Lễ Phục Sinh

Lễ Phục Sinh thường được xem là một trong những ngày lễ quan trọng nhất trong năm của người theo Kitô giáo. Thường diễn ra vào tháng 3 hoặc tháng 4 mỗi năm để tưởng niệm sự kiện chếtphục sinh của Giê-su từ cõi chết sau khi bị đóng đinh trên thập tự giá. Được người Kitô hữu tin là đã xảy ra vào khoảng năm 30 đến năm 33. Phục Sinh cũng được dùng để chỉ một mùa trong năm phụng vụ Công giáo gọi là Mùa Phục Sinh, kéo dài đúng 50 ngày, từ Chúa Nhật Phục Sinh đến Lễ Hiện Xuống.

Lễ Phục sinh dựa nhiều vào nguồn gốc lễ Vượt qua của Do Thái giáo. Người Kitô hữu tin rằng cái chết và Sự phục sinh của Giêsu đã hoàn thành những gì mà biến cố Xuất Hành đã tiên báo: giải phóng con người khỏi tội lỗi và đưa họ vào cuộc sống do Thiên Chúa trao ban.

Việc mừng Giêsu sống lại vẫn được cử hành vào mỗi ngày Chủ Nhật. Tân Ước không có đoạn nào nói về lễ Phục sinh của Kitô giáo nhưng có nói về sự Phục Sinh của Jesus. Điều này chỉ xuất hiện vào thế kỷ thứ II. Các Giáo hội Đông phương thuộc miền Tiểu Á như Ephesus (Êphêxô), Smyrne... (từ chuyên môn Latinh gọi nhóm này là Quartodecimans = thứ 14) theo sát với truyền thống Do Thái giáo, và họ mừng lễ Phục sinh theo ngày 14 tháng Nisan, cho dù ngày này rơi vào một ngày trong tuần chứ không bắt buộc phải là ngày Chủ nhật. Họ tưởng niệm ngày Giêsu chịu chết.

Ngược lại Giáo hội Tây phương tại Rôma, Palestine, Ai cập, Hy Lạp và xứ Gaule (Pháp) lại mừng lễ Phục sinh vào ngày Chủ nhật vì tin rằng Giêsu sống lại ngày Chủ nhật. Ngày Chủ nhật này có thể rơi vào ngày 14 Nisan của Do Thái, hay là Chủ nhật kế tiếp nếu như ngày 14 Nisan không là một ngày Chủ nhật. Một tuần lễ trước lễ Phục Sinh, được gọi là Tuần Thánh, tính từ ngày Chúa nhật Lễ Lá (hay Chúa nhật Thương Khó) cho đến hết ngày Thứ bảy Tuần Thánh (hay Canh thức Vượt Qua).

Victory over the Grave
Tranh "Victory over the Grave" (Chiến thắng sự chết), của Bernhard Plockhorst, thế kỷ 19

Bối cảnh

5part-icon.jpeg
Tranh vẽ biểu tượng của chính thống giáo Nga mô tả câu chuyện Phục Sinh.

Giêsu cùng các môn đồ lên thành Jerusalem vào dịp Lễ Vượt Qua (Passover), ông vào Đền thờ Jerusalem và được người dân đón tiếp bằng lá cây lót đường và vẫy mừng (nay gọi là Chúa nhật Lễ Lá). Vào ngày thứ năm (nay là ngày Thứ năm Tuần Thánh), Giêsu thực hiện nghi thức rửa chân các môn đồ và dùng bữa ăn cuối cùng (Tiệc Ly) với các môn đồ. Buổi tối hôm đó, Giêsu bị bắt giữ theo lệnh của Toà Công luận (Sanhedrin) bởi viên Thượng tế Joseph Caiaphas. Trong bóng đêm của khu vườn Getsemani ở ngoại ô Jerusalem, lính La Mã nhận diện Giêsu nhờ cái hôn của Judas Iscariot, một môn đồ đã phản ông để nhận được tiền thưởng.

Tòa công luận cáo buộc Giêsu tội phạm thượng và giao ông cho các quan chức Đế quốc La Mã để xin y án tử hình, không phải vì tội phạm thượng nhưng vì cáo buộc xúi giục nổi loạn. Dưới áp lực của giới lãnh đạo tôn giáo Do Thái, Tổng đốc Pontius Pilate (Philatô) miễn cưỡng ra lệnh đóng đinh Giêsu vào ngày thứ sáu (nay là lễ Thứ sáu Tuần Thánh). Tuy nhiên, theo các sách Phúc Âm, một tấm bảng có hàng chữ viết tắt INRI (của câu: "Giêsu người Nazareth, vua dân Do Thái") được treo trên thập tự giá theo lệnh của Pilate. Giêsu bị buộc phải tự vác thập tự giá lên đồi Golgotha, nơi ông bị đóng đinh và chết.

Các Kitô hữu tin rằng Giêsu sống lại vào ngày chủ nhật, ba ngày sau khi chết trên thập tự giá. Các phụ nữ, trong số đó có bà Maria Magdalena đến thăm nhà mồ nhưng chỉ thấy ngôi mộ trống rỗng. Sự kiện này được đề cập đến theo thuật ngữ Kitô giáo là Sự phục sinh của Giêsu, được cử hành hằng năm vào ngày Lễ Phục sinh. Các sách Phúc Âm và Công vụ đều ghi nhận rằng Giêsu đã gặp lại các môn đệ tại các nơi chốn khác nhau trong suốt bốn mươi ngày sau khi sống lại, và sau đó về trời (nay là Lễ Thăng Thiên). Ngày thứ 50 kể từ sau sự kiện Phục sinh, Chúa Thánh Thần hiện xuống với các tông đồ và loan báo tin mừng, theo Tân Ước, ngày này cũng được xem là ngày khai sinh ra Giáo hội.

Ngày của lễ Phục Sinh

Ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 2000–2020

2000: 23 tháng 4 (Tây phương); 30 tháng 4 (Đông phương)
2001: 15 tháng 4
2002: 31 tháng 3 (Tây phương); 5 tháng 5 (Đông phương)
2003: 20 tháng 4 (Tây phương); 27 tháng 4 (Đông phương)
2004: 11 tháng 4
2005: 27 tháng 3 (Tây phương); 1 tháng 5 (Đông phương)
2006: 16 tháng 4 (Tây phương); 23 tháng 4 (Đông phương)
2007: 8 tháng 4
2008: 23 tháng 3 (Tây phương); 27 tháng 4 (Đông phương)
2009: 12 tháng 4 (Tây phương); 19 tháng 4 (Đông phương)
2010: 4 tháng 4
2011: 24 tháng 4
2012: 8 tháng 4 (Tây phương); 15 tháng 4 (Đông phương)
2013: 31 tháng 3 (Tây phương); 5 tháng 5 (Đông phương)
2014: 20 tháng 4
2015: 5 tháng 4 (Tây phương); 12 tháng 4 (Đông phương)
2016: 27 tháng 3 (Tây phương); 1 tháng 5 (Đông phương)
2017: 16 tháng 4
2018: 1 tháng 4 (Tây phương); 8 tháng 4 (Đông phương)
2019: 21 tháng 4 (Tây phương); 28 tháng 4 (Đông phương)
2020: 12 tháng 4 (Tây phương); 19 tháng 4 (Đông phương)

Trong Kitô giáo Tây phương, ngày lễ Phục Sinh luôn luôn rơi vào một Chủ nhật giữa 22 tháng 325 tháng 4. Ngày kế tiếp, Thứ hai, được công nhận là ngày nghỉ lễ chính thức của hầu hết các quốc gia có truyền thống Kitô giáo, nhưng không được quy định tại Hoa Kỳ, ngoại trừ trước kia ở một số tiểu bang, tất cả đã được bãi bỏ từ thập niên 1980.

