Kế hoạch Marshall

Kế hoạch Marshall (Marshall Plan) là một kế hoạch trọng yếu của Hoa Kỳ nhằm tái thiết và thiết lập một nền móng vững chắc hơn cho các quốc gia Tây Âu, đẩy lùi chủ nghĩa cộng sản sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Mang tên chính thức "Kế hoạch phục hưng châu Âu" (European Recovery Program - ERP), nhưng Kế hoạch Marshall thường được gọi theo tên của Ngoại trưởng Mỹ George Marshall, người đã khởi xướng và ban hành kế hoạch. Kế hoạch Marshall là thành quả lao động của các quan chức Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, trong đó ghi nhận sự đóng góp đặc biệt của William L. Clayton và George F. Kennan.

Kế hoạch tái thiết được phát triển tại cuộc họp mặt của các quốc gia Châu Âu ngày 12 tháng 7 năm 1947. Kế hoạch Marshall đề ra việc viện trợ tương đương cho Liên Xô và đồng minh của họ, nhưng không được chấp nhận. Kế hoạch được thực thi trong vòng 4 năm, kể từ tháng 7 năm 1947. Trong thời gian đó, có khoảng 17 tỷ đô la Mỹ viện trợ kinh tế và hỗ trợ kỹ thuật để giúp khôi phục các quốc gia châu Âu tham gia Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế - OECD.[1] Nhiều quốc gia châu Âu đã nhận được viện trợ trước khi có Kế hoạch Marshall, kể từ năm 1945, cùng với các điều kiện chính trị kèm theo.

Kế hoạch Marshall cũng là một phần trong kế hoạch chính trị của Mỹ nhằm tăng cường ảnh hưởng đối với các nước Đồng minh Tây Âu và chống lại Liên Xô, cũng như để tạo thuận lợi cho việc kinh doanh của các Tập đoàn xuyên quốc gia Mỹ tại Tây Âu. Để phục vụ mục đích này, Mỹ đã viện trợ kinh tế cho cả chính quyền phát xít Tây Ban Nha, cũng như viện trợ chiến phí cho thực dân Pháp, thực dân Hà Lan quay trở lại xâm chiếm Đông Nam Á. Cho tới khi kết thúc dự án, nền kinh tế của các quốc gia nằm trong Kế hoạch, ngoại trừ Tây Đức, đã phát triển vượt mức trước chiến tranh.

Trong vòng hai thập kỷ tiếp đó, nhiều vùng ở Tây Âu tiếp tục đạt được mức tăng trưởng chưa từng có trước đó. Kế hoạch Marshall cũng được xem là một trong các thành tố của quá trình hội nhập châu Âu, vì nó xóa bỏ hàng rào thuế quan và thiết lập các cơ quan điều phối kinh tế tầm cỡ lục địa.

Trong những năm gần đây, các sử gia đặt câu hỏi về cả động cơ bên trong cũng như tính hiệu quả chung của Kế hoạch Marshall. Một số sử gia cho rằng hiệu quả của Kế hoạch Marshall thực tế là từ chính sách laissez-faire (tạm dịch: thả nổi) cho phép thị trường tự bình ổn qua sự phát triển kinh tế.[2] Người ta cho rằng Tổ chức Cứu trợ và Phục hồi của Liên Hiệp Quốc, vốn giúp hàng triệu người tị nạn từ năm 1944 tới 1947, cũng giúp đặt nền móng cho sự phục hồi châu Âu thời hậu chiến.

Marshall Plan
Bản đồ của châu Âu và vùng Cận Đông thời Chiến tranh Lạnh thể hiện các nước đã nhận viện trợ theo Kế hoạch Marshall. Các cột màu xanh thể hiện mối tương quan tổng số tiền viện trợ cho mỗi quốc gia.

Trước khi có Kế hoạch Marshall

Bối cảnh tại châu Âu

Hamburg after the 1943 bombing
Các tòa nhà đổ nát sau cuộc không kích Hamburg

Phần lớn châu Âu bị tàn phá nặng nề với hàng triệu người chết và bị thương sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Chiến sự tàn phá trên toàn lục địa, trải rộng trên một diện tích còn lớn hơn Chiến tranh thế giới thứ nhất. Các cuộc ném bom dai dẳng cũng đồng nghĩa với việc phần lớn các thành phố lớn đều bị tàn phá nặng nề, với các khu công nghiệp bị đánh phá nghiêm trọng. Rất nhiều thành phố lớn, bao gồm cả WarszawaBerlin hoàn toàn đổ nát, các thành phố khác, như Luân ĐônRotterdam, thì bị thương tích nặng nề. Hạ tầng cơ sở kinh tế điêu tàn, hàng triệu người trở thành vô gia cư. Mặc dù nạn đói ở Hà Lan năm 1944 đã dịu đi cùng với nguồn viện trợ, nhưng sự hoang tàn của ngành nông nghiệp cũng khiến cho nạn đói xảy ra tại một số vùng trên lục địa, lại càng trở nên nghiêm trọng vì mùa đông đặc biệt khắc nghiệt năm 1946–1947 tại vùng tây bắc châu Âu. Đặc biệt hạ tầng giao thông bị phá hoại nghiêm trọng, vì đường sắt, cầu cống, đường sá là các mục tiêu không kích quan trọng, trong khi phần lớn các đoàn tàu thương mại đã bị đánh chìm. Mặc dù phần lớn các thị trấn nhỏ và làng mạc ở Tây Âu không phải chịu cảnh tàn phá ghê gớm như vậy, nhưng việc hệ thống giao thông bị tiêu hủy cũng làm cho họ trở nên cô lập về mặt kinh tế. Bất kỳ vấn đề nào trên đây đều không dễ để giải quyết, vì phần lớn các quốc gia tham chiến đều đã kiệt quệ về tài chính.

Từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, nền kinh tế châu Âu đã bị tổn thất nặng nề và cuộc khủng hoảng sau thời kỳ thế chiến, kéo dài đến tận thập niên 1920, đã dẫn đến sự bất ổn và suy thoái trên toàn cầu. Nước Mỹ, mặc dù lúc đó đang theo chủ nghĩa biệt lập, cũng cố gắng thúc đẩy tăng trưởng tại châu Âu, chủ yếu là thông qua sự tham gia của các ngân hàng Mỹ. Khi Đức không thể trả nổi các khoản bồi hoàn chiến phí, người Mỹ can thiệp bằng cách nới rộng các khoản vay cấp cho Đức, một món nợ mà người Mỹ không đòi lại được khi họ tham gia Chiến tranh thế giới thứ hai vào năm 1941.

