Khối Warszawa

Khối Warszawa (phiên âm tiếng Việt: khối Vác-sa-va) là hiệp ước quân sự được ký kết tại Warszawa (Ba Lan) vào năm 1955, giữa 8 nước theo chế độ xã hội chủ nghĩaTrungĐông Âu, gồm Liên Xô, Albania (rút ra năm 1968), Ba Lan, Bulgaria, Đông Đức, Hungary, RomâniaTiệp Khắc. Liên minh quân sự này do Liên Xô thành lập và chỉ huy nhằm chống lại khối quân sự NATO, do Hoa Kỳ đứng đầu, trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh. Trụ sở của khối đặt tại thủ đô Warszawa của Ba Lan.

Hiệp ước Hữu nghị, Hợp tác và Tương trợ
tiếng Nga: Договор о дружбе, сотрудничестве и взаимной помощи
Warsaw Pact Logo
Warsaw Pact in 1990 (orthographic projection)
Thành viên tới năm 1990 (xanh đậm)
Cựu thành viên (xanh nhạt)
Khẩu hiệuLiên minh Hòa bình và Xã hội chủ nghĩa
Thành lập14 tháng 5, 1955
Giải tán1 tháng 7, 1991
LoạiLiên minh quân sự
Trụ sở chínhMoskva, Liên Xô
Thành viên
Bulgaria Bulgaria

Hungary Hungary
Cộng hòa Dân chủ Đức Đông Đức (rút khỏi năm 1990)
Ba Lan Ba Lan (rút khỏi năm 1990)
România România
Liên Xô Liên Xô

Tiệp Khắc Tiệp Khắc
Tổng Tư lệnh Tối cao
Pyotr Lushev (cuối cùng)
Tổng Tham mưu Liên hợp
Vladimir Lobov (cuối cùng)

Mục đích

Việc thành lập Khối Warszawa được coi là để bảo đảm hòa bình và an ninh ở các nước cộng sản chủ nghĩa thành viên, nhưng các biến cố lịch sử cho thấy mục đích chính của khối này cũng là để củng cố chủ nghĩa cộng sản ở Đông Âu. Ở Hungary vào năm 1956, và sau đó là ở Tiệp Khắc năm 1968, Liên Xô đã viện dẫn Hiệp ước Warszawa để hợp pháp hóa việc can thiệp nhằm dập tắt các cuộc bạo động chống Cộng.[1]

Tổ chức

1975 CPA 4448
Một tem kỷ niệm của Liên Xô kỷ niệm 20 năm thành lập Hiệp ước Warsaw vào năm 1975, nói rằng nó vẫn là "Bảo vệ hòa bìnhchủ nghĩa xã hội".

Tổ chức khối Warszawa gồm 2 phần: Ủy ban Cố vấn Chính trị với nhiệm vụ giải quyết các vấn đề liên quan đến chính trị của khối, Bộ Chỉ huy Phối hợp Lực lượng vũ trang Hiệp ước kiểm soát các vấn đề quân sự các quốc gia thành viên. Trụ sở được đặt tại Warszawa, Ba Lan. Đồng thời Tổng Tư lệnh Tối cao Lực lượng vũ trang thống nhất của Tổ chức Hiệp ước Warsaw là Thứ trưởng thứ nhất Bộ Quốc phòng Liên Xô và Tổng Tham mưu Liên hợp Lực lượng vũ trang thống nhất của Tổ chức Hiệp ước Warsaw đồng thời là Phó Tổng Tham mưu thứ nhất Lực lượng vũ trang Liên Xô. Vì thế, mặc dù là một liên minh an ninh tập thể quốc tế, nhưng Liên Xô đã thống lĩnh các lực lượng vũ trang của Hiệp ước Warszawa.

Lịch sử

Poland-00741 - Palace Prezydencki (31071435322)
Dinh Tổng thống tại Warsaw, Ba Lan, nơi Hiệp ước Warsaw được thành lập và ký kết vào ngày 14 tháng 5 năm 1955
ParkPatriot2015part4-12
Một chiếc xe jeep quân sự điển hình của Liên Xô UAZ-469, được sử dụng bởi hầu hết các quốc gia của Hiệp ước Warsaw

Khối này được thành lập ngày 14 tháng 5 năm 1955 tại Warszawa, sau khi các nước Liên Xô, Albania, Ba Lan, Bulgaria, Đông Đức, Hungary, Romania, Tiệp Khắc ký kết Hiệp ước hữu nghị, hợp tác và tương trợ, có hiệu lực từ tháng 6 năm 1955. Theo hiệp ước, các nước thành viên có nghĩa vụ đem quân hỗ trợ nhau trong trường hợp bất kỳ 1 nước thành viên nào bị tấn công bởi 1 nước khác nằm ngoài khối.