Lễ Phục Sinh và các ngày nghỉ liên hệ tới nó là những ngày lễ di động, tức chúng không rơi vào một ngày cố định trong lịch Gregory hay lịch Julius (là những lịch dựa theo sự vận hành của mặt trời và mùa). Thay vào đó nó dựa trên lịch Mặt Trăng tương tự – nhưng không giống hệt – lịch Do Thái. Ngày chính xác của lễ Phục Sinh thường vẫn còn là đề tài tranh luận.

Vào Công đồng Nicaea thứ nhất năm 325, lễ Phục Sinh được quyết định tổ chức vào cùng một chủ nhật trên toàn giáo hội, nhưng có lẽ chưa có phương pháp nào được chỉ định bởi Công đồng (không may là hiện không tìm thấy nguyên văn các quyết định của Công đồng). Thay vào đó, việc chọn ngày dường như tham khảo từ giáo hội ở Alexandria, một thành phố nổi danh về sự thông thái vào lúc đó. Thành phố này tổ chức lễ Phục Sinh vào chủ nhật đầu tiên sau ngày thứ 14 đầu tiên của tháng âm lịch xảy ra vào hoặc sau 21 tháng 3. Trong suốt thời Trung Cổ, cách tính này được diễn đạt ngắn gọn là Lễ Phục Sinh xảy ra vào chủ nhật đầu tiên sau ngày trăng tròn đầu tiên vào hoặc sau ngày xuân phân. Giáo hội Công giáo Rôma dùng cách riêng để tính ngày Phục Sinh cho đến thế kỉ 6, sau đó có lẽ họ chuyển sang phương pháp Alexandria khi đổi sang lịch Julius bởi Dionysius Exiguus (không có bằng chứng rõ ràng về việc này cho đến thế kỉ 9). Hầu hết giáo hội trên các đảo Anh dùng phương pháp Rôma cuối thế kỉ 3 cho đến khi họ áp dụng cách tính Alexandria vào Công đồng Whitby năm 664. Các giáo hội trên lục địa châu Âu ở phía tây dùng cách tính Rôma đến cuối thế kỉ 8 trong triều đại Charlemagne, và cuối cùng họ cũng chuyển sang dùng phương pháp Alexandria. Vì các giáo hội Tây phương hiện nay dùng lịch Gregory để tính ngày, còn các giáo hội Chính thống Đông phương dùng lịch Julius, nên ngày lễ Phục Sinh của họ thường không trùng nhau.

Tại hội nghị thượng đỉnh ở Aleppo, Syria năm 1997, Hội đồng các giáo hội thế giới đề nghị cải cách phương pháp tính ngày lễ Phục Sinh dựa trên các tính toán theo quan sát thiên văn trực tiếp; điều này giúp loại bỏ khác biệt giữa các giáo hội Tây phương và Đông phương. Cải cách này được đề nghị áp dụng từ năm 2001, nhưng cuối cùng nó không được các thành viên sử dụng.

Vị trí trong năm phụng vụ

Ecce lignum Crucis, lời kinh tiếng Latinh thường đọc vào Thứ Sáu Tuần Thánh để vinh danh Thánh giá và sự hy sinh của Chúa Kitô

Việc mừng Giêsu sống lại vẫn được cử hành vào mỗi ngày Chủ Nhật. Tân Ước có nói về sự phục sinh của Giêsu nhưng không có đoạn nào nói về kỷ niệm ngày lễ Phục sinh của Kitô giáo. Điều này chỉ xuất hiện vào thế kỷ thứ hai. Các Giáo hội Đông phương thuộc miền Tiểu Á như Ephesus (Êphêxô), Smyrne... (từ chuyên môn Latinh gọi nhóm này là Quartodecimans = thứ 14) theo sát với truyền thống Do Thái giáo, và họ mừng lễ Phục sinh theo ngày 14 tháng Nisan, cho dù ngày này rơi vào một ngày trong tuần chứ không bắt buộc phải là ngày Chủ nhật. Họ tưởng niệm ngày Giêsu chịu chết.

Ngược lại Giáo hội Tây phương tại Rôma, ở Palestine, Ai Cập, Hy Lạp và xứ Gaule (Pháp) lại mừng lễ Phục sinh vào ngày Chủ nhật vì tin rằng Giêsu sống lại ngày Chủ nhật. Ngày Chủ nhật này có thể rơi vào ngày 14 Nisan của Do thái, hay là Chủ nhật kế tiếp nếu như ngày 14 Nisan không là một ngày Chủ nhật.

Cuộc tranh cãi về việc mừng lễ Phục sinh chứng giám việc cử hành phụng vụ đa dạng tại các vùng khác nhau và nêu lên sự hiểu biết khác biệt về lễ Phục sinh. Khi mừng lễ Phục sinh vào ngày 14 Nisan, các giáo hội Đông phương cũng mừng Giêsu chết và sống lại, nhưng họ đánh dấu trọng tâm vào cái chết của ông, trong khi đó bên Tây Phương nhấn mạnh vào sự sống lại của ông.

Cuộc tranh luận suýt gây ra đổ vỡ giữa hai bên. Vào năm 192, Giáo hoàng Victor I quyết định ra vạ tuyệt thông các Giáo hội miền Tiểu Á. Thánh Irênê can thiệp ôn hoà và giáo hoàng này đã rút lại vạ tuyệt thông.

Tại Công đồng Nicêa năm 325 do hoàng đế Constantin triệu tập, các Giáo hội Kitô giáo đồng ý tách biệt lễ Vượt qua Do Thái giáo và lễ Phục sinh Kitô giáo. Các nghị phụ chấp thuận mừng lễ Phục sinh vào ngày Chúa nhật tiếp theo tuần trăng tròn (14 Nisan) sau ngày xuân phân.

Kitô giáo Tây phương

Cristo yacente Gregorio Fernandez
Tượng Giêsu nằm trong nhà mồ, của Gregorio Fernández, thế kỷ 17 (lưu trữ tại Tu viện San Joaquín y Santa Ana, Valladolid)
Rottenhammer Resurrection of Christ
Sự Phục sinh, tranh vẽ của Hans Rottenhammer, thế kỷ 16

Trong Kitô giáo Tây phương, lễ Phục Sinh đánh dấu việc kết thúc 40 ngày chay tịnh – giai đoạn ăn kiêng và sám hối để chuẩn bị cho lễ Phục Sinh bắt đầu vào Thứ tư Lễ Tro và chấm dứt vào khuya Thứ bảy Tuần Thánh.

