Maghreb

Vùng Maghreb (tiếng Ả Rập: المغرب العربي al-Maġrib al-ʿArabī; có nghĩa là "nơi mặt trời lặn" hay "phương tây") thường được dùng để đề cập đến các quốc gia Maroc, Algérie, TunisiaLibya. Trong tiếng Ả Rập cổ, từ Maghreb đề cập đến khu vực bao gồm dãy Atlas và đồng bằng ven Địa Trung Hải của các quốc gia trên. Về mặt lịch sử đôi khi người ta cũng tính Tây Ban Nha thuộc vùng này, đặc biệt là trong giai đoạn đất nước này bị người Hồi giáo xâm lăng và thống trị.

Ngăn cách một phần với phần còn lại của lục địa châu Phi bởi dãy núi Atlas và sa mạc Sahara, vùng Maghreb từ lâu đã là một vùng biệt lập điển hình về thời tiết, đất đai, con người, kinh tế và lịch sử với những ảnh hưởng từ Địa Trung Hải lớn hơn so với phần còn lại của châu Phi. Tuy nhiên, vùng này cũng có những liên hệ với vùng châu Phi hạ Sahara về con người, thương mại và các ảnh hưởng tôn giáo. Vùng này từng được thống nhất thành một thực thể chính trị duy nhất trong những năm đầu tiên khi người Ả Rập thống trị Bắc Phi (vào đầu thế kỷ 8) và lần thứ hai dưới sự cai trị của Almohads (11591229).

Liên đoàn Maghreb Ả Rập được thành lập vào năm 1989 để phát triển hợp tác và liên kết giữa các quốc gia Ả rập ở Bắc Phi. Những thành viên của liên đoàn này bao gồm Maroc, Algérie, Tunisia, Libya và gần đây là Mauritanie. Là ý tưởng ban đầu của Muammar al-Qaddafi để thành lập một siêu liên bang Ả Rập, tổ chức này được kỳ vọng sẽ dần xây dựng được một thị trường chung cho khu vực Bắc Phi. Bất chấp những bất ổn về kinh tế và chính trị trong vùng, đặc biệt là tại Algérie, tổ chức này đã đạt được nhiều tiến bộ với các mục tiêu chung.

Maghreb
Liên đoàn Maghreb Ả rập

Con người

Tunis
Cảnh đêm ở Tunis, thủ đô Tunisia

Phần lớn cư dân sống ở Maghreb hiện giờ tự coi mình là người Ả Rập, dù có sắc tộc và ngôn ngữ nào, nhưng cũng tồn tại những nhóm người phi Ả Rập lớn trong vùng. Nhóm người phi Ả Rập đáng chú ý nhất trong vùng, đặc biệt là ở Maroc và Algérie, là những người Berber. Những ảnh hưởng từ các nền văn minh khác cũng có tác động lớn ở Maghreb.

Ở các đô thị ven biển phía bắc, những làn sóng dân nhập cư từ châu Âu đã ảnh hưởng lớn đến dân cư ở đó, đặc biệt là những người morico và người muladi, những người theo Hồi giáo ở Tây Ban Nha phải chạy khỏi châu Âu, cùng những người Hồi giáo Ả Rập và Berber sau cuộc thanh trừng của Thiên chúa giáo. Những sắc dân châu Âu khác bao gồm Pháp, Ý và những tù binh chiến tranh của một số chủng tộc khác. Ngoài ra, còn có người Thổ Nhĩ Kỳ di cư đến đây từ thời Đế chế Ottoman. Một nhóm lớn cư dân có nguồn gốc Thổ Nhĩ Kỳ vẫn tiếp tục sinh sống ở Tunisia và Algérie đến tận ngày nay.

Về mặt lịch sử, vùng Maghreb cũng từng là nơi trú ngụ của những cộng đồng Do Thái lớn, bao gồm người Berber theo Do Thái giáo đã chống lại việc cải đạo của đa số người Berber theo Hồi giáo vào thế kỷ 7. Sau đó, những người Do Thái Sephardi từ Tây Ban Nha chốn chạy cuộc thanh trừng của Thiên chúa giáo, cũng có mặt ở vùng này, đặc biệt là tại các trung tâm thương mại lớn, góp phần vào sự đa dạng văn hóa và sắc tộc của vùng. Những ảnh hưởng từ vùng hạ Sahara xuất hiện ở vùng này do các hoạt động thương mại xuyên sa mạc Sahara, mang đến đây nô lệ và các thương gia từ vùng Sahel, vùng phía nam của Sahara.

Phía nam vùng Maghreb, gần sa mạc Sahara, còn có những sắc dân da đen, đôi khi được gọi là người Haratine. Nhóm người này có lẽ có tổ tiên là những người da đen đã cư ngụ ở Sahara vào thời kỳ sa mạc này vẫn còn chưa khô cằn như hiện nay, rồi sau đó đã di cư về phía Bắc. Ở Algérie có một thiểu số người châu Âu lớn nhất vùng. Họ di cư đến đây dưới thời thực dân Pháp. Sau khi Algérie giành độc lập, phần lớn người Pháp đã ra đi, nhưng vẫn có những người ở lại và hiện tại Pháp giữ một mối quan hệ rất gần gũi với các quốc gia vùng Maghreb.

