Kỷ Phấn trắng

Kỷ Phấn trắng hay kỷ Creta là một đơn vị chính trong niên đại địa chất, bắt đầu từ khi kết thúc kỷ Jura khoảng 145 triệu năm trước (Ma) cho đến khi bắt đầu thế Paleocen của phân đại đệ Tam vào khoảng 66 Ma.[4] Là kỷ địa chất dài nhất trong đại Trung Sinh, kỷ Creta chiếm khoảng gần một nửa thời gian của đại này. Sự kết thúc của kỷ Creta xác định ranh giới giữa đại Trung Sinh và đại Tân Sinh (Cenozoic).

Kỷ Creta có nguồn gốc từ tiếng Latinh creta với nghĩa là đá phấn hay phấn trắng là một kỷ tách biệt lần đầu tiên được nhà địa chất người Bỉ Jean d'Omalius d'Halloy định nghĩa năm 1822, sử dụng địa tầng trong lòng chảo Paris[5] và đặt tên cho các tầng đá phấn trải rộng (canxi cacbonat đã trầm lắng từ vỏ hay mai của các động vật không xương sống đại dương, chủ yếu là coccolith), được tìm thấy trong các tầng đá Thượng Creta của châu Âu lục địa và quần đảo Anh (bao gồm cả vách đá trắng Dover).

Kỷ Phấn trắng
145–66 triệu năm trước đây
Nồng độ O2 trung bình trong khí quyển giai đoạn này Khoảng 30 Vol %[1]
(150 % so với giá trị hiện tại)
Nồng độ CO2 trung bình trong khí quyển giai đoạn này Khoảng 1700 ppm[2]
(6 lần giá trị tiền công nghiệp)
Nhiệt độ bề mặt nước biển trong giai đoạn này Khoảng 18 °C[3]
(4 °C trên mức hiện đại)
Các giai đoạn của kỷ Phấn Trắng
-140 —
-130 —
-120 —
-110 —
-100 —
-90 —
-80 —
-70 —
 
 
Berriasian
Valanginian
Hauterivian
Barremian
Albian
Cenomanian
Turonian
Coniacian
Santonian
Campanian
Maastrichtian

Niên đại

Giống như các kỷ địa chất cổ hơn, các tầng đá xác định kỷ Creta đã được xác định khá rõ nhưng niên đại chính xác của sự khởi đầu và kết thúc kỷ này vẫn không chắc chắn trong phạm vi vài triệu năm. Không có sự kiện tuyệt chủng lớn hay sự bùng nổ tính đa dạng nào tách rời kỷ Creta ra khỏi kỷ Jura trước đó. Tuy nhiên, sự kết thúc kỷ này được xác định chắc chắn nhất, được đặt tại các lớp giàu iridi tìm thấy trên khắp thế giới được cho là gắn liền với miệng núi lửa Chicxulub tại Yucatanvịnh Mexico. Lớp đá này đã được xác định niên đại là khoảng 65,5 Ma. Sự va chạm sao băng này có lẽ là nguyên nhân chính gây ra sự kiện tuyệt chủng lớn là sự kiện tuyệt chủng kỷ Creta-phân đại đệ Tam đã được nghiên cứu rộng rãi.

Các đơn vị

Kỷ Creta thông thường được phân chia thành các thế Creta sớmmuộn. Các tầng động vật từ trẻ nhất tới cổ nhất được liệt kê dưới đây; thời gian được coi là sớm hay muộn, còn các tầng đá tương ứng được coi là hạ hay thượng:

Creta Thượng/Muộn
Maastricht (70,6 ± 0,6 – 65,8 ± 0,3 Ma)
Champagne (83,5 ± 0,7 – 70,6 ± 0,6 Ma)
Santon (85,8 ± 0,7 – 83,5 ± 0,7 Ma)
Cognac (89,3 ± 1,0 – 85,8 ± 0,7 Ma)
Tours (93,5 ± 0,8 – 89,3 ± 1,0 Ma)
Cenoman (99,6 ± 0,9 – 93,5 ± 0,8 Ma)
 
Creta Hạ/Sớm
Alba (112,0 ± 1,0 – 99,6 ± 0,9 Ma)
Apt (125,0 ± 1,0 – 112,0 ± 1,0 Ma)
Barrême (130,0 ± 1,5 – 125,0 ± 1,0 Ma)
Hauterives (136,4 ± 2,0 – 130,0 ± 1,5 Ma)
Valangin (140,2 ± 3,0 – 136,4 ± 2,0 Ma)
Berrias (145,5 ± 4,0 – 140,2 ± 3,0 Ma)

