Kavkaz

Kavkaz (phiên âm tiếng Việt: Cáp-ca hay Cáp-ca-dơ, tiếng Anh: Caucasus, tiếng Adygea: Къэфкъас, tiếng Armenia: Կովկաս, tiếng Azerbaijan: Qafqaz, tiếng Gruzia: კავკასია (K'avk'asia), tiếng Nga: Кавка́з, tiếng Ossetia: Кавказ, tiếng Chechnya: Кавказ, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: Kafkasya) là một khu vực địa lý nằm ở biên giới giữa châu Âuchâu Á. Nơi đây có dãy núi Kavkaz, bao gồm ngọn núi cao nhất châu Âu là núi Elbrus.

Phần Bắc Kavkaz bao gồm:

Phần Nam Kavkaz bao gồm:

Kavkaz
Caucasus mountain range map-fr
Dãy núi Kavkaz
Caucasus-political vi
Các quốc gia
Các quốc gia chưa được công nhận
Múi giờUTC+4:00, UTC+5:00, UTC+03:00
Caucasus region 1994
Bản đồ năm 1994 của vùng Caucasus, bao gồm nhiều vùng tài nguyên chung của nhiều nước trong khu vực có chứa các khoáng sản: alunite, vàng, crom, đồng, sắt, thủy ngân, mangan, Molypden, chì, wolfram, kẽm, dầu mỏ, khí tự nhiên, và than đá.

Địa chính trị

Caucasus-political en
Bản đồ chính trị của vùng Caucasus (2008)

Phần phía bắc của vùng Caucasus được gọi là Ciscaucasus và phần phía nam là Transcaucasus. Ciscaucasus chứa phần lớn hơn của vùng núi Đại Caucasus, còn được gọi là núi Caucasus chính. Nó bao gồm Tây Nam nước Nga và các vùng phía bắc của Gruzia và Azerbaijan. Vùng Transcaucas nằm phía Bắc giáp Nga, phía Tây giáp biển Đen và Thổ Nhĩ Kỳ, phía đông là biển Caspian, và phía nam của Iran. Nó bao gồm dãy núi Caucasus và các vùng đất thấp xung quanh. Tất cả Armenia, Azerbaijan (trừ phần phía bắc) và Gruzia (không bao gồm các phần phía Bắc) nằm ở Nam Caucasus. Dãy núi Caucasus chính được xem là đường phân chia giữa châu Á và châu Âu. Đỉnh cao nhất ở vùng Caucasus là núi Elbrus (5.642 m) ở Tây Ciscaucas ở Nga, và thường được coi là điểm cao nhất ở châu Âu. Caucasus là một trong những vùng ngôn ngữ và văn hoá đa dạng nhất trên trái đất. Các quốc gia bao gồm Caucasus ngày nay là các nước hậu Xô viết của Gruzia (gồm Adjara), Armenia và Azerbaijan (bao gồm cả Nakhchivan). Ba lãnh thổ trong khu vực đòi độc lập nhưng chỉ được công nhận bởi một số ít các quốc gia độc lập: Nagorno-Karabakh, Abkhazia và Nam Ossetia. Abkhazia và Nam Ossetia được đa số các quốc gia độc lập công nhận là một phần của Gruzia, và Nagorno-Karabakh được công nhận là một phần của Azerbaijan. Các đơn vị của Nga bao gồm Krasnodar Krai, Stavropol Krai, và các nước cộng hòa tự trị Adygea, Karachay-Cherkessia, Kabardino-Balkaria, Bắc Ossetia, Ingushetia, Chechnya và Dagestan.

Liên kết

Chechnya

Cộng hòa Chechnya (tiếng Nga: Чече́нская Респу́блика Čečenskaja Respublika; tiếng Chechnya: Нохчийн Республика/Noxçiyn Respublika), là một nước thuộc liên bang Nga. Nằm trên vùng núi Bắc Caucasus, Chechnya giáp phía tây–bắc với Stavropol Krai, phía đông; đông–bắc giáp Gruzia, phía tây giáp Ingushetiya và Bắc Ossetia.

Trong thời gian Liên Xô sụp đổ, chính phủ lâm thời của Chechnya tuyên bố độc lập, đặt tên nước là Cộng hòa Chechnya. Nhưng hiện nay nền cộng hòa này vẫn chưa được quốc tế công nhận. (Năm 2000 chính phủ Taliban của Afghanistan công nhận Cộng hòa Chechnya trước khi bị quân đội Hoa Kỳ đánh đuổi.)

Chiến dịch Barbarossa

Barbarossa (tiếng Đức: Unternehmen Barbarossa) là mật danh của chiến dịch xâm lược Liên bang Xô viết do Quân đội Đức Quốc xã tiến hành trong chiến tranh thế giới thứ hai. Với tên ban đầu là kế hoạch Otto và được đích thân Hitler đổi thành "Barbarossa" theo biệt hiệu của vị Hoàng đế La Mã Thần thánh Friedrich I ở thế kỷ XII vào ngày 18 tháng 12 năm 1940, chiến dịch có mục tiêu nhanh chóng chiếm đóng phần lãnh thổ phía Tây đường ranh giới nối liền giữa hai thành phố Arkhangelsk và Astrakhan (thường gọi là tuyến A-A) của Liên Xô, được mở màn vào sáng ngày 22 tháng 6 năm 1941 trên toàn bộ tuyến biên giới phía Tây của Liên Xô và thực tế kết thúc vào đầu tháng 2 năm 1942 trước cửa ngõ Moskva.

Trong toàn chiến dịch, mặc dù Quân đội Đức Quốc xã đã giành được một số chiến thắng vang dội ở cấp độ chiến thuật, chiếm được phân nửa lãnh thổ thuộc châu Âu của Liên Xô trong đó có một số vùng kinh tế quan trọng, nhưng không hoàn thành mục tiêu mà kế hoạch đề ra. Kể từ sau khi đợt tấn công Moskva bị bẻ gãy vào cuối tháng 1 năm 1942, Quân đội Đức Quốc xã không còn đủ sức tổ chức một đợt tổng tấn công nào khác trên toàn bộ mặt trận, khiến chiến lược đánh nhanh thắng nhanh trước mùa đông 1941-1942 của Hitler hoàn toàn phá sản.

Thất bại về mặt chiến lược của chiến dịch Barbarossa là một bước ngoặt quan trọng, buộc Hitler phải tham gia vào một cuộc chiến tranh tổng lực mà nước Đức Quốc xã và đồng minh phe Trục kém thế tương quan về năng lực sản xuất công nghiệp và khả năng tổng động viên so với Liên Xô và phe Đồng minh, dẫn tới sự suy yếu rồi thất bại hoàn toàn trong Chiến tranh thế giới thứ hai.