Năm 1961, Albania rút khỏi hiệp ước này do bất đồng với Liên Xô và các nước XHCN khác. Sau đó đặt quan hệ thân mật với Trung Quốc.

Khối Warszawa đã góp phần vào việc xây dựng lên bức tường Berlin (bức tường tượng trưng cho sự chia cắt giữa Đông ĐứcTây Đức). Ngoài ra, khối này cũng can thiệp vào các sự kiện cách mạng Hungary 1956tấn công Tiệp Khắc 1968.

Vào tháng 12 năm 1970, khối Warszawa tổ chức 1 hội nghị họp tại Berlin để thảo luận phương hướng và nhiệm vụ của tổ chức. Đến năm 1985, lãnh đạo các nước thành viên của khối ký nghị định thư về việc gia hạn hiệp ước. Năm 1989, khối Warszawa ủng hộ việc Liên Xô rút quân khỏi các nước thành viên (đầu tiên là Tiệp Khắc). Đến tháng 5 năm 1989, khối Warszawa kêu gọi NATO cùng giải tán, ngoài ra khối cũng mong muốn cùng NATO đàm phán về vũ khí hạt nhân chiến thuật và các vấn đề liên quan tới hải quân. Tháng 12 năm 1989, khối Warszawa đã đánh giá lại sự kiện năm 1968Tiệp Khắc, lên án các đơn vị quân đội của mình can thiệp vào sự kiện này.

Lực lượng

Năm 1977-1978, Khối Warszawa có khoảng 4,752 - 5,502 triệu quân, trong đó Liên Xô đóng góp 3,675 - 4,425 triệu quân.[2]

Trong năm 1990, khối quân sự này có tổng cộng 4,8 triệu quân, trong đó riêng Liên Xô đã góp 3,7 triệu.[3]

Các thành viên

Các thành viên gồm:

Quốc gia Đảng cầm quyền
Flag of the Soviet Union.svg State Emblem of the Soviet Union.svg Liên Xô КПСС.svg Đảng Cộng sản Liên Xô (КПСС)
(trước đây Đảng Lao động Xã hội Dân chủ Nga (РСДРП), Đảng Lao động Xã hội Dân chủ Nga-Bolsheviks (РСДРП(б)), Đảng Cộng sản Nga (РКП(б)), Đảng Cộng sản Toàn Nga (ВКП(б)))
Flag of Romania (1965-1989).svg Coat of arms of the Socialist Republic of Romania.svg Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Romania Coat of arms of PCR.svg Đảng Cộng sản Romania
tiếng Romania: Partidul Comunist Român
Flag of Bulgaria (1971 – 1990).svg Coat of arms of Bulgaria (1971-1990).svg Cộng hòa Nhân dân Bulgaria Bandera del Partido Comunista Búlgaro.png Đảng Cộng sản Bulgaria
tiếng Bulgaria: Българска комунистическа партия
Flag of Poland.svg Coat of arms of Poland (1955-1980).svg Cộng hòa Nhân dân Ba Lan POL PZPR logo.svg Đảng Lao động Công đoàn Ba Lan
tiếng Ba Lan: Polska Zjednoczona Partia Robotnicza
Flag of East Germany.svg Coat of arms of East Germany.svg Cộng hòa Dân chủ Đức Sozialistische Einheitspartei Deutschlands Logo.svg Đảng Thống nhất Xã hội Chủ nghĩa Đức
tiếng Đức: Sozialistische Einheitspartei Deutschlands
Flag of the Czech Republic.svg Coat of arms of Czechoslovakia (1961-1989).svg Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Tiệp Khắc Emblem of the Communist Party of Czechoslovakia.svg Đảng Cộng sản Tiệp Khắc
tiếng Séc: Komunistická strana Československa
Flag of Hungary.svg Coat of arms of Hungary (1957-1990).svg Cộng hòa Dân chủ Hungary Logo of the Hungarian Socialist Workers' Party (1989-1993).svg Đảng Lao động Xã hội Chủ nghĩa Hungary
tiếng Hungary: Magyar Szocialista Munkáspárt
Flag of Albania (1946–1992).svg Coat of arms of the People's Republic of Albania.svg Cộng hòa Nhân dân Albania Partia e Punës e Shqipërisë.svg Đảng Lao động Albania
tiếng Albania: Partia e Punës e Shqipërisë
(rút khỏi khối năm 1961, chính thức rút khỏi tháng 9/1968)