Cổ địa lý học

Trong kỷ Creta, siêu lục địa Pangaea có từ cuối đại Cổ Sinh – đầu đại Trung Sinh đã hoàn thành việc chia tách nó ra thành các châu lục như ngày nay, mặc dù vị trí của chúng là khác đáng kể so với hiện nay. Khi Đại Tây Dương mở rộng ra, các kiến tạo sơn lề hội tụ đã bắt đầu từ kỷ Jura vẫn tiếp tục tại dãy núi Bắc Mỹ, chẳng hạn kiến tạo sơn Nevada đã được kế tiếp bởi các kiến tạo sơn như kiến tạo sơn Sevier và Laramide.

Cretaceous Seaway
Địa lý Bắc Mỹ trong kỷ Creta

Mặc dù Gondwana vẫn không bị ảnh hưởng vào đầu kỷ Creta, nhưng tự nó đã tách ra do Nam Mỹ, châu Nam CựcAustralia đã trôi dạt ra khỏi châu Phi (mặc dù Ấn ĐộMadagascar vẫn còn dính với nhau); vì thế, Ấn Độ Dương và phần phía nam của Đại Tây Dương là các đại dương mới được hình thành. Hoạt động trôi dạt như vậy đã nâng các chuỗi núi lớn ngầm dưới biển dọc theo các đường viền, nâng mực nước biển chấn tĩnh trên khắp thế giới. Về phía bắc của châu Phi thì biển Tethys tiếp tục thu hẹp lại. Các biển nông rộng lớn chiếm ưu thế dọc theo miền trung Bắc Mỹ (biển nội địa miền Tây) và châu Âu, và sau đó bắt đầu rút xuống, để lại các trầm tích đại dương dày xen vào giữa các tầng than.

Kỷ Creta chính xác là nổi tiếng vì đá phấn của nó; thực vậy, đã có nhiều đá phấn được hình thành trong kỷ này hơn so với bất kỳ thời kỳ nào của liên đại Hiển Sinh[6]. Hoạt động tạo lằn gợn đại dương—hay đúng hơn là, sự lưu thông của nước biển qua các lằn gợn mở rộng—làm giàu thêm canxi cho các đại dương; điều này làm cho nước biển trở nên bão hòa hơn, cũng như làm tăng hiệu lực sinh học của nguyên tố này đối với các tảo phù du đá vôi[7]. Chúng làm loang rộng các trầm tích cacbonat cũng như các loại trầm tích khác, làm cho các mẫu đá kỷ Creta là đặc biệt mịn. Famous formations từ Bắc Mỹ bao gồm các hóa thạch đại dương phong phú ở đối Smoky tại Kansas và quần động vật đất liền cuối kỷ Creta tại hình thành sông Hell. Các hóa thạch quan trọng khác có tại châu Âu và Trung Quốc. Tại khu vực ngày nay là Ấn Độ, các tầng dung nham khổng lồ gọi là Deccan Traps đã sụt xuống vào cuối kỷ Creta và đầu thế Paleocen.

Khí hậu

Khí hậu là rất ấm trong kỷ Creta đến mức không có băng tại hai địa cực. Mực nước biển cao hơn nhiều so với ngày nay và các khu vực lớn của lớp vỏ Trái Đất đã bị các biển nông bao phủ; các phần lõi trầm tích chỉ ra rằng các biển nhiệt đới có thể có nhiệt độ cao hơn khoảng 9-12° so với ngày nay, trong khi nhiệt độ của lòng đại dương có thể cao hơn tới 15-20° so với ngày nay[8],[9]. Biển Tethys đã nối các đại dương vùng nhiệt đới từ tây sang đông, điều này làm cho khí hậu toàn cầu cân bằng hơn. Các hóa thạch thực vật đã thích nghi với khí hậu nóng ấm được tìm thấy tại các khu vực xa về phía bắc tới tận AlaskaGreenland, trong khi các hóa thạch khủng long cũng đã được tìm thấy trong phạm vi 15° kể từ Nam cực của kỷ Creta[10].

Trái Đất về trung bình có thể không ấm nhiều hơn so với kỷ Trias hay kỷ Jura, nhưng khi đó nó có gradient nhiệt độ thoai thoải hơn từ xích đạo tới hai cực. Hiệu ứng phụ của điều này có thể làm suy yếu các luồng luân chuyển không khí (gió) toàn cầu, tạo ra ít sự chuyển động của các khối nước lạnh và giàu dinh dưỡng lên bề mặt đại dương và làm cho các đại dương trở thành tù đọng hơn so với ngày nay, với chứng cứ là các trầm tích đá phiến sét màu đen rộng khắp[11].