Ngay sau Thế chiến 2, Mỹ có hai đề án để kiểm soát châu Âu: đề án thành lập Liên minh quân sự Bắc Đại Tây Dương (NATO) vào năm 1949 để kiểm soát châu Âu về an ninh, và đề án thành lập Liên minh châu Âu (EU) để kiểm soát châu Âu về chính trị và kinh tế. Năm 1948, Ủy ban Mỹ phụ trách châu Âu được thành lập do William Donovan đứng đầu, cấp phó của William Donovan trong ủy ban này là Allen Dulles, về sau trở thành Giám đốc Cục tình báo Mỹ (CIA). Các tài liệu giải mật sau này chứng tỏ Ủy ban này đã cung cấp tài chính cho các phong trào chính trị trên châu lục này như “Phong trào châu Âu”, theo những cơ chế bí mật thông qua các quỹ từ thiện đã từng làm vỏ bọc ngụy trang cho hoạt động của Bộ ngoại giao Mỹ và CIA.[3]

Tại Washington, người ta nhất trí là những sai lầm sau Chiến tranh thế giới thứ nhất không được phép tái diễn. Bộ ngoại giao dưới thời Tổng thống Harry S. Truman dồn tâm sức theo đuổi các hoạt động đối ngoại, nhưng Quốc hội thì phần nào tỏ ra không quan tâm. Ban đầu, người ta hy vọng là chỉ cần không nhiều tiền lắm cũng đủ để tái thiết châu Âu; và Anh, Pháp, với sự giúp sức từ các thuộc địa của họ, sẽ nhanh chóng khôi phục nền kinh tế của họ. Tuy nhiên, tới năm 1947 vẫn chỉ có rất ít tiến bộ. Và mùa đông giá lạnh liên tục trong mấy năm làm tình hình vốn đã xấu lại càng xấu hơn. Nền kinh tế châu Âu dường như không phát triển mạnh với tỷ lệ thất nghiệp cao, lương thực thiếu thốn, dẫn đến các cuộc đình công và bất ổn trong một số quốc gia. Năm 1947, nền kinh tế châu Âu vẫn còn ở dưới mức trước chiến tranh, và hầu như không có dấu hiệu tăng trưởng. Sản lượng nông nghiệp ở khoảng 83% mức năm 1938, sản xuất công nghiệp là 88%, xuất khẩu chỉ ở mức 59%.[4]

Sự thiếu hụt lương thực là một trong những vấn đề trầm trọng nhất. Trước chiến tranh, Tây Âu phụ thuộc vào nguồn lương thực thặng dư từ Đông Âu, nhưng những nguồn đó đã bị chặn lại phía sau Bức màn sắt. Tình hình trở nên đặc biệt tồi tệ tại Đức, nơi mà theo Alan S. Milward trong năm 1946–47 lượng kilocalorie trung bình trên đầu người chỉ là 1.800, không đủ đảm bảo sức khỏe về lâu về dài.[5] Các nguồn khác cho biết lượng kilocalorie trong các năm đó thay đổi, có thể thấp đến mức 1.000 và 1.500. William Clayton thông báo cho Washington là "hàng triệu người đang từ từ chết đói".[6] Một nhân tố cốt yếu khác cho nền kinh tế nói chung là sự thiếu hụt than đá, càng trở nên trầm trọng vì mùa đông lạnh lẽo 1946–47. Tại Đức, các căn hộ không được sưởi ấm, khiến hàng trăm người chết cóng. Tại Anh, tình hình không đến nỗi tồi tệ như vậy, nhưng nhu cầu dân chúng khiến cho sản xuất công nghiệp bị đình trệ hoàn toàn. Một trong những động cơ thúc đẩy kế hoạch trên là lòng nhân đạo muốn chấm dứt những thảm cảnh đó.

Bundesarchiv Bild 183-B0527-0001-753, Krefeld, Hungerwinter, Demonstration
Nạn đói mùa đông năm 1947, hàng ngàn người phản đối ở Tây Đức vì thiếu hụt lương thực (ngày 31 tháng 3 năm 1947). Tấm bảng ghi: "Chúng tôi muốn có than, chúng tôi muốn có bánh mì"

Đức nhận được nhiều đề nghị từ các quốc gia Tây Âu đổi lương thực lấy than đá và sắt thép tối cần thiết khi đó. Nhưng cả Ý lẫn Hà Lan đều không thể được bán rau quả mà trước đó họ vẫn bán ở Đức, với hệ quả là Hà Lan phải tiêu hủy một phần đáng kể vụ thu hoạch của mình. Đan Mạch muốn đổi 150 tấn mỡ lợn một tháng, Thổ Nhĩ Kỳ muốn đổi hạt dẻ; Na Uy muốn đổi cá và dầu cá, Thụy Điển muốn đổi một lượng lớn mỡ. Các quốc gia Đồng Minh, tuy nhiên, không muốn để người Đức được mua bán.[7] Trước tình hình đó, Tướng Lucius D. Clay và Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân (Joint Chiefs of Staff) ngày càng tỏ ra lo lắng trước sự gia tăng ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản tại Đức, cũng như tình hình thất bại của các nền kinh tế châu Âu không thể phục hồi mà không có nền công nghiệp Đức, là nền móng mà trước kia họ phải dựa vào. Mùa hè năm 1947, Ngoại trưởng, Tướng George Marshall, dựa vào lý do "cơ sở an ninh quốc gia", cuối cùng đã thuyết phục được Tổng thống Harry S. Truman bãi bỏ chỉ thị JCS 1067 trừng phạt Đức, thay vào đó bằng chỉ thị JCS 1779.[8] Tháng 7 năm 1947 chỉ thị JCS 1067, vốn vẫn định hướng cho lực lượng chiếm đóng Mỹ tại Đức nhằm "... không thực hiện bất kỳ bước nào để tiến tới khôi phục nền kinh tế Đức", được thay thế bởi chỉ thị JCS 1779, nhấn mạnh "Một châu Âu trật tự, phồn vinh đòi hỏi phải có sự đóng góp kinh tế từ một nước Đức ổn định và hiệu quả".[9] Chỉ thị JCS 1067 đã có hiệu lực trong vòng hơn hai năm. Những hạn chế áp đặt lên nền sản xuất công nghiệp của Đức phần nào trở nên thông thoáng hơn, cho phép sản xuất thép tăng lên từ mức 25% trước chiến tranh[10][11] tới định mức 50% năng suất trước thế chiến.[12]