Lãnh đạo Khối

Tổng Tư lệnh Tối cao Lực lượng vũ trang thống nhất

Tổng Tham mưu Liên hợp Lực lượng vũ trang thống nhất

  • 1955-1962 — Aleksey Innokent'evich Antonov — Đại tướng lục quân.
  • 1962-1965 — Pavel Batov — Đại tướng lục quân.
  • 1965-1968 — Mihail Kazakov — Đại tướng lục quân.
  • 1968-1976 — Sergei Shtemenko — Đại tướng lục quân.
  • 1976-1988 — Anatoly Gribkov — Đại tướng lục quân.
  • 1989-1991 — Vladimir Lobov — Đại tướng lục quân.

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ Warsaw Pact ends, www.history.com
  2. ^ Alice, M. Rivlin (1977). Assessing the NATO/Warsaw Pact Military Balance (PDF). Quốc hội Hoa Kỳ. tr. 4. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2014.
  3. ^ Warsaw Pact Agrees to Dissolve Its Military Alliance by March 31, The New York Times

Đọc thêm

  • Mastny, Vojtech và Malcolm Byrne biên khảo. A Cardboard Castle: An Inside History of the Warsaw Pact, 1955-1991. Budapest: Central European University Press, 2005. 726 pp.
  • Umbach, Frank. Das rote Bündnis: Entwicklung und Zerfall des Warschauer Pakts, 1955-1991. Berlin: Christoph Links Verlag, 2005. 701 pp.

Liên kết ngoài

1955

1955 (số La Mã: MCMLV) là một năm thường bắt đầu vào thứ Bảy trong lịch Gregory.

Bản mẫu:Tháng trong năm 1955

20 tháng 8

Ngày 20 tháng 8 là ngày thứ 232 (233 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 133 ngày trong năm.

9 tháng 11

Ngày 9 tháng 11 là ngày thứ 313 (314 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 52 ngày trong năm.

Aero L-29 Delfín

Aero L-29 Delfín (tiếng Séc của từ Dolphin, tên ký hiệu của NATO: Maya) là một máy bay huấn luyện phản lực quân sự đã trở thành máy bay phản lực huấn luyện tiêu chuẩn cho lực lượng không quân các nước thuộc Khối Warszawa vào thập kỷ 1960 và trong lực lượng không quân các quốc gia khác. Đây là máy bay phản lực đầu tiên được thiết kế và chế tạo tại Tiệp Khắc.

Chư hầu

Chư hầu là một từ xuất phát từ chữ Hán (諸侯), trong nghĩa hẹp của chữ Hán dùng từ thời Tam Đại ở Trung Quốc (gồm nhà Hạ, nhà Thương, nhà Chu) để chỉ tình trạng các vua chúa của các tiểu quốc bị phụ thuộc, phải phục tùng một vua chúa lớn mạnh hơn làm thiên tử thống trị tối cao. Các nước nhỏ có sự thừa nhận chính thức vị thế chư hầu trước một nước lớn và được gọi là "nước chư hầu".

Tại châu Âu trong chế độ phong kiến thời trung cổ mối quan hệ chư hầu (vassal) tồn tại ở dạng các lãnh chúa địa phương tuyên thệ trung thành với vua.Sau này, chư hầu được sử dụng theo nghĩa bóng, dùng để chỉ tình trạng nước nhỏ phụ thuộc lộ liễu vào nước lớn nào đó, với mức độ phụ thuộc khác nhau, mà không có các danh xưng "chư hầu" và "minh chủ" nữa. Vào thời kỳ chủ nghĩa tư bản ra đời và xâm chiếm thuộc địa thì quan hệ lệ thuộc được xác định ở các mức "thuộc địa" (phụ thuộc hoàn toàn) hay "bảo hộ" (có chính quyền địa phương tồn tại nhưng không độc lập). Sau Chiến tranh thế giới thứ hai khi hệ thống thuộc địa tan vỡ thì xuất hiện dạng thay thế là các hiệp ước liên minh tay đôi hoặc đa quốc gia như các "khối quân sự" NATO, SEATO, CENTO, khối Warszawa,... Đó là một hiện tượng của lịch sử, các nước nhỏ gom quanh ô che của nước lớn thành nhóm để tồn tại trong thế giới có nhiều xung đột.