Quần thực vật

Thực vật có hoa đã phát triển mạnh trong kỷ này, mặc dù chúng vẫn chưa trở thành thống trị cho đến tận gần cuối kỷ (tầng Champagne). Sự tiến hóa của chúng được trợ giúp thêm bởi sự xuất hiện của ong; trên thực tế thực vật có hoa và côn trùng là các ví dụ điển hình về cùng tiến hóa. Đại diện đầu tiên của nhiều loại cây hiện đại đã xuất hiện trong kỷ này, như các loài đa, tiêu huyền và mộc lan. Cùng thời gian đó, một vài loài thực vật hạt trần từ thời kỳ đầu đại Trung Sinh, chẳng hạn như thông vẫn tiếp tục thịnh vượng, mặc dù một vài nhánh khác như bộ Bennettitales (dạng tuế cổ) đã biến mất trước khi kỷ này kết thúc.

Quần động vật

Đất liền

Trên đất liền, động vật có vú vẫn còn ít và chỉ là thành phần tương đối nhỏ của quần động vật. Quần động vật khi đó chủ yếu là các loài bò sát dạng thằn lằn thống trị (nhóm Archosauria), đặc biệt là khủng long, khi đó đang ở đỉnh cao đa dạng của chúng. Các loài bò sát bay (bộ Pterosauria) là phổ biến ở đầu và giữa kỷ Creta, nhưng càng về cuối kỷ thì chúng lại phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng gia tăng của chim, và vào cuối kỷ này thì chỉ còn 2 họ thằn lằn bay chuyên biệt hóa cao là còn tồn tại.

Fossil Actinopterygian
Hình ảnh hóa thạch thuộc kỷ Creta

Khu vực lưu giữ hóa thạch tại Liêu Ninh, Trung Quốc cung cấp một cái nhìn tổng quan về sự sống đầu kỷ Creta. Tại đây các dấu tích còn được bảo quản của hàng loạt các loài khủng long, chim và động vật có vú nhỏ đã được phát hiện. Các loài khủng long thuộc nhóm Coelurosauria tìm thấy ở đây là đại diện cho các động vật của nhóm Maniraptora (dạng chuyển tiếp giữa khủng long và chim) và đáng chú ý vì sự hiện diện của các lông vũ.

Trong kỷ Creta, côn trùng bắt đầu đa dạng hóa và các loài kiến, mối cùng một vài loài cánh vẩy cổ nhất đã biết đã xuất hiện. Các loài rệp (siêu họ Aphidoidea), châu chấu (phân bộ Caelifera) và ong vú lá (họ Cipnipidae) cũng đã xuất hiện.Hàng loạt các loại hóa thạch côn trùng được bảo quản tốt cũng đã được tìm thấy trong các khu vực lưu giữ hóa thạch thời kỳ Creta muộn tại Baissa ở khu vực Siberi.

Đại dương

Trong lòng đại dương, các loài cá đuối (siêu bộ Batoidea), cá mập (siêu bộ Selachimorpha) hiện đại và cá xương thật sự (phân lớp Teleostei) đã trở thành phổ biến. Các loài bò sát biển bao gồm thằn lằn cá (bộ Ichthyosauria) ở đầu và giữa kỷ Creta, thằn lằn đầu rắn (phân bộ Plesiosauria) trong suốt cả kỷ và thằn lằn rắn (họ Mosasauridae) ở cuối kỷ.

Baculites, một dạng vỏ thẳng của cúc đá (phân lớp Ammonoidea) cũng đã thịnh vượng trong lòng đại dương. chim có răng (phân lớp Hesperornithes) là các loài chim không bay, sống trên mặt đại dương và bơi lội giống như các loài chim lặn (bộ Podicipediformes). Các loài trùng lỗ (ngành Foraminifera) và động vật da gai (ngành Echinodermata) như nhím biển và sao biển (lớp Asteroidea) cũng thịnh vượng. Sự lan tỏa đầu tiên của các loài tảo cát (nói chung là dạng cát chứ không phải dạng đá vôi) trong đại dương cũng diễn ra vào kỷ này nhưng các loài tảo cát nước ngọt mãi đến thế Miocen mới xuất hiện.