Nền công nghiệp Đức tiếp tục bị dỡ bỏ, và năm 1949 Thủ tướng Đức Konrad Adenauer viết thư cho phe Đồng Minh, yêu cầu chấm dứt việc đó, viện dẫn sự trái khoáy trong việc khuyến khích phát triển công nghiệp và việc phá bỏ các nhà máy, cũng như sự mất lòng dân từ chính sách đó.[13] Sự ủng hộ cho việc dỡ bỏ các nhà máy lúc này tới chủ yếu từ phía Pháp, và Thỏa thuận Petersberg tháng 11 năm 1949 cho phép giảm tốc độ phá dỡ đi rất nhiều, mặc dù việc tháo dỡ các nhà máy nhỏ tiếp tục cho tới năm 1951.[14] Kế hoạch "định mức công nghiệp" đầu tiên, được phe Đồng Minh ký ngày 9 tháng 3 năm 1946, tuyên bố nền công nghiệp nặng của Đức phải giảm xuống 50% mức năm 1938 bằng cách phá bỏ 1.500 nhà máy có tên trong danh sách.[15] Tháng 1 năm 1946, Hội đồng kiểm soát Đồng Minh áp đặt cơ sở cho nền kinh tế Đức bằng cách đặt hạn mức cho sản xuất thép của Đức vào khoảng 5,8 triệu tấn một năm, bằng với 25% mức trước chiến tranh.[10] Nước Anh, chiếm đóng những vùng sản xuất thép chính, đòi phải giới hạn sản lượng hơn nữa bằng cách đặt một tối đa là 12 triệu tấn thép một năm, nhưng cuối cùng cũng phải chịu theo ý Mỹ, PhápLiên Xô (vốn định đặt mức giới hạn 3 triệu tấn trước đó). Các nhà máy thép thừa ra sẽ phải bị phá bỏ. Nước Đức bị đẩy xuống mức sống khi cuộc Đại khủng hoảng lên tới đỉnh điểm năm 1932[11] Sản xuất ô tô bị định ở 10% mức trước thời chiến....[16]

Kế hoạch "Định mức công nghiệp Đức" được tiếp nối bởi một số kế hoạch mới hơn, kế hoạch cuối cùng được ký vào năm 1949. Tới năm 1950, sau khi thực tế đã hoàn thành các kế hoạch "định mức công nghiệp", người ta dỡ bỏ 706 nhà máy ở Tây Đức và sản lượng thép bị giảm xuống còn 6,7 triệu tấn.[17] Vladimir Petrov nhận xét là phe Đồng Minh đã "trì hoãn trong vài năm sự phục hồi kinh tế của lục địa châu Âu bị chiến tranh tàn phá, sự phục hồi mà cuối cùng Mỹ phải tốn hàng tỷ đô la vào đó".[18] Năm 1951, Tây Đức chấp thuận gia nhập Cộng đồng Than Thép châu Âu (ECSC) vào năm sau. Điều đó có nghĩa là một số hạn chế về định lượng và sản lượng thực tế do Ủy ban quốc tế giám sát vùng Ruhr được dỡ bỏ, và vai trò của ủy ban này được tiếp quản bởi ECSC.[19]

Bối cảnh chính trị tại Hoa Kỳ

Cường quốc duy nhất mà cơ sở hạ tầng không bị thiệt hại trong thế chiến 2 là Hoa Kỳ. Họ tham chiến muộn hơn hầu hết các quốc gia châu Âu, và chỉ bị những tàn phá rất khiêm tốn trên lãnh thổ của mình. Số lượng dự trữ vàng của Hoa Kỳ vẫn còn nguyên, cũng như cơ sở hạ tầng nông nghiệp và sản xuất, với nền kinh tế lành mạnh. Những năm chiến tranh mang lại thời kỳ phát triển kinh tế mạnh mẽ nhất trong lịch sử, với các nhà máy của Mỹ sản xuất hàng hóa phục vụ cho cả nhu cầu vật tư chiến tranh của Mỹ lẫn đồng minh. Sau chiến tranh, các nhà máy này được nhanh chóng chuyển đổi sang sản xuất vật liệu tiêu dùng, và sự khan hiếm trong chiến tranh được thay thế bởi sự bùng nổ mức tiêu thụ hàng hóa. Sức khỏe về lâu dài của nền kinh tế Mỹ tuy nhiên phụ thuộc vào thương mại, vì để duy trì sự phồn thịnh nó cần xuất khẩu hàng hóa làm ra. Viện trợ từ Kế hoạch Marshall phần lớn sẽ được châu Âu sử dụng để mua vật tư cũng như hàng hóa sản xuất tại Mỹ.

Một động cơ quan trọng cho nước Mỹ, và cũng là một sự khác biệt cơ bản so với thời kỳ hậu Chiến tranh thế giới thứ nhất là sự bắt đầu Chiến tranh Lạnh. Một số quan chức trong chính phủ Mỹ ngày càng tỏ ra nghi ngờ các hoạt động của Liên Xô. George Kennan, một trong số các lãnh đạo trong việc phát triển kế hoạch, đã dự đoán về sự hình thành thế giới hai cực. Với ông, Kế hoạch Marshall là con cờ chủ đạo của học thuyết "phong tỏa" (containment).[20] Cũng đáng lưu ý là Kế hoạch Marshall được khởi xướng khi liên minh thời chiến vẫn còn phần nào đoàn kết, Chiến tranh Lạnh chưa bắt đầu và, đối với phần lớn những người hoạch định Kế hoạch Marshall, sự lo ngại Liên Xô không phải là mối lo chủ yếu như trong những năm tiếp theo.

Dù vậy, sức mạnh và sự thu hút của các đảng cộng sản bản địa tại chính các quốc gia Tây Âu sở tại khiến Hoa Kỳ cũng phải lo ngại. Tại cả Pháp và Ý, sự nghèo khổ thời hậu chiến như tiếp thêm sinh lực cho các đảng cộng sản, vốn đã đóng vai trò trung tâm cho phong trào kháng chiến trước đó. Các đảng này giành được thắng lợi quan trọng trong các cuộc bầu cử sau thế chiến, với Đảng Cộng sản Pháp trở thành chính đảng lớn nhất nước Pháp. Mặc dù ngày nay các sử gia coi mối nguy Pháp và Ý rơi vào tay đảng cộng sản là chuyện xa vời,[21] nhưng nó đã được coi là mối đe dọa thực tiễn với các nhà hoạch định chính sách Mỹ lúc đó. Chính phủ Mỹ dưới thời Harry S. Truman bắt đầu tin vào khả năng này vào năm 1946, đặc biệt với bàn diễn văn "Iron Curtain" (Bức màn sắt) của Churchill, đọc trước sự có mặt của Truman. Trong tâm trí họ, Hoa Kỳ cần phải xác định lập trường của họ trên trường quốc tế, nếu không họ sẽ mất đi sự tín nhiệm. Sự trỗi dậy của học thuyết "phong tỏa" lập luận rằng Hoa Kỳ cần phải giúp đỡ thật nhiều cho các chính phủ chống cộng sản để ngăn chặn sự mở rộng tầm ảnh hưởng của Liên Xô. Người ta cũng hy vọng là các quốc gia Đông Âu cũng sẽ gia nhập kế hoạch này, và rút khỏi khối Xô viết đang nổi lên.