Cách mạng România

Cuộc Cách mạng România (tiếng Romania: Revoluția Română) là một thời kỳ bạo động dân sự không ngừng nghỉ ở România vào tháng 12 năm 1989 và là một phần của các cuộc cách mạng năm 1989 xảy ra tại một vài các quốc gia thuộc Khối Warszawa. Cách mạng România nổ ra tại thành phố Timișoara và nhanh chóng lan rộng ra toàn quốc, đỉnh điểm là Tòa án xét xử Nicolae và Elena Ceaușescu và sau đó là xử tử nhà lãnh đạo Cộng sản lâu năm Nicolae Ceaușescu, kết thúc 42 năm Cộng sản cầm quyền tại România. Đây cũng là đợt xóa sổ một nước cộng sản nằm trong khối Warszawa trong chuỗi các sự kiện năm 1989, và là lần duy nhất lãnh đạo của một quốc gia cộng sản bị hành quyết.

Cộng hòa Nhân dân Ba Lan

Cộng hoà Nhân dân Ba Lan (tiếng Ba Lan: Polska Rzeczpospolita Ludowa) là tên gọi chính thức của Ba Lan từ năm 1952 tới năm 1989, khi Ba Lan còn theo chủ nghĩa cộng sản và là thành viên của Khối Warszawa. Dù thực tế nước này là một quốc gia cộng sản từ năm 1944.

Liên Xô đã có nhiều ảnh hưởng đối với đối nội và đối ngoại của quốc gia này, và các lực lượng Hồng quân đóng quân tại Ba Lan (năm 1945: 500.000 quân; cho đến năm 1955: 120.000 quân đến 150.000; đến năm 1989 có 40.000 quân). Năm 1945, các tướng Liên Xô và các cố vấn chiếm 80% cán bộ viên chức của các lực lượng vũ trang Ba Lan. Đảng Công nhân Thống nhất Ba Lan trở thành đảng chính trị chiếm ưu thế.

Học thuyết Brezhnev

Học thuyết Brezhnev là một chính sách đối ngoại của Liên Xô, nói về việc giới hạn quyền chủ quyết tại các nước Xã hội chủ nghĩa và quyền can thiệp, nếu trong những nước này hệ thống chính trị Xã hội chủ nghĩa bị đe dọa. Học thuyết này được nêu ra rõ ràng lần đầu tiên bởi S. Kovalev trong một bài viết đăng ngày 26 tháng 9 1968 trên báo Pravda, Với tựa là "Chủ quyền và nghĩa vụ quốc tế của các nước Xã hội chủ nghĩa." Học thuyết này đã được Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Leonid Brezhnev lập lại vào ngày 13 tháng 11 năm 1968 tại Đại hội Đảng thứ năm của Đảng Công nhân Thống nhất Ba Lan:

Học thuyết này được tuyên bố để bào chữa chuyện trong quá khứ, việc Khối Warszawa tấn công Tiệp Khắc vào tháng 8 năm 1968 mà đã kết thúc Mùa xuân Praha, cũng như những can thiệp trước đó bởi quân đội Liên Xô, ví dụ như Cuộc nổi dậy Hungary năm 1956. Những cuộc can thiệp này có mục đích là để đập tan những nỗ lực tự do hóa và những cuộc nổi dậy mà có thể làm hại đến quyền bá chủ của Liên Xô trong khối phía Đông.

Trên thực tế, chính sách này có nghĩa là nó cho phép giới hạn sự độc lập của các Đảng Cộng sản tại các nước vệ tinh của Liên Xô. Nó có nghĩa, không có nước nào được phép rời Khối Warszawa hay cản trở sự độc quyền của Đảng Cộng sản lãnh đạo. Học thuyết này ngầm cho thấy quyền lãnh đạo của Liên Xô, chỉ có nó có quyền định nghĩa thế nào là "Xã hội chủ nghĩa" và thế nào là "chủ nghĩa Tư bản".