Tuyệt chủng

Trong sự kiện tuyệt chủng đánh dấu sự kết thúc kỷ Creta thì một lượng đáng kể các loài (~50%) và các họ đã biết (~25%) đã biến mất. Thực vật gần như không bị tổn thương, trong khi các sinh vật biển phải gánh chịu nặng nề nhất. Trong số đó một lượng lớn (~95%) các dạng trùng lỗ (trừ bộ Globigerinida), và thậm chí một lượng lớn hơn của nhóm Coccolithophores, tất cả các loài cúc đá và tên đá (nhóm Belemnoidea) của động vật chân đầu (lớp Cephalopoda) cũng như tất cả các nhóm rudists tạo đá ngầm của ngành động vật thân mềm (ngành Mollusca) và các loài trai thuộc chi Inoceramus), cũng như gần như toàn bộ bò sát biển (ngoại trừ rùacá sấu). Khủng long có lẽ là nạn nhân nổi tiếng nhất của sự kiện tuyệt chủng kỷ Creta. Các loài khủng long còn sót lại vào gần cuối kỷ (chẳng hạn Tyrannosaurus rex, TriceratopsAnkylosaurus) cũng đã bị tiêu diệt. Những con thằn lằn có cánh cuối cùng cũng đã bị tuyệt chủng và phần lớn các loài chim cũng chịu chung số phận, trong đó có các phân lớp EnantiornithesHesperornithes.

Sự tuyệt chủng cao độ của côn trùng diễn ra vào khoảng giữa kỷ Creta, trong tầng Alba.

Xem thêm

  • Hình thành đá phấn
  • Đất sét Gault
  • Biển nội địa miền Tây (biển nội địa Bắc Mỹ)

Tham khảo

Liên kết ngoài

Lưu ý

  1. ^ Image:Sauerstoffgehalt-1000mj.svg
  2. ^ Image:Phanerozoic Carbon Dioxide.png
  3. ^ Image:All palaeotemps.png
  4. ^ “International Chronostratigraphic Chart v.2018/08”. International Commission on Stratigraphy. Tháng 8 năm 2018.
  5. ^ Đại Từ điển bách khoa Xô viết (bằng tiếng Nga) (ấn bản 3). Moskva: Sovetskaya Enciklopediya. 1974. tr. tập 16, trang 50.
  6. ^ Stanley Steven M. Earth System History. New York: W.H. Freeman và Công ty, 1999. ISBN 0-7167-2882-6 trang 280
  7. ^ Stanley, các trang 279-81
  8. ^ "Warmer than a Hot Tub: Atlantic Ocean Temperatures Much Higher in the Past" PhysOrg.com. Truy cập 3/12/2006.
  9. ^ Skinner Brian J. và Stephen C. Porter. The Dynamic Earth: An Introduction to Physical Geology. ấn bản lần thứ 3, New York: John Wiley & Sons, Inc., 1995. ISBN 0-471-59549-7. trang 557
  10. ^ Stanley, các trang 480-2
  11. ^ Stanley, các trang 481-2
đại Trung sinh
kỷ Trias kỷ Jura kỷ Phấn trắng
Kỷ Phấn trắng
Phấn trắng Hạ/Sớm Phấn trắng Thượng/Muộn
Berrias | Valangin | Hauterive
Barrem | Apt | Alba
Cenoman | Tours | Coniac
Santon | Champagne | Maastricht
Acrocanthosaurus

Acrocanthosaurus ( /ˌækroʊˌkænθəˈsɔ:rəs/, nghĩa là "thằn lằn gai sống cao") là một chi khủng long chân thú từng tồn tại ở khu vực ngày nay là Bắc Mỹ vào tầng Apt và giai đoạn đầu của tầng Alba thuộc kỷ Phấn trắng. Giống như hầu hết các chi khủng long khác, Acrocanthosaurus chỉ có một loài duy nhất: A. atokensis. Hóa thạch của loài này được tìm thấy chủ yếu ở các tiểu bang Oklahoma, Texas và Wyoming, mặc dù răng của nó đã được tìm thấy xa về phía đông tận Maryland.

Acrocanthosaurus là động vật ăn thịt hai chân. Như tên "thằn lằn gai sống cao" cho thấy, nó được biết đến với những gai thần kinh cao trên các đốt sống, mà rất có thể được dùng để nâng đỡ một dãy bướu thịt trên lưng, cổ và hông. Acrocanthosaurus là một trong những loài khủng long chân thú lớn nhất, có thể dài tới 11,5 m (38 ft) và nặng đến 6,2 tấn (6,8 tấn thiếu). Những dấu chân lớn của khủng long chân thú tại Texas rất có thể là của chi này, mặc dù không có mối liên hệ trực tiếp nào với hóa thạch xương ở đó.