Về mặt lịch sử, thì chiến dịch Barbarossa được ghi nhận là chiến dịch quân sự có quy mô lớn nhất về quân số tham chiến và cũng là chiến dịch đẫm máu nhất với con số thương vong lớn chưa từng có trong lịch sử thế giới.

Chiến dịch Barvenkovo-Lozovaya

Chiến dịch Barvenkovo-Lozovaya (Lozova) (được Thống chế Đức Wilhelm Bodewin Gustav Keitel gọi là Trận Kharkov lần thứ hai) là một hoạt động quân sự lớn của quân đội Liên Xô và quân đội Đức Quốc xã tại sườn phía Nam mặt trận Xô-Đức, chiến trường chính của chiến dịch là khu vực tam giác Barvenkovo-Vovchansk-Krasnograd ở phía Đông Kharkov, trên khu vực nằm giữa hai con sông Bắc Donets và Oskol. Dựa vào ưu thế tương đối về binh lực tại khu vực mặt trận Tây Nam, Phương diện quân Tây Nam đã đệ trình kế hoạch chiến dịch từ cuối tháng 2 năm 1942 với ý đồ chiếm lại Kharkov bằng hai đòn vu hồi từ phía Bắc và phía Nam. Kế hoạch này bị Bộ Tổng tham mưu quân đội Liên Xô phản đối vì khi tính toán tại thì thấy không được bảo đảm về nhân lực và vật chất. Tuy nhiên, I. V. Stalin lại ủng hộ kế hoạch này và lệnh cho Bộ Tổng tham mưu phải tuân thủ do Tư lệnh Phương diện quân Tây Nam S. K. Timoshenko cam đoan sẽ thành công.Khởi đầu ngày 12 tháng 5, sau ba ngày tấn công, bốn tập đoàn quân bộ binh và hai quân đoàn xe tăng Liên Xô đã tiến công đến cách phía Bắc và phía Nam Kharkov khoảng 40 đến 60 km. Ngày 14 tháng 5, Cụm tập đoàn quân Nam (Đức) bắt đầu giai đoạn đệm của Chiến dịch Blau với mục đích chiếm một số bàn đạp chuẩn bị cho cuộc tổng tấn công lớn vào mùa hè tại phía Nam mặt trận Xô-Đức. Sự cố tình trì hoãn việc dừng chiến dịch khi hậu cứ các cánh quân tấn công bị uy hiếp của nguyên soái S. K. Timoshenko đã khiến Phương diện quân Tây Nam (Liên Xô) đã phải trả giá đắt. Hai tập đoàn quân và hai quân đoàn xe tăng bị bốn tập đoàn quân Đức và Tập đoàn quân 2 Hungary bao vây tiêu diệt và bị bắt làm tù binh. Hai tập đoàn quân và hai quân đoàn xe tăng khác bị thiệt hại nặng. Phương diện quân Tây Nam và Phương diện quân Nam (Liên Xô) phải rút lui về sông Oskol. Một tháng sau, với binh lực lên đến 102 sư đoàn, Cụm tập đoàn quân Nam (Đức) được tăng cường Tập đoàn quân xe tăng 4 từ Cụm tập đoàn quân Trung tâm tiếp tục tấn công, đánh chiếm tuyến đường sắt bên hữu ngạn sông Đông, chiếm một loạt các vị trí quan trọng trên bờ Tây sông Đông và mở các chiến dịch Braunschweig tấn công trực diện vào Stalingrad, chiến dịch Edelweiss tràn vào Bắc Kavkaz.Thất bại của quân đội Liên Xô trong Chiến dịch Barvenkovo-Lozovaya vô hình trung đã tạo đà cho quân Đức phát huy thế mạnh các lực lượng tăng - thiết giáp của họ còn đang sung sức để hoàn thành bước đầu Kế hoạch Xanh, bổ đôi mặt trận của Liên Xô, tiến ra sông Volga và tràn đến Bắc Kavkaz, uy hiếp vùng dầu mỏ Baku - Grozny cực kỳ quan trọng đối với Liên Xô. Sau thất bại này, Nguyên soái S. K. Timoshenko phải rời khỏi vị trí tư lệnh Phương diện quân Tây Nam và chỉ còn vài lần được cử ra mặt trận với tư cách đại diện của Đại bản doanh. Kết quả tai hại của chiến dịch này còn làm cho Bộ Tổng tư lệnh quân đội Liên Xô phải đưa đến Phương diện quân Tây Nam một phần lực lượng dự bị mà khó khăn lắm, họ mới dành dụm được trong mùa đông 1941-1942. Tất cả cũng chỉ đủ để cứu vãn cho bốn tập đoàn quân còn lại của Phương diện quân này khỏi bị hợp vây và lập được trận tuyến phòng ngự mới trên tả ngạn sông Đông.

Chiến dịch Blau

Chiến dịch Blau (tiếng Đức: Fall Blau) là mật danh của Kế hoạch tổng tấn công từ mùa hè năm 1942 của quân đội Đức Quốc xã trên toàn bộ cánh Nam của mặt trận Xô-Đức trong Chiến tranh thế giới thứ hai, (blau có nghĩa là "xanh" trong tiếng Đức). Ban đầu tên dự định của chiến dịch này là Siegfried, đặt theo tên của một người anh hùng trong thần thoại German. Tuy nhiên Adolf Hitler nhớ đến chiến dịch tấn công trước đó với cái tên hoành tráng, chiến dịch Barbarossa (tên của một hoàng đế nổi tiếng của Đức thế kỉ 12), với kết quả không như mong đợi của nó nên đã đặt một cái tên vừa phải hơn là Blau. Do đó "Chiến dịch Blau" thực chất là tổ hợp các chiến dịch mang tên Blau.

Trong lịch sử quân sự Liên Xô (trước đây) và Nga (hiện nay), nó còn được biết đến với tên gọi Chiến cục 1942-1943. Đây là một tổ hợp hoạt động quân sự rất lớn gồm hàng loạt chiến dịch song song và nối tiếp nhau tương tự như Chiến dịch Barbarossa một năm trước đó. Bắt đầu ngày 28 tháng 6 năm 1942 bằng Chiến dịch Voronezh, với thất bại cực kỳ nặng nề ngày 2 tháng 2 năm 1943 tại Trận Stalingrad và kết thúc bằng việc tạm giành được quyền chủ động mong manh trước Trận Kursk, Chiến dịch Blau thể hiện tham vọng rất lớn của nước Đức Quốc xã trong những cố gắng tiêu diệt nhà nước Xô Viết, đối thủ lớn nhất của nước Đức tại châu Âu; qua đó làm thất bại những nỗ lực tiếp tục chiến tranh của Liên Xô, đánh chiếm nốt phần phía đông còn lại của vùng công nghiệp Donbass và vựa lúa mỳ lớn nhất của Liên Xô khi đó ở hạ lưu hai con sông Đông và Volga, cắt đứt và đánh chiếm nguồn dầu mỏ quan trọng của Liên Xô tại Kavkaz, tiến ra Trung - Cận Đông và xa hơn nữa, đến Ấn Độ, thực hiện mưu đồ bá chủ toàn cầu của nước Đức Quốc xã cùng các đồng minh của nó là Nhật Bản và Ý tại các châu lục của "cựu thế giới".

