Khối Đồng Minh thời Chiến tranh thế giới thứ hai

Đồng Minh là tên gọi một khối các quốc gia liên kết quân sự với nhau chống lại quân của khối Trục trong Đệ Nhị Thế Chiến.

Sau khi Đức Quốc Xã cưỡng chiếm Ba Lan ngày 1/9/1939, AnhPháp tuyên chiến với Đức. Trong khi Đức hợp với Phát xít Ý tạo liên hiệp quân sự khối Trục, nhiều nước khác theo gia nhập phe Đồng Minh. Liên Xô gia nhập Đồng Minh sau khi Adolf Hitler tấn công vào đất Liên Xô. Sau cuộc oanh tạc Trân Châu Cảng, Hoa Kỳ tham chiến theo Đồng Minh còn Đế quốc Nhật Bản vào khối Trục.

Đồng minh trong Thế chiến II
1939–1945
*      Đồng minh và các thuộc địa *      Các nước Đồng minh tham chiến sau trận Trân Châu Cảng *      Phe Trục Và co-belligerents *      Nước trung lập và các thuộc địa Bốn quốc gia chính: *  Hoa Kỳ (từ tháng 12 năm 1941) *  Liên Xô (từ tháng 6 năm 1941) *  Anh Quốc *  Trung Quốc Các quốc gia bị chiếm đóng với chính phủ lưu vong: * Pháp * Ba Lan * Nam Tư * Hy Lạp * Hà Lan * Bỉ * Na Uy * Tiệp Khắc * Luxembourg Các quốc gia chiến đấu đồng minh khác: *  Ấn Độ *  Canada *  Úc *  New Zealand *  Nam Phi * Nepal *  Ethiopia *  Brasil *  Philippines *  Mông Cổ *  México *  Cuba *  Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Các quyền hạn hoặc đồng phạm cũ của phe Trục: *  Ý (từ 1943) *  România (từ 1944) * Bulgaria (từ 1944) *  Phần Lan (từ 1944)
  •      Đồng minh và các thuộc địa
  •      Các nước Đồng minh tham chiến sau trận Trân Châu Cảng
  •      Phe Trục Và co-belligerents
  •      Nước trung lập và các thuộc địa

Bốn quốc gia chính:

Các quốc gia bị chiếm đóng với chính phủ lưu vong:
  • Pháp
  • Ba Lan
  • Nam Tư
  • Hy Lạp
  • Hà Lan
  • Bỉ
  • Na Uy
  • Tiệp Khắc
  • Luxembourg

Các quốc gia chiến đấu đồng minh khác:

Các quyền hạn hoặc đồng phạm cũ của phe Trục:
Vị thếLiên minh quân sự
Lịch sử
Thời kỳThế chiến II
• Thành lập
1939
• Disestablished
1945
Cairo conference
Tưởng Giới Thạch, Franklin D. Roosevelt, và Winston Churchill tại Hội nghị Cairo, ngày 25 tháng 11 năm 1943.
Tehran Conference, 1943
Ba lãnh tụ đại diện Đồng Minh: Iosif Vissarionovich Stalin (Liên Xô), Franklin Roosevelt (Hoa Kỳ) và Winston Churchill (Liên hiệp Anh) - tại cuộc họp mặt ở Tehran năm 1943

Những quốc gia thuộc khối Đồng Minh

Sau khi Đức Quốc Xã chiếm Ba Lan

Sau khi kết thúc chiến tranh kỳ quặc

Sau khi Nhật oanh tạc Trân Châu Cảng

Sau ngày ký kết Hiến chương Đại Tây Dương

Sau ngày đổ bộ Normandie

Xem thêm

Cá sấu tấn công

Cá sấu ăn thịt người hay cá sấu giết người, cá sấu tấn công người là thuật ngữ chỉ về những cuộc tấn công của các loại cá sấu đối với con người trong môi trường sống của chúng hoặc những sự cố xảy ra trong việc nuôi, nhốt cá sấu. Thông thường những cuộc tấn công này kết thúc bằng một thảm kịch với việc con người bị ăn thịt một cách rùng rợn. Chỉ có 6 trong số 23 loài cá sấu được coi là nguy hiểm cho con người trưởng thành và chỉ có cá thể dài đến 2 mét (6,6 ft) hoặc nhiều hơn mới đại diện cho một mối nguy hiểm nghiêm trọng cho con người, những con cá sấu nhỏ hơn được coi là không có khả năng giết chết một người. Tuy nhiên, ngay cả những loài nhỏ nhất có thể gây ra vết cắn đau đớn cần phải khâu nếu bị cắn mạnh. Ngoài ra, một đứa trẻ nhỏ có thể có kích thước tương tự như con mồi của một số loài cá sấu mà không có khả năng săn những người trưởng thành.

