Le Chiffre

Le Chiffre (tiếng Pháp: [lə ʃifʁ], biệt hiệu "The Cypher" hoặc "The Number") là một nhân vật hư cấu xuất hiện trong cuốn tiểu thuyết đầu tiên về James Bond của Ian Fleming mang tên Casino Royale (1953). Trên màn ảnh, Le Chiffre lần lượt được thủ vai bởi Peter Lorre trong bản chuyển thể truyền hình năm 1954 cho sê-ri truyền hình Climax! của CBS, bởi Orson Welles trong bản giả mạo năm 1967 từ nguyên tác và loạt phim điện ảnh Bond; và bởi Mads Mikkelsen trong bản điện ảnh năm 2006 chuyển thể từ tiểu thuyết của Fleming. Fleming sáng tác nhân vật dựa trên nhà huyền bí học Aleister Crowley.

Le Chiffre
Nhân vật trong James Bond
250px
Mads Mikkelsen vai Le Chiffre trong bản phim điện ảnh 2006 Sòng bạc hoàng gia
Sáng tạo bởiIan Fleming
Minh họa bởi
Thông tin
Giới tínhNam
Nghề nghiệpNgười phát lương cho tổ chức Syndicat des Ouvriers d'Alsace (tiểu thuyết)
Nhà tài trợ khủng bố (phim)
Liên kết
  • SMERSH (tiểu thuyết)
  • Spectre
  • Quantum[1] (phim 2006)
Quốc tịchAlbani

Những lần xuất hiện

Phim của Eon

Sản phẩm không thuộc Eon

  • "Casino Royale" (một bản chuyển thể truyền hình của CBS mang tên Climax! năm 1954)
  • Casino Royale (một bản phim chiếu rạp của Columbia Pictures ra mắt năm 1967)

Tay sai trong bản điện ảnh 2006

  • Alex Dimitrios - bị Bond dùng con dao của chính y đâm chết
  • Carlos Nikolic - bị Bond tráo đổi thiết bị đánh bom dẫn đến tự sát
  • Mollaka - bị Bond bắn
  • Leo - bị bắt
  • Bobbie
  • Jochum
  • Kratt - bị Mr. White bắn
  • Valenka - bị Mr. White bắn
  • Tướng Grafin von Wallenstein
  • Madame Wu
  • Sheriff Tomelli
  • Lionel
  • Ison

Xem thêm

  1. ^ Breznican, Anthony (4 tháng 4 năm 2008). “James Bond series takes a 'Quantum' leap”. USA Today (McLean, Virginia: Gannett Company). Truy cập 4 tháng 4 năm 2018.
Casino Royale (tiểu thuyết)

Casino Royale là cuốn tiểu thuyết đầu tay của văn sĩ người Anh Ian Fleming. Xuất bản vào năm 1953, đây là cuốn đầu tiên trong loạt sách James Bond, qua đó mở đường cho 11 cuốn tiểu thuyết và hai tập truyện ngắn của Fleming sau này, kế tiếp đó là nhiều tiểu thuyết Bond tiếp nối của các văn sĩ khác.

Cốt truyện liên quan đặc vụ mật người Anh James Bond chơi bài tại sòng bạc ở Royale-les-Eaux với mục đích làm phá sản Le Chiffre, thủ quỹ một hiệp hội của Pháp kiêm thành viên trong cơ quan mật vụ Nga. Bond được hỗ trợ bởi các cộng sự đắc lực như Vesper Lynd, thành viên trong tổ chức của anh, Felix Leiter của CIA và René Mathis từ cơ quan mật vụ Pháp Deuxième Bureau. Fleming đã sử dụng kinh nghiệm thời chiến của mình khi còn nằm trong Phân khu tình báo hải quân và những người ông gặp trong lúc công tác để làm chất liệu bổ sung cho cốt truyện; tính cách của Bond cũng phản ánh nhiều sở thích cá nhân của Fleming. Fleming viết bản nháp vào đầu năm 1952 tại dinh thự riêng Goldeneye ở Jamaica trong lúc chờ kết hôn. Ban đầu ông còn băn khoăn liệu cuốn sách có phù hợp để xuất bản hay không, nhưng sau đó được động viên bởi tiểu thuyết gia William Plomer, một người bạn của Fleming khi ông này cam đoan về tiềm năng của tác phẩm.