Chiến dịch Kavkaz

Chiến dịch Kavkaz là tên gọi chung cho một chuỗi các hoạt động quân sự tại khu vực Kavkaz diễn ra giữa quân đội Liên Xô và quân đội Đức Quốc xã trong cuộc Chiến tranh Xô-Đức. Chiến dịch gồm hai giai đoạn: giai đoạn quân đội Đức Quốc xã tấn công (từ ngày 25 tháng 7 đến ngày 31 tháng 12 năm 1942) và giai đoạn quân đội Liên Xô phản công (từ ngày 1 tháng 1 đến ngày 9 tháng 10 năm 1943).

Sau những thành công trong giai đoạn đầu của chiến dịch Blau ở thượng lưu và trung lưu sông Đông, ngày 25 tháng 7 năm 1942, quân đội Đức Quốc xã phát động chiến dịch Hoa nhung tuyết (tiếng Đức: "Operation Edelweiß") với mục tiêu kiểm soát các mỏ dầu tại khu vực Kavkaz, đặc biệt là khu công nghiệp hóa dầu Baku tại Azerbaijan. Trong mùa thu và đầu mùa đông năm 1942, Cụm tập đoàn quân A (Đức) do thống chế Wilhelm List chỉ huy đã lần lượt đánh chiếm các vị trí quan trọng trên thảo nguyên Kuban, đồng bằng sông San, tiến đến sườn phía Bắc của dãy núi Kavkaz. Quân đội Liên Xô tại Kavkaz với hai cụm tác chiến Bắc Kavkaz và Biển Đen ban đầu có quân số và trang bị kém hơn đã tiến hành hàng chục trận đánh phòng thủ để làm tiêu hao sinh lực của Cụm tập đoàn quân A. Đến giữa mùa đông, cánh trái của Cụm tập đoàn quân A (Đức) vẫn không kiểm soát được phần phía Đông của thảo nguyên Kuban và cánh quân chủ lực (Tập đoàn quân xe tăng 1) bị chặn đứng trước khu vực Grozny - Ordzhonikidze (Vladikavkaz); cánh phải của Cụm tập đoàn quân này cũng phải dừng bước trước mạch núi Kavkaz ven Biển Đen. Bị tiêu hao sinh lực, phương tiện và không có biện pháp hiệu quả để vượt qua dãy Kavkaz, đồng thời, những thất bại của Cụm tập đoàn quân B tại Stalingrad và trung lưu sông Đông cũng tạo ra mối đe dọa phía sau lưng cánh quân của Wilhelm List lúc này đã do Adolf Hitler trực tiếp nắm quyền chỉ huy; tháng 12 năm 1942, Cụm tập đoàn quân A buộc phải chuyển sang phòng ngự với tuyến mặt trận kéo dài trên 1.500 km thành một hình cánh cung nhô về hướng biển Caspi.Chiến dịch phản công đầu tiên của quân đội Liên Xô do Phương diện quân Nam thực hiện từ ngày 1 tháng 1, sau 2 ngày, Cụm tác chiến Bắc Kavkaz cũng phản công. Cụm tác chiến Biển Đen dự định phản công ngày 8 tháng 1 năm 1943 nhưng đã phải hoãn lại đến ngày 12 tháng 1 vì các đơn vị chưa tập trung đủ binh lực và phương tiện do thời tiết xấu, trên biển có bão lớn, tàu vận tải không thể cập bờ để đổ quân. Trong khi cuộc phản công của Phương diện quân Nam bị chặn lại ở tuyến sông Manych và Cụm Biển Đen tiến triển chậm thì Cụm Bắc Kavkaz của quân đội Liên Xô đã tiến nhanh qua thảo nguyên về hướng Bataysk, phía Nam Rostov. Tại trung lưu sông Đông, Chiến dịch Sao Thổ do Phương diện quân Tây Nam (Liên Xô) tiến hành đang hướng đòn tấn công về Rostov. Hai mối đe dọa trên buộc Tập đoàn quân xe tăng 1 (Đức) phải bỏ thảo nguyên Kuban, nhanh chóng rút về xung quanh Rostov, chia quân đóng giữ các đầu mối giao thông quan trọng dọc con đường chiến lược từ Georgiyevsk đi Rostov. Tập đoàn quân 17 được lệnh chốt chặt sườn Tây Bắc dãy Kavkaz dọc theo Biển Đen.Cuộc phản công của quân đội Liên Xô tại Bắc Kavkaz chỉ mới đạt được mục tiêu trục xuất quân Đức khỏi khu vực này chứ không thể bao vây, tiêu diệt được Cụm tập đoàn quân A (Đức) như ý đồ ban đầu của Đại bản doanh Bộ Tổng tư lệnh tối cao quân đội Liên Xô do không đủ lực lượng và phương tiện. Quân đội Đức Quốc xã đã rút được đa số lực lượng khỏi khu vực này để sau đó, nhập vào Cụm tập đoàn quân Sông Đông thành Cụm tập đoàn quân Nam và tiếp tục gây khó khăn cho Các Phương diện quân Voronezh, Tây Nam và Nam (Liên Xô) trong mùa hè năm 1943. Ngoài ra, Quân đoàn bộ binh 14 (từ ngày 13 tháng 2 trực thuộc Tập đoàn quân 17 - Đức) vẫn giữ được căn cứ bàn đạp tại bán đảo Taman. Vì địa bàn này không còn là hướng chủ yếu chiến lược và cánh quân này hầu như bị cô lập nên sau chiến dịch Kavkaz, từ tháng 5 đến cuối tháng 9 năm 1943, các tập đoàn quân 9 và 56 của quân đội Liên Xô phải tiến hành hai chiến dịch mới phá được "Phòng tuyến xanh" của quân Đức và đẩy được Quân đoàn 14 (Đức) khỏi bán đảo Taman về Krym.Chiến dịch Kavkaz đánh dấu thất bại cuối cùng của Kế hoạch Blau nhằm bóp chết quân đội Liên Xô trong tình trạng bị cô lập trên bộ với bên ngoài và lâm vào tình trạng thiếu hụt dầu mỏ. Nó cũng kết thúc luôn những tham vọng của nước Đức Quốc xã trong ý đồ mở một con đường trên bộ để tiến ra Trung Đông và Ấn Độ, đồng thời cũng làm cho Chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ phải thay đổi thái độ, đi đến hạn chế dần những quan hệ với nước Đức Quốc xã nói riêng và các nước trong phe Trục nói chung. Quân đội Liên Xô không những đã bảo vệ được nguồn dầu mỏ tối quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân mà còn đạt được kết quả quan trọng về chính trị. Chiến dịch Kavkaz cũng làm thất bại cả những mưu tính của nước Đức Quốc xã định dựng lên ở khu vực Kavkaz một chế độ li khai thân Đức do cựu trung tướng quân đội Nga hoàng, bá tước Pyotr Nikolayevich Krasnov và cựu trung tướng Bạch vệ Andrei Grigoriyevich Shkuro tự phong là Sultan vùng Krym và Sultan vùng Gəray - Azerbaijan, đứng đầu. Những vương hầu tự phong này đều phải trốn chạy theo đoàn quân Đức đang rút khỏi Kavkaz và đến ngày 9 tháng 5 năm 1945, họ đều bị bắt tại phía Tây Plezen (Tiệp Khắc) và bị Tòa án quân sự Liên Xô xử tử bằng giảo hình ngày 17 tháng 1 năm 1947.