Sáu loài cá sấu có thể gây nguy hiểm cho con người là:

Cá sấu sông Nin

Cá sấu nước mặn

Cá sấu đầm lầy

Cá sấu Mỹ

Cá sấu mõm ngắn Mỹ

Cá sấu đenHai loài cá sấu nổi tiếng trong việc tấn công và ăn thịt người là cá sấu sông Nin và cá sấu nước mặn. Mỗi năm, hàng trăm cuộc tấn công chết được cho là do cá sấu sông Nile ở trong tiểu vùng cận Sahara ở châu Phi, chúng tấn công và ăn thịt người nhiều hơn bất kỳ động vật ăn thịt hoang dã khác tấn công con người để ăn thịt, cũng có nhiều cuộc tấn công của cá sấu nước mặn ở Úc. Một thống kê mới nhất trong đầu năm 2014 có đến 66 vụ cá sấu tấn công chết người trên toàn cầu. Ngoài ra, cá sấu mõm ngắn và có thể cả Cá sấu đen (là loài đang nguy cấp trong sách đỏ của IUCN) cũng là những loài gây nguy hiểm cho con người. Một so sánh với cá mập thì cá sấu nguy hiểm với con người đến 168 lần.

Kế hoạch Marshall

Kế hoạch Marshall (Marshall Plan) là một kế hoạch trọng yếu của Hoa Kỳ nhằm tái thiết và thiết lập một nền móng vững chắc hơn cho các quốc gia Tây Âu, đẩy lùi chủ nghĩa cộng sản sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Mang tên chính thức "Kế hoạch phục hưng châu Âu" (European Recovery Program - ERP), nhưng Kế hoạch Marshall thường được gọi theo tên của Ngoại trưởng Mỹ George Marshall, người đã khởi xướng và ban hành kế hoạch. Kế hoạch Marshall là thành quả lao động của các quan chức Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, trong đó ghi nhận sự đóng góp đặc biệt của William L. Clayton và George F. Kennan.

Kế hoạch tái thiết được phát triển tại cuộc họp mặt của các quốc gia Châu Âu ngày 12 tháng 7 năm 1947. Kế hoạch Marshall đề ra việc viện trợ tương đương cho Liên Xô và đồng minh của họ, nhưng không được chấp nhận. Kế hoạch được thực thi trong vòng 4 năm, kể từ tháng 7 năm 1947. Trong thời gian đó, có khoảng 17 tỷ đô la Mỹ viện trợ kinh tế và hỗ trợ kỹ thuật để giúp khôi phục các quốc gia châu Âu tham gia Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế - OECD. Nhiều quốc gia châu Âu đã nhận được viện trợ trước khi có Kế hoạch Marshall, kể từ năm 1945, cùng với các điều kiện chính trị kèm theo.

Kế hoạch Marshall cũng là một phần trong kế hoạch chính trị của Mỹ nhằm tăng cường ảnh hưởng đối với các nước Đồng minh Tây Âu và chống lại Liên Xô, cũng như để tạo thuận lợi cho việc kinh doanh của các Tập đoàn xuyên quốc gia Mỹ tại Tây Âu. Để phục vụ mục đích này, Mỹ đã viện trợ kinh tế cho cả chính quyền phát xít Tây Ban Nha, cũng như viện trợ chiến phí cho thực dân Pháp, thực dân Hà Lan quay trở lại xâm chiếm Đông Nam Á. Cho tới khi kết thúc dự án, nền kinh tế của các quốc gia nằm trong Kế hoạch, ngoại trừ Tây Đức, đã phát triển vượt mức trước chiến tranh.

Trong vòng hai thập kỷ tiếp đó, nhiều vùng ở Tây Âu tiếp tục đạt được mức tăng trưởng chưa từng có trước đó. Kế hoạch Marshall cũng được xem là một trong các thành tố của quá trình hội nhập châu Âu, vì nó xóa bỏ hàng rào thuế quan và thiết lập các cơ quan điều phối kinh tế tầm cỡ lục địa.

