Lòng chảo nội lục

Lòng chảo nội lục còn gọi là lòng chảo nội lưu là một loại địa hình có dạng trũng nơi các nguồn nước chảy vào mà không có dòng thoát ra biển cả. Thủy văn trong khu vực này gần như bị giam hãm và chỉ có hai lối thoát duy nhất là thấm nhập vào lòng đất hoặc bốc hơi lên không trung. Hậu quả là thổ diêm tích tụ và tăng dần, tạo ra hồ nước mặn. Nếu tốc độ bốc hơi cao hơn lượng nước chảy vào hồ thì lòng hồ cạn dần và sau sẽ biến thành bãi muối.

Vì yếu tố của thời tiết góp phần lớn vào việc cấu tạo lòng chảo nội lục nên địa hình này thường tìm thấy ở những khu vực sa mạc nóng. Ngoài ra những ao hồ có mực nước thấp hơn mực nước biển (như biển Caspibiển Chết) nhất thể đều là lòng chảo nội lục.

Major endorheic basins
Phân bố lòng chảo nội lục (xanh berin) trên thế giới
NEO lake eyre big
Ảnh vệ tinh chụp hồ Eyre nơi hứng các nguồn nước chảy vào giữa lục địa Úc
NASA's Earth Observatory
Aral sea 1985 from STS
Lòng chảo nội lục: biển Aral ở Trung Á

Xem thêm

  • Hồ Eyre (Úc)
  • Biển Aral (Trung Á)
Altyn-Tagh

Altyn-Tagh, Astyn-Tagh, dãy núi Altun, Altun Shan hay A Nhĩ Kim Sơn (tiếng Trung: 阿尔金山; bính âm: Ā'ěrjīnshān; Altyn Tagh có nghĩa là núi Vàng trong ngôn ngữ Turk; bản thân Astyn-

Tagh là một phần của dãy núi phía nam của Lop Nur), là một dãy núi ở tây bắc Trung Quốc phân tách phần phía đông của lòng chảo Tarim với cao nguyên Thanh-Tạng. Một phần ba ở phía tây của dãy núi thuộc Tân Cương trong khi phần phía đông tạo thành ranh giới giữa Thanh Hải ở phía nam và Tân Cương cùng Cam Túc ở phía bắc. Altun Shan cũng là tên của ngọn núi cao 5.830 gần cực đông của dãy.

Biển Salton

Biển Salton là dạng biển nông, hồ nước mặn ở San Andreas Fault.

Danh sách sông Mông Cổ

Đây là một danh sách các dòng sông tại Mông Cổ, sắp xếp về mặt địa lý theo lưu vực sông.

Trong tiếng Mông Cổ, sông được gọi là "gol" (гол) và những dòng sông lớn được gọi là "mörön" (мөрөн). Tên sông đôi khi có tên hậu tố "iin" trong tiếng Mông Cổ, ví dụ sông Ider là Ideriin Gol, có nghĩa là "sông của Ider".

Hy Nhĩ

Hy Nhĩ hay Khả Khả Tây Lý (tiếng Mông Cổ: Aqênganggyai có nghĩa là Chúa tể của Mười nghìn núi) là một khu vực bị cô lập ở phía Tây bắc Thanh Hải-Thanh Tạng, Trung Quốc. Đây là khu vực có dân số ít nhất Trung Quốc và ít thứ ba trên thế giới.

Hồ Balkhash

Hồ Balkhash (tiếng Kazakh: Балқаш көлі, phát âm tiếng Kazakh: [bɑɫqɑʃ kyʉlɘ]; tiếng Nga: Озеро Балхаш, Ozero Balhaš) là một trong những hồ lớn nhất châu Á và là hồ rộng thứ 15 thế giới. Hồ tọa lạc ở Trung Á, trong một lòng chảo nội lục thuộc địa phận Kazakhstan và Trung Quốc. Nước trong bồn địa đổ vào hồ qua bảy con sông, trong đó, sông Ili, là nguồn cấp nước chính; số khác, như sông Karatal, cấp cả nước bề mặt và dưới bề mặt. Sông Ili lấy nước từ tuyết tan trên những ngọn núi vùng Tân Cương, Trung Quốc.

