ARPANET, lãnh đạo bởi Robert Taylor và quản lý bởi Lawrence Roberts. Tin nhắn đầu tiên được gửi qua ARPANET vào năm 1969 từ phòng thí nghiệm của giáo sư khoa học Leonard Kleinrock tại University of California, Los Angeles (UCLA) đến nút mạng thứ hai tại Stanford Research Institute (SRI).

Mạng chuyển mạch gói như NPL network, ARPANET, Tymnet, Merit Network, CYCLADES, và Telenet, được phát triển vào cuối những năm 1960 và đầu những năm 1970 bằng nhiều giao thức truyền thông. Donald Davies lần đầu tiên chứng minh chuyển mạch gói vào năm 1967 tại National Physics Laboratory (NPL) ở Anh, nơi đã trở thành một thử nghiệm cho nghiên cứu của Vương quốc Anh trong gần hai thập kỷ. Dự án ARPANET đã dẫn đến sự phát triển của các giao thức cho liên mạng, trong đó nhiều mạng riêng biệt có thể được nối vào một mạng các mạng.

Bộ giao thức Internet (TCP/IP) được phát triển bởi Robert E. Kahn và Vint Cerf những năm 1970vaf trở thành giao thức mạng chuẩn trên ARPANET, kết hợp các khái niệm từ dự án CYCLADES của Pháp do Louis Pouzin chỉ đạo. Đầu những năm 1980, NSF đã tài trợ cho việc thành lập các trung tâm siêu máy tính quốc gia tại một số trường đại học và cung cấp kết nối vào năm 1986 với dự án NSFNET, cũng tạo ra quyền truy cập mạng vào các siêu máy tính ở Hoa Kỳ từ các tổ chức nghiên cứu và giáo dục. Các nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISPs) bắt đầu xuất hiện vào cuối những năm 1980. ARPANET đã ngừng hoạt động vào năm 1990. Các kết nối riêng tư hạn chế với các bộ phận của Internet bởi các thực thể thương mại chính thức xuất hiện ở một số thành phố của Mỹ vào cuối năm 1989 và 1990, và NSFNET đã ngừng hoạt động vào năm 1995, xóa bỏ những hạn chế cuối cùng đối với việc sử dụng Internet để mang theo giao thông thương mại.

Vào những năm 1980, nghiên cứu tại CERN ở Thụy Sĩ của nhà khoa học máy tính người Anh Tim Berners-Lee đã đưa ra World Wide Web, liên kết các tài liệu siêu văn bản vào một hệ thống thông tin, có thể truy cập từ bất kỳ nút nào trên mạng. Từ giữa những năm 1990, Internet đã có một tác động mang tính cách mạng đối với văn hóa, thương mại và công nghệ, bao gồm sự gia tăng của giao tiếp gần như ngay lập tức bằng thư điện tử, tin nhắn tức thời, cuộc gọi qua điện thoại Giao thức Internet (VoIP), tương tác hai chiều các cuộc gọi video và World Wide Web với các diễn đàn thảo luận, blog, mạng xã hội và các trang web mua sắm trực tuyến. Cộng đồng nghiên cứu và giáo dục tiếp tục phát triển và sử dụng các mạng tiên tiến như JANET ở Vương quốc Anh và Internet2 ở Hoa Kỳ. Lượng dữ liệu ngày càng tăng được truyền ở tốc độ cao hơn và cao hơn trên các mạng cáp quang hoạt động ở tốc độ 1 Gbit/s, 10 Gbit/s hoặc nhiều hơn. Internet tiếp quản bối cảnh truyền thông toàn cầu gần như ngay lập tức về mặt lịch sử: nó chỉ truyền được 1% thông tin truyền qua mạng viễn thông hai chiều vào năm 1993, đã là 51% vào năm 2000 và hơn 97% thông tin được điều khiển vào năm 2007. ngày nay Internet tiếp tục phát triển, được thúc đẩy bởi lượng thông tin trực tuyến, thương mại, giải trí và mạng xã hội lớn hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, tương lai của internet toàn cầu có thể được định hình bởi sự khác biệt trong khu vực trên thế giới.

Mads Mikkelsen

Mads Dittmann Mikkelsen (sinh ngày 22 tháng 11 năm 1965) là một diễn viên người Đan Mạch. Công việc đầu tiên của ông là một vận động viên và vũ công, bắt đầu sự nghiệp diễn xuất năm 1996 và được chú ý đến lần đầu tiên qua vai diễn Tonny trong loạt phim Pusher, và vai cảnh sát Allan Fischer trong bộ phim truyền hình của Đan Mạch Rejseholdet (Unit One) (2000–2003).