Khám phá gần đây đã làm sáng tỏ thêm nhiều chi tiết về giải phẫu học, cho phép nghiên cứu chuyên ngành tập trung vào cấu trúc não bộ và chức năng chi trước. Acrocanthosaurus là khủng long chân thú lớn nhất trong hệ sinh thái của nó lúc bấy giờ và rất có thể là một động vật ăn thịt đầu bảng. Nó có thể săn các khủng long chân thằn lằn, khủng long chân chim và khủng long bọc giáp lớn.

Asiamerica

Asiamerica là tên gọi hiếm khi được sử dụng để chỉ một đảo lớn được hình thành từ các khối đất của Laurasia và bị tách rời khỏi lục địa Á-Âu bởi các biển lục địa nông ở phía tây và miền đông Bắc Mỹ ở phía đông. Khu vực này hợp nhất những gì ngày nay thuộc về Trung Quốc, Mông Cổ, miền tây Hoa Kỳ và miền tây Canada. Các chứng cứ hóa thạch cho thấy nó là quê hương của nhiều loài khủng long và thú cổ. Nó tồn tại từ Hậu Phấn trắng (Creta) tới Eocen. Một phần của lục địa này hiện nay là Greenland còn các phần khác thì đã bị nhấn chìm gần cực Bắc của Trái Đất. Biển nông chia cắt hai nửa của Bắc Mỹ gọi là biển Nội địa miền Tây (Western Interior Sea). Kết quả là, các sinh vật tại miền tây Bắc Mỹ đã từng gần gũi với các đối tác của chúng tại khu vực Mông Cổ hơn là so với các họ hàng xa của chúng dọc theo bờ biển Đại Tây Dương.

Brancasaurus

Brancasaurus là một chi khủng long đầu rắn đã tuyệt chủng của từ kỷ Phấn trắng sớm mà ngày nay là nước Đức. Loài điển hình là Brancasaurus brancai, lần đầu tiên được đặt tên bởi Wegner vào năm 1914 để vinh danh nhà cổ sinh vật học người Đức Wilhelm von Branca. Brancasaurus tương tự như Elasmosaurus; như Elasmosaurus, nó có một cái cổ dài và đầu nhỏ.

Bộ Cá da trơn

Bộ Cá da trơn hay bộ Cá nheo (danh pháp khoa học: Siluriformes) là một bộ cá rất đa dạng trong nhóm cá xương. Các loài cá trong bộ này dao động khá mạnh về kích thước và các thức sinh sống, từ loài nặng nhất là cá tra dầu (Pangasius gigas) ở Đông Nam Á tới loài dài nhất là cá nheo châu Âu (Silurus glanis) của đại lục Á-Âu, hay những loài chỉ ăn xác các sinh vật chết ở lớp nước đáy, hay các loài cá ký sinh nhỏ bé như Vandellia cirrhosa. Có các loài với các kiểu tấm xương bảo vệ cũng như các loài không có tấm xương bảo vệ này, nhưng tất cả chúng đều không có vảy. Không phải loài cá da trơn nào cũng có râu; các đặc trưng để xác định bộ Siluriformes trên thực tế là các đặc điểm chung của hộp sọ và bong bóng. Bộ cá này có tầm quan trọng kinh tế đáng kể; nhiều loài được chăn nuôi ở quy mô lớn để cung cấp cá thực phẩm, một vài loài được nuôi thả như là cá câu thể thao. Nhiều loài cá nhỏ, cụ thể là các loài trong chi Corydoras, được nuôi làm cá cảnh trong các bể cá.

Cá da trơn là loài thủy sinh vật được chăn nuôi phổ biến ở nhiều nước trên thế giới và trở thành một nguồn thủy hải sản quan trọng trong công nghiệp thực phẩm, được chế biến và tiêu thụ rộng rãi trên toàn cầu. Tại Hoa Kỳ, các loài catfish (cá mèo hay cá trê Mỹ) thuộc họ Ictaluridae của bộ Cá da trơn được chăn nuôi với quy mô công nghiệp. Các chủ trại nuôi cá catfish đã thành lập một hiệp hội nghề nghiệp nuôi cá catfish để truyền bá, trao đổi kinh nghiệm chăn nuôi loài cá này và bảo vệ quyền lợi cho các thành viên trong trường hợp gặp phải sự cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường. Cũng trong cuộc cạnh tranh này, đã có thời kỳ, các loài cá tra nuôi (Pangasius hypophthalmus) và cá ba sa (Pangasius bocourti) của Nam Bộ, mặc dù thuộc họ Pangasiidae (tiếng Anh gọi là shark catfish) cũng trong bộ Cá da trơn nhưng vẫn bị cho là thuộc họ Cá trê (Clariidae) và cho tới nay tại thị trường Mỹ vẫn không được dán nhãn là catfish và áp dụng thuế chống phá giá lên các loài cá nhập khẩu này.