Thậm chí từ trước khi có Kế hoạch Marshall, Hoa Kỳ đã gửi một lượng lớn viện trợ để giúp châu Âu hồi phục. Khoảng 9 tỷ đô la đã được sử dụng trong khoảng thời gian từ năm 1945 tới 1947. Phần lớn số viện trợ này là viện trợ gián tiếp, đến từ dạng thỏa thuận lend-lease liên tiếp, và thông qua nỗ lực của binh sĩ Mỹ sửa chữa hạ tầng cơ sở cũng như giúp người tị nạn. Một số các thỏa thuận hỗ trợ song phương cũng được ký kết, mà quan trọng nhất trong số đó có lẽ là việc hứa hẹn giúp đỡ quân sự cho Hy LạpThổ Nhĩ Kỳ theo Học thuyết Truman. Tổ chức Liên Hiệp Quốc khi đó mới ra đời cũng tiến hành một loạt các hoạt động cứu trợ nhân đạo, tài trợ hoàn toàn bởi Hoa Kỳ. Các nỗ lực đó có tác động quan trọng, nhưng thiếu tính chất tổ chức trung tâm và thiếu kế hoạch nên không thành công trong việc đáp ứng nhiều nhu cầu căn bản của châu Âu.[22] Từ năm 1943, Ủy ban Phục hồi và Cứu trợ Liên hiệp quốc (United Nations Relief and Rehabilitation Administration - UNRRA) đã được thành lập để cung cấp viện trợ cho các vùng đất được giải phóng từ phe Trục sau Chiến tranh thế giới thứ hai. UNRRA cung cấp hàng tỷ đô la trong các khoản viện trợ, và giúp được khoảng 8 triệu người tị nạn. Tổ chức này dừng hoạt động tại các trại cho người tị nạn vào năm 1947 tại châu Âu, vì dự trù Kế hoạch Marshall sẽ thay thế nó. Nhiều hoạt động của tổ chức này được chuyển giao cho các cơ sở Liên Hiệp Quốc khác.

Ý tưởng ban đầu

Từ trước khi có bài diễn văn của Tướng Marshall, một số người đã đặt vấn đề cần lên kế hoạch tái thiết châu Âu. Ngoại trưởng Mỹ James F. Byrnes đệ trình một phiên bản trước đó của kế hoạch này trong bài diễn văn "Restatement of Policy on Germany" (Tuyên bố chính sách cho nước Đức) tại Nhà hát Opera ở Stuttgart vào ngày 6 tháng 9 năm 1946. Trong một loạt các báo cáo với tên "The President's Economic Mission to Germany and Austria" (Chương trình kinh tế của Tổng thống cho Đức và Áo), một báo cáo được Tổng thống Harry S. Truman ủy thác, cựu Tổng thống Herbert Hoover đã đưa ra một quan điểm nghiêm túc về kết quả chính sách chiếm đóng Đức. Trong báo cáo đó Hoover đề nghị nhiều thay đổi cơ bản trong chính sách chiếm đóng. Thêm vào đó, Tướng Lucius D. Clay đề nghị với nhà công nghiệp Lewis H. Brown tiến hành khảo sát nước Đức hậu chiến và phác thảo bản báo cáo "A Report on Germany" (Báo cáo về nước Đức) vào năm 1947, bao gồm nhiều thông tin căn bản liên quan đến các vấn đề mà Đức phải đương đầu, với lời khuyên cho việc tái thiết. Thứ trưởng ngoại giao Mỹ Dean Acheson cũng có một bài diễn văn quan trọng về vấn đề này, nhưng bị bỏ ngoài tai; và Phó tổng thống Alben W. Barkley cũng đã lên tiếng về ý tưởng này.

Lựa chọn cơ bản khác cho việc sử dụng một lượng tài trợ của Mỹ là lấy chúng từ ngay nước Đức. Năm 1944, ý tưởng này được biết đến với tên gọi Kế hoạch Morgenthau, theo tên Bộ trưởng Tài chính Mỹ là Henry Morgenthau, Jr. Kế hoạch đó sẽ trích một lượng bồi thường chiến phí khổng lồ từ nước Đức để tái xây dựng các quốc gia đã bị Đức tấn công tàn phá, và cũng là để ngăn nước Đức không bao giờ có thể vươn dậy được. Một kế hoạch gần như thế là Kế hoạch Monnet của một viên chức Pháp tên Jean Monnet, kế hoạch này đề nghị dành cho Pháp quyền kiểm soát vùng công nghiệp than đá của Đức là RuhrSaar để sử dụng các nguồn tài nguyên cho việc nâng sản lượng công nghiệp của Pháp lên mức 150% trước chiến tranh. Năm 1946, các quốc gia Đồng Minh tham gia chiếm đóng Đức đã đồng ý đặt ra các hạn mức nghiêm ngặt về việc bao giờ có thể cho phép nước Đức tái công nghiệp hóa. Định mức cũng được đặt ra về việc bao nhiêu sắt thép và than đá Đức được phép sản xuất. Kế hoạch công nghiệp đầu tiên của Đức, được gọi là "thỏa thuận mức công nghiệp", được ký kết đầu năm 1946, theo đó ngành công nghiệp nặng của Đức phải giảm xuống mức 50% của năm 1938 bằng cách phá hủy 1.500 nhà máy.[23] Những vấn đề hiển hiện trong kế hoạch này trở nên rõ ràng vào cuối năm 1946 và thỏa thuận này phải được sửa lại mấy lần, lần cuối cùng là vào năm 1949. Việc phá bỏ các nhà máy của Đức tuy vậy tiếp tục diễn ra cho tới tận năm 1950. Nước Đức từ lâu đã là nhà công nghiệp khổng lồ của châu Âu nên sự khốn khó của họ kéo lùi lại sự phục hồi của châu Âu nói chung. Sự thiếu thốn trầm trọng ở Đức cũng làm cho việc chiếm đóng Đức trở nên hết sức tốn kém, vì quân đội Đồng Minh chiếm đóng Đức phải tự xoay xở lấy phần lớn những vật tư cần thiết. Các yếu tố đó, cộng với sự lên án rộng khắp của công luận sau khi các kế hoạch này bị để lộ cho báo chí, khiến người ta trên thực tế phải bác bỏ Kế hoạch Monnet và Kế hoạch Morgenthau. Tuy nhiên một số ý tưởng của họ phần nào vẫn có đất sống trong chỉ thị JSC 1067 (Joint Chiefs of Staff Directive 1067), kế hoạch này trên thực tế là phần cơ bản chính sách chiếm đóng của Mỹ cho tới tháng 7 năm 1947. Các trung tâm công nghiệp mỏ như Saar và Silesia bị tách khỏi nước Đức, một số ngành công nghiệp dân sự bị phá bỏ để kìm hãm sản lượng, khu công nghiệp Ruhr cũng đứng trước nguy cơ bị tách rời vào cuối năm 1947. Tuy nhiên tới tháng 4 năm 1947, Truman, Marshall và thứ trưởng ngoại giao Mỹ Dean Acheson cuối cùng cũng bị thuyết phục rằng cần phải sử dụng một nguồn viện trợ lớn từ chính nước Mỹ.