Vùng Maghreb có chung một truyền thống văn hóa ẩm thực. Cư dân vùng này chủ yếu sử dụng các loại thức ăn từ hạt couscous như món chính trong bữa ăn của họ trong khi ở các nước Ả Rập phương Đông, gạo được sử dụng làm món chính.

Tôn giáo

Lịch sử tôn giáo vùng Maghreb bắt đầu với sự xâm nhập từ bên ngoài và sự thành lập những thuộc địa ven biển trước tiên bởi người Phoenicia, người Hy Lạp và sau đó là cuộc chinh phục và thuộc địa hóa lớn của người La Mã. Vào khoảng thế kỷ 2, khu vực này trở thành một trung tâm của người Thiên chúa giáo nói tiếng Latin khi những kẻ thực dân La Mã và các cư dân La Mã di cư đến đây tìm cách cải đạo cho người dân trong vùng sang đạo Thiên chúa. Vùng này đã sản sinh ra những nhân vật lớn như nhà văn của nhà thờ Thiên chúa giáo Tertullian (155 - 202), những Thánh tử vì đạo hoặc những nhân vật lịch sử của Thiên chúa giáo như Thánh Cyprian xứ Carthage, Righteous Monica, con trai bà, nhà triết học Augustine xứ Hippo và Thánh Julia xứ Carthage.

Ưu thế của đạo Thiên chúa kết thúc sau cuộc xâm lăng thứ nhất của người Ả Rập, mang Hồi giáo đến vùng này vào năm 647. Đế chế Carthage sụp đổ vào năm 698 và phần còn lại của vùng cũng rơi vào sự cai trị của người Hồi giáo vài thập kỷ sau đó. Quá trình Hồi giáo hóa diễn ra từ từ. Những lá thư của người Thiên chúa giáo sống trong vùng gửi về Roma cho thấy đến thế kỷ 9, Thiên chúa giáo vẫn còn hoạt động khá tích cực. Các giáo phận tiếp tục hoạt động với những mối liên hệ với Roma cho tới cuối thế kỷ đó. Vào thời Giáo hoàng Benedict VII (974983), một linh mục ở vùng này được gửi đến Roma và đã được Giáo hoàng phong là Tổng giám mục xứ Carthage. Tuy nhiên, những bằng chứng về đạo Thiên chúa giáo trong vùng dần biến mất vào thế kỷ 10.

Hồi giáo

Từ thế kỷ 7 trở đi, gần như toàn bộ cư dân trong vùng này đều theo Hồi giáo, dù vẫn còn tồn tại những cộng đồng nhỏ người Do Thái và người Thiên chúa giáo. Hầu hết người Hồi giáo ở đây theo nhánh Sunni, nhưng cũng có những nhóm nhỏ người Hồi giáo theo nhánh Ibadi. Truyền thống tôn kính các thầy tu Hồi giáo và các lăng mộ của những vị thánh rất phổ biến trong các vùng mà cư dân Berber sinh sống. Tuy nhiên, truyền thống này đã mai một dần, đặc biệt là trong thế kỷ 20. Một mạng lưới các thầy tu Hồi giáo vẫn tiếp tục đi giảng giáo lý của đạo Hồi ở các vùng nông thôn.

Lịch sử

Từ cuối Kỷ băng hà, khi sa mạc Sahara dần trở nên khô cạn, mối liên hệ giữa Maghreb và châu Phi hạ Sahara bị hạn chế dần. Cuộc xâm lăng của người Ả Rập và sự thống trị của đạo Hồi đã góp phần phát triển trở lại thương mại xuyên Sahara, vốn bị hạn chế trước đó vì chi phí cao và độ rủi ro lớn. Con đường thương mại này rất quan trọng và mang đến rất nhiều giá trị cho vùng. Những hàng hóa phổ biến nhất là muối, vàng, ngà voinô lệ, vốn sẵn có ở vùng Sahel.

Nhiều cảng biển dọc theo bờ biển Maghreb do người Phoenicia chiếm giữ. Sau sự sụp đổ của Đế chế Carthage, nhiều cảng biển chuyển sang quyền cai trị của Đế chế La Mã, đế chế kiểm soát toàn bộ vùng Maghreb ở phía bắc dãy Atlas, chỉ trừ vài phần hiểm trở như Rif ở Maroc.