Mikkelsen tiếp tục chứng tỏ khả năng đầy hứa hẹn của mình qua vai Tristan trong bộ phim King Arthur (2004) của đạo diễn Jerry Bruckheimer. Nhưng ông thực sự được khán giả thế giới biết đến khi vào vai phản diện Le Chiffre trong phần phim thứ 21 của James Bond là Casino Royale (2006).

Từ đó ông càng trở nên nổi tiếng hơn với các vai diễn Igor Stravinsky trong bộ phim của Pháp Coco Chanel & Igor Stravinsky (2008), và giành chiến thắng ở Liên hoan phim Cannes cho Giải cho nam diễn viên xuất sắc nhất qua vai diễn Lucas trong bộ phim tâm lý của Đan Mạch The Hunt vào năm 2012. Sau đó ông tiếp tục tham gia đóng vai chính Dr. Hannibal Lecter trong bộ phim truyền hình nổi tiếng Hannibal (2013–2015). Vào năm 2016, Mikkelsen vào vai Kaecilius trong bộ phim Doctor Strange của Marvel và vai Galen Erso trong bộ phim Rogue One: A Star Wars Story. Sắp tới ông sẽ góp mặt trong tựa game Death Stranding của Hideo Kojima với vai trò là diễn viên lồng tiếng.

A. O. Scott của The New York Times đã có nói rằng: "Trong thế giới của những bom tấn ở Hollywood, Mikkelsen đã trở thành một nam diễn viên đáng tin cậy sở hữu gương mặt quyến rũ. Nhưng ở quê nhà, anh ấy là một cái gì đó khác: một ngôi sao, một tiên đề, một biểu tượng hồi sinh của nền điện ảnh Đan Mạch."Mads Mikkelsen được bình chọn là người đàn ông quyến rũ nhất ở quê nhà Đan Mạch trong nhiều năm.

Simon Rattle

Sir Simon Denis Rattle OM CBE (sinh ngày 19 tháng 1 năm 1955) là một nhạc trưởng người Anh.

Ông đã nổi tiếng trên toàn thế giới trong những năm 1980 và 1990, khi đang làm Giám đốc Âm nhạc của Dàn nhạc Giao hưởng Birmingham (1980–98). Rattle là nhạc trưởng chính của Dàn nhạc Berlin Philharmonic (Berliner Philharmoniker) từ năm 2002, và có kế hoạch rời vị trí của mình vào khi kết thúc hợp đồng hiện tại của mình vào năm 2018.

Theo công bố vào tháng 3 năm 2015, Rattle sẽ trở thành Giám đốc âm nhạc của Dàn nhạc giao hưởng London từ tháng 9 năm 2017.

Là một người ủng hộ nhiệt tình của Music Education, ông cũng là người bảo trợ Dàn nhạc Giao hưởng Thành phố Birmingham (City of Birmingham Symphony Orchestra - CBSO), được sắp xếp trong nhiệm kỳ của ông với CBSO vào giữa những năm 1990. Dàn nhạc Trẻ bây giờ là dưới sự bảo trợ của các dịch vụ kinh doanh từ thiện cho Giáo dục.

Sòng bạc hoàng gia

Sòng bạc hoàng gia (tựa gốc tiếng Anh: Casino Royale) là phim điện ảnh đề tài gián điệp của vương quốc Anh công chiếu năm 2006, phần thứ 21 trong loạt phim điện ảnh James Bond của Eon Productions và bản chuyển thể màn ảnh thứ ba từ cuốn tiểu thuyết cùng tên năm 1963 của nhà văn Ian Fleming. Phim do Martin Campbell đạo diễn với phần kịch bản do đội ngũ biên kịch gồm Neal Purvis và Robert Wade cùng Paul Haggis chắp bút. Đây là phim điện ảnh đầu tiên có sự tham gia của nam diễn viên Daniel Craig trong vai điệp viên MI6 hư cấu James Bond. Tác phẩm do Eon Productions chịu trách nhiệm sản xuất cho Metro-Goldwyn-Mayer và Columbia Pictures, đánh dấu phim Bond đầu tiên do Eon hợp tác sản xuất với một xưởng phim thứ hai. Sau Die Another Day, Eon Productions quyết định khởi động lại loạt phim, cho phép họ thể hiện một nhân vật Bond ít kinh nghiệm và dễ tổn thương hơn.Sòng bạc hoàng gia lấy bối cảnh vào những năm đầu sự nghiệp của Bond ở vị trí đặc vụ 007, khi anh vừa nhận quyền được giết của mình. Nội dung phim kể về Bond trong một nhiệm vụ làm phá sản nhà tài trợ khủng bố Le Chiffre tại một giải đấu poker đánh cược lớn; Bond cũng rơi vào mối tình với Vesper Lynd, một nhân viên ngân quỹ được giao công việc cung cấp số tiền mà Bond cần cho giải đấu. Bộ phim khởi động một tiểu phần sẽ tiếp diễn trong Định mức khuây khỏa (2008).