Kể từ khi ấn phẩm Casino Royale xuất hiện dưới dạng comic strip trên The Daily Express, tác phẩm đã được chuyển thể lên màn ảnh ba lần: một tập phim năm 1954 trong sê-ri truyền hình Climax! của CBS với diễn viên Barry Nelson vào vai Bond bản Mỹ, một bản điện ảnh năm 1967 với David Niven thủ vai "Sir James Bond" và gần đây nhất là một bản điện ảnh năm 2006 trong loạt phim điện ảnh của Eon Productions với tài tử Daniel Craig hóa thân vào vai James Bond.

Jean Cocteau

Jean Maurice Eugène Clément Cocteau (tiếng Pháp: [ʒɑ̃ kɔkto]; 5.7.1889 – 11.10.1963) là nhà thơ, tiểu thuyết gia, nhà thiết kế, người viết kịch bản, nghệ sĩ, đạo diễn phim người Pháp và là viện sĩ Viện hàn lâm Pháp. Cocteau nổi tiếng về quyển tiểu thuyết Les Enfants Terribles (1929), cùng các phim Le sang d’un poète (1930), Les Parents Terribles (1948), La belle et la bête (1946) và Orphée (1949). Giới cộng tác viên, người yêu và bạn bè thân cận của ông gồm có Kenneth Anger, Pablo Picasso, Jean Hugo, Jean Marais, Henri Bernstein, Yul Brynner, Marlene Dietrich, Coco Chanel, Erik Satie, Igor Stravinsky, María Félix, Édith Piaf, Panama Al Brown và Raymond Radiguet.

Mads Mikkelsen

Mads Dittmann Mikkelsen (sinh ngày 22 tháng 11 năm 1965) là một diễn viên người Đan Mạch. Công việc đầu tiên của ông là một vận động viên và vũ công, bắt đầu sự nghiệp diễn xuất năm 1996 và được chú ý đến lần đầu tiên qua vai diễn Tonny trong loạt phim Pusher, và vai cảnh sát Allan Fischer trong bộ phim truyền hình của Đan Mạch Rejseholdet (Unit One) (2000–2003).

Mikkelsen tiếp tục chứng tỏ khả năng đầy hứa hẹn của mình qua vai Tristan trong bộ phim King Arthur (2004) của đạo diễn Jerry Bruckheimer. Nhưng ông thực sự được khán giả thế giới biết đến khi vào vai phản diện Le Chiffre trong phần phim thứ 21 của James Bond là Casino Royale (2006).

Từ đó ông càng trở nên nổi tiếng hơn với các vai diễn Igor Stravinsky trong bộ phim của Pháp Coco Chanel & Igor Stravinsky (2008), và giành chiến thắng ở Liên hoan phim Cannes cho Giải cho nam diễn viên xuất sắc nhất qua vai diễn Lucas trong bộ phim tâm lý của Đan Mạch The Hunt vào năm 2012. Sau đó ông tiếp tục tham gia đóng vai chính Dr. Hannibal Lecter trong bộ phim truyền hình nổi tiếng Hannibal (2013–2015). Vào năm 2016, Mikkelsen vào vai Kaecilius trong bộ phim Doctor Strange của Marvel và vai Galen Erso trong bộ phim Rogue One: A Star Wars Story. Sắp tới ông sẽ góp mặt trong tựa game Death Stranding của Hideo Kojima với vai trò là diễn viên lồng tiếng.

A. O. Scott của The New York Times đã có nói rằng: "Trong thế giới của những bom tấn ở Hollywood, Mikkelsen đã trở thành một nam diễn viên đáng tin cậy sở hữu gương mặt quyến rũ. Nhưng ở quê nhà, anh ấy là một cái gì đó khác: một ngôi sao, một tiên đề, một biểu tượng hồi sinh của nền điện ảnh Đan Mạch."Mads Mikkelsen được bình chọn là người đàn ông quyến rũ nhất ở quê nhà Đan Mạch trong nhiều năm.