Hồ hiện rộng chừng 16.400 km2 (6.300 sq mi). Tuy vậy, như biển Aral, nó đang bấp bênh do sự đổi hướng của các con sông cấp nước. Một eo nước chia hồ làm hai phần. Phần tây nước ngọt, còn phần đông nước mặn. Phần đông nói chung sâu hơn phần tây 1,7 lần. Thành phố gần nhất gần hồ cũng mang tên Balkhash và có chừng 66.000 dân. Những hoạt động kinh tế chính quanh hồ là khai mỏ, chế biến quặng và đánh bắt cá.

Hồ Eyre

Trong những lúc có nước đầy, hồ Eyre (được mệnh danh là Hồ ẩn-hiện; 28°22′N 137°22′Đ) là hồ lớn nhất tại Úc và có vị trí thấp nhất ở nước này, có cao độ vào khoảng 15 m (50 ft) dưới mực nước biển. Hồ này là trọng điểm của lòng chảo nội lục của Lưu vực hồ Eyre rộng lớn ở miền trung Úc,.

Hồ này có chu kỳ nước đầy rồi cạn khoảng mỗi 3 năm. Do đó, diện tích mặt nước hồ không cố định, dao động 0–8.200 km², phụ thuộc vào nước mưa. Khi mưa nhiều, mặt nước hồ cao so với mặt biển 15 mét và chiếm diện tích hơn 8.000 km², khi hồ cạn, mặt đáy hồ lộ ra một lớp muối khá dày. Quanh hồ này, có hình thành khu Vườn quốc gia hồ Eyre.

Hồ Mono

Hồ Mono là một hồ muối soda nông và lớn, toạ lạc trong quận Mono, California, Hoa Ky, hồ rộng 18.265 ha (182 km²) và được tạo lập ít nhất 760.000 năm trước đây như là một hồ nước cuối trong một lòng chảo nội lục. Việc thiếu chỗ lối thoát nước đã gây ra mức độ tích tụ muối cao trong hồ. Chất muối này cũng làm cho nước hồ bị kiềm.

Hồ sa mạc này có một hệ sinh thái hiệu bất thường dựa trên tôm nước mặn phát triển mạnh trong vùng nước của nó, hồ cung cấp nơi làm tổ quan trọng cho hai triệu loài chim di cư hàng năm ăn tôm và rệp vừng (mà cũng ăn tôm).

Trong hồ có một số hòn đảo, cồn như là đảo Negit (Negit Island) và Paoha Island (Paoha Island) rộng 9,1 km2

Hồ Neusiedler

Hồ Neusiedl (tiếng Đức: Neusiedler See) hoặc Fertő (tiếng Hungary: Fertő tó; tiếng Croatia: Nežidersko jezero, Niuzaljsko jezero; tiếng Slovenia: Nežidersko jezero; tiếng Slovak: Neziderské jazero) là hồ lòng chảo nội lục lớn nhất Trung Âu, nằm trên biên giới Áo và Hungary. Hồ có diện tích 315 km2 (122 sq mi), trong đó 240 km2 (93 sq mi) thuộc lãnh thổ Áo và 75 km2 (29 sq mi) thuộc phía Hungary. Diện tích lưu vực của hồ khoảng 1.120 km2 (430 sq mi). Hồ có chiều dài 36 km (22 mi) theo hướng Bắc-Nam, và rộng từ 6 km (3 1⁄2 mi) tới 12 km (7 1⁄2 mi) theo hướng Đông-Tây. Hồ nằm ở độ cao trung bình 115,45 m (378,8 ft) trên mực nước biển Adriatic và có độ sâu không quá 1,8 m (5 ft 11 in).