Chiến dịch Sao Thiên Vương

Chiến dịch Sao Thiên Vương (Uranus) (tiếng Nga: Операция «Уран», phiên âm La Tinh: Operatsiya Uran; tiếng Đức: Operation Uranus) là mật danh của chiến dịch có tính chiến lược của Liên Xô thời gian cuối năm 1942 trong Thế chiến thứ hai tại khu vực phía Nam mặt trận Xô-Đức, trên hai khúc ngoặt giáp nhau của sông Đông và sông Volga với trung tâm là thành phố Stalingrad. Kết quả của chiến dịch này là việc ba phương diện quân Liên Xô đã bao vây Tập đoàn quân 6 và một phần Tập đoàn quân xe tăng 4 của quân đội Đức Quốc xã, đánh thiệt hại nặng các Tập đoàn quân 3 và 4 của Romania, tập đoàn quân 8 của Ý và bộ phận bên ngoài vòng vây của Tập đoàn quân xe tăng 4 của Đức. Chiến dịch này là giai đoạn đầu của toàn bộ Chiến dịch Stalingrad với mục đích tiêu diệt các lực lượng Đức ở bên trong và xung quanh Stalingrad, đánh lùi các cuộc tấn công mở vây của Quân đội Đức Quốc xã trong chiến dịch Bão Mùa đông. Việc hoạch định chiến dịch Sao Thiên Vương được khởi xướng vào thượng tuần tháng 9 năm 1942, được triển khai đồng thời với các kế hoạch bao vây và tiêu diệt một bộ phận của Cụm tập đoàn quân Trung tâm (Đức) tại khu vực Rzhev - Vyazma (Chiến dịch Sao Hoả) và các chiến dịch kiềm chế Cụm tập đoàn quân A của Đức tại Kavkaz.Sau hơn 4 tháng triển khai Chiến dịch Blau trên toàn bộ cánh Nam của Mặt trận Xô-Đức, quân đội Đức Quốc xã đã tiến sâu thêm từ 150 km (trên hướng Voronezh) đến hơn 250 km (trên hướng Stalingrad). Đặc biệt, đòn đánh vào Bắc Kavkaz do Cụm tập đoàn quân A (Đức) thực hiện không triệt để, không chiếm được các dải đất liền ven Biển Đen phía Nam Novorossissk đã làm cho toàn bộ chiến tuyến cánh Nam của mặt trận Xô-Đức kéo dài hơn gấp 2 lần, lên đến trên 1000 km. Đến cuối tháng 5 năm 1942, mặc dù có trong tay tổng cộng 102 sư đoàn nhưng hai Cụm tập đoàn quân A và B vẫn không đủ quân để gây áp lực với quân đội Liên Xô. Điều này buộc Bộ Tổng tư lệnh quân Đội Đức Quốc xã phải điều thêm quân từ Trung Âu và Tây Âu để bảo đảm tính liên tục của trận tuyến. Ngoài 28 sư đoàn Đức được điều động từ Tây Âu đang hoàn toàn yên tĩnh, Bộ Tổng tư lệnh quân đội Đức còn điều động cho cụm tập đoàn quân B hai tập đoàn quân 3 và 4 của Romania, tập đoàn quân 8 của Ý. Các đơn vị này cùng với tập đoàn quân 6 và tập đoàn quân xe tăng 4 (Đức) phụ trách hướng Stalingrad (hướng chủ yếu). Cụm tác chiến Weichs thuộc Cụm tập đoàn quân B gồm tập đoàn quân 2 (Đức) và tập đoàn quân 2 Hungary có nhiệm vụ giữ tuyến mặt trận Voronezh - Liski - Kantemirovka. Cụm tập đoàn quân A gồm tập đoàn quân xe tăng 1 và tập đoàn quân 17 (Đức) hoạt động tại Bắc Kavkaz với mục tiêu đánh chiếm các mỏ dầu ở Baku hay ít nhất cũng cắt đứt các đường ống dẫn dầu từ Baku về Nga. Tại hướng Stalingrad đã hình thành một thế trận bất lợi cho quân đội Đức. Từ ngày 23 tháng 8, chủ lực cụm tập đoàn quân B gồm Tập đoàn quân 6 và Tập đoàn quân xe tăng 4 tấn công vây bọc Stalingrad từ hai hướng Bắc và bị hút vào các trận đánh trong thành phố để cố chiếm lấy Stalingrad từ tay các tập đoàn quân 62, 63, 64 của Liên Xô. Các tập đoàn quân 3 và 4 (Romania) và tập đoàn quân 8 (Ý) yểm hộ hai bên sườn có binh lực yếu hơn. Các lực lượng Đức tại mặt trận phía Đông đã bị căng ra đến mức tối đa. Quân Đức thiếu các lực lượng dự bị mạnh và rảnh rỗi để điều động đến các địa đoạn xung yếu.Qua phân tích các tin tức tình báo, nghiên cứu hình thế chiến trường và căn cứ vào thực lực các tập đoàn quân dự bị mới được xây dựng, số lượng vũ khí và các phương tiện chiến tranh do nền công nghiệp quốc phòng cung cấp, trung tuần tháng 9 năm 1942, Bộ Tổng tư lệnh tối cao quân đội Liên Xô vạch kế hoạch bao vây và tiêu diệt cánh Nam (cánh chủ yếu) của Cụm tập đoàn quân B (Đức) tại khu vực Stalingrad. Cuối tháng 9, những nét cơ bản nhất của kế hoạch này đã được hoàn thành với mật danh "Sao Thiên Vương".Mở màn lúc 7 giờ 20 phút (giờ Moskva) vào ngày 19 tháng 11, Phương diện quân Tây Nam ở sườn phía bắc của các lực lượng phe Trục tại Stalingrad bắt đầu mở cuộc tấn công các tập đoàn quân 3 Romania. Sau một ngày, Phương diện quân Stalingrad tấn công ở phía Nam vào tập đoàn quân 4 Romania và tập đoàn quân 8 Ý. Sau 4 ngày tiến công liên tục, các đơn vị đi đầu của Tập đoàn quân xe tăng 5 (Phương diện quân Tây Nam) và Quân đoàn cơ giới cận vệ 4 (Phương diện quân Stalingrad) đã gặp nhau tại Kalach trên sông Đông, đánh bại các tập đoàn quân 3, 4 Romania và đẩy lùi tập đoàn quân 8 Ý; hoàn thành việc bao vây tập đoàn quân 6 và một phần tập đoàn quân xe tăng 4 (Đức) trong khu vực Stalingrad. Thay vì tìm cách tháo lui, Führer nước Đức Adolf Hitler quyết định giữ nguyên các lực lượng phe Trục ở Stalingrad và tổ chức tiếp tế bằng đường hàng không và hy vọng giải vây cho lực lượng này bằng Chiến dịch Bão Mùa đông do Cụm tập đoàn quân Sông Đông (mới được tổ chức) thực hiện.

Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Ngoại Kavkaz

Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Ngoại Kavkaz (tiếng Armenia: Հայաստանի Խորհրդային Սոցիալիստական Հանրապետություն; tiếng Azerbaijan: Загафгија Совет Федератив Сосиалист Республикасы Zaqafqaziya Sovet Federativ Sosialist Respublikası; tiếng Gruzia: ამიერკავკასიის საბჭოთა ფედერაციული სოციალისტური რესპუბლიკა; tiếng Nga: Закавказская Советская Федеративная Социалистическая Республика [ЗСФСР] Zakavkazskaya Sovetskaya Federativnaya Sotsalisticheskaya Respublika [ZSFSR]) - hay còn gọi là Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Ngoại Kavkaz Xô Viết, Ngoại Kavkaz SFSR hoặc gọi tắt là TSFSR - là một nước Cộng hoà tồn tại trong một thời gian ngắn, bao gồm Gruzia, Armenia, và Azerbaijan (thường được biết đến dưới tên các nước Cộng hoà Ngoại Kavkaz), một bộ phận của Liên bang Xô Viết trước đây.

Sau khi chính quyền Xô viết thành lập ở Nga năm 1917, ở Ngoại Kavkaz chỉ thiết lập được chính quyền Xô viết ở vùng Baku. Tại đây, Hội đồng Dân ủy Nhân dân tuyên bố thành lập Công xã Baku và là cơ quan đứng đầu Baku. Ở những vùng còn lại của Ngoại Kavkaz, những đảng tư sản khác của Azerbaijan Mussavat, Amernia Dashnak và Menshevik Georgian thành lập Dân ủy Ngoại Kavkaz để ngăn chặn làn sóng Bolshevik.

Gốc rễ của nền Cộng hoà có thể xét từ sau khi Đế quốc Nga tan rã vào năm 1917 trong Cách mạng Nga, khi mà các tỉnh thuộc vùng Kavkaz ly khai và cố gắng thành lập thể chế Liên bang của riêng mình với tên gọi Liên bang Ngoại Kavkaz. Mải tranh giành lợi ích dân tộc-quốc gia và đối đầu với Thổ Nhĩ Kỳ trong Chiến tranh thế giới thứ nhất là các nguyên nhân khién nền Cộng hoà sụp đổ hai tháng sau đó, tức là vào tháng 4 năm 1918.

Trong những năm tiếp theo, ba nhà nước kế tục tiếp tục tồn tại cho đến khi nội chiến Nga chấm dứt và được Hồng quân biến thành các nước cộng hòa Xô Viết. Vào tháng 3 năm 1922, vùng này được hợp nhất thành một nước cộng hòa duy nhất và gia nhập Liên Xô vào tháng 12 cùng năm. Vào năm 1936, nước cộng hoà này giải thể và lại phân thành ba nước cộng hòa riêng rẽ, gồm Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Gruzia, Armenia và Azerbaijan.

Dãy núi Kavkaz

Dãy núi Kavkaz là một hệ thống núi lục địa Á-Âu nằm trong vùng Kavkaz, một đầu ở Sochi bên bờ biển Đen và đầu kia ở Baku bên bờ biển Caspi.

Dãy Kavkaz được tạo nên từ hai hệ thống núi riêng biệt:

Rặng Đại Kavkaz,

Rặng Tiểu Kavkaz.Rặng Đại Kavkaz bắt đầu từ khu bảo tồn tự nhiên Kavkaz ở gần thành phố Sochi thuộc Nga ở bờ đông bắc của biển Đen, kéo dài theo hướng đông-đông nam tới gần Baku trên bờ biển Caspi, còn rặng Tiểu Kavkaz chạy song song với rặng Đại Kavkaz, với khoảng cách trung bình khoảng 100 km về hướng nam. Rặng Meskheti là một phần của hệ thống Tiểu Kavkaz. Rặng Đại và Tiểu Kavkaz được nối liền bởi dãy núi Likhi, tách rời vùng đất thấp Kolkhida với vùng trũng Kura. Ở phía đông nam là dãy núi Talysh. Rặng Tiểu Kavkaz và cao nguyên Armenia tạo nên cao nguyên liên Kavkaz. Đỉnh cao nhất của dãy núi Kavkaz là đỉnh Elbrus thuộc rặng Đại Kavkaz, với chiều cao 5.642 mét (18.510 ft) so với mực nước biển. Những ngọn núi ở gần Sochi sẽ là vùng tổ chức Thế vận hội Mùa đông 2014.