Tuần trước ngày Phục Sinh là tuần rất đặc biệt trong truyền thống Kitô giáo gọi là Tuần Thánh: Chủ Nhật trước đó là Chúa nhật Lễ Lá, và ba ngày cuối cùng trước ngày Phục Sinh gọi là Tam Nhật Thánh, bao gồm: Thứ năm Tuần Thánh (Thứ năm Rửa Chân), Thứ sáu Tuần Thánh (Thứ sáu Tốt Lành) và Thứ bảy Tuần Thánh (Thứ bảy Yên Tĩnh). Chúa nhật Lễ Lá, Thứ năm Tuần Thánh và Thứ sáu Tuần Thánh tập chú và việc tưởng nhớ đến các sự kiện Chúa Giêsu vào thành Jerusalem, bữa Tiệc Ly và Chúa Giêsu bị đóng đinh trên thập tự giá. Thứ sáu Tuần Thánh, Thứ bảy Tuần Thánh và Chúa nhật Phục Sinh đôi khi được gọi là Tam Nhật Phục Sinh (hay Tam Nhật Vượt Qua). Ở một số nước, lễ Phục Sinh kéo dài 2 ngày, với ngày thứ hai gọi là "Thứ hai Phục Sinh". Nhiều giáo hội bắt đầu lễ Phục Sinh vào cuối buổi tối ngày Thứ bảy Tuần Thánh với lễ Vọng Phục Sinh hay Canh thức Vượt Qua.

Mùa Phục Sinh bắt đầu từ Chúa Nhật Phục Sinh và kéo dài đến lễ Hiện xuống vào 50 ngày sau đó. Trong Kitô giáo Tây phương, ngày lễ Phục Sinh tất cả rơi vào một Chủ nhật giữa 22 tháng 3 và 25 tháng 4. Ngày kế tiếp, thứ Hai, được công nhận là ngày nghỉ lễ chính thức của hầu hết các quốc gia có truyền thống Kitô giáo, nhưng không được quy định tại Hoa Kỳ, ngoại trừ trước kia ở một số tiểu bang, tất cả đã được bãi bỏ từ những năm 1980. Lễ Phục Sinh và các ngày nghỉ liên hệ tới nó là những ngày lễ di động, tức là chúng không rơi vào một ngày cố định trong lịch Gregorian hay lịch Julian (là những lịch dựa theo sự vận hành của mặt trời và mùa). Thay vào đó nó dựa trên lịch Mặt Trăng tương tự — nhưng không giống hệt — lịch Do Thái. Ngày chính xác của lễ Phục Sinh thường vẫn còn là đề tài tranh luận.Vào Công đồng Nicaea thứ nhất năm 325, lễ Phục Sinh được quyết định tổ chức vào cùng một Chủ nhật trên toàn giáo hội, nhưng có lẽ chưa có phương pháp nào được chỉ định bởi Công đồng (không may là hiện không tìm thấy nguyên văn các quyết định của Công đồng). Thay vào đó, việc chọn ngày dường như tham khảo từ giáo hội ở Alexandria, một thành phố nổi danh về sự thông thái vào lúc đó. Thành phố này tổ chức lễ Phục Sinh vào Chủ nhật đầu tiên sau ngày thứ 14 đầu tiên của tháng âm lịch xảy ra vào hoặc sau 21 tháng 3. Trong suốt thời Trung Cổ, cách tính này được diễn đạt ngắn gọn là Lễ Phục Sinh xảy ra vào Chủ nhật đầu tiên sau ngày trăng tròn đầu tiên vào hoặc sau ngày xuân phân. Giáo hội Công giáo Rome dùng cách riêng để tính ngày Phục Sinh cho đến thế kỉ 6, sau đó có lẽ họ chuyển sang phương pháp Alexandria khi đổi sang lịch Julius bởi Dionysius Exiguus (không có bằng chứng rõ ràng về việc này cho đến thế kỉ 9). Hầu hết giáo hội trên các đảo Anh dùng phương pháp Rome cuối thế kỉ 3 cho đến khi họ áp dụng cách tính Alexandria vào Công đồng Whitby năm 664. Các giáo hội trên lục địa châu Âu ở phía Tây dùng cách tính Rôma đến cuối thế kỉ 8 trong triều đại Charlemagne, và cuối cùng họ cũng chuyển sang dùng phương pháp Alexandria. Vì các giáo hội Tây phương hiện nay dùng lịch Gregory để tính ngày, còn các giáo hội Chính thống Đông phương dùng lịch Julius, nên ngày lễ Phục Sinh của họ thường không trùng nhau.

Tại hội nghị thượng đỉnh ở Aleppo, Syria năm 1997, Hội đồng các giáo hội thế giới đề nghị cải cách phương pháp tính ngày lễ Phục Sinh dựa trên các tính toán theo quan sát thiên văn trực tiếp; điều này giúp loại bỏ khác biệt giữa các giáo hội Tây phương và Đông phương. Cải cách này được đề nghị áp dụng từ năm 2001, nhưng cuối cùng nó không được các thành viên sử dụng.Ngoài những truyền thống tôn giáo có liên quan đến hoạt động kỷ niệm sự phục sinh của chúa Jesus, người theo Kitô giáo còn có truyền thống trao nhau những quả trứng Phục sinh, thường được làm từ chocolate. Trứng là biểu tượng từ xưa về sự sinh sản. Có một truyền thống là vào buổi sáng lễ Hiện xuống (một phần của lễ Phục sinh), người ta thức dậy sớm để ngắm mặt trời lên và dùng bữa trưa đặc biệt, như tổ chức một chuyến dã ngoại cho cả gia đình.

Kitô giáo Đông phương

Russian Resurrection icon
Biểu tượng Phục Sinh của Chúa Giêsu Kitô của Giáo hội Chính thống Nga vào thế kỉ 16

Trong Kitô giáo Đông phương, sự chuẩn bị bắt đầu với mùa Đại Chay. Theo sau chủ nhật thứ năm của mùa Đại Chay là Tuần Lá, kết thúc vào Thứ Bảy Lazarus. Thứ Bảy Lazarus chính thức bế mạc mùa Đại Chay, mặc dù việc ăn kiêng vẫn tiếp tục cho tuần kế tiếp đó. Sau Thứ Bảy Lazarus đến Chúa Nhật Lá, Tuần Thánh và cuối cùng là lễ Phục Sinh hay lễ Vượt Qua (Pascha, Πασχα), và việc ăn kiêng chấm dứt ngay sau Phụng Vụ Thánh (Divine Liturgy). Lễ Phục Sinh theo ngay sau Tuần Sáng (Bright Week), không ăn kiêng trong tuần này kể cả thứ tư và thứ sáu.