Quá trình tuyển vai liên quan đến chiến dịch tìm kiếm mở rộng một nam diễn viên mới để kế nhiệm vai James Bond của Pierce Brosnan; lựa chọn cuối cùng là Craig được công bố vào tháng 10 năm 2005, dấy lên nhiều tranh cãi đáng chú ý. Địa điểm quay phim diễn ra tại Cộng hòa Séc, Bahamas, Ý và Anh Quốc với những cảnh dựng nội thất tại Barrandov Studios và Pinewood Studios.

Sòng bạc hoàng gia ra mắt tại Odeon Leicester Square vào ngày 14 tháng 11 năm 2006, đồng thời khởi chiếu tại Việt Nam vào ngày 29 tháng 12 năm 2006. Bộ phim nhận được đa số phản hồi tích cực với những nhận xét nhấn mạnh sự cách tân nhân vật của Craig và sự khởi đầu của phim từ ngụ ý của những phim Bond trước. Tác phẩm đã thu về 600 triệu USD toàn cầu và trở thành phim điện ảnh James Bond có doanh thu cao nhất cho đến thời điểm trước khi Tử địa Skyfall ra rạp vào năm 2012.

Sự nghiệp điện ảnh của Angelina Jolie

Angelina Jolie là nữ diễn viên và nhà làm phim người Mỹ. Khi còn nhỏ, cô tham gia bộ phim đầu tiên cùng người cha Jon Voight trong Lookin' to Get Out (1982). 11 năm sau, cô bắt đầu sự nghiệp diễn xuất với bộ phim kinh phí thấp Cyborg 2. Cô hóa thân thành một tay hacker trẻ tuổi trong phim khoa học viễn tưởng Hackers (1995), được yêu mến đông đảo sau khi phát hành trên video dù thất bại tại các phòng chiếu. Triển vọng nghề nghiệp của Jolie bắt đầu cải thiện với vai diễn trong phim truyền hình George Wallace (1997), giúp cô giành giải Quả cầu vàng cho "Nữ diễn viên phụ phim truyền hình xuất sắc nhất". Cô bứt phá trong bộ phim truyền hình Gia (1998) của HBO, vào vai nữ người mẫu thời trang Gia Carangi và thắng giải Quả cầu vàng cho "Nữ diễn viên phim truyền hình xuất sắc nhất".Vai diễn đầu tiên của Jolie năm 1999 nằm trong Pushing Tin, gặp thất bại cả về chuyên môn lẫn doanh thu; dù vậy, bộ phim kế tiếp của cô, The Bone Collector là một thành công thương mại. Trong phim chính kịch Girl, Interrupted, Jolie vào vai một bệnh nhân rối loạn nhân cách chống xã hội, giúp cô giành giải Quả cầu vàng và giải Oscar cho "Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất". Vai diễn cùng Nicolas Cage trong Gone in 60 Seconds (2000) trở thành bộ phim ăn khách nhất của cô lúc bấy giờ. Jolie nổi tiếng trên toàn cầu với vai chính cùng tên trong Lara Croft: Tomb Raider (2001), một bộ phim hành động dựa trên loạt trò chơi điện tử Tomb Raider. Dù gặp nhiều đánh giá tiêu cực, bộ phim này từng có doanh thu mở đầu xuất sắc nhất của một bộ phim về nữ anh hùng. Sau đó, cô xuất hiện trong hai bộ phim thất bại tại phòng vé—phim ly kỳ tình ái Original Sin (2001) và phim hài lãng mạn Life or Something Like It (2002). Jolie trở lại vai Lara Croft trong phim tiếp nối Lara Croft Tomb Raider: The Cradle of Life (2003).