Người Ả Rập đến Maghreb vào đầu thời Umayyad, nhưng sự kiểm soát lúc đầu của người Ả Rập khá lỏng lẻo, nhiều dòng Hồi giáo khác như dòng Ibadi và dòng Shia, những dòng chính của người Berber khi đó, nhanh chóng thoát ra khỏi sự kiểm soát của Caliphal nhân danh cách giải thích đạo Hồi của riêng họ. Ngôn ngữ Ả Rập chỉ trở nên phổ biến sau cuộc xâm lược của Banu Hilal vào thế kỷ 12. Trong suốt giai đoạn này, có những lúc toàn vùng Maghreb đã được thống nhất lại thành một thực thể chính trị duy nhất (dưới thời Almohads và một giai đoạn ngắn dưới thời Hafsids). Nhưng nhìn chung, toàn vùng được chia thành ba tỉnh thuộc Đế chế Ả Rập mà nay tương ứng với Maroc, miền tây Algérie, miền đông Algérie và Tunisia.

Sau thời Trung cổ, vùng phía đông Maroc dần bị kiểm soát bởi Đế chế Ottoman. Sau thế kỷ 19, vùng này trở thành thuộc địa của Pháp, Tây Ban Nha và sau đó là Ý.

Ngày nay, có gần 2,5 triệu người xuất thân từ Maghreb, đặc biệt là từ Algérie đang sống ở Pháp, cũng như có rất nhiều người Pháp có nguồn gốc Maghreb.

Những thương gia Maghreb người Do Thái

Vào thế kỷ 10, do môi trường chính trị và xã hội ở Baghdad ngày càng trở nên thù địch với người Do Thái, nhiều thương gia Do Thái đã rời Ba Tư để đến Maghreb, đặc biệt là ở Tunisia. Trong hai ba thế kỷ sau đó, một nhóm thương nhân đi lại ngang dọc Địa Trung Hải được hình thành, chủ yếu là bắt nguồn từ những người Do Thái giáo này.

Vùng Maghreb hiện đại

Maghreb thời Trung cổ

  • Ifriqiya
  • Djerid
  • Sous
  • Zab
  • Hodna
  • Rif
  • Maghreb al-Awsat (Trung Maghreb)
  • Maroc (Maghreb al-Aqsa)
  • Tamesna
  • Tripolitania
Algérie

Algérie (phiên âm tiếng Việt: An-giê-ri; tiếng Ả Rập: الجزائر Bảng ký hiệu ngữ âm quốc tế [ɛlʤɛˈzɛːʔir], tiếng Pháp: Algérie, tiếng Berber (Tamazight): Lz̦ayer [ldzæjər]), tên chính thức Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Algérie, là một nước tại Bắc Phi, và là nước lớn nhất trên lục địa Châu Phi (Sudan lớn hơn nhưng chia làm 2 nước Sudan và Nam Sudan). Nước này có chung biên giới với Tunisie ở phía đông bắc, Libye ở phía đông, Niger phía đông nam, Mali và Mauritanie phía tây nam, và Maroc cũng như một vài kilômét lãnh thổ phụ thuộc, Tây Sahara, ở phía tây. Theo hiến pháp, nước này được xác định là một quốc gia Hồi giáo, Ả Rập và Amazigh (Berber). Tên gọi "Algérie" xuất phát từ tên thành phố Algers, và chính thức từ al-jazā’ir trong tiếng Ả Rập, có nghĩa là "hòn đảo", để chỉ bốn hòn đảo nằm ngoài khơi thành phố này trước khi chúng trở thành một phần lục địa năm 1525. Nhưng có lẽ chính xác nhất từ "Algiers" xuất phát từ Ziriya Bani Mazghana (được các nhà địa lý thời trung cổ như al-Idrisi và Yaqut al-Hamawi sử dụng) để chỉ người sáng lập ra nó vua Ziri Amazigh (thành phố của Ziri Amazigh), người thành lập thành phố Algiers thời trung cổ. Không may thay, để dấu nguồn gốc Amazigh của cái tên Algérie đi ngược lại với chính sách quốc gia Ả Rập của các chính phủ Algérie, nguồn gốc Amazigh này không được công nhận.

Bắc Phi

Bắc Phi là khu vực cực Bắc của lục địa châu Phi, ngăn cách với khu vực châu Phi hạ Sahara bởi sa mạc Sahara. Về mặt địa lý, định nghĩa của Liên hiệp quốc về Bắc Phi bao gồm bảy khu vực:

Tunisia

Algérie

Ai Cập

Libya

Maroc

Sudan

Tây SaharaNhững vùng đất thuộc chủ quyền Tây Ban Nha (plazas de soberanía) nằm ở phía nam Địa Trung Hải và được bao bọc bởi Maroc trên đất liền. Quần đảo Canary thuộc Tây Ban Nha và quần đảo Madeira thuộc Bồ Đào Nha nằm ở phía bắc Đại Tây Dương và tây bắc của lục địa châu Phi đôi khi cũng được tính là thuộc vùng này. Về mặt địa lý, Mauritanie và Açores đôi khi cũng được tính là thuộc Bắc Phi.