Ý tưởng về một kế hoạch tái thiết là một sản phẩm của sự dịch chuyển tư tưởng đã bắt đầu xảy ra ở nước Mỹ từ cuộc Đại suy thoái. Cuộc khủng hoảng kinh tế trong thập niên 1930 khiến cho rất nhiều người tin rằng nền kinh tế thị trường tự do mà không được kìm hãm sẽ không thể nào đảm bảo cho sự phồn thịnh kinh tế. Nhiều người đã góp công sức cho việc thiết lập ra Chính sách kinh tế mới (New Deal) để phục hồi nền kinh tế Hoa Kỳ, giờ đây muốn áp dụng bài học này cho châu Âu. Cùng thời gian đó, cuộc Đại suy thoái cũng cho thấy nguy cơ đến từ hàng rào thuế quan và chính sách bảo hộ, tạo nên một niềm tin mạnh mẽ vào sự cần thiết phải có tự do mậu dịch và thống nhất nền kinh tế châu Âu.[24] Không hài lòng với những hậu quả từ Kế hoạch Morgenthau, ngày 18 tháng 3 năm 1947, cựu Tổng thống Mỹ Hoover tuyên bố: "Người ta có ảo tưởng là một nước Đức mới sau sự sáp nhập có thể bị biến thành một 'quốc gia an bình'. Việc này là bất khả thi trừ trường hợp người ta hủy diệt hay cưỡng bức 25 triệu người rời nước Đức".[25] Chính sách áp dụng cho nước Đức thay đổi nhanh chóng chỉ vài tháng sau đó và Kế hoạch Morgenthau hoàn toàn bị đảo ngược.

Bài diễn văn

George Catlett Marshall, general of the US army
Ngoại trưởng Mỹ George Marshall

Các cuộc thảo luận công cộng trước đó về sự cần thiết của việc tái thiết hầu như bị lờ đi vì người ta vẫn không rõ là nó có phải là một định hướng chính sách chính thức của Chính phủ Mỹ hay không. Do đó, Chính phủ Mỹ quyết định là mọi nghi hoặc phải được loại bỏ bởi một bài diễn văn quan trọng của Ngoại trưởng Mỹ George Marshall. Marshall đã diễn thuyết trước khóa sinh viên tốt nghiệp Đại học Harvard vào ngày 5 tháng 6 năm 1947. Đứng trước những bực thang của Nhà thờ Memorial tại Vườn Harvard, ông hứa Hoa Kỳ sẽ viện trợ để thúc đẩy sự khôi phục và tái thiết châu Âu. Ông vạch rõ Chính phủ Hoa Kỳ đã sẵn sàng để đóng góp cho sự hồi phục tại châu Âu. Ông nói: "Điều rất hợp lý là Hoa Kỳ cần phải làm tất cả những gì có thể để giúp mang lại trạng thái lành mạnh cho nền kinh tế thế giới, mà không có nó sẽ không có sự ổn định chính trị và không có nền hòa bình vững chắc. Chính sách của chúng ta là không chống lại bất kỳ quốc gia nào, mà chống lại đói kém, nghèo nàn, tuyệt vọng và hỗn loạn. Bất kỳ chính phủ nào sẵn lòng giúp một tay để tái thiết sẽ nhận được sự trợ giúp toàn tâm toàn ý của nước Mỹ". Marshall tin tưởng chắc chắn rằng ổn định kinh tế sẽ mang lại ổn định chính trị tại châu Âu. Ông đề xuất viện trợ, nhưng các quốc gia châu Âu sẽ phải tự tạo ra các chương trình hành động của chính họ.

Bài diễn văn, soạn bởi Charles Bohlen, không có một chi tiết hay con số cụ thể nào. Yếu tố quan trọng nhất của bài diễn văn này là việc kêu gọi các quốc gia châu Âu gặp nhau và tạo ra kế hoạch tái thiết châu Âu, rồi nước Mỹ sẽ cung cấp tài chính cho kế hoạch đó. Chính phủ Mỹ tin rằng kế hoạch này sẽ không nhận được sự đồng thuận từ nhiều người Mỹ và bài diễn văn nhắm chủ yếu vào các thính giả châu Âu. Để bài diễn văn này không rơi vào tay các báo tại Hoa Kỳ, các ký giả đã không được thông báo, và cùng ngày hôm đó Tổng thống Truman đã tổ chức một buổi họp báo để thu hút sự quan tâm từ báo giới Mỹ. Ngược lại, Acheson được phái đi để liên hệ với giới truyền thông châu Âu, đặc biệt là truyền thông Anh, và bài diễn văn được đọc toàn văn trên đài BBC.[26][27]

Liên Xô khước từ tham gia

Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Anh Ernest Bevin sau khi nghe radio về Kế hoạch Marshall đã ngay tức khắc liên lạc với Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Pháp Georges Bidault để chuẩn bị lời đáp ứng (và nhận) của châu Âu. Hai người này đã nhất trí về việc cần phải mời Liên Xô tham gia chương trình với tư cách là một cường quốc trong phe Đồng Minh. Bài diễn văn của Marshall cũng đề cập rõ ràng tới việc mời phía Liên Xô tham gia, vì cảm thấy việc loại trừ Liên Xô khỏi chương trình này là một biểu hiện thiếu tin cậy quá rõ. Tuy nhiên các quan chức Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ biết rằng Stalin gần như chắc chắn sẽ không tham dự, và bất kỳ kế hoạch này bao gồm việc gửi một lượng viện trợ lớn cho Liên Xô cũng có khả năng lớn là sẽ bị Quốc hội bác bỏ.