Magrie

Magrie là một xã của Pháp, nằm ở tỉnh Aude trong vùng Occitanie.

Người dân địa phương trong tiếng Pháp gọi là Magriains.

Sòng bạc hoàng gia

Sòng bạc hoàng gia (tựa gốc tiếng Anh: Casino Royale) là phim điện ảnh đề tài gián điệp của vương quốc Anh công chiếu năm 2006, phần thứ 21 trong loạt phim điện ảnh James Bond của Eon Productions và bản chuyển thể màn ảnh thứ ba từ cuốn tiểu thuyết cùng tên năm 1963 của nhà văn Ian Fleming. Phim do Martin Campbell đạo diễn với phần kịch bản do đội ngũ biên kịch gồm Neal Purvis và Robert Wade cùng Paul Haggis chắp bút. Đây là phim điện ảnh đầu tiên có sự tham gia của nam diễn viên Daniel Craig trong vai điệp viên MI6 hư cấu James Bond. Tác phẩm do Eon Productions chịu trách nhiệm sản xuất cho Metro-Goldwyn-Mayer và Columbia Pictures, đánh dấu phim Bond đầu tiên do Eon hợp tác sản xuất với một xưởng phim thứ hai. Sau Die Another Day, Eon Productions quyết định khởi động lại loạt phim, cho phép họ thể hiện một nhân vật Bond ít kinh nghiệm và dễ tổn thương hơn.Sòng bạc hoàng gia lấy bối cảnh vào những năm đầu sự nghiệp của Bond ở vị trí đặc vụ 007, khi anh vừa nhận quyền được giết của mình. Nội dung phim kể về Bond trong một nhiệm vụ làm phá sản nhà tài trợ khủng bố Le Chiffre tại một giải đấu poker đánh cược lớn; Bond cũng rơi vào mối tình với Vesper Lynd, một nhân viên ngân quỹ được giao công việc cung cấp số tiền mà Bond cần cho giải đấu. Bộ phim khởi động một tiểu phần sẽ tiếp diễn trong Định mức khuây khỏa (2008).

Quá trình tuyển vai liên quan đến chiến dịch tìm kiếm mở rộng một nam diễn viên mới để kế nhiệm vai James Bond của Pierce Brosnan; lựa chọn cuối cùng là Craig được công bố vào tháng 10 năm 2005, dấy lên nhiều tranh cãi đáng chú ý. Địa điểm quay phim diễn ra tại Cộng hòa Séc, Bahamas, Ý và Anh Quốc với những cảnh dựng nội thất tại Barrandov Studios và Pinewood Studios.

Sòng bạc hoàng gia ra mắt tại Odeon Leicester Square vào ngày 14 tháng 11 năm 2006, đồng thời khởi chiếu tại Việt Nam vào ngày 29 tháng 12 năm 2006. Bộ phim nhận được đa số phản hồi tích cực với những nhận xét nhấn mạnh sự cách tân nhân vật của Craig và sự khởi đầu của phim từ ngụ ý của những phim Bond trước. Tác phẩm đã thu về 600 triệu USD toàn cầu và trở thành phim điện ảnh James Bond có doanh thu cao nhất cho đến thời điểm trước khi Tử địa Skyfall ra rạp vào năm 2012.

T-90

T-90 là một trong những loại xe tăng chiến đấu chủ lực hiện đại nhất của quân đội Nga. Nó được sản xuất với số lượng ít vào năm 1993 và chính thức phục vụ trong quân đội Nga năm 1995, dựa trên kiểu mẫu đầu tiên được gọi là Obyekt 188. T-90 nguyên thủy là một phiên bản hiện đại hóa sâu của T-72B, được tích hợp nhiều đặc tính thiết kể của T-80. Ban đầu được đặt tên là "T-72B nâng cấp" (Т-72Б усовершенствованный), viết tắt T-72BU nhưng đến năm 1992 được đặt lại tên mã là T-90.