Trong những năm gần đây, các sử gia đặt câu hỏi về cả động cơ bên trong cũng như tính hiệu quả chung của Kế hoạch Marshall. Một số sử gia cho rằng hiệu quả của Kế hoạch Marshall thực tế là từ chính sách laissez-faire (tạm dịch: thả nổi) cho phép thị trường tự bình ổn qua sự phát triển kinh tế. Người ta cho rằng Tổ chức Cứu trợ và Phục hồi của Liên Hiệp Quốc, vốn giúp hàng triệu người tị nạn từ năm 1944 tới 1947, cũng giúp đặt nền móng cho sự phục hồi châu Âu thời hậu chiến.

Kế hoạch phá hoại việc sản xuất vũ khí hạt nhân của Khối Đồng Minh

Kế hoạch phá hoại việc sản xuất vũ khí hạt nhân của Khối Đồng Minh thời Chiến tranh thế giới thứ hai là một chuỗi những chiến dịch, trọng tâm vào năm 1943 phá hủy nhà máy Vermork sản xuất nước nặng nhằm làm chậm kế hoạch sản xuất vũ khí hạt nhân của Đức Quốc Xã.

Kế hoạch đã thành công, góp phần làm chậm giấc mơ bom hạt nhân của Adolf Hitler, mà theo các sử gia, nếu như không có vụ này thì chưa biết cuộc chiến sẽ xoay chiều ra sao, nhất là trong trường hợp chiến tranh kéo dài và Hoa Kỳ thất bại trong dự án Manhattan. Mặc dù chương trình nguyên tử của Hitler gặp không ít khó khăn bởi sai lầm của nhà vật lý Werner Heisenberg khi dùng nước nặng thay cho than chì để làm tác nhân điều tiết trong quá trình chế tạo Urani. Nước nặng không chỉ kém hiệu quả hơn than chì mà còn khó sản xuất với số lượng lớn. Điều này đồng nghĩa với việc phải phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn cung cấp từ nhà máy Vemork ở Na Uy. Đáng chú ý nhất là chủ nghĩa bài Do Thái. Tầng đầu tiên của vật lý năng lượng cao (Einstein, Bohr, Fermi, và Robert Oppenheimer) đã làm nhiều nghiên cứu ở Đức, đều là người Do Thái hay trong trường hợp của Enrico Fermi, kết hôn với người Do Thái. Robert Oppenheimer, một người Mỹ gốc Do Thái, cũng bởi niềm xác tín và đi theo xã hội chủ nghĩa, và đã liên kết với Đảng Cộng sản. Khi họ rời Đức, chỉ có một nhà vật lý nguyên tử còn lại ở Đức là Werner Heisenberg.

Quan hệ tam cường Đồng Minh trong Chiến tranh thế giới thứ hai

Tam cường Đồng minh trong Chiến tranh thế giới thứ hai gồm có Liên Xô, Hoa Kỳ và Anh.Cả ba nước đều

góp nhiều công lao cho chiến thắng cuối cùng của Quân đồng minh.Nhờ sự liên kết chặt giữa các nước trên mà quân đồng minh có thể chiến thắng.

Việt Minh

Việt Nam Độc lập Đồng minh (tên chính thức trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ VIII Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương) còn gọi là Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội, gọi tắt là Việt Minh, là liên minh chính trị do Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập ngày 19 tháng 5 năm 1941 với mục đích công khai là "Liên hiệp tất cả các tầng lớp nhân dân, các đảng phái cách mạng, các đoàn thể dân chúng yêu nước, đang cùng nhau đánh đuổi Nhật - Pháp, làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập, dựng lên một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa".Do Việt Minh được Đảng Cộng sản Việt Nam xem là một hình thức mặt trận dân tộc thống nhất ở Việt Nam nên còn được gọi là Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh, Mặt trận Việt Minh. Mặt trận dân tộc thống nhất là mặt trận thống nhất do các dân tộc, các giai cấp, các đảng phái quốc nội kết thành nhằm tiến hành cách mạng dân tộc, chống lại sự xâm lược và áp bức của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân.Trước đó, đã có một tổ chức chính trị chống đế quốc của người Việt Nam ở nước ngoài có tên gọi tương tự là Việt Nam Độc lập Vận động Đồng minh Hội, gọi tắt là Việt Minh, được thành lập năm 1936 ở Nam Kinh (Trung Quốc). Theo Hoàng Văn Hoan, Hồ Chí Minh chủ trương lấy danh nghĩa hội này và mời Hồ Học Lãm làm chủ trì để dựa vào mà hoạt động.Sau khi Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố "giải tán", nó là một tổ chức chính trị tham gia bầu cử và nắm chính quyền, là thành viên của Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam, sau lại tách ra, tồn tại đến năm 1951.