Phụng Vụ Thánh Vượt Qua nói chung diễn ra vào khoảng nửa đêm, vào sáng sớm của ngày Vượt Qua. Việc đặt Phụng Vụ Thánh Vượt Qua vào nửa đêm bảo đảm rằng không có Phụng Vụ Thánh khác vào buổi sáng, khiến lễ này trở thành "Lễ của mọi lễ" trong năm phụng vụ.

Phong tục và lễ nghi

Karfreitag cannstatt
Phục dựng Đàng Thánh Giá và Cuộc thương khó của Giêsu tại Stuttgart, Đức năm 2004
Maundy Thursday 07 washing feet diocese St Asaph
Một giám mục thực hiện nghi thức rửa chân vào ngày Thứ năm Tuần Thánh

Một tuần lễ trước lễ Phục Sinh, được gọi là Tuần Thánh, tính từ ngày Chúa nhật Lễ Lá (hay Chúa nhật Thương Khó) cho đến hết ngày Thứ bảy Tuần Thánh (hay Canh thức Vượt Qua). Trong tuần này, các giáo hội Kitô giáo tưởng nhớ Cuộc thương khó của Giêsu Kitô, cử hành những mầu nhiệm mà Chúa Giêsu đã hoàn tất vào những ngày cuối cùng ở trần gian. Đối với Kitô hữu, mọi cử hành phụng vụ trong tuần này đều nói lên thái độ đau buồn, nhưng với tâm tình biết ơn vì Chúa đã thương trở nên con người để chịu đau khổ và chịu chết cho nhân loại tội lỗi.

Tại nhiều quốc gia Tây Phương, Lễ Phục Sinh bao gồm chủ nhật và thứ hai là ngày nghỉ lễ chính thức. Tại châu Âu, như tại Đức, thêm ngày thứ Sáu Tuần Thánh cũng là ngày nghỉ lễ chính thức, vào ngày này, những nơi vui chơi, rạp hát, tiệm buôn đều đóng cửa để tưởng niệm Cuộc thương khó của Giêsu.

Nhiều Kitô hữu hành hương đến Via Dolorosa tại Thành cổ Jerusalem để thăm lại con đường khổ nạn mà Giêsu đã vác thánh giá đến đồi Sọ.

Tại Việt Nam ở các giáo xứ có đông giáo dân là người gốc miền Bắc thường có các nghi thức ngắm nguyện 15 sự thương khó của Chúa. Ngoài ra, nhiều giáo xứ còn diễn nguyện lại cuộc khổ nạn của Chúa.Vào ngày thứ bảy tuần Thánh còn có nghi thức hôn chân Chúa

Vào ngày chủ nhật Phục sinh, các giáo hoàng thường chúc phép lành Urbi et Orbi từ ban-công chính của vương cung thánh đường Thánh Phêrô.

Trứng Phục Sinh và thỏ

Easter eggs - straw decoration
Trứng Phục sinh tại Cộng hòa Séc

Theo một phong tục cổ từ những người Ai Cập, Ba Tư (Perse) vào ngày Xuân phân (21/03), bắt đầu một năm mới, bạn bè thường trao đổi cho nhau các quả trứng có tô điểm màu sắc, vì coi đó như là điều tốt lành, vì từ trứng xuất hiện lên sự sống.

Trứng Phục Sinh (như là Pysanky) chào mừng các ngày lễ Phục Sinh thường được trang trí đặc biệt. Phong tục cổ của quả trứng Phục Sinh có thể đã bắt đầu trong cộng đồng Kitô hữu tại vùng Lưỡng Hà (Iraq, đông Syria, đông nam Thổ Nhĩ Kỳ, và tây nam Iran), trứng được nhuộm đỏ để tưởng niệm máu của Chúa Kitô đã đổ ra lúc bị đóng đinh.[1] Trong các truyền thống sau đó, trứng cũng là một biểu tượng của ngôi mộ trống.[2][3] Tại Bulgaria, Hy Lạp, Nga, Serbia và Thụy Điển, trứng luộc được sơn màu đỏ như một biểu tượng của cuộc sống mới đã được ban tặng bởi sự hy sinh của Chúa Kitô. Truyền thống lâu đời nhất là sử dụng trứng gà nhuộm, nhưng hiện đại thường là được thay thế bằng trứng làm từ sô cô la hoặc trứng nhựa plastic chứa đầy kẹo.

Barack Obama at White House Easter Egg Roll 4-13-09 2
Tổng thống Obama cổ vũ những em nhỏ chơi lăn trứng tại sân cỏ Nhà Trắng năm 2009

Nhiều người Mỹ đã theo truyền thống và tô màu lên trứng luộc chín và tặng những giỏ kẹo. Các Thỏ Phục Sinh là một huyền thoại phổ biến của một nhân vật tặng quà Phục Sinh, tương tự như Santa Claus (ông già Nô-en) trong văn hóa Mỹ. Vào ngày Thứ Hai Phục Sinh, Tổng thống Hoa Kỳ thường tổ chức một cuộc chơi đua lăn trứng Phục sinh (Easter Egg Roll, thường là dùng gậy hay là muỗng dài chuyển trứng, phong tục này đã có trên 400 năm) hàng năm trên bãi cỏ Nhà Trắng cho trẻ nhỏ.[4]

Xem thêm

Tham khảo

Phương tiện liên quan tới Easter tại Wikimedia Commons

  1. ^ Donahoe's Magazine, Volume 5. T.B. Noonan. 1881. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2014. The early Christians of Mesopotamia had the custom of dyeing and decorating eggs at Easter. They were stained red, in memory of the blood of Christ, shed at His crucifixion. The Church adopted the custom, and regarded the eggs as the emblem of the resurrection, as is evinced by the benediction of Pope Paul V., about 1610, which reads thus: "Bless, O Lord! we beseech thee, this thy creature of eggs, that it may become a wholesome sustenance to thy faithful servants, eating it in thankfulness to thee on account of the resurrection of the Lord." Thus the custom has come down from ages lost in antiquity.)
  2. ^ The Guardian, Volume 29. H. Harbaugh. 1878. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2012. Just so, on that first Easter morning, Jesus came to life and walked out of the tomb, and left it, as it were, an empty shell. Just so, too, when the Christian dies, the body is left in the grave, an empty shell, but the soul takes wings and flies away to be with God. Thus you see that though an egg seems to be as dead as a sone, yet it really has life in it; and also it is like Christ's dead body, which was raised to life again. This is the reason we use eggs on Easter. (In olden times they used to color the eggs red, so as to show the kind of death by which Christ died,-a bloody death.)
  3. ^ Gordon Geddes, Jane Griffiths (ngày 22 tháng 1 năm 2002). Christian belief and practice. Heinemann. ISBN 9780435306915. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2012. Red eggs are given to Orthodox Christians after the Easter Liturgy. They crack their eggs against each other's. The cracking of the eggs symbolizes a wish to break away from the bonds of sin and misery and enter the new life issuing from Christ's resurrection.
  4. ^ “Easter Egg Roll”. The White House. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2014.
Tuần Thánh trước Lễ Phục Sinh

Chúa nhật Lễ Lá | Thứ hai Tuần Thánh | Thứ ba Tuần Thánh | Thứ tư Tuần Thánh
Thứ năm Tuần Thánh | Thứ sáu Tuần Thánh | Thứ bảy Tuần Thánh

Ngày hôm trước
Thứ bảy Tuần Thánh
(Canh thức Vượt Qua)


Những ngày lễ Công giáo
Chúa Nhật Phục Sinh
Emblem of the Papacy SE.svg
Ngày hôm sau
Thứ Hai trong Tuần Bát Nhật Phục sinh

25 tháng 4

Ngày 25 tháng 4 là ngày thứ 115 trong mỗi năm dương lịch thường (ngày thứ 116 trong mỗi năm nhuận). Còn 250 ngày nữa trong năm.