Từ năm 2001 đến 2010, theo thống kê của Nga thì T-90 là loại xe tăng chủ lực được bán chạy nhất thế giới. Tuy nhiên, từ cuối năm 2011, quân đội Nga đã ngưng đặt hàng T-90 để chuyển sang mua loại xe tăng hiện đại hơn là T-14 Armata, trong khi các công nghệ trên T-90 được Nga áp dụng để hiện đại hóa hàng ngàn xe tăng T-72 của họ bởi như vậy tiết kiệm chi phí hơn.

T-90 là loại xe tăng đầu tiên trên thế giới được trang bị hệ thống bảo vệ 5 lớp: lớp 1 là hệ thống ngụy trang "Nakidka" để làm giảm khả năng bị đối phương phát hiện bởi ống nhòm, radar hoặc tín hiệu hồng ngoại; lớp thứ 2 là hệ thống phòng thủ chủ động quang điện gây nhiễu Shtora-1 để chống lại các tên lửa dẫn đường bằng laser, hồng ngoại cũng như gây rối các hệ thống hiển thị mục tiêu; lớp thứ 3 là hệ thống phòng thủ chủ động ARENA chuyên đánh chặn các loại đạn chống tăng trước khi chúng lao vào xe, lớp thứ 4 là giáp phản ứng nổ gắn ngoài, và lớp thứ 5 là vỏ giáp được kết hợp giữa thép độ bền cao và vật liệu tổng hợp (composite). Cho tới khi T-14 Armata ra đời, T-90 được coi là mẫu xe tăng có khả năng phòng vệ tốt nhất thế giới. Hệ thống chống mìn bằng xung điện EMT-7 cũng được thử nghiệm trên T-90 nhưng nó chưa được gắn đại trà vào các T-90 đang hoạt động.

Theo xếp hạng của trang web quân sự Military Today (Hoa Kỳ) về top 10 loại xe tăng tốt nhất trên thế giới năm 2015, T-90 xếp ở vị trí thứ 10 trong khi một dòng xe tăng khác của Nga là Armata xếp thứ 5 còn M1A2 Abrams của Mỹ xếp thứ 3 (tuy nhiên nhiều yếu tố như khả năng thực sự của vỏ giáp được các nước giữ bí mật nên xếp hạng này chỉ dựa theo các thông số được công bố rộng rãi). Theo trang web China.org.cn vào năm 2012, T-90 xếp ở vị trí thứ 10 trong số những loại xe tăng mạnh nhất thế giới thời điểm đó, đứng sau cả loại Type-96 và Type-99 của Trung Quốc cũng như M1A2 SEP của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, theo National Interest (Hoa Kỳ), những bảng xếp hạng kiểu này cần xác định lại sau khi lần lượt T-90, M1 Abrams, Leopard 2 trải qua thực chiến tại Trung Đông, tại đó hàng loạt M1 và Leopard 2 bị tên lửa chống tăng bắn cháy trong khi T-90 thì lại có những màn thể hiện khả năng chống đạn rất ấn tượng, và theo đó thì T-90 được National Interest xếp vào top 5 xe tăng hiện đại nhất năm 2016 Một số lượng lớn xe tăng M1 Abrams của Mỹ đã bị tên lửa chống tăng lỗi thời bắn cháy tại chiến trường Trung Đông, cho thấy những điểm yếu rất lớn của Abrams trong cuộc chiến tranh phi đối xứng, điều đó buộc quân đội Iraq phải chuyển sang mua T-90 Cũng có ý kiến cho rằng lí do Iraq chuyển sang mua T-90 không hẳn là vì nó có thông số trên lý thuyết mạnh hơn xe tăng của Mỹ, mà bởi hiệu suất toàn diện của T-90 đã tỏ ra vượt trội hơn trong thực tế chiến đấu (động cơ phù hợp với môi trường sa mạc, dễ bảo trì hơn, chống tên lửa tốt hơn, có cả hệ thống bảo vệ chủ động và thụ động trong khi giá lại rẻ hơn một nửa).

Ngoài Nga, T-90 còn được sử dụng bởi quân đội các nước Ấn Độ, Việt Nam, Iraq, Algérie, UAE, Kuwait và Azerbaijan.

Nhân vật
Âm nhạc
Ăn theo
Liên quan

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.