Stalin ban đầu tỏ ý quan tâm đến Kế hoạch Marshall. Ông cho rằng Liên Xô có vị thế trên trường quốc tế sau chiến tranh và có thể ra yêu sách về điều kiện viện trợ. Vì vậy ông gửi Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Vyacheslav Mikhailovich Molotov tới Paris để hội đàm với Bevin và Bidault.[28] Các nhà lãnh đạo Anh và Pháp, cũng như Mỹ, không thực sự quan tâm đến việc mời Liên Xô tham dự và họ đã đề nghị với Molotov các điều kiện mà Liên Xô sẽ không bao giờ chấp nhận. Điều kiện quan trọng nhất là tất cả các quốc gia tham dự kế hoạch này phải chấp nhận để nền kinh tế của mình được ước định bởi một tổ chức độc lập, tức một sự kiểm định mà Liên Xô không thể cho phép. Bevin và Bidault cũng nhất định đòi viện trợ phải đi kèm với việc thống nhất nền kinh tế châu Âu, một điều rất không thích hợp với nền kinh tế kế hoạch có chỉ đạo của Liên Xô. Kết quả là Molotov rời Paris và không chấp nhận kế hoạch này.

Ngày 12 tháng 7, một cuộc họp lớn được tổ chức tại Paris. Tất cả các quốc gia châu Âu đều được mời tham dự, ngoại trừ Tây Ban Nha (là quốc gia không tham chiến trong Chiến tranh thế giới thứ hai nhưng nghiêng về phe Trục) và các tiểu quốc Andorra, San Marino, MonacoLiechtenstein. Liên Xô cũng được mời, nhưng người ta hiểu ngầm là Liên Xô sẽ không tới dự. Các quốc gia thuộc khối Đông Âu cũng được mời, với Tiệp KhắcBa Lan đồng ý tới dự. Biểu thị rõ ràng nhất về việc Liên Xô thâu tóm ảnh hưởng trong khu vực là việc Bộ trưởng Bộ ngoại giao Tiệp Khắc, Jan Masaryk, bị triệu đến Moskva và bị Stalin mắng mỏ về việc toan tính tham gia Kế hoạch Marshall. Thủ tướng Ba Lan Josef Cyrankiewicz được Stalin tưởng thưởng cho việc Ba Lan từ chối tham dự chương trình này bằng một hiệp định thương mại khổng lồ có trị giá trong vòng 5 năm, 450 triệu đô la vốn tín dụng, 200 ngàn tấn ngũ cốc, máy móc công nghiệp nặng và công xưởng.[29] Stalin coi kế hoạch này là mối đe dọa nghiêm trọng cho sự kiểm soát của Liên Xô với khối Đông Âu, và tin rằng việc hợp nhất nền kinh tế với phương Tây sẽ khiến các quốc gia đó thoát khỏi vòng ảnh hưởng của Liên Xô. Phía Mỹ cũng tin tưởng như vậy và hy vọng là viện trợ kinh tế sẽ hỗ trợ để đối trọng lại sự gia tăng ảnh hưởng của Liên Xô. Họ do đó không tỏ ra ngạc nhiên khi phái đoàn Tiệp Khắc và Ba Lan bị ngăn không được tới họp. Các quốc gia Đông Âu khác từ chối kế hoạch này ngay tức khắc.[30] Phần Lan cũng khước từ đề nghị để tránh chọc giận Liên Xô. Để đổi lại đề nghị trợ cấp và buôn bán thương mại với phương Tây, Liên Xô đưa ra Kế hoạch Molotov, và sau này là COMECON. Trong một bài diễn văn trước Liên Hiệp Quốc, Thứ trưởng Bộ ngoại giao Liên Xô Andrei Ianuaryevich Vyshinsky tuyên bố Kế hoạch Marshall vi phạm các nguyên tắc của Liên Hiệp Quốc. Ông buộc tội Hoa Kỳ âm mưu áp đặt ý muốn của mình lên các quốc gia độc lập, cùng với việc sử dụng việc phân phối viện trợ từ nguồn lực kinh tế của mình cho các quốc gia nghèo như một công cụ gây áp lực chính trị.[31]

Quá trình đàm phán

Marshall plan page 1
Trang đầu bản Kế hoạch Marshall

Việc biến kế hoạch thành hiện thực đòi hỏi có sự đàm thoại giữa các quốc gia liên quan, đồng thời kế hoạch này cần được thông qua tại Quốc hội Mỹ. Vì vậy mười sáu quốc gia đã nhóm họp tại Paris để quyết định viện trợ của Mỹ sẽ ở dưới dạng gì và sẽ được phân chia ra sao. Quá trình đàm phán kéo dài và phức tạp, với mỗi quốc gia đều có mối quan tâm của riêng mình. Bận tâm chính của Pháp là làm sao để Đức không thể tái lập thành một cường quốc mang lại hiểm họa như trước. Các quốc gia Benelux, dù cũng phải gánh chịu ách thống trị của Đức Quốc xã, nhưng đã từ lâu gắn kết với nền kinh tế Đức, hiểu rằng sự phồn vinh của mình tùy thuộc vào việc nước Đức có hồi phục được hay không. Các quốc gia Scandinavia, đặc biệt là Thụy Điển, nhấn mạnh là sự giao thương tồn tại lâu dài giữa họ và các quốc gia Đông Âu không bị gián đoạn, và sự trung lập của họ không bị xâm phạm. Nước Anh muốn được hưởng quy chế đặc biệt, vì e ngại là nếu họ chỉ được đối xử ngang hàng với các quốc gia bị tàn phá trong chiến tranh, thì có lẽ họ sẽ chẳng nhận được mấy viện trợ. Người Mỹ thì thúc đẩy tự do mậu dịch và thống nhất châu Âu để tạo nên bức tường thành chống lại chủ nghĩa cộng sản. Chính quyền Truman, đại diện bởi William Clayton, hứa hẹn với châu Âu là họ sẽ được tự do lập kế hoạch, nhưng chính quyền Mỹ cũng nhắc nhở họ là để kế hoạch có thể được đưa vào thực hiện, nó phải được Quốc hội Mỹ thông qua. Phần lớn Quốc hội Mỹ muốn có tự do mậu dịch và thống nhất châu Âu, nhưng cũng ngần ngại không muốn bỏ quá nhiều tiền ra để trợ giúp Đức.[32]