Khu vực Maghreb bao gồm Tây Sahara, Maroc, Algérie và Libya. Bắc Phi thường được tính trong những định nghĩa phổ thông là cũng thuộc Trung Đông, vì hai vùng Bắc Phi và Trung Đông tạo nên thế giới Ả Rập. Ngoài ra, bán đảo Sinai thuộc Ai Cập nằm ở châu Á, khiến Ai Cập trở thành một quốc gia liên châu lục. Khu vực tranh chấp Tây Sahara hiện thuộc quyền kiểm soát về hành chính của Maroc; nhưng tổ chức ly khai Polisario Front cũng tuyên bố chủ quyền ở khu vực này và đấu tranh để tách vùng Tây Sahara khỏi Maroc.

Drimia maritima

Drimia maritima là một loài thực vật có hoa trong họ Măng tây. Loài này được (L.) Stearn mô tả khoa học đầu tiên năm 1978.

Dãy núi Atlas

Dãy núi Atlas (tiếng Berber: idurar n Watlas, tiếng Ả Rập: جبال الأطلس) là một dãy núi ven biển tây bắc châu Phi kéo dài khoảng 2.500 km (1.500 dặm) qua Maroc, Algérie, và Tunisia. Đỉnh cao nhất là ngọn núi Toubkal, với độ cao 4.167 mét (13.671 ft) so với mặt nước biển ở phía tây nam Maroc. Dãy núi Atlas phân cách đường bờ biển Địa Trung Hải và Đại Tây Dương với sa mạc Sahara. Dân cư vùng núi Atlas chủ yếu là người Berber. Từ "núi" trong một số ngôn ngữ Berber là Adrar và adras, được cho là nguồn gốc tên của địa danh này.

Những ngọn núi ở đây là nhà của một số loài thực vật và động vật duy nhất ở châu Phi, rất nhiều trong số đó là nguy cơ tuyệt chủng và một số đã tuyệt chủng.

Kỵ sĩ bóng đêm

Kỵ sĩ bóng đêm1 (tựa gốc tiếng Anh: The Dark Knight) là phim điện ảnh siêu anh hùng năm 2008 do Christopher Nolan đạo diễn kiêm nhà đồng sản xuất và nhà đồng biên kịch. Dựa trên nhân vật truyện tranh Batman của DC Comics, tác phẩm là phần thứ hai trong loạt phim điện ảnh bộ ba The Dark Knight của Nolan cũng như phần tiếp nối của Batman Begins năm 2005. Phim có sự tham gia của dàn diễn viên như Christian Bale, Michael Caine, Heath Ledger, Gary Oldman, Aaron Eckhart, Maggie Gyllenhaal và Morgan Freeman. Trong Kỵ sĩ bóng đêm, Bruce Wayne / Batman (Bale), James Gordon (Oldman) và công tố viên quận Harvey Dent (Eckhart) tạo thành một liên minh chống tội phạm có tổ chức ở Thành phố Gotham nhưng bộ ba bị đe dọa bởi một kẻ chủ mưu vô chính phủ có biệt danh Joker (Ledger), khi hắn tìm cách phá hoại ảnh hưởng của Batman và khiến thành phố trở nên hỗn loạn.

Cảm hứng làm phim của Nolan đến từ các cuốn truyện tranh về Joker ra mắt năm 1940, cuốn graphic novel (một thể loại tiểu thuyết được viết và vẽ theo kiểu truyện tranh) The Killing Joke và loạt truyện The Long Halloween kể về nguồn gốc của Two-Face. Biệt hiệu "Dark Knight" (Kỵ sĩ bóng đêm) lần đầu được dùng để chỉ nhân vật Batman trong Batman #1 (1940), trong một truyện ngắn của tác giả Bill Finger. Kỵ sĩ bóng đêm được quay chính ở Chicago cũng như tại một số địa điểm khác ở Anh Quốc, Hoa Kỳ và Hồng Kông. Nolan đã sử dụng máy quay 70 mm IMAX để ghi hình một số phân cảnh, bao gồm cả cảnh xuất hiện đầu tiên của Joker trong phim. Lúc đầu hãng Warner Bros. từng tạo ra một chiến dịch tiếp thị lan truyền cho Kỵ sĩ bóng đêm thông qua việc phát triển các website quảng bá và những tấm ảnh chụp màn hình nổi bật trong các đoạn trailer về vai Joker của Ledger. Ledger qua đời vào ngày 22 tháng 1 năm 2008 chỉ vài tháng sau khi phim đóng máy và sáu tháng trước khi phim chiếu rạp vì bị sốc thuốc do dùng thuốc quá liều, dẫn đến rất nhiều sự chú ý từ giới báo chí và khán giả yêu điện ảnh.