Georgi Konstantinovich Zhukov

Georgi Konstantinovich Zhukov (tiếng Nga: Георгий Константинович Жуков, đọc là Ghê-oóc-ghi Can-xtan-chi-nô-vích Giu-cốp; 1 tháng 12 năm 1896 – 18 tháng 6 năm 1974) là danh tướng trong quân đội Liên Xô. Trong rất nhiều tướng lĩnh nổi danh thế giới trong Chiến tranh thế giới thứ hai, G.K. Zhukov được xếp đầu bảng về số lượng trận thắng nhiều và quy mô lớn, được nhiều người công nhận về tài năng chỉ đạo chiến dịch và chiến lược. Những chiến tích của ông đã trở thành những đóng góp rất lớn vào kho tàng di sản kiến thức quân sự nhân loại. Nó không những có ảnh hưởng lớn về lý luận quân sự của Liên Xô mà cũng có ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển của lý luận quân sự thế giới.Theo nhận định của Nguyên soái A. M. Vasilevsky, G. K. Zhukov là một trong những nhà cầm quân lỗi lạc của nền quân sự Xô Viết. Trong cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại của Liên bang Xô viết, ông đã giữ các chức vụ Tư lệnh Phương diện quân Dự bị, Tư lệnh Phương diện quân Tây, Tư lệnh Phương diện quân Beloussia 1, Tổng tham mưu trưởng quân đội Liên Xô, Thứ trưởng Bộ dân ủy Quốc phòng kiêm Phó Tổng tư lệnh tối cao quân đội Liên Xô, Ủy viên Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Hầu hết các nhà lãnh đạo quân sự nổi tiếng thế giới cùng thời với ông như Thống chế Anh Sir Bernard Law Montgomery, Thống tướng Hoa Kỳ Dwight David Eisenhower, Thống chế Pháp Jean de Lattre de Tassigny đều công nhận tên tuổi của ông đã gắn liền với hầu hết các chiến thắng lớn trong cuộc chiến như Trận Moskva (1941), Trận Stalingrad, Trận Kursk, Chiến dịch Bagration, Chiến dịch Visla-Oder và Chiến dịch Berlin. Trong giai đoạn sau chiến tranh, ông giữ các chức vụ Tổng tư lệnh quân đội Liên Xô tại nước Đức, tư lệnh các quân khu Odessa và Ural. Sau khi lãnh tụ tối cao I. V. Stalin qua đời, ông được gọi về Moskva và được bổ nhiệm chức vụ Thứ trưởng thứ nhất Bộ Quốc phòng Liên Xô. Trong thời gian từ năm 1955 đến năm 1957, ông giữ chức vụ Ủy viên trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Liên Xô. Năm 1957, trong thời gian đang đi thăm Nam Tư, ông bị đưa ra khỏi Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Năm 1958, ông bị miễn nhiệm tất cả các chức vụ trong quân đội.

Ingushetiya

Cộng hòa Ingushetiya (tiếng Nga: Респу́блика Ингуше́тия, chuyển tự. Respublika Ingushetiya, IPA [rʲɪˈspublʲɪkə ɪnɡʊˈʂetʲɪjə]; tiếng Ingush: Гӏалгӏай Мохк, Ğalğaj Moxk), thường được gọi đơn giản là Ingushetiya, là một chủ thể liên bang của nước Cộng hòa Liên bang Nga, tọa lạc tại vùng Bắc Kavkaz.

Thủ phủ là thành phố Magas. Với diện tích 3,685 km2, Ingushetiya là nước chủ thể liên bang nhỏ nhất tại Nga nếu không tính các thành phố liên bang. Nó được thành lập vào ngày 4 tháng 6 năm 1992 sau khi Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Tự trị Chechnya-Ingush được chia làm hai. Đây là nơi cư trú của người Ingush, một tộc người có gốc Vainakh. Theo thống kê 2010, dân số nước này là 412.529.

Kabardino-Balkaria

Cộng hòa Kabardino-Balkar (tiếng Nga: Кабарди́но-Балка́рская Респу́блика, Kabardino-Balkarskaya Respublika; tiếng Kabardia: Къэбэрдей-Балъкъэр Республикэ, Qăbărdei-Baĺqăr Respublică; tiếng Karachay-Balkar: Къабарты-Малкъар Республика, Qabartı-Malqar Respublika), hay Kabardino-Balkaria (tiếng Nga: Кабарди́но-Балка́рия, Kabardino-Balkariya), là một chủ thể liên bang của Nga (một nước cộng hòa) tọa lạc tại Bắc Kavkaz. Theo thống kê 2010, dân số nước này là 859.939. Thủ đô là Nalchik.

Karachay-Cherkessia

Cộng hòa Karachay-Cherkessia (tiếng Nga: Карача́ево-Черке́сская Pеспу́блика; tiếng Karachay-Balkar: Къарачай-Черкес Республика; tiếng Kabardia: Къэрэшей-Шэрджэс Республикэ), hay Karachay-Cherkessia (Карача́ево-Черке́ссия) là một chủ thể liên bang của Nga (một nước cộng hòa). Phiên âm la tinh từ tiếng Nga của nước cộng hòa này là Karachayevo-Cherkesskaya Respublika hay Karachayevo-Cherkessiya.

Nagorno-Karabakh

Nagorno-Karabakh là vùng đất không giáp biển tại Nam Kavkaz, nằm giữa hạ Karabakh và Zangezur và bao phủ khu vực phía đông nam của dãy núi Tiểu Kavkaz. Vùng này hầu hết là đồi núi và rừng và có diện tích 8.223 kilômét vuông (3.175 sq mi).

Phần lớn khu vực này do Cộng hòa Nagorno-Karabakh quản lý. Đây là một quốc gia chưa được công nhận và là một quốc gia độc lập de facto (trên thực tế) thành lập từ một phần lãnh thổ của Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Azerbaijan thuộc Liên Xô. Lãnh thổ này được cộng đồng quốc tế xem là một phần của Azerbaijan, nhưng Azerbaijan chưa triển khai quyền lực trên phần lớn lãnh thổ này từ năm 1991. Sau khi kết thúc Chiến tranh Nagorno-Karabakh năm 1994, đại diện chính phủ Armenia và Azerbaijan đã tiến hành đàm phán hòa bình về tình trạng của khu vực này.

Ngoại Kavkaz

Ngoại Kavkaz (tiếng Nga: Закавказье; tiếng Anh: Transcaucasia), hay Nam Kavkaz, là một vùng địa chính trị trong vùng lân cận của phía Nam dãy núi Kavkaz nằm trên biên giới Đông Âu và Tây Á. Vùng Xuyên qua gần tương ứng với Gruzia, Armenia và Azerbaijan hiện đại. Xuyên qua và Ciscaucasia (Bắc Kavkaz) cùng nhau bao gồm khu vực địa lý vùng Caucasus lớn hơn chia Eurasia.

Vùng Ngoại Kavkaz trải dài phía nam dãy núi Caucasus và vùng đất thấp của họ, nằm ngang biên giới châu Âu và châu Á, kéo dài về phía nam từ phía nam dãy núi Caucasus ở vùng tây nam nước Nga tới biên giới Thổ Nhĩ Kỳ và Armenia, Biển Đen ở phía tây đến bờ biển Caspian của Iran ở phía đông. Khu vực bao gồm phần phía nam của dãy núi Kavkaz, dãy núi Tiểu Kavkaz, vùng đất Colchis Lowlands, vùng đất thấp Kura-Aras, dãy núi Talysh, vùng đất thấp Lenkoran, Javakheti và phần phía đông của Cao nguyên Armenia.