Cộng hòa Séc

Séc (tiếng Séc: Česko), tên chính thức là Cộng hòa Séc (tiếng Séc: Česká republika, phát âm ), là một quốc gia thuộc khu vực Trung Âu và là nước không giáp biển. Cộng hòa Séc giáp Ba Lan về phía bắc, giáp Đức về phía tây, giáp Áo về phía nam và giáp Slovakia về phía đông. Thủ đô và thành phố lớn nhất của quốc gia là Praha, với hơn 1,3 triệu dân cư ngụ tại đây. Cộng hòa Séc là một quốc gia đa đảng theo chế độ cộng hòa đại nghị. Tổng thống là người đứng đầu nhà nước, còn thủ tướng là người đứng đầu chính phủ. Quốc hội có hai viện gồm thượng viện và hạ viện. Cộng hòa Séc đã gia nhập NATO vào năm 1999 và trở thành thành viên của Liên minh châu Âu từ năm 2004. Ngày 21 tháng 12 năm 2007, Cộng hòa Séc đã thông qua Hiệp ước Schengen, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại và du lịch vào nước này. Ngoài ra, Cộng hòa Séc hiện nay cũng là thành viên của các tổ chức OECD, OSCE, Ủy hội châu Âu và Nhóm Visegrád.

Lãnh thổ Cộng hòa Séc, ngày nay bao gồm các vùng đất đã từng tồn tại trong lịch sử là Bohemia, Morava và một phần Silesia. Séc trở thành một bộ phận của Đế quốc Áo và Đế quốc Áo-Hung trong nhiều thế kỉ cho đến năm 1918, khi Séc cùng với Slovakia tuyên bố thành lập nước Tiệp Khắc. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Tiệp Khắc bị phát xít Đức chiếm đóng. Sau đó, nước này trở thành một quốc gia xã hội chủ nghĩa cho đến năm 1989 khi cuộc Cách mạng Nhung yên bình diễn ra, đưa đất nước trở về tiến trình dân chủ. Ngày 1 tháng 1 năm 1993, một cuộc ly khai ôn hòa đã diễn ra, Tiệp Khắc lại tách thành hai quốc gia độc lập là Séc và Slovakia.

Giáo hoàng Anicêtô

Anicêtô (Latinh: Anicetus) là vị Giáo hoàng thứ 11 của Giáo hội Công giáo. Ông được suy tôn là một vị thánh của Giáo hội. Triều đại Giáo hoàng của ông bắt đầu từ năm 154 và kết thúc vào ngày 17 tháng 4 năm 167. Theo niên giám Tòa thánh năm 1861 thì ông lên ngôi vào năm 157 và ở ngôi 11 năm. Niên giám tòa thánh năm 2003 xác định triều đại của ông bắt đầu từ năm 155 đến ngày 17 tháng 4 năm 166.

Giáo hoàng Têlesphôrô

Têlesphôrô (Latinh: Telesphorus) là vị giáo hoàng thứ tám của Giáo hội Công giáo theo danh sách của Irênê thành Lyon. Ông được suy tôn là một vị thánh. Theo Niên giám Tòa thánh năm 1861 thì ông lên ngôi năm 127 và triều đại của ông kéo dài 11 năm. Niên giám năm 2003 thì triều đại của ông kéo dài từ năm 125 tới năm 136. Theo Niên giám tòa thánh năm 2008 (Libreria Editrice Vaticana) thì thời gian cai trị của Giáo hoàng Telesphorus kéo dài từ năm 127 hoặc 128 tới năm 137 hoặc 138.

Triều đại của ông bắt đầu trong thời gian cai trị của hoàng đế Hadrian và kết thúc trong thời gian cai trị của Antonius Pius.

Ông là người Hy Lạp. Sinh ra ở Calabria Terranuova (Sibari từ Newfoundland). Trước khi tới Rôma, ông đã sống như một ẩn sĩ trong một khoảng thời gian dài ở Palestine và Ai Cập. Có lẽ ông là một trong những người sống ẩn dật (tách lìa khỏi xã hội và hoàn toàn độc thân) tại núi Carmel. Đó là lý do vì sao các giáo sĩ thuộc một dòng tu được thành lập vào năm 115 (Carmelites) tôn kính Telesphorus như là vị thánh bảo trợ.

Ông tỏ ra rất thông cảm với các Giáo hội Đông phương về việc ấn định lễ Phục sinh vào một ngày tháng khác với lễ được ấn định ở Rôma. Liber Pontificalis cho rằng ông là người đã sáng tác Kinh Vinh Danh. Ông truyền mỗi linh mục nên cử hành 3 thánh lễ trong đêm Chúa Giáng Sinh và thêm những kinh nguyện mới vào thánh lễ. Tuy nhiên, một số người nghi ngờ sự chính xác của những điều này. Ông cũng là người được cho là đã thiết lập Bảy Tuần Mùa Chay. Ông quy định phải ăn chay và đền tội trong suốt bảy tuần trước lễ Phục Sinh.

Thánh Irenaeus giám mục của Lion cho rằng Giáo hoàng Telesphorus đã chịu tử vì đạo. Trong Roman Martyrology, ông được giáo hội kính nhớ vào ngày 2 tháng 1, giáo hội Hi-lạp kính nhớ vào ngày 22 tháng 2. Tuy nhiên, một số nguồn khác cho rằng ông được mừng lễ một cách không đúng phép như là vị tử vì đạo, vì ông bị lẫn lộn với một người Rô-ma trùng tên đã bị hành hình dưới triều Hađrianô. Thị trấn Saint-Télesphore, ở thành phố Quebec – vùng tây nam của Canada đã được đặt theo tên của ông.

Giáo hoàng Victor I

Victor (Latinh: Victor I) là vị giáo hoàng thứ 14 của Giáo hội Công giáo. Năm sinh của ông không được xác định, tại một tỉnh Bắc Phi thuộc đế quốc La Mã. Ông qua đời vào năm 199 tại Rôma. Theo niên giám Tòa Thánh năm 1861 thì ông lên ngôi Giáo hoàng năm 193 và ở ngôi trong 9 năm. Niên giám năm 2003 cho rằng triều đại của ông kéo dài từ năm 189 cho tới năm 199. Niên giám Tòa thánh năm 2008 xác định triều đại của ông bắt đầu vào năm 186 hoặc 189 và kết thúc vào năm 197 hoặc 201. Chính với ông, các Giám mục Rôma bắt đầu tỏ ra ý muốn khẳng định một magister (thầy dạy) tinh thần trên các giáo hội khác.