Kỵ sĩ bóng đêm là một thành phẩm hợp tác sản xuất giữa Anh Quốc và Hoa Kỳ. Tác phẩm được công chiếu tại Hoa Kỳ vào ngày 18 tháng 7 năm 2008 và tại Anh Quốc vào ngày 25 tháng 7 năm 2008; phim cũng từng khởi chiếu tại Việt Nam vào ngày 29 tháng 8 năm 2008. Các nhà phê bình điện ảnh coi đây là một trong những tác phẩm điện ảnh hay nhất thập niên 2000 và một trong những phim siêu anh hùng hay nhất mọi thời đại; phim nhận đa số đánh giá tích cực, đặc biệt là về phân cảnh hành động, nhạc nền, kịch bản, diễn xuất (đặc biệt của Ledger), hiệu ứng hình ảnh và chỉ đạo, qua đó thiết lập nhiều kỷ lục trong thời gian công chiếu. Kỵ sĩ bóng đêm xuất hiện trong danh sách tốp 10 của 287 nhà phê bình, nhiều hơn bất kì bộ phim nào khác trong năm 2008 ngoại trừ WALL·E; nhiều nhà phê bình (77) đã chọn Kỵ sĩ bóng đêm là phim điện ảnh hay nhất phát hành trong năm đó. Với doanh thu hơn 1 tỷ USD trên toàn cầu, tác phẩm trở thành phim điện ảnh có doanh thu cao nhất năm 2008 và phim điện ảnh có doanh thu cao thứ 36 mọi thời đại nếu không tính lạm phát (đứng thứ 4 tại thời điểm phát hành); phim còn thiết lập kỷ lục phim điện ảnh có doanh thu mở màn cao nhất với 158 triệu USD và nắm giữ kỷ lục này trong ba năm. Kỵ sĩ bóng đêm đã nhận tám đề cử Oscar, trong đó giành giải biên tập âm thanh xuất sắc nhất và Ledger được trao giải nam diễn viên phụ xuất sắc nhất sau khi qua đời. Kỵ sĩ bóng đêm trỗi dậy, phần cuối trong loạt phim ra mắt vào ngày 20 tháng 7 năm 2012.

Laayoune

Laayoune (tiếng Ả Rập Maghreb: لعيون Al-ʿAyyūn/El-Aiun, Laʕyūn; tiếng Tây Ban Nha: El Aaiún; tiếng Pháp: Laâyoune; Berber: ⵍⵄⵢⵓⵏ, Leɛyun; tiếng Ả Rập văn học: العيون al-ʿuyūn, nghĩa là "Những con suối") là thành phố lớn nhất trong lãnh thổ tranh chấp Tây Sahara. Thành phố được thành lập bởi Antonio de Oro, một thực dân Tây Ban Nha, vào năm 1938. Năm 1940, Tây Ban Nha chọn nơi đây làm thủ phủ của Sahara thuộc Tây Ban Nha. Laâyoune (El-Aaiún) là thủ phủ của vùng Laâyoune-Sakia El Hamra quản lý bởi Maroc dưới sự giám sát của lực lượng giữ hòa bình Liên Hiệp Quốc ở Tây Sahara (MINURSO).

Liên minh Ả Rập Maghreb

Liên minh Ả Rập Maghreb (tiếng Ả Rập: اتحاد المغرب ‎; chuyển tự Latinh: Ittihad al-Maghrib al-Araby) là một hiệp định thương mại nhằm thúc đẩy liên minh về kinh tế, chính trị giữa các nước Maghreb.

Ngay từ năm 1956, khi Tunisia và Maroc giành được độc lập, ý tưởng thành lập một liên minh như thế này đã được nêu ra. Nhưng phải đợi đến năm 1988, khi Hội nghị cấp cao Maghreb lần thứ nhất được tổ chức thì ý tưởng này mới trở thành chủ trương chính thức. Ngay năm sau, một hiệp định đã được Algérie, Libya, Mauritanie, Maroc, và Tunisia chính thức ký kết. Ngày 12 tháng 12 năm 1994, Ai Cập chính thức đệ đơn xin gia nhập Liên minh.

Liên minh đề ra các mục tiêu giảm và bỏ thuế quan và hàng rào phi thuế quan, thành lập khu vực thương mại tự do. Mục tiêu cuối cùng của hiệp định là tự do di chuyển hàng hóa và con người giữa các nước thành viên, thành lập một cộng đồng kinh tế giống như Cộng đồng châu Âu.

Liên minh rộng 5.782.140 km2, có 84.185.073 dân. Tổng sản phẩm nội địa toàn khối là 491,276 tỷ dollar Mỹ, bình quân đầu người là 5.836 dollar. Trụ sở của tổ chức này đặt tại Rabat (Maroc). Ngôn ngữ làm việc là tiếng Ả Rập. Liên minh Ả Rập Maghreb là một trụ cột chính của Cộng đồng Kinh tế châu Phi.

Lịch Berber

Lịch Berber là loại niên lịch được người Berber ở Bắc Phi sử dụng. Lịch này còn được biết đến trong tiếng Ả Rập dưới tên gọi فلاحي fellāḥī "nông nghiệp" hay عجمي ajamī "phi Ả Rập". Nó được dùng để điều chỉnh các công việc nông nghiệp có tính thời vụ theo mùa.

Tên gọi các tháng trong lịch Berber hiện đại có nguồn gốc từ lịch Julius cổ đại hoặc từ lịch Gregory.

Macaca sylvanus

Macaca sylvanus là một loài động vật có vú trong họ Cercopithecidae, bộ Linh trưởng. Loài này được Linnaeus mô tả năm 1758.