Toàn bộ lãnh thổ ngày nay của Armenia thuộc Ngoại Kavkaz; phần lớn hiện nay là Gruzia và Azerbaijan, bao gồm cả Nakhchivan, cũng nằm trong khu vực này. Các phần của Iran và Thổ Nhĩ Kỳ cũng nằm trong khu vực Ngoại Kavkaz. Hàng hoá sản xuất trong khu vực bao gồm Dầu, quặng mangan, chè, trái cây có múi và rượu vang. Nó vẫn là một trong những khu vực căng thẳng về mặt chính trị nhất trong khu vực hậu Xô viết và có ba khu vực tranh chấp mạnh mẽ là Abkhazia, Nam Ossetia và Nagorno-Karabakh. Từ năm 1878 đến năm 1917, tỉnh Kars thuộc tỉnh Nga kiểm soát cũng được đưa vào vùng Ngoại Kavkaz.

Stavropol (vùng)

Stavropol Krai (tiếng Nga: Ставропо́льский край, Stavropolsky kray) là một chủ thể liên bang của Nga (một vùng). Trung tâm hành chính là thành phố Stavropol. Dân số năm 2010 là 2.786.281 người.

Sóc Kavkaz

Sóc Kavkaz, tên khoa học Sciurus anomalus, là một loài động vật có vú trong họ Sóc, bộ Gặm nhấm. Loài này được Gmelin mô tả năm 1778.

Vùng liên bang Bắc Kavkaz

Vùng liên bang Bắc Kavkaz (tiếng Nga: Се́веро-Кавка́зский федера́льный о́круг, Severo-Kavkazsky federalny okrug) là một trong 9 vùng liên bang của Nga. Vùng này nằm ở phần cực tây nam của Nga và thuộc vùng địa lý Bắc Kavkaz. Vùng này được tách ra từ Vùng liên bang Phía Nam vào ngày 19 tháng 1 năm 2010.

Dân số của vùng là 8.933.889 người theo điều tra dân số năm 2002, diện tích là 170.700 km².

Đế quốc Parthia

Đế quốc Parthia hay còn được gọi là Đế quốc Arsaces (247 TCN – 224 CN) là một quốc gia của người Iran ở Trung Đông, có nền chính trị và quân sự phát triển mạnh, và là đối thủ đáng gờm của Đế quốc La Mã trên miền đất này. Đế quốc này do vua Arsaces I sáng lập, gắn liền với nhà Arsaces có nguồn gốc từ Parthia (đại khái ở tây bộ Khurasan, thuộc miền đông bắc Iran). Sau đó là một satrap (tỉnh) trong cuộc nổi loạn chống lại đế chế Seleukos. Mithridates I của Parthia (cai trị: 171-138 TCN) đã mở rộng đế chế bằng cách chiếm lấy Media (thuộc phía Tây Bắc Iran) và Lưỡng Hà từ vương quốc Seleukos. Vào thời kì đỉnh cao, Đế quốc Parthia trải dài từ phía bắc của sông Euphrates, nay là phía đông Thổ Nhĩ Kỳ, tới phía đông Iran. Đế quốc này nằm án ngữ trên con đường tơ lụa nối liền Đế chế La Mã ở lưu vực Địa Trung Hải với Nhà Hán ở Trung Quốc, và vì thế nó nhanh chóng trở thành một trung tâm thương mại và mậu dịch.

Là triều đại lấn chiếm đất và kế tục nhà Seleukos cùng với một số diadochi (sứ quân của Macedonia - Hy Lạp) khác, các vị vua Parthia, khác với các diadochi, đã trở thành triều đại bản xứ của dân Iran, mặc dù họ yêu thích nền văn minh Hy Lạp đến mức tự nhận là philhellenes (bạn của những người Hy Lạp) trên những đồng tiền mà họ ban hành. Các vị vua chấp nhận nghệ thuật, kiến trúc, niềm tin tôn giáo, và huy hiệu hoàng gia của đế chế có văn hóa không đồng nhất của họ, bao gồm các nền văn hóa của Ba Tư, Hy Lạp và văn hóa khu vực. Khoảng nửa đầu của sự tồn tại của đế chế, triều đình nhà Arsaces đã thông qua các yếu tố văn hóa Hy Lạp, mặc dù cuối cùng đã có sự hồi sinh dần dần của truyền thống Iran. Các nhà vua triều đại Arsaces đã sử dụng danh hiệu là "Vua của các vua", như một tuyên bố là người thừa kế thực sự đế chế Achaemenes (triều đại đầu tiên của người Ba Tư (nay thuộc Iran) được biết đến trong lịch sử), họ chấp nhận nhiều vị vua địa phương như các chư hầu lệ thuộc, hay là các phó vương, và sẽ phải do chính quyền Trung ương chỉ định, mặc dù phần lớn đều tự trị, Triều đình đã chỉ định một số lượng nhỏ các phó vương, chủ yếu là bên ngoài Iran, nhưng các satrap này nhỏ hơn và ít mạnh mẽ hơn so với những người cai trị địa phương dưới thời Achaemenes. Với việc mở rộng quyền lực của nhà Arsaces, chính quyền trung ương đã chuyển từ Nisa, Turkmenistan tới Ctesiphon dọc theo sông Tigris (phía nam Baghdad, Iraq), mặc dù một số nơi khác cũng từng là kinh đô.

Những kẻ thù đầu tiên của đế quốc Parthia là vương quốc Seleukos ở phía tây và người Scythia ở phía đông. Tuy nhiên, vì Parthia mở rộng về phía tây, họ bước vào cuộc xung đột với Vương quốc Armenia, và cuối cùng Cộng hòa La Mã. La Mã và Parthia đã cạnh tranh với nhau nhằm biến các vị vua của Armenia trở thành chư hầu của họ. Người Parthia đã đánh bại Marcus Licinius Crassus trong trận Carrhae vào năm 53 trước Công nguyên, và trong năm 40-39 trước Công nguyên, lực lượng Parthia đã chiếm được toàn bộ vùng Cận Đông - ngoại trừ Týros - từ tay của người La Mã. Sau đó, Marcus Aurelius đã tiến hành một cuộc phản công chống lại Parthia, tuy nhiên những thành công của ông ta thường có được chỉ khi ông ta vắng mặt, dưới sự lãnh đạo của tạm quyền của Ventidius. Ngoài ra, một số hoàng đế La Mã cũng đã tiến hành xâm chiếm Lưỡng Hà trong các cuộc chiến tranh La Mã-Parthia diễn ra sau đó. Người La Mã chiếm được thành phố Seleucia và Ctesiphon nhiều lần trong những cuộc xung đột. Tuy vậy, những cuộc nội chiến giữa những thế lực tranh giành ngai vàng của Parthia lại tỏ ra nguy hiểm hơn so với mối đe dọa đến từ các thế lực ngoại xâm, và quyền lực của Parthia biến mất khi Ardashir I, vua chư hầu của Estakhr ở Fars, nổi dậy chống lại triều đại Arsaces và giết chết vị vua cuối cùng của họ, Artabanus IV, trong năm 224 CN. Ardashir đã thành lập Đế chế Sassanid, cai trị Iran và phần lớn vùng Cận Đông cho đến khi những cuộc chinh phục Hồi giáo xảy ra vào thế kỷ thứ VII, mặc dù vậy triều đại Arsaces vẫn tồn tại thông qua triều đại Arsaces của Armenia, triều đại Arsaces của Iberia, và triều đại Arsaces của Albania Kavkaz; Tất cả đều là các dòng thứ của nhà Arsaces ở Parthia.