Theo sau lời tuyên bố của Liên Xô, một loạt các hiệp định được ký kết giữa Liên Xô và các nước vệ tinh để xác nhận lại những điểm này và bảo đảm những quan hệ đôi bên. Những nguyên tắc này được diễn rộng đến nỗi Liên Xô dùng nó để biện minh cho sự can thiệp quân sự của họ vào nước không thuộc Khối Warszawa như cuộc Chiến tranh Afghanistan (1978–1992). Học thuyết Brezhnev có hiệu lực cho tới khi nó chấm dứt qua phản ứng của Liên Xô trong cuộc khủng hoảng Ba Lan 1980-81, và sau đó việc Mikhail Gorbachev không muốn dùng võ lực để can thiệp, khi Ba Lan cho bầu cử tự do 1989 và Công đoàn Đoàn kết đã đánh bại đảng Cộng sản.Nó được thay thế với một cái tên khôi hài học thuyết Sinatra vào tháng 10 năm 1989, được tuyên bố bởi phát ngôn viên bộ Ngoại giao Liên Xô Gennadi Gerasimov tại Phần Lan, ám chỉ bài hát của Frank Sinatra "My Way", với ý là các quốc gia thuộc Khối Warszawa (có nhắc tên Ba Lan và Hungary), bây giờ có thể tự cải tổ nội bộ, khỏi phải sợ là sẽ bị nước ngoài nhảy vào can thiệp.

Học thuyết Sinatra

Học thuyết Sinatra mô tả chính sách của Liên Xô dưới thời Mikhail Gorbachyov, mà đã cho phép các nước Khối Warszawa, tự giải quyết những chuyện nội bộ của mình.

Vào ngày 25 tháng 10 năm 1989 Gorbachyov đến gặp tổng thống Phần Lan Mauno Koivisto tại Helsinki. Cả hai cùng tuyên bố vào ngày đó, sẽ không dùng vũ khí trước để chống lại một liên minh đối nghịch, một nước trung lập hay một nước trong liên minh của mình.

Đó là một lời tuyên bố rõ ràng, không chỉ riêng cho Phần Lan. Phát ngôn viên báo chí của ngoại trưởng Liên Xô thời đó, Eduard Shevardnadze, và là thành đoàn của cuộc gặp mặt đó ở Helsinki, Gennadi Gerassimow, đã thông báo với giới báo chí, Gorbachyov đã cho ban hành „Học thuyết Sinatra“. Ông ta đã giải thích từ này cho các phóng viên có mặt ở đó:

Việc đặt tên học thuyết theo tên Frank Sinatra là muốn nhắc tới bài hát My Way, nổi tiếng thế giới qua ông ta, lấy đó làm tượng trưng là các quốc gia thuộc Khối Warszawa (có nhắc tên Ba Lan và Hungary), bây giờ có thể tự cải tổ nội bộ, khỏi phải sợ là sẽ bị nước ngoài nhảy vào can thiệp, như trong trường hợp Khối Warszawa tấn công Tiệp Khắc, mà được bào chữa bằng Học thuyết Brezhnev. Kết quả là các nước thuộc khối phía Đông đã bắt đầu cải tổ dân chủ, đưa tới việc sụp đổ bức tường Berlin, kết thúc cuộc chiến tranh lạnh.

Ivan Stepanovich Konev

Ivan Stepanovich Koniev (tiếng Nga: Иван Степанович Конев; đọc là Ivan Xtêphanôvích Cônhép; 28 tháng 12 năm 1897 - 21 tháng 5 năm 1973) là một chỉ huy cao cấp của Hồng quân Liên Xô trong Chiến tranh thế giới thứ hai, là Nguyên soái Liên Xô từ năm 1944. Sau chiến tranh, Koniev là Tư lệnh tối cao lực lượng vũ trang các nước thuộc Khối Warszawa.