Đây là loài Macaca duy nhất có phạm vi phân bố ngoài châu Á và với dấu vết đuôi của chúng. Loài này được tìm thấy tại dãy núi Atlas ở Algeria và Morocco cùng với một dân số nhỏ mà đã được du nhập từ Morocco đến Gibraltar, khỉ Barbary là một trong những loài khỉ Cựu thế giới nổi bật nhất.

Maroc

Maroc (phiên âm tiếng Việt: Ma Rốc; Tiếng Ả Rập: المَغرِب; tiếng Berber Maroc chuẩn: ⵍⵎⵖⵔⵉⴱ; chuyển tự: Lmeɣrib), tên chính thức Vương quốc Maroc (Tiếng Ả Rập: المملكة المغربية; chuyển tự: al-Mamlakah al-Maghribiyah; tiếng Berber Maroc chuẩn: ⵜⴰⴳⵍⴷⵉⵜ ⵏ ⵍⵎⵖⵔⵉⴱ; chuyển tự: Tageldit n Lmaɣrib), là một quốc gia tại miền Bắc Phi.

Quốc gia này nằm ở tây bắc châu Phi, Maroc có biên giới quốc tế với Algérie về phía đông, đối diện với Tây Ban Nha qua eo biển Gibraltar, khoảng cách 13 km và biên giới đất liền với hai thành phố tự trị của Tây Ban Nha là Ceuta và Melilla. Maroc giáp Địa Trung Hải và Đại Tây Dương về phía bắc và đông và giáp Mauritanie về phía nam.

Maroc là quốc gia châu Phi duy nhất hiện không là thành viên của Liên minh châu Phi nhưng lại là thành viên của Liên đoàn Ả Rập, Liên minh Maghreb Ả Rập, Cộng đồng Pháp ngữ, Tổ chức Hội nghị Hồi giáo, nhóm Đối thoại Địa Trung Hải,Nhóm 77 và là đồng minh lớn (không thuộc NATO) của Mỹ.

Trong vòng 44 năm, từ năm 1912 đến năm 1956, Maroc là xứ bảo hộ của Pháp và Tây Ban Nha. Người dân Maroc chủ yếu là người Ả Rập và người Berber hoặc người lai hai dân tộc này. Tiếng Ả Rập và Berber là ngôn ngữ chính thức. Tiếng Pháp cũng được nói ở các thành phố. Nền kinh tế Maroc chủ yếu dựa vào nông nghiệp nhưng hai ngành du lịch và công nghiệp cũng đóng vai trò quan trọng. Maroc là một nước quân chủ lập hiến, nhà vua là nguyên thủ quốc gia, thủ tướng là người đứng đầu chính phủ. Rabat là thủ đô của Maroc, còn Casablanca là thành phố lớn nhất quốc gia này.

Mauritanie

Mauritanie (tiếng Việt: Mô-ri-ta-ni; tiếng Ả Rập: موريتانيا‎ Mūrītāniyā; tiếng Wolof: Gànnaar; tiếng Soninke: Murutaane; tiếng Pular: Moritani; tiếng Pháp: Mauritanie, tiếng Anh: Mauritania), có tên chính thức là Cộng hòa Hồi giáo Mauritanie, là một đất nước nằm ở Tây Phi. Đất nước này giáp với Đại Tây Dương về hướng Tây, giáp với Sénégal về phía tây nam, với Mali ở hướng đông và đông nam, với Algérie ở hướng đông bắc, và với Maroc cùng khu vực Tây Sahara ở hướng tây bắc. Tên của quốc gia này được đặt theo tên tỉnh Mauretania của La Mã cổ đại, ngay cả khi đất nước Mauritanie hiện tại hoàn toàn cách biệt về phía tây nam so với lãnh thổ cũ. Thủ đô và thành phố lớn nhất của nước này Nouakchott, nằm bên bờ Đại Tây Dương.

Chính phủ dân sự của Mauritanie bị lật đổ vào ngày 6 tháng 8 năm 2008, trong một cuộc đảo chính quân sự thực hiện bởi Tướng Mohamed Ould Abdel Aziz. Ngày 16 tháng 8 năm 2009, General Aziz đã rời chức vụ trong quân đội để tham gia vào cuộc bầu cử tổng thống diễn ra vào ngày 19 tháng 7, sau đó ông đã thắng cử.

Khoảng 20% dân số Mauritanie sống dưới mức 1,25 USD một ngày.

Người Berber

Berber là người bản địa Bắc Phi sống ở phía tây thung lũng sông Nile. Họ sống phân bố từ Đại Tây Dương với ốc đảo Siwa, ở Ai Cập, và từ Địa Trung Hải đến sông Niger. Trong lịch sử họ nói những ngôn ngữ Berber, những ngôn ngữ này cùng hình thành nên một nhánh của ngữ hệ Phi-Á. Ngày tiếng tiếng Ả Rập là ngôn ngữ phổ biến của người Berber, cùng với tiếng Darija, cũng như tiếng Pháp (ở Maroc, Tunisia và Algérie) và một số tiếng Tây Ban Nha (ở Tây Sahara và các phần của Maroc), do quá trình thực dân của châu Âu ở Maghreb. Ngày nay hầu hết người dân nói tiếng Berber sống ở Maroc, Algérie, Libya, Mali và Niger.Nhiều người Berber tự gọi mình là một số biến thể của từ Imazighen (số ít: Amazigh), có nghĩa là "người tự do" hay "người đàn ông tự do và quý tộc".