Hồ phù sa

Hồ phù sa là một khối nước được tích tụ trong lưu vực do có độ ẩm lớn hơn do thay đổi nhiệt độ và / hoặc lượng mưa. Những khoảng thời gian có độ ẩm lớn hơn không phải lúc nào cũng đồng thời với các thời kỳ băng hà. Các hồ phù sa thường là những hồ khép kín chiếm các lòng chảo nội lục. Các hồ phù sa đã bốc hơi và khô cạn cũng có thể được gọi là paleolakes.

Issyk-Kul

Issyk Kul (tên khác gồm có:Ysyk Köl, Issyk-Kol: tiếng Kyrgyz: Ысык - Көл [ɯsɯqkœl]; tiếng Nga: Иссык-Куль) là một hồ lòng chảo nội lục ở vùng núi phía bắc dãy núi Thiên Sơn ở phía đông Kyrgyzstan. Nó là hồ có độ sâu lớn thứ bảy thế giới, lớn thứ mười trên thế giới theo thể tích và là hồ nước mặn lớn thứ hai sau biển Caspi. Mặc dù nó được bao quanh bởi những đỉnh núi phủ tuyết trắng, nó không bao giờ bị đóng băng ; vì thế tên của nó, có nghĩa là "hồ nước nóng" trong tiếng Kyrgyz. Hồ là một khu Ramsar đa dạng sinh học có ý nghĩa toàn cầu (Ramsar Site RDB Mã 2KG001) và tạo thành một phần của khu dự trữ sinh quyển Issyk-Kul. Hồ là địa điểm của khu đô thị cổ đại 2500 năm trước đây, và khai quật khảo cổ đang được tiến hành.

Tiếng Việt còn gọi hồ này là Nhiệt Hải.

Lòng chảo Tarim

Lòng chảo Tarim, (tiếng Trung: 塔里木盆地, Hán-Việt: Tháp Lý Mộc bồn địa) là một trong số các lòng chảo khép kín lớn nhất trên thế giới có diện tích bề mặt khoảng 400.000 km², nằm giữa vài dãy núi trong Khu tự trị Uyghur Tân Cương ở miền viễn tây Trung Quốc. Phần lớn của lòng chảo là sa mạc Taklamakan. Khu vực này có dân cư rất thưa thớt, chủ yếu là người Uyghur và các dân tộc Trung Á khác, cũng như là người Hán, phần nhiều trong số họ là những người nhập cư gần đây.

Con đường tơ lụa trong lòng chảo Tarim nằm giữa Khách Thập (Kashgar) (39°28′B 76°03′Đ) và Ngọc Môn (Yumen) (39°50′B 97°34′Đ) và được chia thành hai lộ trình, men theo các rìa phía bắc và phía nam của sa mạc Taklamakan. Các thành thị dọc theo mỗi nhánh, tính từ tây sang đông là:

Lộ trình phía bắc:

A Khắc Tô (Aksu) (41°10′vĩ bắc, 80°15′kinh đông)

Khố Xa (Kucha) (41°39′vĩ bắc, 82°54′kinh đông)

Khố Nhĩ Lặc (Korla) (41°39′vĩ bắc, 86°08′kinh đông)

Thổ Lỗ Phan (Turfan) (42°59′vĩ bắc, 89°11′kinh đông)

Lâu Lan (Loulan) (40°55′vĩ bắc, 89°9′kinh đông)

Lộ trình phía nam:

Toa Xa (Yarkand) (37°52′vĩ bắc, 77°24′kinh đông)

Bì Sơn (Pishan) (37°37′vĩ bắc, 78°18′kinh đông)

Hòa Điền (Khotan) (37°6′vĩ bắc, 80°1′kinh đông)Ngoài ra, trước đây còn:

"Lộ trình trung tâm": Đã bị bỏ hoang từ thế kỷ 6)Trước đây thì các thứ tiếng trong ngôn ngữ Tochari được người dân sử dụng trong khu vực lòng chảo Tarim. Đây là các thứ tiếng xa nhất về phía đông của ngữ hệ Ấn-Âu. Tên gọi trong tiếng Trung "Nguyệt Chi" (月氏; Wade-Giles: Yüeh-Chih) đã dùng để chỉ những người Trung Á cổ đại sống trong khu vực Cam Túc ngày nay, những người này đã bị người Hung Nô xua đuổi, sau này họ di cư về phía lòng chảo Tarim và về phía nam để lập ra Vương triều Quý Sương tại miền bắc Ấn Độ.