Ở Việt Nam có nhiều loài thuộc bộ Cá da trơn như cá trê, cá nheo, cá bông lau, cá ba sa, cá tra v.v Đại đa số chúng sinh sống tự nhiên trong các ao, đầm, sông, hồ. Chỉ đến gần đây, khi nhu cầu tiêu thụ loại cá này dưới dạng thực phẩm tăng lên một cách đột biến, một số loài cá thuộc bộ này bắt đầu được các chủ trại nuôi cá ở Việt Nam chăn nuôi, mặc dù với quy mô không lớn.

Bờ biển kỷ Jura

Jurassic Coast là các vách đá dọc theo Dorset và bờ biển Đông Devon, trải dài trên 200 km gần như là liên tục. Các vách đá này hình thành từ kỷ Trias, kỷ Jura, kỷ Phấn Trắng và kéo dài đến Đại Trung sinh (Mesozoic Era), được cho là đã tồn tại được 185 triệu năm. Các khu vực là các công viên địa chất hóa thạch góp phần nghiên cứu lịch sử Trái đất hơn 300 năm qua, đồng thời cũng là cảnh quan vô cùng ngoạn mục của dải đất Tây Nam nước Anh.

Dryptosaurus

Dryptosaurus là một chi khủng long, được Marsh mô tả khoa học năm 1877.

Ekrixinatosaurus

Ekrixinatosaurus là một chi khủng long, được Calvo Rubilar-Rogers & Moreno mô tả khoa học năm 2004.

Khủng long chạy nhanh

Dromaeosauridae là một họ khủng long theropoda giống chim. Chúng là động vật ăn thịt có lông nhỏ và vừa, chúng từng phát triển mạnh mẽ vào kỷ Phấn trắng. Tên Dromaeosauridae có nghĩa là 'thằn lằn chạy', từ tiếng Hy Lạp dromeus (δρομευς) có nghĩa là "Người chạy" và sauros nghĩa là "thằn lằn" (σαυρος). Một tên được dùng không chính thức là raptor (theo Velociraptor), một thuật ngữ được dùng trong bộ phim Công viên kỷ Jura, một vài chi có cụm từ "raptor" trong tên chúng để nhấn mạnh các tập tính giống chim.

Hóa thạch Dromaeosauridae đã được tìm thấy ở Bắc Mỹ, Châu Âu, Châu Phi, Nhật Bản, Trung Quốc, Mông Cổ, Madagascar, Argentina và Nam Cực. Chúng xuất hiện lần đầu tiên vào giữa kỉ Jura (cuối Bathonian, khoảng 164 triệu năm trước) và sống sót cho đến khi kết thúc của kỷ Phấn trắng (Maastrichtian, 65,5 triệu năm trước), chúng tồn tại hơn 100 triệu năm, cho đến Sự kiện tuyệt chủng kỷ Creta-Paleogen. Sự hiện diện của Dromaeosauridae vào giữa kỷ Jurassic đã được xác nhận bởi việc khám phá ra răng hóa thạch bị cô lập, mặc dù không có hóa thạch cơ thể dromaeosauridae được tìm thấy từ thời kỳ này.

Khủng long vận giáp

Thyreophora ("kẻ mang lá chắn", thường được gọi đơn giản là "khủng long vận giáp" - tiếng Hy Lạp: θυρεος là lá chắn thuôn dài lớn, giống như một cánh cửa và φορεω: tôi mang theo) là một phân nhóm khủng long hông chim (Ornithischia). Chúng là những khủng long ăn cỏ và có lớp giáp bảo vệ, sống từ đầu kỷ Jura đến cuối của kỷ Phấn trắng.

Điểm đặc biệt Thyreophora là sự hiện diện của lớp giáp xếp thành hàng dọc theo cơ thể. Các dạng nguyên thủy hơn có vảy xương hay da xương có sống gồ lên, đơn giản và thấp trong khi các dạng tiến hóa hơn đã phát triển các cấu trúc phức tạp hơn, bao gồm các gai và tấm. Hầu hết các loài Thyreophora có bộ não tương đối nhỏ so với kích thước cơ thể chúng.