Giáo hoàng đối lập Eulalius

Giáo hoàng đối lập Eulalius (qua đời năm 423) là một Giáo hoàng đối lập trong khoảng thời gian từ tháng 12 năm 418 cho đến tháng tháng 4 năm 419, mặc dù ông đã được bầu trước Giáo hoàng Boniface I.

Sau khi Giáo hoàng Dôsimô qua đời, cuộc bầu cử Giáo hoàng chia thành hai phe. Phe các phó tế đã bầu tổng phó tế Eulalius kế vị Giáo hoàng Dôsimô vào ngày 27 tháng 12. Nhưng ngày 28, các linh mục lại chọn một trong những người của họ là Boniface. Hai người đã cùng được tấn phong vào ngày 29 tháng 12 và mỗi người phe mình.

Hoàng đế Honorius đã triệu tập một công đồng (Synod) – lần đầu tiên hoàng đế can thiệp vào cuộc bầu chọn Giáo hoàng. Tuy nhiên, hội nghị lần đầu đã không cho kết quả thỏa đáng cho cả hai phe. Hoàng đế đã gửi một chỉ dụ hướng dẫn cả hai người không được vào Roma trước hội nghị lần thứ hai. Honorius đã triệu tập một Thượng hội đồng Giám mục ở Ravenna vào ngày 29 tháng 2 năm 419.

Thực ra, Thượng hội đồng Giám mục vì do dự nên đã để cho hoàng đế quyết định. Vì ông này hình như không vội vàng nên vào dịp lễ Phục Sinh, Eulalius đã mất hết kiên nhẫn và trở lại thành Rôma để thực hiện nghi thức thánh tẩy (baptisms) và mừng ngày lễ Phục sinh. Khi hoàng đế biết điều này, Eulalius đã bị mất vị thế và buộc rời khỏi Roma.

Các đội quân của Honorius lúc đó can thiệp vào để Boniface trở thành Giáo hoàng. Trong khi Eulalius tự an ủi mình với một tòa Giám mục ở Campania (ông qua đời ở đó một cách thầm lặng vào năm 423).

Giăm bông

Giăm bông (bắt nguồn từ từ tiếng Pháp jambon /ʒɑ̃bɔ̃/), còn được viết là dăm bông, còn gọi là thịt nguội là một món ăn làm từ đùi heo có nguồn gốc từ các nước châu Âu. Khi chưa có tủ lạnh và tủ đông để bảo quản thịt lâu ngày, người dân đã ướp muối các đùi heo và phơi khô (giăm bông khô hoặc còn gọi là giăm bông sống), hoặc ướp muối và luộc trong nước dùng (giăm bông tươi hoặc giăm bông chín). Đây là một trong những món ăn phổ biến, tuy nhiên có những cảnh báo về nguy cơ ung thư khi ăn quá nhiều thịt nguội.

Hy Lạp

Hy Lạp (tiếng Hy Lạp: Ελλάδα, chuyển tự Ellada hay Ελλάς, chuyển tự Ellas), tên chính thức là Cộng hòa Hy Lạp (tiếng Hy Lạp: Ελληνική Δημοκρατία, chuyển tự Elliniki Dimokratia), là một quốc gia thuộc khu vực châu Âu, nằm phía nam bán đảo Balkan. Hy Lạp giáp với các nước Albania, Cộng hòa Macedonia và Bulgaria về phía bắc, giáp với Thổ Nhĩ Kỳ về phía đông. Biển Aegea bao bọc phía đông và phía nam Hy Lạp, còn biển Ionia nằm ở phía tây. Phần lớn địa hình của đất nước này là núi non hiểm trở. Hy Lạp có rất nhiều những hòn đảo lớn nhỏ thuộc khu vực Địa Trung Hải. Dân số Hy Lạp năm 2015 xấp xỉ 10,955 triệu người.

Hy Lạp là một trong những nền văn minh rực rỡ nhất thời cổ đại, có ảnh hưởng sâu rộng đến nền văn minh quanh khu vực Địa Trung Hải. Đây là nơi ra đời của nền dân chủ, triết học phương Tây và Thế vận hội Olympic. Đến thời trung cổ, Hy Lạp trở thành một bộ phận của Đế chế Byzantine, rồi sau đó lại nằm trong Đế chế Ottoman trong gần bốn thế kỉ. Năm 1821, nhân dân Hy Lạp đã nổi dậy khởi nghĩa và giành lại độc lập cho dân tộc.

Đất nước Hy Lạp ngày nay là một quốc gia phát triển. Hy Lạp là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế như Liên Hiệp Quốc, NATO, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế - OECD, Tổ chức Thương mại Thế giới - WTO. Năm 1981, Hy Lạp trở thành một thành viên của Liên minh châu Âu.

Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống

Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống (hoặc lễ Hiện xuống, lễ Giáng xuống, lễ Hạ trần) là một ngày lễ của Kitô giáo được cử hành vào ngày thứ năm mươi bắt đầu từ ngày lễ Phục sinh. Tên gọi ngày lễ này trong tiếng Hy Lạp nghĩa là ngày thứ năm mươi cho nên đây cũng được gọi là Lễ Ngũ Tuần (tuần ở đây được hiểu là khoảng thời gian mười ngày).

Ngày thứ 40 kể từ sau ngày Lễ Phục Sinh có ngày lễ Chúa Giêsu lên trời (tức Lễ Thăng Thiên, rơi vào ngày Thứ năm) nhưng thường được dời vào ngày Chúa nhật kế tiếp. Ngày thứ 50 kể từ sau ngày Lễ Phục Sinh là ngày Lễ Ngũ Tuần kỉ niệm Chúa Thánh Thần hiện xuống với các tông đồ theo Tân Ước, ngày này cũng được coi là ngày khai sinh ra Giáo hội.

Ngày lễ này còn được gọi là ngày Hội mùa, vì ngày này đánh dấu một mùa thu hoạch sắp tới. Tại nhà thờ, ngày lễ này họ dâng lên bàn thờ Chúa những ổ bánh mì từ những hạt lúa mì đầu tiên.

Đối với đạo Do Thái, Lễ Ngũ Tuần là ngày kỷ niệm dân Do Thái nhận Kinh Torah từ Môi-se ở Sinai.

Nhưng quan trọng hơn, người ta kỷ niệm ngày lễ này với ý nghĩa rằng đây là dịp Chúa Thánh Linh hiện xuống, ngày này được tin là mang đến những tín hiệu tốt lành và niềm tin vào sự sống. Tên gọi ngày lễ này trong một số nước châu Âu còn có nghĩa là phép thần trị bệnh - vào dịp lễ người ta mong ước và chúc cho nhau mọi bệnh tật sẽ qua khỏi.