Người Hán dưới sự chỉ huy của một viên tướng giỏi là Ban Siêu (32-102) đã giành được sự kiểm soát khu vực lòng chảo Tarim từ tay người Hung Nô vào cuối thế kỷ 1.

Vương quốc Quý Sương hùng mạnh đã mở rộng trở lại vào lòng chảo Tarim trong giai đoạn từ thế kỷ 1 đến thế kỷ 2, khi họ lập ra một vương quốc tại Khách Thập. Họ đã tranh giành quyền kiểm soát khu vực này với các bộ lạc du cư và các lực lượng quân sự của người Hán. Họ là những người đưa ra chữ viết Brahmi, tiếng Prakrit của người Ấn Độ để quản lý cũng như là những người đóng vai trò lớn trong việc truyền Phật giáo trên Con đường tơ lụa chuyển giao Phật giáo tới Đông Á.

Hồ Lop Nur (La Bố Bạc) là một khu vực đầm lầy lõm xuống chứa nước mặn ở phần rìa phía đông của lòng chảo Tarim, cũng là khu vực thử nghiệm hạt nhân của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Sông Tarim chảy vào khu vực Lop Nur.

Lòng chảo Tarim được cho là có chứa các bể dầu mỏ và khí tự nhiên lớn.

Một điều đáng chú ý là tuyết trên đỉnh K2 (trong tiếng Trung gọi là 乔戈里峰, Hán-Việt: Kiều Qua Lý Phong), đỉnh cao thứ hai trên thế giới sau Everest, chảy xuống thành các dòng sông băng, chúng di chuyển xuống các thung lũng thấp và tan chảy để tạo thành nước sông, con sông này uốn khúc trong các dãy núi để cuối cùng đổ vào lòng chảo Tarim. Ở đoạn giữa sa mạc, những nguồn nước này tạo nên các ốc đảo và được bơm lên để phục vụ nông nghiệp và con người, cuối cùng sau khi đã chảy trên một khoảng cách lớn thì chúng hóa thành các hồ và đầm lầy nước mặn và bốc hơi.

Lưu vực

Lưu vực là phần diện tích bề mặt đất trong tự nhiên mà mọi lượng nước mưa khi rơi xuống sẽ tập trung lại và thoát vào một lối thoát thông thường, chẳng hạn như vào sông, vịnh hoặc các phần nước khác. Các lưu vực thoát nước bao gồm tất cả các nước bề mặt từ dòng chảy mưa, tuyết, và các dòng suối gần đó chạy theo hướng dốc về phía lối thoát chung, cũng như nước ngầm dưới bề mặt trái đất. Các lưu vực thoát nước kết nối với các lưu vực thoát nước khác ở độ cao thấp theo mô hình phân cấp, với các bể chứa nhỏ hơn, và lần lượt đổ vào một khe thông thường khác.Các thuật ngữ khác dùng để mô tả các lưu vực tiêu là lưu vực, lưu vực lưu vực, khu vực thoát nước, lưu vực sông và lưu vực sông. Ở Bắc Mỹ, thuật ngữ "đầu nguồn" thường được sử dụng để chỉ một lưu vực thoát nước, mặc dù ở các nước nói tiếng Anh khác, nó chỉ được sử dụng theo ý nghĩa ban đầu của nó, có nghĩa là sự phân chia nước, một sườn núi ngăn cách các lưu vực thoát nước liền kề.