Khối Warszawa tấn công Tiệp Khắc

Vào đêm ngày 20–21 tháng 8 năm 1968, Liên Xô và các quốc gia trong khối Warszawa – Bulgaria, Cộng hòa Dân chủ Đức (Đông Đức), Hungary và Ba Lan – tiến quân vào Tiệp Khắc để ngăn chặn Mùa xuân Praha của Alexander Dubček.Chiến dịch này có tên mã Danube, với số lượng binh lính vào khoảng 175,000 đến 500,000 , với Romania và Albania từ chối không tham dự; khoảng 500 người Séc và Slovak đã bị thương và 108 người bị chết trong các chiến dịch. Cuộc tấn công đã hoàn tất việc ngăn chặn cải tổ và củng cố lại quyền lực của Đảng Cộng sản Tiệp Khắc. Chính sách đối ngoại của Liên Xô trong thời kỳ này còn được gọi tên là Học thuyết Brezhnev.

Khối phía Đông

Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, thuật ngữ Khối phía đông (hay Khối Xô Viết) đã được dùng để chỉ Liên Xô và các đồng minh của mình ở Trung và Đông Âu (Bulgaria, Tiệp Khắc, Đông Đức, Hungary, Ba Lan, Româniavà - đến đầu thập niên 1960 - Albania).

Tên gọi "Khối phía đông" cũng đã được sử dụng để gọi chung tên của các quốc gia thành viên của Hiệp ước Warszawa (một liên minh quân sự do Liên Xô lãnh đạo) hoặc của tổ chức Comecon (Hội đồng Tương trợ Kinh tế) (một tổ chức kinh tế quốc tế của các nhà nước cộng sản). Các đồng minh của Liên Xô bên ngoài Đông Âu như Mông Cổ và thường là Cuba, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Bắc Triều Tiên đôi khi được bao gồm trong Khối phía đông.

Các thuật ngữ Khối phía đông và Liên Xô đôi khi bị nhầm lẫn. Dù Liên Xô đã có nhiều ảnh hưởng kinh tế và chính trị lên các đồng minh của Khối phía đông, các quốc gia khác trong Khối phía đông chưa bao giờ là một nước cộng hòa thành viên của Liên Xô.

NATO

NATO là tên tắt của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (tiếng Anh: North Atlantic Treaty Organization; tiếng Pháp: Organisation du Traité de l'Atlantique Nord và viết tắt là OTAN) là một liên minh quân sự dựa trên Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương được ký kết vào ngày 4 tháng 4 năm 1949 bao gồm Mỹ và một số nước ở châu Âu (các nước 2 bên bờ Đại Tây Dương). Trên danh nghĩa, NATO là một liên minh phòng thủ trong đó các nước thành viên thực hiện phòng thủ chung khi bị tấn công bởi bên ngoài, nhưng trong thực tế thì NATO cũng tổ chức nhiều cuộc tấn công nhằm vào các quốc gia khác (ví dụ như cuộc tấn công Nam Tư năm 1999, Afghanistan năm 2001, Iraq năm 2003, Libya năm 2011...).

Mục đích thành lập của NATO là để ngăn chặn sự phát triển ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản và Liên Xô lúc đó đang trên đà phát triển rất mạnh ở châu Âu. Việc thành lập NATO lại dẫn đến việc các nước cộng sản thành lập khối Warszawa để làm đối trọng. Sự kình địch và chạy đua vũ trang của hai khối quân sự đối địch này là cuộc đối đầu chính của Chiến tranh Lạnh trong nửa cuối thế kỷ 20.

Những năm đầu tiên thành lập, NATO chỉ là một liên minh chính trị. Tuy nhiên, do cuộc Chiến tranh Triều Tiên tác động, một tổ chức quân sự hợp nhất đã được thành lập. Nghi ngờ rằng liên kết của các nước châu Âu và Mỹ yếu đi cũng như khả năng phòng thủ của NATO trước khả năng mở rộng của Liên Xô, Pháp rút khỏi Bộ Chỉ huy quân sự của NATO (không rút khỏi NATO) năm 1966. Năm 2009, với số phiếu áp đảo của quốc hội dưới sự lãnh đạo của chính phủ của Tổng thống Nicolas Sarkozy, Pháp quay trở lại NATO.