Trong cuộc chiến với người Pháp, Việt Minh là vũ khí chính trị hiệu quả do Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập nhằm thu hút mọi tầng lớp người dân, kể cả những người không Cộng sản, tham gia chiến đấu dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

Yayoi (tàu khu trục Nhật) (1925)

Yayoi (tiếng Nhật: 弥生) là một tàu khu trục hạng nhất thuộc lớp Mutsuki của Hải quân Đế quốc Nhật Bản, bao gồm mười hai chiếc được chế tạo sau Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Được xem là tiên tiến vào lúc đó, những con tàu này đã phục vụ như những tàu khu trục hàng đầu của Nhật trong những năm 1930, nhưng được xem là đã lạc hậu vào lúc Chiến tranh Thái Bình Dương nổ ra; dù sao lớp Mutsuki vẫn được giữ lại ở tuyến đầu nhờ tầm xa hoạt động và kiểu ngư lôi mạnh mẽ mà chúng được trang bị. Yayoi đã tham gia nhiều hoạt động khác nhau cho đến khi bị máy bay Mỹ đánh chìm tại khu vực quần đảo Solomon vào tháng 9 năm 1942.

Đạo luật Magnuson

Đạo luật Magnuson hay Đạo luật hủy bỏ sự ngăn chặn người Trung Hoa năm 1943 là một đạo luật do Dân biểu (sau này là Thượng nghị sĩ) Warren G. Magnuson của tiểu bang Washington đề xuất và được ký ban hành ngày 17 tháng 12 năm 1943 ở Hoa Kỳ. Nội dung đạo luật là về việc cho phép dân Trung Hoa được nhập cư vào Mỹ sau khi Đạo luật ngăn chặn người Trung Hoa được ban hành năm 1882. Đạo luật này còn cho phép một số dân nhập cư Trung Hoa đang sinh sống tại Hoa Kỳ được phép trở thành công dân nước này. Đạo luật đánh dấu lần đầu tiên kể từ khi Đạo luật nhập quốc tịch năm 1790 quy định rằng bất kỳ người Á châu nào cũng được phép nhập tịch Mỹ. Tuy vây, Đạo luật Magnuson vẫn tiếp tục kéo dài quy định cấm dân Trung Hoa sở hữu tài sản và doanh nghiệp. Tại nhiều tiểu bang, người Mỹ gốc Hoa (gồm cả những người đã là công dân Mỹ) không có quyền sở hữu tài sản cho đến tận khi Đạo luật Magnuson bị bãi bỏ hoàn toàn năm 1965.Đạo luật Magnuson được thông qua ngày 17 tháng 12 năm 1943, ngay vào năm mà Trung Hoa Dân quốc trở thành thành viên chính thức trong Khối Đồng Minh thời Chiến tranh thế giới thứ hai. Mặc dù nhiều người đánh giá đây là một bước tiến tích cực nhưng đạo luật vẫn giới hạn dân nhập cư Trung Hoa, chỉ cho phép cấp 105 visa nhập cảnh mỗi năm. Hạn mức visa do Đạo luật nhập cư năm 1924 quy định, theo đó thì xét nhập cư cho dân từ các quốc gia có người nhập cư mang quốc tịch quốc gia đó chiếm 2% dân số Hoa Kỳ năm 1890. Tuy nhiên, con số 105 dành cho dân Trung Hoa thì thấp hơn hẳn mức đó (đúng ra phải là 2.150 visa/năm vì lượng dân Trung Hoa sống ở Hoa Kỳ năm 1890 là 107.488 người). Cho dù không xét đến phương pháp tính toán thì số dân Trung Hoa được nhập cư cũng không tương xứng khi so sánh với số dân mang quốc tịch và sắc tộc khác.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.