Thyreophora gồm hai phân bộ đã được biết tới nhiều hơn cả là Ankylosauria (giáp long) và Stegosauria (kiếm long), ngoài ra còn có vài nhóm ít được biết đến. Trong cả hai nhóm, chân trước ngắn hơn nhiều so với chân sau, và điều này đặc biệt rõ nét ở Stegosauria. Nhánh này đã được định nghĩa bao gồm tất cả các loài có quan hệ gần gũi với Ankylosaurus hơn là với Triceratops. Thyreophora là nhóm có quan hệ chị em với Cerapoda trong Genasauria.

Monimiaceae

Monimiaceae là họ thực vật có hoa, có khoảng 150-220 loài, nằm trong 18-25 chi, chủ yếu là các loài cây bụi và cây gỗ nhỏ. Phân bố sinh thái chủ yếu ở vùng chí tuyến và cận chí tuyến nam bán cầu. Chi Tambourissa là chi lớn nhất trong họ, chi này có 50 loài, phân bố ở Madagascar và quần đảo Mascarene, Comoros.

Tên gọi của họ nguồn gốc từ chi điển hình Monimia thường thấy ở Macarens. Niên đại hóa thạch của họ Monimiaceae được xác định là từ kỷ Phấn Trắng, chủ yếu phát hiện ở châu Nam Cực.

Phấn Trắng sớm

Creta sớm (tên địa chất) hay Creta hạ (tên theo thanh phân vị địa tầng) là một trong hai thế/thống của kỷ Creta. Nó kéo dài từ khoảng 146 Ma đến 100 Ma.

Trong thế này, rất nhiều loài khủng long mới xuất hiện và phát triển hưng thịnh như Psittacosaurus, spinosauridae, Carcharodontosauridae và Coelurosauria, trong khi những loài từ Jura muộn vẫn tiếp tục phát triển.

Dưới biển, ichthyosauria bắt đàu suy giảm và tuyệt chủng vào Creta muộn. Angiospermae (thực vật có hoa) xuất hiện lần đầu tiên vào khoảng thời gian này.

Phấn trắng muộn

Creta muộn (100.5–66 Ma) là một trong hai thế của kỷ Creta theo niên đại địa chất. Phân vị địa tầng tương ứng với thế này là thống Creta muộn. Kỷ Phấn trắng được đặt tên dựa trên loại đá vôi trắng như phấn, xuất hiện phổ biến ở miền bắc nước Pháp và được tìm thấy ở các vách đá trắng miền đông nam nước Anh, có niên đại từ thế này.

Pinacosaurus

Pinacosaurus là một chi khủng long, được Gilmore mô tả khoa học năm 1933.

Rapetosaurus

Rapetosaurus là một chi khủng long, được Curry Rogers & Forster mô tả khoa học năm 2001.

Raphidioptera

Raphidioptera là một bộ côn trùng bao gồm khoảng 210 loài còn tồn tại. Trước đây Raphidioptera cùng với Megaloptera được đặt trong Neuroptera nhưng hiện tại chúng được xem là hai bộ riêng biệt.

Raphidioptera trưởng thành lẫn ấu trùng đều ăn thịt. Chúng khá phổ biến ở các vùng ôn đới châu Âu và châu Á, nhưng tại Bắc Mỹ thì chỉ xuất hiện riêng ở miền Tây nước Mỹ, cụ thể là tại dãy Rocky và xa hơn về phía tây, bao gồm các sa mạc phía tây nam.

Sauropterygia

Sauropterygia ("thằn lằn chân chèo") là một nhóm động vật đã tuyệt chủng, gồm nhiều loài bò sát biển, phát triển từ những tổ tiên trên đất liền ngay sau sự kiện tuyệt chủng cuối kỷ Permi và phát triển mạnh mẽ trong Đại Trung sinh rồi tuyệt chủng vào cuối kỷ Phấn Trắng. Sauropterygia được hợp thành từ sự thích nghi triệt để của chúng ở đai ngực, một đặc điểm giúp chúng tăng sức mạnh của chân chèo. Một số loài Sauropterygia sau này, như Pliosauroidea, còn phát triển cấu trúc tương tự ở xương chậu của chúng.