Sau khi bức tường Berlin sụp đổ năm 1989, tổ chức này không còn đối trọng (khối Warszawa), nhưng NATO không giải tán mà tiếp tục tham gia vào các cuộc chiến tranh tấn công những nước khác, như cuộc phân chia nước Nam Tư, và lần đầu tiên can thiệp quân sự tại Bosna và Hercegovina từ 1992 tới 1995 và sau đó đã oanh tạc Serbia vào năm 1999 trong cuộc nội chiến ở Kosovo. Tổ chức ngoài ra có những quan hệ tốt hơn với những nước thuộc khối đối đầu trước đây trong đó nhiều nước từng thuộc khối Warszawa đã gia nhập NATO từ năm 1999 đến 2004. Ngày 1 tháng 4 năm 2009, số thành viên lên đến 28 với sự gia nhập của Albania và Croatia. Đến năm 2018 thì số lượng thành viên của NATO là 29 quốc gia sau khi Montenegro chính thức tham gia tổ chức này vào tháng 6 năm 2017. Từ sau sự kiện 11 tháng 9 năm 2001, NATO tập trung vào những thử thách mới, trong đó có các chiến dịch can thiệp quân sự tại Afghanistan, Iraq và Libya.

PPS

PPS (tiếng Nga: ППС, Пистолет-пулемёт Судаева, Pistolet-pulemjot Sudaeva) là loại súng tiểu liên do Alexei Sudayev phát triển sử dụng loại đạn 7.62x25mm Tokarev. Đây là loại vũ khí được chế tạo với tiêu chí rẻ, dễ chế tạo và bền để viện trợ và trang bị cho các lực lượng trong các khu vực đồng minh, các tổ lái và lực lượng vận chuyển quân nhu.

Hai mẫu chính của loại súng này là PPS-42 và PPS-43 được sử dụng rất nhiều trong lực lượng Hồng quân trong suốt chiến tranh thế giới thứ hai sau đó cùng với các phiên bản khác loại súng này được sử dụng rộng trong tất cả các nước thuộc khối Warszawa cũng như nhiều nước châu Phi và châu Á.

Súng tiểu liên

Súng tiểu liên là loại vũ khí cá nhân tầm gần, thuộc họ súng máy, cũng thuộc họ súng tự động tùy theo phân loại của các quốc gia. Tiểu liên có thể có tầm bắn lý thuyết lên đến 1.000 m (AK-47, M16) nhưng cự li sát thương có hiệu quả thường không quá 400 m, có loại chỉ 100 m (M3); cỡ nòng từ 5,56 mm (M16) đến 12 mm (M3), phổ biến nhất là hai cỡ nòng 5,56 mm (tiêu chuẩn NATO) và 7,62 mm (tiêu chuẩn khối Warszawa). Do cấu tạo trích khí gián tiếp hoặc trực tiếp để lùi khóa nòng phối hợp với lò xo đẩy đạn, lò xo hồi khóa nòng để nạp đạn tự động, tiểu liên có thể bắn từng phát hoặc bắn liên tục. Tốc độ bắn trong thử nghiệm súng có thể đạt 600 phát/phút. Tốc độ bắn trong thực tế chiến đấu khoảng 100 phát/phút. Hộp tiếp đạn có thể chứa từ 20 đến 40 viên. Một số loại tiểu liên cỡ lớn (AK-47) có thể lắp lưỡi lê để có thể giáp lá cà. Trong chiến đấu, tiểu liên tạo mật độ hỏa lực cao khi tấn công bằng cách bắn rải, bắn quét. Trong phòng ngự, tiểu liên phát huy độ chính xác khá cao khi bắn điểm xạ (2 đến 3 phát liên tục).

Tây Âu

Tây Âu là một khái niệm chính trị – xã hội xuất hiện trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh để chỉ khu vực của châu Âu, nằm kề các nước thuộc khối Warszawa và Nam Tư về phía tây. Đây là hệ thống chính trị và kinh tế đối lập với Đông Âu, vốn là khu vực chịu ảnh hưởng của Liên Xô từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Thuật ngữ này được dùng khi đề cập đến yếu tố kinh tế, chính trị, lịch sử hơn là nói về sự phân cách đất đai cụ thể. Các quốc gia trung lập được xác định theo bản chất bộ máy chính trị.

Ranh giới văn hóa và tôn giáo giữa Tây Âu và Đông Âu xen phủ lẫn nhau, không đơn giản phân định một cách chính xác bởi những biến động lịch sử.