Người Berber cổ đại nổi tiếng nhất là vua Masinissa của Numidia, tác giả La Mã Apuleius, Augustine thành Hippo, và tướng lĩnh La Mã Lusius Quietus, người đã có công trong việc đánh bại các cuộc nổi dậy lớn của người Do Thái năm 115-117. Người Berber nổi tiếng thời Trung Cổ có Tariq ibn Ziyad, một vị tướng đã chinh phục Hispania; Abbas Ibn Firnas, một nhà phát minh và nhà tiên phong trong ngành hàng không; Ibn Battuta, một nhà thám hiểm thời trung cổ; và Estevanico, một nhà thám hiểm châu Mỹ. Người Berber nổi tiếng thời hiện đại có Zinedine Zidane, một ngôi sao bóng đá quốc tế người Pháp, và Ibrahim Afellay, một cầu thủ bóng đá sinh ở Hà Lan.

Ngữ tộc Berber

Ngữ tộc Berber hay ngữ tộc Amazigh (tên Berber: ⵜⴰⵎⴰⵣⵉⵖⵜ, Tamaziɣt, Tamazight, phát âm [tæmæˈzɪɣt] hay [θæmæˈzɪɣθ]) là một nhóm gồm các ngôn ngữ và phương ngữ liên quan chặt chẽ đến nhau, nguồn gốc tại Bắc Phi.

Ngôn ngữ Berber có một lượng người nói lớn ở Algérie và Maroc, và một lượng người nói nhỏ hơn tại Libya, Tunisia, bắc Mali, bắc Niger, bắc Burkina Faso, Mauritanie, và ở ốc đảo Siwa thuộc Ai Cập. Ngoài ra, còn có những cộng đồng người nhập cư nói ngôn ngữ Berber tại châu Âu. Năm 2001, Berber trở thành ngôn ngữ quốc gia của Algérie, và năm 2011, trở thành ngôn ngữ chính thức của Maroc. Năm 2016, nó được công nhận là ngôn ngữ chính thức của Algérie, sau nhiều năm bị xem nhẹ.Ngữ tộc Berber là một nhánh của ngữ hệ Phi-Á, đã được ghi nhận từ thời kỳ cổ đại. Số người Berber cao hơn nhiều so với số người nói ngôn ngữ Berber. Phần lớn người dân vùng Maghreb có tổ tiên Berber. Ví dụ như tại Algérie, đa phần dân cư là người Berber bị Ả Rập hóa.Có một phong trào nhằm chuẩn hóa các ngôn ngữ Bắc Berber thành một ngôn ngữ chuẩn. Cái tên Tamazight, ban đầu là tên của vùng Atlas và Rif, nay thường được dùng để chỉ thứ tiếng Berber chuẩn hóa này, hay thậm chí cả nhóm Berber, gồm cả Tuareg-Berber.

Orchis

Orchis là một chi thuộc họ Lan (Orchidaceae), sinh sống chủ yếu ở châu Âu và Maghreb, nhưng cũng vương xa tới tận Tây Tạng, Mông Cổ, và Tân Cương (Trung Quốc). Tên chi xuất phát từ tiếng Hy Lạp ὄρχις orchis, nghĩa là "tinh hoàn".

Quercus coccifera

Quercus coccifera là một loài thực vật có hoa trong họ Cử. Loài này được Carl von Linné miêu tả khoa học đầu tiên năm 1753.

Quercus robur

Quercus robur (đồng nghĩa Q. pedunculata) là một loài sồi bản địa phần lớn châu Âu và đến Anatolia và Kavkaz, và một số khu vực Bắc Mỹ. "Quercus robur" là cây lớn rụng lá, với chu vi của thân cây lớn từ 4–12 m. "Q. robur" có lá thùy và gần như không cuống, dài 7–14 cm. Hoa nở vào giữa mùa xuân, trái chín vào mùa thu tiếp theo. Quả đầu dài 2-2,5 cm.

Sơn tra thông thường

Sơn tra thông thường (Crataegus monogyna) là loài thực vật có hoa trong họ Hoa hồng. Loài này được Jacq. mô tả khoa học đầu tiên năm 1775.

Trận chiến nước Pháp

Trận chiến nước Pháp (tiếng Pháp: Bataille de France), hay Chiến dịch phía tây (tiếng Đức:Westfeldzug) theo cách gọi của người Đức, là một chiến dịch tấn công chiến lược của Quân đội Đức Quốc xã vào Pháp, Hà Lan, Bỉ, Luxembourg trong Chiến tranh thế giới thứ hai, bắt đầu ngày 10 tháng 5 năm 1940, đánh dấu kết thúc Cuộc chiến tranh kỳ quặc và chiến sự chính thức bùng nổ tại Tây Âu.