Cuối cùng họ cũng đạt được thỏa thuận và châu Âu gửi một bản kế hoạch tái thiết cho Washington. Theo bản kế hoạch này, châu Âu yêu cầu 22 tỷ đô la viện trợ. Truman cắt giảm số này xuống còn 17 tỷ đô la trước khi đưa ra Quốc hội. Kế hoạch này vấp phải sự phản kháng kịch liệt từ phía đối lập trong Quốc hội, phần lớn là từ phía người của đảng Cộng hòa, vốn trủ trương biệt lập và không muốn có một chương trình chi tiêu ngân sách quá nhiều. Đại diện nổi bật nhất của họ là Robert A. Taft. Kế hoạch này cũng gặp sự phản đối từ cánh tả, với Henry A. Wallace là người phản đối mạnh nhất. Wallace cho rằng kế hoạch này là hình thức trợ giá cho các nhà xuất khẩu của Hoa Kỳ, và đoán chắc nó sẽ gây ra sự phân cực trên thế giới giữa phương Đông và phương Tây.[33] Sự phản đối kế hoạch này giảm mạnh bởi cơn sốc gây do cuộc lật đổ chính phủ ở Tiệp Khắc vào tháng 2 năm 1948. Rất nhanh sau đó một dự thảo 5 tỷ đô la được Quốc hội thông qua với sự ủng hộ đến từ cả hai đảng. Quốc hội Mỹ sau cùng chấp thuận đóng góp 12,4 tỷ đô la trong vòng 4 năm cho Kế hoạch Marshall.[34]

Ngày 13 tháng 4 năm 1948, Tổng thống Truman ký bản Kế hoạch Marshall thành luật, thiết lập Ủy ban Hợp tác Kinh tế (Economic Cooperation Administration - ECA) để giám sát chương trình này và giao cho Paul G. Hoffman lãnh đạo. Cùng năm, các quốc gia tham gia kế hoạch này (Áo, Bỉ, Đan Mạch, Pháp, Tây Đức, Anh, Hy Lạp, Iceland, Ireland, Ý, Luxembourg, Hà Lan, Na Uy, Thụy Điển, Thụy Sĩ, Thổ Nhĩ KỳHoa Kỳ) ký bản thỏa ước thiết lập một cơ qua điều phối viện trợ-tài chính, Tổ chức Hợp tác Kinh tế châu Âu (tiền thân của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế), do Robert Marjolin lãnh đạo.

Thực thi

Marshallplanhilfe
Xây dựng ở Tây Berlin với sự giúp đỡ của Kế hoạch Marshall, sau năm 1948. Trên tấm bảng ghi: "Chương trình khẩn cấp Berlin - với sự giúp đỡ của kế hoạch Marshall
MarshallDonkey
Hàng viện trợ của Hoa Kỳ sang Hy Lạp theo Kế hoạch Marshall

Khoản viện trợ lớn đầu tiên được chuyển cho Hy LạpThổ Nhĩ Kỳ vào tháng 1 năm 1947, đây là các quốc gia được coi như tuyến đầu trong cuộc chiến chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản, và vốn đã được trợ giúp dưới Học thuyết Truman. Ban đầu Anh hỗ trợ cho các phe phái chống cộng tại các quốc gia trên, nhưng do bản thân cũng phải đương đầu với tình hình kinh tế khó khăn, họ phải nhờ đến Hoa Kỳ để tiếp tục các nỗ lực của họ. ECA bắt đầu chính thức đi vào hoạt động từ tháng 7 năm 1948. Nhiệm vụ chính của nó, theo tôn chỉ, là thúc đẩy nền kinh tế châu Âu: gia tăng sản lượng, hỗ trợ đồng tiền các quốc gia châu Âu, mở mang giao thương quốc tế, đặc biệt là với Mỹ, vì lợi ích của nền kinh tế Hoa Kỳ đòi hỏi các quốc gia Âu Châu phải trở nên thịnh vượng để có thể nhập cảng hàng hóa của Mỹ. Một mục tiêu không chính thức khác của Ủy ban Hợp tác Kinh tế (ECA), và Kế hoạch Marshall, là kiềm chế sự gia tăng ảnh hưởng của Liên Xô tại châu Âu, đặc biệt là sự lớn mạnh của các đảng cộng sản tại các quốc gia như Tiệp Khắc, Pháp và Ý.

Tiền từ Kế hoạch Marshall được chuyển cho chính phủ các quốc gia Âu châu. Các quỹ này được đồng quản trị bởi chính quyền sở tại và ECA. Tại mỗi thủ đô các nước châu Âu đều có một phái đoàn ECA, bao gồm những thương gia Hoa Kỳ có vai vế, nắm nhiệm vụ cố vấn trong quá trình thực hiện. Người ta khuyến khích hợp tác phân phối các quỹ hỗ trợ, và tổ chức các hội thảo với các lãnh đạo công đoàn để giám sát nền kinh tế, xem xét những nơi cần được hỗ trợ.

Các khoản hỗ trợ từ Kế hoạch Marshall được phần lớn sử dụng mua hàng hóa từ Mỹ. Các quốc gia châu Âu gần như đã khánh kiệt nguồn dự trữ ngoại tệ trong thời chiến, và tiền từ Kế hoạch Marshall gần như là nguồn tài chính duy nhất mà họ có được để nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài. Ban đầu, đồ nhập khẩu bao gồm chủ yếu là những nhu yếu phẩm như lương thực và xăng dầu, nhưng về sau, hàng hóa chuyển sang các vật tư thiết yếu cho quá trình tái thiết, như mục tiêu ban đầu vạch ra. Những năm về sau, dưới áp lực của Quốc hội Mỹ và sự bùng phát của Chiến tranh Triều Tiên, một lượng lớn viện trợ được dùng để tái vũ trang quân đội các quốc gia Tây Âu. Trong khoảng 13 tỷ đô la được dành ra cho tới giữa năm 1951, 3,4 tỷ đô la được dùng để nhập nguyên liệu thô và hàng bán thành phẩm; 3,2 tỷ đô la dành cho lương thực, thực phẩm và phân bón; 1,9 tỷ mua máy móc, xe cộ và thiết bị; 1,6 tỷ cho xăng dầu.[35]