Theo luật thì những người Công giáo không được làm việc ăn công, lương vào ngày này. Tại một số quốc gia châu Âu (Đức, Áo, Hà Lan, Bỉ, Pháp, Luxembourg, Hungary, Đan Mạch và ở nhiều vùng của Thụy Sĩ), ngày này và thứ hai kế tiếp là ngày nghỉ lễ có trả lương.

Lịch Gregorius

Lịch Gregorius, còn gọi là Tây lịch, Công lịch, Dương lịch là một bộ lịch do Giáo hoàng Grêgôriô XIII đưa ra vào năm 1582. Lịch Gregorius chia thành 12 tháng với 365 ngày, cứ 4 năm thì thêm một ngày vào cuối tháng 2 tạo thành năm nhuận (366 ngày). Trước đó lịch Julius quy ước một năm có 365,25 ngày, song độ dài của năm mặt trời là 365,242216 ngày cho nên một năm theo lịch Julius dài hơn khoảng 0,0078 ngày so với năm mặt trời (tức là khoảng 11 phút 14 giây).

Mùa Phục Sinh

Mùa Phục Sinh là một giai đoạn trong Năm phụng vụ của Kitô giáo, kéo dài 50 ngày, bắt đầu từ Chúa Nhật Phục Sinh và đến lễ Hiện Xuống, tiếp nối sau Mùa Chay. Trong Kitô giáo Tây phương, ngày lễ Phục Sinh tất cả rơi vào một Chủ nhật giữa 22 tháng 3 và 25 tháng 4.Ngày thứ 40 kể từ sau ngày Lễ Phục Sinh có ngày lễ Chúa Giêsu lên trời (tức Lễ Thăng Thiên, rơi vào ngày Thứ năm) nhưng thường được dời vào ngày Chúa nhật kế tiếp. Ngày thứ 50 kể từ sau ngày Lễ Phục Sinh là ngày Lễ Ngũ Tuần kỉ niệm Chúa Thánh Thần hiện xuống theo Tân Ước, ngày này cũng được coi là ngày khai sinh ra Giáo hội.

Năm phụng vụ

Năm phụng vụ (hay còn gọi là Lịch Kitô giáo) là chu kỳ thời gian xác định bằng các mùa phụng vụ với những nghi thức và lễ hội đặc trưng của Kitô giáo, được tổ chức bám sát với diễn tiến nội dung trong Kinh Thánh. Năm phụng vụ có sự khác biệt giữa Kitô giáo Tây phương (Công giáo Rôma, Anh giáo, Giáo hội Luther và Kháng Cách) với Chính thống giáo Đông phương, song, diễn tiến và tính nhất quán là như nhau.

Đối với các giáo hội Tây phương lẫn Đông phương, ngày tháng tổ chức các lễ hội nhỏ thay đổi từ năm này qua năm khác nhưng đều dựa vào sự thay đổi của Lễ Phục Sinh. Có thể nhận ra biểu hiện rõ nét nhất về các mùa lễ hội này bằng việc ăn chay, liên hoan, trang trí nhà thờ v.v.. ở Giáo hội Công giáo Rôma và Chính thống giáo Đông phương, tuy nhiên, cộng đồng Kháng Cách lại ít biểu hiện ra điều này.

Pysanky

Pysanky (số ít: Pysanka tiếng Ukraina: писанка, số nhiều: Pysanky), Trứng Phục Sinh) - những quả trứng được trang trí với các biểu tượng truyền thống sử dụng sáp và thuốc nhuộm. Sản xuất trứng được kết hợp với những lễ hội hội dân gian mùa xuân trong ngày lễ Phục Sinh.

Đây là loại hình nghệ thuật dân gian được phổ biến trong nhiều dân tộc Slav, bao gồm cả Ukraina.

Trứng Phục Sinh là biểu tượng của mặt trời,sự bất diệt của cuộc sống, tình yêu và vẻ đẹp, sự hồi sinh vào mùa xuân,điều tốt đẹp, hạnh phúc, niềm vui.

Quezon

Quezon là một tỉnh của Philippines thuộc vùng CALABARZON ở Luzon. Tên tỉnh được đặt theo tên của Manuel L. Quezon, tống thống thứ hai của Philippines, tỉnh lị là thành phố Lucena. Không nên nhầm lẫn tỉnh với thành phố Quezon, thành phố này không nằm trong tỉnh mà thuộc về Vùng thủ đô Manila và thậm chí cũng không giáp với tỉnh.

Quezon giáp với Aurora về phía bắc, Bulacan, Rizal, Laguna và Batangas ở phía tây và 2 tỉnh Camarines về phía đông. Quezon nằm ở một eo đất chia tách bán đảo Bicol khỏi phần chính của đảo Luzon. Tỉnh cũng quản lý quần đảo Polillo ở Biển Philiipines

Sức lôi cuốn du lịch của tỉnh đến từ Núi lửa Banahaw trứ danh cao tới 2.188 m. Ngọn núi được bao quanh bởi những điều thần thánh huyền bí. Nhiều tổ chức tín ngưỡng và tôn giáo ở trên ngọn núi và một số giáo dân Thiên Chúa đi thăm ngọn núi vào Tuần thánh trước lễ Phục Sinh.