Tên ký hiệu của NATO

Tên ký hiệu của NATO là mật danh dành cho các thiết bị quân sự của Khối phía Đông (Liên Xô và các nước thành viên Khối Warszawa) và Trung Quốc. Những mật danh này đặt theo tên tiếng Anh dễ hiểu và ít gây nhầm lẫn, mang tính nhất quán, nhằm thay thế cho tên gọi gốc -- mà có thể phương Tây không biết, hoặc dễ gây nhầm lẫn cho họ.

NATO có một danh sách những tên gọi này. Việc chỉ định những tên cho máy bay của Liên Xô và Trung Quốc được giao cho Ủy ban điều phối tiêu chuẩn không trung (Air Standardization Coordinating Committee - ASCC, nay gọi là Hội đồng liên tác chiến không gian - Air and Space Interoperability Council, ASIC) gồm 5 quốc gia Úc, Canada, New Zealand, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ.

Yakovlev Yak-30 (1960)

Bài này nói về một máy bay huấn luyện trong thập kỷ 1960. Có một bài nói về máy bay đánh chặn trong thập niên 1940, xem Yakovlev Yak-30 (1948).

Yakovlev Yak-30 (tên hiệu NATO: Magnum) là một máy bay huấn luyện phản lực quân sự, được thiết kế cho một cuộc cạnh tranh cung cấp máy bay huấn luyện đa mục đích cho các nước trong Khối Warszawa.

Đông Âu

Đông Âu hoặc Khối Đông Âu là một khái niệm chính trị – xã hội chủ yếu bị ảnh hưởng bởi Chiến tranh Lạnh, là yếu tố chính tạo ra biên giới của nó. Biên giới của nó được củng cố hữu hiệu trong các giai đoạn cuối của Chiến tranh thế giới thứ hai (sau Hội nghị Yalta) và bao trùm tất cả các quốc gia nằm dưới quyền ảnh hưởng và kiểm soát của Liên Xô, liên kết bởi các liên minh – liên minh quân sự (Khối Warszawa) và liên minh kinh tế (Khối SEV hay còn gọi là Hội đồng Tương trợ Kinh tế). Vì các quốc gia này theo chế độ cộng sản và nằm ở phía đông của châu Âu, với ranh giới là dãy Ural và Kavkaz nên chúng được sắp xếp một cách tự nhiên thành các quốc gia Đông Âu.

Tuy nhiên, định nghĩa này đã dần lỗi thời sau những biến động to lớn ở Đông Âu và Liên Xô trong những năm 1988–1991, khi mà Đông Đức đã sáp nhập với Tây Đức qua cuộc thống nhất nước Đức, và trở thành một phần của Tây Âu. Khối Đông Âu đã bị tan vỡ và cùng theo với sự tan vỡ này, các liên minh trên tuyên bố tự giải thể.

Theo cách sử dụng và nhận thức thông thường, Đông Âu trước đây (và bây giờ theo quy mô hẹp hơn) khác với Tây Âu vì những dị biệt về văn hoá, chính trị và kinh tế, biên giới của nó có chút liên quan tới yếu tố địa lý. Dãy núi Ural là biên giới địa lý rõ ràng của Đông Âu, Đông Âu nằm ở phía tây dãy Ural. Tuy nhiên đối với Phương Tây, biên giới tôn giáo và văn hóa giữa Đông và Tây Âu có sự nằm chồng lên nhau đáng kể và quan trọng nhất là sự thay đổi bất thường trong lịch sử khiến việc hiểu về nó một cách chính xác gặp phải đôi chút khó khăn.

Đông Âu gồm có:

Lãnh thổ châu Âu của Nga, một quốc gia xuyên lục địa.

Các quốc gia Baltic:

Estonia

Latvia

Litva.

Phần lớn các nước Balkan, trừ Hy Lạp được xem là một phần của Tây Âu, và lãnh thổ châu Âu của Thổ Nhĩ Kỳ thường thì không tính vào.

Slovenia

Croatia

Bosna và Hercegovina

Serbia

Montenegro

Macedonia

Albania

Bulgaria

Các quốc gia khác:

Ba Lan

Cộng hòa Séc

Slovakia

Hungary

Belarus

Ukraina

România

Moldova.

Thập niên 1940
Thập niên 1950
Thập niên 1960
Thập niên 1970
Thập niên 1980
Thập niên 1990
Xem thêm
Tổ chức
Chạy đua
Ý thức hệ
Tuyên truyền
Chính sách ngoại giao

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.