Trong các lưu vực thoát nước khép kín ("endorheic"), nước hội tụ đến một điểm duy nhất bên trong lưu vực, được biết đến như một bồn rửa chén, có thể là một hồ nước lâu dài, một hồ khô hoặc một điểm mà nước ngầm bị mất dưới lòng đất.Lưu vực thoát nước hoạt động như một kênh bằng cách thu thập tất cả các nước trong khu vực bao phủ bởi lưu vực và chuyển nó đến một điểm duy nhất. Mỗi lưu vực thoát nước được tách riêng topograph từ các lưu vực lân cận bằng chu vi, phân chia nước thải, tạo thành một loạt các đặc điểm địa lý cao hơn (như núi, đồi hoặc núi) tạo thành hàng rào.

Các lưu vực thoát nước tương tự nhau nhưng không giống với các đơn vị thuỷ văn, là những khu vực thoát nước được khoanh để làm tổ trong một hệ thống thoát nước theo cấp bậc đa cấp. Các đơn vị thủy văn được xác định để cho phép nhiều cửa hút, lối thoát, hoặc bồn rửa. Theo một nghĩa hợp lý, tất cả các lưu vực tiêu là các đơn vị thuỷ văn nhưng không phải tất cả các đơn vị thuỷ văn đều là các lưu vực thoát nước.Các lưu vực khác nhau được phân tách bởi đường phân thủy (đường chia nước), thường là các dãy núi.

Một số lưu vực sông lớn trên thế giới (số liệu thống kê này không kể đầy đủ các lưu vực lớn):

Lưu vực sông Amazon (phần lớn ở Brasil) 6.144.727 km²

Lưu vực sông Congo (Trung Phi) 3.680.000 km²

Lưu vực sông Mississippi (Hoa Kỳ) 2.980.000 km²

Lưu vực sông Ob (Nga) 2.972.497 km²Lưu vực các sông lớn chạy qua lãnh thổ Việt Nam:

Lưu vực sông Hồng

Lưu vực sông Mekong (Cửu Long): 795.000 km² Lưu vực các sông lớn chạy qua nước Đức:

Lưu vực sông Danube: 817.000 km²

Lưu vực sông Rhine: 185.000 km²Trong lĩnh vực tính toán thủy văn thường đề cập đến lưu vực sông đến một trạm đo nhất định để chỉ phần diện tích lưu vực đóng góp lượng dòng chảy qua một mặt cắt tại trạm đo đó.

Lưu vực Hồ Uvs

Lưu vực Hồ Uvs (tiếng Nga: Увс нуурын хотгор, tiếng Mông Cổ:: Увс нуурын хотгор, Uws núrīn hotgor) là một Lòng chảo nội lục nhỏ nằm trên biên giới của Mông Cổ và Cộng hòa Tuva, Liên bang Nga. Nó là một phần của Lưu vực thoát nước nội lục Trung Á được đặt theo tên của Hồ Uvs, một hồ nước mặn lớn nằm ở phía tây của lưu vực. Nó là một hồ nước nông có diện tích 3.350 km2 (1.290 sq mi). Toàn bộ lưu vực của nó còn bao gồm một số hồ nước nhỏ hơn với tổng diện tích toàn bộ là 70.000 km2 (27.000 sq mi)..

Đây là sự kết hợp bởi các vùng đất thấp và thung lũng đá nằm giữa các dãy núi Tannu-Ola và Altay. Ở đây, vùng sa mạc cực Bắc nhất giao với khu vực đài nguyên cực Nam của Bắc bán cầu. Trong số 10.560 km2 (4.080 sq mi) khu vực được công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới từ năm 1997 thì khoảng ba phần tư diện tích nằm tại Mông Cổ. Một khu vực chồng chéo có kích thước tương đương được UNESCO công nhận là Di sản thế giới từ năm 2003. Ngoài ra, phần diện tích nằm tại Mông Cổ cùng với Hồ Uvs được công nhận là Vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế theo Công ước Ramsar từ năm 2004.