Roma

Roma (tiếng Latinh và tiếng Ý: Roma; còn phổ biến với tên gọi Rome trong tiếng Anh và tiếng Pháp hay La Mã theo phiên âm Hán Việt) là thủ đô của nước Ý và là một đô thị cấp huyện (comune) loại đặc biệt (có tên đầy đủ là Comune di Roma Capitale), đồng thời đóng vai trò là thủ phủ vùng Lazio của quốc gia này. Roma là thành phố lớn nhất và đông dân nhất ở Ý với hơn 2,8 triệu cư dân trong phạm vi 1.285 km². Đây là thành phố đông dân thứ tư của Liên minh châu Âu, sau Luân Đôn, Berlin và Madrid, tính theo số dân sinh sống bên trong phạm vi thành phố. Roma cũng đồng thời là trung tâm của Thành phố đô thị Roma Thủ đô với hơn 4,3 triệu cư dân, do đó là thành phố đô thị đông dân nhất của nước Ý. Roma tọa lạc ở vùng Lazio, dọc theo con sông Tevere (khu vực Latium lịch sử) thuộc Trung Tây của bán đảo Ý. Thành quốc Vatican (quốc gia nhỏ nhất thế giới) là một đất nước độc lập nằm trong lòng Roma, đây là ví dụ duy nhất về một quốc gia nằm trong lãnh thổ của một thành phố; cũng vì lý do này mà Roma thường được xem là thủ đô lưỡng quốc.Lịch sử Roma trải dài 28 thế kỷ. Mặc dù thần thoại La Mã đặt mốc thời gian thành lập Roma vào khoảng năm 753 TCN, tuy nhiên thành phố đã có mặt cư dân sinh sống lâu hơn thế, khiến nó trở thành một trong những khu định cư lâu đời nhất có con người vẫn đang tiếp tục sinh sống tại châu Âu. Cư dân ban đầu của thành phố có nguồn gốc hỗn hợp từ người Latinh, Etrusca và Sabine. Sau đó, thành phố trở thành thủ đô của Vương quốc La Mã, Cộng hòa La Mã và Đế quốc La Mã, và được nhận định là cái nôi của nền văn minh phương Tây cũng như là kiểu mẫu đô thị trung tâm đầu tiên từng xuất hiện. Roma ban đầu được gọi là Thành phố vĩnh hằng (tiếng Latinh: Urbs Aeterna) bởi thi hào Tibullus người La Mã trong thế kỷ thứ nhất TCN và ý tưởng đó đã được Ovidius, Vergilius và Livius tiếp nối. Thành phố còn nổi tiếng với danh hiệu "Caput Mundi" trong tiếng Latinh có nghĩa là Kinh đô thế giới. Theo sau sự sụp đổ của Đế quốc Tây La Mã đánh dấu khởi đầu của Đêm trường Trung Cổ, Roma dần rơi vào sự thống trị của giáo hoàng (đã cư ngụ tại thành phố kể từ thế kỷ 1) và chính thức thế kỷ 8 trở thành thủ đô của Vương quốc Giáo hoàng tồn tại cho đến năm 1870. Bắt đầu từ thời kỳ Phục Hưng, hầu như tất cả các giáo hoàng từ Nicôla V (1447–1455) trở đi đều chủ trương theo đuổi tiến trình mang tính kiến trúc và đô thị hóa liên tục suốt 400 năm nhằm mục đích biến thành phố trở thành trung tâm nghệ thuật và văn hóa của thế giới. Do vậy, Roma trở thành trung tâm lớn của nền Phục Hưng Ý, và sau đó là nơi khai sinh của trường phái Baroque và chủ nghĩa Tân cổ điển. Các nghệ sĩ, họa sĩ, nhà điêu khắc và kiến trúc sư nổi tiếng đã biến Roma trở thành trung tâm hoạt động của họ, tạo ra những kiệt tác khắp toàn thành phố. Năm 1871, Roma chính thức trở thành thủ đô của Vương quốc Ý thống nhất và sau đó là Cộng hòa Ý từ năm 1946 cho đến ngày nay.

Roma mang đẳng cấp của một thành phố toàn cầu. Trong năm 2016, Roma xếp thứ 14 trong số những thành phố được viếng thăm nhiều nhất thế giới, đứng thứ 3 tại châu Âu và là điểm thu hút khách du lịch nổi tiếng nhất tại Ý. Khu trung tâm lịch sử của Roma được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới. Bảo tàng Vatican nổi tiếng nằm trong số những bảo tàng được viếng thăm nhiều nhất thế giới và Đấu trường La Mã trở thành điểm thu hút khách du lịch phổ biến nhất thế giới với 7,4 triệu lượt khách trong năm 2018. Roma cũng là nơi tổ chức Thế vận hội Mùa hè 1960. Roma là trụ sở của các cơ quan chuyên môn thuộc Liên Hiệp Quốc như Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp (FAO), Chương trình Lương thực Thế giới (WFP) và Quỹ quốc tế về phát triển nông nghiệp (IFAD). Thành phố cũng là nơi đặt văn phòng Tổng thư ký Hội đồng Nghị viện Liên minh Địa Trung Hải (UfM) cũng như trụ sở của nhiều tập đoàn kinh doanh quốc tế như Eni, Enel, TIM, Leonardo S.p.A., và các ngân hàng nhà nước và quốc tế như Unicredit và BNL. Khu vực quận kinh tế và trung tâm thương mại của thành phố được gọi là EUR, là cơ sở của nhiều công ty quan trọng tham gia vào các ngành công nghiệp dầu mỏ, công nghiệp dược phẩm và dịch vụ tài chính. Roma cũng là một trung tâm thiết kế và thời trang quan trọng nhờ các thương hiệu quốc tế nổi tiếng có trụ sở tại thành phố, và đứng ở vị trí thứ 5 trong bảng xếp hạng các kinh đô thời trang của thế giới trong những năm gần đây. Phim trường Cinecittà của Roma, phim trường lớn nhất tại châu Âu, đã trở thành nơi bấm máy của rất nhiều bộ phim đoạt giải Oscar.

Tháng tư

Tháng tư là tháng thứ tư theo lịch Gregorius, có 30 ngày.

Thứ bảy Tuần Thánh

Thứ bảy Tuần Thánh (hay Canh thức Phục Sinh) là ngày lễ diễn ra vào hoàng hôn hoặc tối ngày Thứ bảy trước Lễ Phục Sinh. Đôi khi được gọi nhầm là Lễ Phục Sinh bởi những nghi lễ long trọng của nó.

Toowoomba

Toowoomba (biệt danh là "Thành phố Vườn) là một thành phố ở miền Nam Queensland, Australia. Nó có cự ly 127 km (79 dặm) phía tây của thủ phủ bang Queensland Brisbane. Với một dân số khu vực ước tính 128.600 người, Toowoomba là nội địa lớn thứ hai của Úc và là thành phố nội địa không phải là thủ phủ lớn nhất. Dân số vùng Toowoomba năm 2009 là 159.000 người.

Là một thành phố đại học và nhà thờ, thành phố Toowoomba tổ chức Carnival Australia Hoa, và lễ phục sinh được tổ chức hàng năm vào cuối tuần lễ Phục sinh. Có hơn 150 công viên công cộng và các khu vườn ở Toowoomba. Nó đã phát triển thành một trung tâm khu vực cho các dịch vụ kinh doanh và chính phủ.

Đàng Thánh Giá

Đàng Thánh Giá hay Đường Thánh Giá (Latinh: Via Crucis) là một loạt gồm mười bốn hình ảnh nghệ thuật, thường là điêu khắc, mô tả diễn tiến Cuộc thương khó của Chúa Giêsu, từ khi Người bị kết án đến khi bị đóng đinh trên thập giá và cuối cùng là an táng trong hầm mộ.

Thánh Giá được thể hiện qua hình thức tôn thờ bằng cách đi chuyển đến từng chặng (từng hình ảnh) theo thứ tự rồi đọc kinh nguyện và suy tư tương ứng với sự kiện tại chặng đó. Đàng Thánh Giá thường được cử hành vào các ngày Thứ Sáu trong tuần (đặc biệt là Mùa Chay, vì Kitô hữu tin rằng đó là ngày Chúa Giêsu chịu chết).

Truyền thống Đàng Thánh Giá bắt nguồn từ Thánh Phanxicô thành Assisi và kéo dài suốt thời trung cổ của Giáo hội Công giáo Rôma. Ngoài ra, nó cũng xuất hiện trong các Giáo hội Luther và Anh giáo. Trong các nhà thờ Công giáo, Đàng Thánh Giá thường được bố trí dọc theo hai bên tường gian chính, thường là các phù điêu, tranh ảnh cỡ nhỏ, có đánh số thứ tự từ I đến XIV.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.