Cuộc chiến này bao gồm hai diễn biến chính. Đầu tiên, theo Kế Hoạch Vàng (Fall Gelb), với một chiến lược táo bạo, mũi tấn công mồi của Quân đội Đức Quốc xã vào Vùng Đất Thấp thu hút chủ lực Đồng Minh, tạo bất ngờ cho mũi tấn công chính băng qua khu rừng Ardennes. Được tổ chức theo phương thức Blitzkrieg, ngay sau khi đột phá phòng tuyến sông Meuse của Quân đội Pháp ở Sedan, lực lượng thiết giáp Đức đã thọc sâu tốc độ cao về eo biển Manche, cô lập chủ lực Đồng Minh ở phía bắc. Thắng lợi ở Dunkirk, tuy không hoàn toàn vì để Lực lượng Viễn chinh Anh kịp sơ tán trong Chiến dịch Dynamo, nhưng cũng đủ mang tính quyết định, tạo điều kiện để đánh quỵ hoàn toàn Quân đội Pháp trong các hoạt động quân sự tiếp theo. Trong giai đoạn Kế Hoạch Đỏ (Fall Rot), quân Đức bọc đánh phòng tuyến Maginot, tiến sâu xuống phía nam, kéo theo Ý nhảy vào tuyên chiến với Pháp ngày 10 tháng 6, cũng trong ngày này Chính phủ Pháp tháo chạy về Bordeaux. Paris thất thủ ngày 14 tháng 6 và từ đó dẫn tới sự khủng hoảng trong chính phủ Pháp. Ngày 17 tháng 6, Thống chế Philippe Pétain thành lập chính phủ mới và tuyên bố Pháp đề nghị đình chiến. Đến ngày 22 tháng 6 năm 1940, 6 tuần lễ sau khi chiến dịch bắt đầu, hiệp định đình chiến giữa Pháp và Đức được ký kết tại Compiègne, và có hiệu lực từ ngày 25 tháng 6, đánh dấu sự đầu hàng của nước Pháp.

Chiến dịch này là một trong những thắng lợi ngoạn mục nhất trong toàn cuộc chiến của phe Trục. Về cơ bản Đức đã đánh quỵ được nước Pháp, đối thủ chính của mình trong giai đoạn này. Chiến thắng nhanh chóng ở Pháp đã đem lại cho Đức ưu thế chiến lược to lớn, một mặt có được bàn đạp cho hoạt động trên không và trên biển chống lại Anh, một mặt khác rảnh tay chuẩn bị cho mặt trận phía đông chống Liên Xô.

Nước Pháp bị chia cắt thành khu vực chiếm đóng của Đức ở miền Bắc và Tây, một khu vực chiếm đóng nhỏ của Ý ở Đông Nam và một vùng tự do ở phía nam do Chính phủ bù nhìn Vichy quản lý. Đến tháng 11 năm 1942, cả vùng tự do cũng bị chiếm đóng và toàn bộ nước Pháp nằm dưới sự thống trị của phe phát xít cho đến khi Đồng Minh đổ bộ lên Normandie năm 1944.

Tây Sahara

Tây Sahara (tiếng Ả Rập: الصحراء الغربية‎‎ aṣ-Ṣaḥrā’ al-Gharbīyah, Berber: Taneẓroft Tutrimt, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Pháp: Sahara Occidental) là một vùng lãnh thổ tranh chấp thuộc vùng Maghreb của Bắc Phi, ven Đại Tây Dương và giáp với Maroc, Algérie và Mauritanie. Diện tích của Tây Sahara là 266 nghìn km². Dân số ước lượng vào năm 2007 là 382,617 người, dân cư chủ yếu là nhóm người thuộc dân tộc Arập và Berber. Tôn giáo chủ yếu và của đa phần dân số là Hồi giáo và một số tôn giáo khác. Đất đai phần lớn lãnh thổ là địa hình sa mạc, thuộc phía tây của hoang mạc Sahara, mật độ dân cư khá thưa thớt. Thành phố lớn nhất là El Aaiún, chiếm một nửa dân số trong toàn vùng này.

Tây Sahara nằm trong Danh sách những lãnh thổ không tự chủ của Liên Hiệp Quốc từ những năm 1960 khi nó còn là thuộc địa của Tây Ban Nha. Hiện tại đây là vùng đất tranh chấp giữa Vương quốc Maroc, vốn kiểm soát phần lớn Tây Sahara và tuyên bố chủ quyền trên toàn lãnh thổ này; và Mặt trận Politsario, hiện thời kiểm soát 20% lãnh thổ, đòi giành độc lập dưới tên nhà nước Cộng hoà Dân chủ Ả Rập Xarauy. Maroc gọi vùng đất này là Các tỉnh phía Nam hay Sahara thuộc Maroc.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.