Quốc gia nội lục

Quốc gia nội lục (tiếng Anh: landlocked country) là 1 quốc gia có chủ quyền hoàn toàn bị bao bọc bởi 1 vùng lãnh thổ, hoặc chỉ có đường bờ biển trải trên 1 lòng chảo nội lục . Tính đến năm 2018, trên thế giới có tổng cộng 49 quốc gia nội lục, trong đó có 5 nước được công nhận hạn chế. Chỉ có Bolivia và Paraguay thuộc Nam Mỹ là 2 quốc gia nội lục không thuộc lục địa Á-Âu-Phi (Cựu Thế giới).

Gần như trên tất cả các lục địa có nhiều hơn 1 quốc gia, chỉ duy nhất lục địa Bắc Mỹ và châu Đại Dương là không có quốc gia nội lục.

Sông Awash

Awash (đôi khi viết Hawash; Amhara: አዋሽ; Afar We'ayot; Somali: Webiga Dir) là một con sông lớn của Ethiopia. Nó nằm hoàn toàn trong lãnh thổ Ethiopia và đổ vào một chuỗi các hồ nối liền nhau, bắt đầu từ hồ Gargori và kết thúc tại hồ Abbe, trên biên giới với Djibouti, cách Vịnh Tadjoura khoảng 100 km. Đây là dòng chảy chính cảu lưu vực thoát nước lòng chảo nội lục bao gồm Amhara, Oromia, Somali, cũng như nửa phía nam của Afar.

Sông Helmand

Sông Helmand (cũng viết thành Helmend, Helmund, Hirmand; tiếng Pashtun/tiếng Ba Tư: هیرمند, هلمند Hīrmand, Helmand, tiếng Hy Lạp: Ἐτύμανδρος (Etýmandros), Latinh: Erymandrus) là sông dài nhất tại Afghanistan và là lưu vực sông chính của lòng chảo nội lục Sistan.Tên gọi của sông bắt nguồn từ tiếng Avesta là Haētumant, nghĩa "bị ngăn đập, có một đập", cùng gốc với tiếng Phạn Setumanta "có một đập", để nói tới sông Helmand và khu vực ruộng đồng xung quanh.. Tỉnh Helmand được đặt theo tên sông.

Sông Helmand kéo dài 1.150 km (710 mi). Sông khởi nguồn từ dãy Hindu Kush, khoảng 80 km (50 mi) về phía tây của Kabul, qua phía bắc của hành lang Unai. Sông chảy theo hướng tây nam qua sa mạc Dashti Margo, đến đầm lầy Seistan và vùng hồ Hamun-i-Helmand quanh Zabol tại biên giới Afghanistan-Iran.

Sông được sử dụng làm nguồn nước tưới tiêu cho nông nghiệp, mặc dù việc tích tụ muối khoáng đã làm giảm tính hữu dụng của sông. Nước sông rất cần thiết cho nông dân tại Afghanistan, song sông cũng chảy vào hồ Hamun và cũng khá quan trọng với nông dân tỉnh Sistan và Baluchistan ở đông nam của Iran.

Một số đập thủy điện đã được xây dựng và tạo ra các hồ chứa tại dòng sông thuộc Afghanistan, trong đó bao gồm Kajakai trên sông Helmand River. Chi lưu chính của sông Helmand là Arghandab cũng có một đập chính gần thành phố Kandahar.

Sông Omo

Sông Omo hay còn được gọi là Omo-Bottego là một con sông ở miền nam Ethiopia. Đây là con sống lớn nhất Ethiopia ngoài lưu vực Sông Nin. Lưu vực của nó hoàn toàn nằm trong lãnh thổ Ethiopia, và con sông đổ vào hồ Turkana trên biên giới với Kenya. Sông Omo là dòng chảy chính của lưu vực thoát nước lòng chảo nội lục Lưu vực Turkana.

Tự nhiên

Tự nhiên hay cũng được gọi thiên nhiên, thế giới vật chất, vũ trụ và thế giới tự nhiên (tiếng Anh: nature) là tất cả vật chất và năng lượng chủ yếu ở dạng bản chất. "Tự nhiên" nói đến các hiện tượng xảy ra trong thế giới vật chất, và cũng nhắc đến sự sống nói chung. Phạm vi bao quát của nó từ cấp hạ nguyên tử cho tới những khoảng cách lớn trong vũ trụ. Nghiên cứu về tự nhiên là một mảnh ghép lớn trong thế giới khoa học. Dù cho con người hiển nhiên là một phần của tự nhiên, nhưng những hoạt động của con người thường được phân biệt rạch ròi khỏi những hiện tượng tự nhiên.