Năm 2004, Jolie lồng tiếng trong phim hoạt hình Shark Tale và hóa thân thành một sát thủ trong phim hài hành động thành công Mr. & Mrs. Smith (2005), bên cạnh Brad Pitt. Sau đó, cô đóng vai Mariane Pearl trong phim chính kịch A Mighty Heart (2007) và lồng tiếng trong bộ phim hoạt hình máy tính Kung Fu Panda (2008). Bộ phim hành động ly kỳ Wanted (2008), nơi cô đóng vai phụ, trở thành một thành công thương mại. Vai diễn Christine Collins trong phim chính kịch Changeling (2008) giúp cô giành một đề cử giải Oscar cho "Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất". Cô lộ diện trong hai bộ phim ly kỳ đạt doanh thu cao trong năm 2010 — Salt và The Tourist. Năm 2011, cô đạo diễn bộ phim hài lãng mạn In the Land of Blood and Honey, kể về một câu chuyện tình trong bối cảnh Chiến tranh Serbia và tham gia trong phim hoạt hình tiếp nối Kung Fu Panda 2. Tác phẩm thành công nhất của Jolie tại phòng vé, tính đến năm 2014, là phim giả tưởng Maleficent (2014), thu về 758 triệu đô-la Mỹ trên toàn cầu. Cùng năm đó, cô đạo diễn Unbroken (2014), một bộ phim chính kịch chiến tranh dựa trên quyển sách cùng tên năm 2010.

Điều tra dân số Hoa Kỳ

Điều tra dân số Hoa Kỳ là một cuộc điều tra dân số mỗi 10 năm được Hiến pháp Hoa Kỳ chỉ thị. Dân số được tính mỗi 10 năm và kết quả được dùng để phân chia số ghế khu vực quốc hội, đại cử tri đoàn, và ngân quỹ cho các chương trình chính phủ. Một số tiểu bang và địa phương cũng tiến hành điều tra dân số tại khu vực.

Cuộc điều tra dân số được thực hành bởi Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ. Cuộc điều tra đầu tiên sau Cách mạng Hoa Kỳ diễn ra vào năm 1790 dưới Bộ trưởng Ngoại giao Thomas Jefferson; từ đó đến nay đã có 21 cuộc điều tra dân số. Cuộc điều tra dân số hiện nay được tiến hành vào năm 2010 và cuộc điều tra kế tiếp dự kiến sẽ tiến hành vào năm 2020. Cho những năm giữa các cuộc điều tra dân số, Cục Thống kê Dân số đưa ra các ước tính dùng các thăm dò và mô hình thống kê.

Các con số trong cuộc điều tra dân số được dựa theo số người hiện đang sinh sống trong các nhà cửa tại Hoa Kỳ. Con số này tính các công dân, thường trú nhân không phải công dân, du khách dài hạn và ngay cả các di dân bất hợp pháp. Cục Thống kê Dân số quyết định tính người nào dựa theo nơi thường trú. Nơi thường trú, một nguyên tắc trong luật Điều tra Dân số năm 1790, được định nghĩa là nơi một người nào đó sống và ngủ trong thời gian dài nhất. Cục Điều tra cũng dùng những thủ tục đặc biệt để bảo đảm những người không có nơi thường trú cũng được tính; tuy nhiên thông tin từ các hoạt động này không được xem là đáng tin cậy bằng thông tin được lấy từ các thủ tục bình thường. Việc tính những người không phải là công dân trong con số chính thức là một điều gây tranh cãi vì con số này được dùng để phân chia số ghế trong Hạ viện, và từ con số đó, số đại của tri đoàn. Các nhóm như Prison Policy Initiative cho rằng việc điều tra dân số tính số tù nhân là người thường trú trong tù thay vì dùng địa chỉ trước khi vào tù dẫn đến thông tin gây nhầm lẫn về nhân khẩu chủng tộc và dân số. Một số công dân Mỹ hiện đang sinh sống ngoài nước không được tính trong cuộc điều tra mặc dù họ có thể bầu cử được. Chỉ những người Mỹ là nhân viên của chính phủ liên bang (quân sự và dân sự) và những người phụ thuộc đang sống ở nước ngoài được tính. Công dân Hoa Kỳ đang sống ở nước ngoài không có quan hệ đến chính phủ liên bang sẽ không được tính. Điều tra nước ngoài chỉ được dụng để phân chia số ghế trong Hạ viện Hoa Kỳ.

Điện ảnh năm 2017

Điện ảnh 2017 tổng quan về các sự kiện điện ảnh, bao gồm các phim điện ảnh đạt doanh thu cao nhất, các lễ trao giải, liên hoan phim cùng danh sách các phim điện ảnh được ra mắt trong năm.

Phim đạo diễn bởi Martin Campbell
Giải Britannia của BAFTA Los Angeles
Thành tựu điện ảnh
Thành tựu đạo diễn
Cống hiến giải trí toàn cầu
Nghệ sĩ Anh Quốc của năm
Thành tựu hài kịch
Giải thưởng nhân đạo
Giải thưởng công nhận

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.