Các văn tự bản địa của người Parthia, được viết bằng tiếng Parthia, tiếng Hy Lạp và các ngôn ngữ khác, lại rất hiếm khi so sánh với các văn tự của nhà Achaemenid và Sassanid. Ngoài những tấm bảng viết bằng chữ hình nêm còn sót lại rải rác, những mảnh vỡ Ostracon, các bản khắc đá, tiền xu drachma, và một vài ghi chép trên giấy da, phần lớn lịch sử Parthia chỉ được biết đến thông qua các nguồn đến từ bên ngoài. Chủ yếu đến từ các tác phẩm lịch sử của người Hy Lạp và La Mã, ngoài ra còn trong cả những tác phẩm của người Trung Quốc, thông qua mong muốn thúc đẩy một liên minh chống lại người Hung Nô của Triều đại Nhà Hán.

Tiếng Việt trong một số tài liệu Phật giáo còn dịch Parthia là An Tức.

Đế quốc Đông La Mã

Đế quốc Đông La Mã (tiếng Hy Lạp cổ đại: Βασιλεία Ῥωμαίων, phiên âm: Basileia Rhōmaiōn, tiếng Latinh: Imperium Romanum tạm dịch là "Đế quốc La Mã") còn được gọi Đế quốc Byzantium, Đế quốc Byzantine, Đế quốc Byzance hay Đế quốc Hy Lạp là một đế quốc tồn tại từ năm 330 đến năm 1453, đóng đô ở Constantinopolis. Trước khi thành lập, phạm vi của Đế quốc Đông La Mã trước đây nằm trong lãnh thổ của Đế quốc La Mã. Năm 330, khi Constantinus I, con của hoàng đế Constantius, nắm quyền trị vì và dời đô từ thành La Mã về Constantinopolis, được xem là thời điểm thành lập đế quốc Đông La Mã. Khi ông qua đời, đế quốc bị các con trai ông phân chia thành Đông và Tây. Sau khi vị hoàng đế cuối cùng của đế quốc phía tây là Romulus Augustus bị một thủ lĩnh người Giéc-man hạ bệ, đế quốc Tây La Mã sụp đổ. Nhưng đế quốc phía đông vẫn tiếp tục phát triển, trở thành một cường quốc có vai trò quan trọng ở châu Âu và được xem là một trong những trung tâm đạo Ki-tô lúc bấy giờ.

Không thấy một tư liệu chính xác nào về sự khởi đầu của đế quốc Đông La Mã. Một vài ý kiến cho rằng đế quốc này được thành lập dưới thời cai trị của Hoàng đế Diocletianus (284–305), người đã chia đế quốc La Mã thành hai nửa đông và tây. Một vài người lại nói rằng đế quốc bắt đầu vào thời của Constantinus I, vị hoàng đế đầu tiên đóng đô tại Constantinopolis. Những ý kiến khẳng định vào thời trị vì của Hoàng đế Theodosius I (379–395) hoặc theo sau cái chết của ông vào năm 395. Một vài người cho vào thời điểm xa hơn vào năm 476 khi đế quốc phía tây sụp đổ. Nhưng hiện nay tư liệu khá chính xác là vào năm 330, khi Constantinus I thành lập tân đô Constantinopolis dưới sự phát triển vượt bậc của văn hóa Ki-tô giáo và thời kỳ văn hóa chịu ảnh hưởng Hy Lạp (quá trình Hy Lạp hóa văn hóa). Đế quốc Đông La Mã đã tồn tại hơn một ngàn năm, từ thế kỷ thứ IV cho đến năm 1453. Trong thời gian tồn tại của nó, Đông La Mã vẫn là một trong những cường quốc kinh tế, văn hóa, và quân sự lớn mạnh nhất ở châu Âu, bất chấp những thất bại và mất mát lãnh thổ, đặc biệt là trong cuộc Chiến tranh La Mã-Ba Tư và Chiến tranh Ả Rập-Đông La Mã. Đế quốc sau đó đã phục hưng dưới triều đại Macedonia, một lần nữa Đông La Mã vươn lên thành liệt cường hàng đầu của vùng Đông Địa Trung Hải vào cuối thế kỷ thứ X, đối địch với Nhà Fatima của người Hồi giáo.Tuy nhiên, sau năm 1071, nhiều lãnh đổ ở Tiểu Á - trung tâm của đế quốc, bị người Thổ Nhĩ Kỳ Seljuk chiếm đoạt. Mặc dù Vương triều nhà Komnenos đã giành lại một số đất đai và hưng thịnh lại Đế quốc trong một thời gian ngắn trong thế kỷ thứ XII, sau khi Hoàng đế Andronikos I Komnenos qua đời và Vương triều Komnennos cáo chung ở cuối thế kỷ thứ XII, một lần nữa Đế quốc lâm vào suy vong. Đế quốc Đông La Mã bị cuộc Thập tự chinh lần thứ tư giáng một đòn chí mạng vào năm 1204, khiến Đế quốc bị giải thể và các lãnh thổ La Tinh và Hy Lạp thuộc Đông La Mã bị chia cắt.

Vào năm 1261, kinh đô Constantinopolis được giải phóng và Đế quốc Đông La Mã trung hưng, thế nhưng dưới triều các hoàng đế nhà Palaiologos, Đông La Mã chỉ còn là một trong nhiều quốc gia nhỏ đối địch nhau ở khu vực, trong suốt 200 năm tồn tại cuối cùng của nó. Tuy nhiên, trong giai đoạn này, nền văn hóa của Đế quốc sinh sôi nảy nở. Các cuộc biến loạn cung đình xảy ra liên tiếp trong thế kỷ XIV tiếp tục hủy hoại sự thịnh vượng của Đế quốc Đông La Mã, trong khi các lãnh thổ còn lại của Đông La Mã lần lượt bị lấy mất trong cuộc Chiến tranh Đông La Mã-Ottoman, mà đỉnh điểm là sự thất thủ của Constantinopolis và các vùng lãnh thổ còn lại bị Đế quốc Ottoman chinh phục vào thế kỷ thứ XV.

Các khu vực trên thế giới

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.