Sự kiện tuyệt chủng kỷ Phấn trắng – Paleogen

Sự kiện tuyệt chủng kỷ Phấn Trắng-Cổ Cận (K–Pg) hay Sự kiện tuyệt chủng kỷ Creta-phân đại Đệ Tam (K–T) xảy ra cách đây khoảng 65,5 triệu năm (Ma) vào cuối thời kỳ Maastricht, là hiện tượng các loài động thực vật tuyệt chủng với quy mô lớn trong một khoảng thời gian địa chất ngắn. Sự kiện này còn liên quan đến ranh giới địa chất giữa kỷ Creta và kỷ Paleogen, đó là một dải trầm tích mỏng được tìm thấy ở nhiều nơi trên thế giới. Sự kiện này đánh dấu sự kết thúc của đại Trung Sinh và bắt đầu đại Tân Sinh.Các hóa thạch khủng long không thuộc lớp chim chỉ được tìm thấy bên dưới ranh giới k-T, điều này cho thấy rằng các khủng long khác chim đã tuyệt chủng trong sự kiện này. Một số lượng rất ít hóa thạch khủng long đã được tìm thấy bên trên ranh giới K-T, nhưng được giải thích là do quá trình tái lắng đọng các vật liệu này, nghĩa là các hóa thạch bị bóc mòn từ các vị trí nguyên thủy của chúng và sau đó được bảo tồn trong các lớp trầm tích được hình thành sau đó. Thương long, thằn lằn cổ rắn, thằn lằn có cánh, và một số loài thực vật và động vật không xương sống cũng tuyệt chủng. Nhánh động vật có vú đã tồn tại qua sự kiện này với một số ít bị tuyệt chủng, và phân tỏa tiến hóa từ các nhánh có mặt trong tầng Maastricht đã xuất hiện nhiều sau ranh giới này. Các tốc độ tuyệt chủng và phân nhánh thay đổi ở các nhánh sinh vật khác nhau.Các nhà khoa học giả thuyết rằng sự kiện tuyệt chủng K–T là do một hoặc nhiều thảm họa, như sự tác động mạnh mẽ của các thiên thạch (giống như hố Chicxulub), hoặc do sự gia tăng mức độ hoạt động của núi lửa. Một vài hố va chạm và hoạt động núi lửa mạnh mẽ đã được định tuổi tương ứng với thời gian xảy ra sự kiện tuyệt chủng. Các sự kiện địa chất như thế này có thể làm giảm lượng ánh sáng và mức độ quang hợp, dẫn đến sự phá hủy hệ sinh thái của Trái Đất trên quy mô lớn. Các nhà nghiên cứu khác thì tin rằng sự tuyệt chủng phát triển từ từ, là kết quả của sự biến đổi chậm hơn của mực nước biển hoặc khí hậu.

Tầng Apt

Tầng Apt là một kỳ trong niên đại địa chất hay bậc trong thang địa tầng. Đây là phân vị của thế/thống Phấn trắng sớm/hạ và kéo dài từ khoảng 125,0 ± 1.0 Ma (triệu năm) đến 113,0 ± 1.0 Ma trước đây. Tầng Apt sau tầng Barreme và trước tầng Alba. Cả ba đều thuộc Phấn trắng sớm/hạ.Tầng Apt nằm trùng một phần với phần trên của bậc Urgonian, một bậc địa phương được dùng ở Tây Âu.

Sự kiện Selli, ký hiệu OAE1a, là một trong hai sự kiện khuyết dưỡng xảy ra tại kỷ Phấn trắng vào khoảng 120 triệu năm trước đây và kéo dài từ 1 đến 1,3 triệu năm.Sự kiện Apt là một sự kiện tuyệt chủng nhỏ có thể đã xảy ra vào khoảng 117 đến 116 triệu năm trưóc đây.

Tầng Maastricht

Tầng Maastricht là tầng cuối cùng của kỷ Creta, và vì thế là của đại Trung Sinh. Nó kéo dài từ khoảng 70,6 ± 0,6 triệu năm trước (Ma) tới 65,5 ± 0,3 Ma.

Vào cuối của kỷ Creta, đã diễn ra sự kiện tuyệt chủng hàng loạt, thông thường được nhắc tới trong các tài liệu về địa chất học, cổ sinh vật học là tuyệt chủng kỷ Creta-Phân đại đệ Tam. Vào thời kỳ diễn ra sự kiện tuyệt chủng đó, nhiều nhóm động vật được công nhận rộng rãi như khủng long, thằn lằn cổ rắn và thương long, cũng như nhiều nhóm ít được biết đến hơn, đã bị tiêu diệt hoàn toàn.

Tầng Maastricht được đặt tên theo thành phố Maastricht của Hà Lan.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.