Từ nature có nguồn gốc từ natura trong tiếng Latin, có nghĩa là "phẩm chất thuần khiết, thiên hướng bẩm sinh", và trong thời cổ đại nó có nghĩa đen là "sự sinh nở". Natura trong tiếng Latin là dịch từ physis (φύσις) trong tiếng Hy Lạp, một từ có nguồn gốc liên quan đến đặc tính nội tại của thực vật, động vật và những đặc trưng khác trong thế giới do chính người cổ đại nghĩ ra hoặc ghi chép lại.1 2 Khái niệm tự nhiên theo nghĩa tổng thể, hay vũ trụ vật chất, là một trong vài khái niệm mở rộng của khái niệm ban đầu; nó bắt đầu bằng những cách thông hiểu trọng tâm của từ φύσις bởi các triết gia trước Sokrates, và đã thu được sự chú ý dần dần theo thời gian kể từ đó. Cách sử dụng này dần được chấp nhận trong giai đoạn phát triển của phương pháp khoa học hiện đại trong vài thế kỷ qua.3 4Với nhiều cách sử dụng và ý hiểu ngày nay, "tự nhiên" cũng nhắc đến địa chất và thế giới hoang dã. Tự nhiên cũng bao gồm nhiều loại động thực vật sống khác nhau, và trong một số trường hợp liên quan tới tiến trình của những vật vô tri vô giác – cách mà những kiểu riêng biệt của sự vật tồn tại và làm biến đổi môi trường quanh nó, tỉ như thời tiết và hoạt động địa chất của Trái Đất, cũng như vật chất và năng lượng của tất cả mọi thứ mà chúng cấu thành lên. Khi hiểu theo nghĩa là "môi trường tự nhiên" hoặc vùng hoang dã – động vật hoang dã, đá, rừng, bờ biển, và nói chung những thứ không bị tác động của con người thay đổi hoặc phản kháng trước những tác động của con người. Ví dụ, các sản phẩm được sản xuất hoặc có tác động bởi con người nói chung sẽ không được coi là thuộc về tự nhiên, trừ khi được định nghĩa thành những lớp lang phù hợp, ví dụ, "bản chất con người" (nhân tính) hay "toàn thể tự nhiên". Khái niệm truyền thống này về các vật tự nhiên mà đôi khi ngày nay vẫn sử dụng hàm ý sự phân biệt giữa thế giới tự nhiên và nhân tạo, với những thứ nhân tạo được ngầm hiểu từ tâm thức hoặc tư duy của con người. Phụ thuộc vào từng ngữ cảnh, thuật ngữ "tự nhiên" cũng có thể khác hẳn với từ "không tự nhiên" hay "siêu nhiên".

Zhari Namco

Zhari Namco hay Zhari Nanmu hay Hồ Trari Nam(chữ Tạng: བཀྲ་རི་གནམ་མཚོ; Wylie: bkra ri gnam mtsho, tiếng Trung: 扎日南木错; bính âm: Zhārì Nánmùcuò, âm Hán Việt: Trác Nhật Nam Mộc Thác) là một hồ tại Tây Tạng, Ở phía tây của hồ là huyện Coqên của địa khu Ngari, và phía đông là huyện Ngamring của địa khu Shigatse. Zhari Namco có diện tích 996,9 km², diện tích lưu vực là 15.433,2 km², nằm trên cao độ 4.613 m, chiều dài 54.3 km và chiều rộng trung bình là 18,36 km (tối đa là 26,2 m). Hồ nằm ở phía đông của trấn Coqên ở miền nam Tây Tạng.

Các khu vực trên thế giới

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.