Người ta cũng lập ra các quỹ đối ứng, sử dụng viện trợ từ Kế hoạch Marshall để thiết lập các quỹ tiền tệ bản xứ. Theo các nguyên tắc của ECA, 60% các quỹ đó phải được dùng để đầu tư vào công nghiệp. Điều này rất đáng chú ý tại Đức, nơi các quỹ do chính phủ quản lý đóng một vai trò quan trọng trong việc cho các công ty tư nhân vay tiền để tiến hành tái thiết. Các quỹ này đóng vai trò trung tâm trong việc tái công nghiệp hóa nước Đức. Ví dụ như trong những năng 1949-1950, 40% các khoản đầu tư cho công nghiệp than ở Đức đến từ các quỹ này.[36] Các công ty có nghĩa vụ hoàn trả các khoản vay lại cho chính phủ, và số tiền này sẽ được đem cho một ngành kinh tế khác vay. Quá trình này được tiếp tục cho đến ngày nay dưới sự quản lý của ngân hàng nhà nước KfW. Quỹ Đặc biệt này, khi đó được quản lý bởi Bộ Kinh tế Liên bang, trị giá tới hơn 10 tỷ mark Đức năm 1971. Năm 1997, nó lên tới 23 tỷ mark. Nhờ vào hệ thống cho vay quay vòng, quỹ này cho tới năm 1995 đã có thể dành các khoản vay lãi xuất thấp cho người dân Đức với tổng trị giá lên tới 140 tỷ mark. Khoảng 40% còn lại của quỹ đối ứng được dùng để trả nợ, bình ổn tiền tệ, hoặc đầu tư vào các chương trình phi công nghiệp. Nước Pháp sử dụng các quỹ đối ứng này rộng rãi nhất, dùng chúng để cắt giảm thâm hụt ngân sách. Tại Pháp và hầu hết các quốc gia khác, nguồn tiền từ các quỹ đối ứng được gộp vào tổng thu ngân sách nhà nước, chứ không được dùng để quay vòng vốn như ở Đức.

Một chương trình ít tốn kém hơn rất nhiều, mà cũng hết sức hiệu quả, do ECA đề ra, là Chương trình Hỗ trợ kỹ thuật. Chương trình này tài trợ cho các nhóm kỹ sư và các nhà công nghiệp châu Âu du lịch Hoa Kỳ, tham quan hầm mỏ, nhà máy, lò luyện kim... để họ có thể bắt chước các tiến bộ mà Hoa Kỳ đã đạt được khi trở về nước. Cùng thời gian, hàng trăm chuyên viên kỹ thuật Hoa Kỳ cũng được gửi sang châu Âu để hỗ trợ.

Phí tổn

Viện trợ từ Kế hoạch Marshall được phân bổ cho các nước đại thể tính trên đầu người. Một phần lớn số viện trợ được dành cho các cường quốc công nghiệp lớn, vì các ý kiến đều cho rằng sự phục hồi của họ là điều kiện thiết yếu cho sự tồn vong của châu Âu nói chung. Các quốc gia châu Âu trong Khối Đồng Minh thời Chiến tranh thế giới thứ hai được nhiều viện trợ trên đầu người hơn một chút, còn các quốc gia Trung lập hoặc trong Phe Trục được ít hơn. Bảng sau cho số lượng tiền và năm từ cuốn The Marshall Plan Fifty Years Later. Không có số liệu chính xác về số lượng tiền, vì các nhà nghiên cứu không nhất trí được liệu những khoản viện trợ nào trong khoảng thời gian đó là một phần của Kế hoạch Marshall.

US-MarshallPlanAid-Logo
Nhãn hiệu trên các kiện hàng viện trợ
Quốc gia 1948/1949 1949/1950 1950/1951 Tổng cộng
 Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland 1316 921 1060 3297
 Áo 232 166 70 468
 Bỉ Luxembourg 195 222 360 777
Bồ Đào Nha Bồ Đào Nha 0 0 70 70
 Đan Mạch 103 87 195 385
 Đức 510 438 500 1448
 Hà Lan 471 302 355 1128
Hy Lạp Hy Lạp 175 156 45 366
 Iceland 6 22 15 43
 Ireland 88 45 0 133
 Na Uy 82 90 200 372
 Pháp 1085 691 520 2296
Thụy Điển Thụy Điển 39 48 260 347
 Thổ Nhĩ Kỳ 28 59 50 137
 Thụy Sĩ 0 0 250 250
 ÝTrieste 594 405 205 1204
Tổng cộng 4.924 3.652 4.155 12.721
Đơn vị: triệu USD. Nguồn: The Marshall Plan Fifty Years Later.

Hiệu quả

Marshall Plan poster
Bích chương cổ động Kế hoạch Marshall tại châu Âu. Lá cờ xanh nước biển/trắng ở giữa cờ Đức và Ý là phiên bản lá cờ Trieste.

Ban đầu, người ta dự tính sẽ kết thúc Kế hoạch Marshall vào năm 1953. Nỗ lực nhằm gia hạn kế hoạch này bị ngưng lại do phí tổn ngày càng gia tăng của cuộc Chiến tranh Triều Tiên và quá trình tái vũ trang. Các thành viên Đảng Cộng hòa Mỹ phản đối kế hoạch này cũng thắng cử trong cuộc bầu bầu cử Quốc hội Mỹ năm 1950, và sự phản đối của phe bảo thủ với kế hoạch này lại được khơi lại. Vì vậy, chương trình này chấm dứt vào năm 1951, dù viện trợ của Mỹ dưới nhiều hình thức khác nhau tiếp tục tồn tại sau đó.

Trong những năm từ 1948 cho tới 1952, châu Âu phát triển nhanh chưa từng thấy. Sản lượng công nghiệp tăng 35%. Sản xuất nông nghiệp vượt đáng kể so với mức trước chiến tranh.[34] Tình trạng nghèo đói cùng cực ngay sau khi chiến tranh biến mất. châu Âu bước vào một thời kỳ tăng trưởng chưa từng có kéo dài đến hai thập kỷ, cho phép chất lượng cuộc sống được cải thiện không ngờ. Giữa các sử gia có nhiều cuộc tranh luận diễn ra về việc có bao nhiêu phần của thành tích này là do Kế hoạch Marshall. Phần lớn trong số họ bác bỏ ý kiến rằng kế hoạch này là thành tố thần diệu duy nhất giúp khôi phục châu Âu, vì có nhiều bằng chứng cho thấy sự hồi phục nói chung đã tự bắt đầu. Phần lớn trong số họ cho là Kế hoạch Marshall chỉ tăng tốc sự hồi phục, chứ không khởi xướng quá trình đó.

Ảnh hưởng chính trị của Kế hoạch Marshall có lẽ cũng quan trọng không kém ảnh hưởng kinh tế. Viện trợ từ Kế hoạch Marshall giúp các quốc gia Tây Âu nới lỏng các biện pháp khắc khổ và chế độ phân phối, giảm thiểu bất mãn và mang lại ổn định chính trị. Ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản tại Tây Âu bị giảm sút mạnh mẽ, trên toàn khu vực, các đảng cộng sản mất dần sự ủng hộ của dân chúng trong những năm tiếp theo của Kế hoạch Marshall. Các mối quan hệ thương mại được gây dựng bởi chương trình này giúp dựng lên Liên minh Bắc Đại Tây Dương, tồn tại suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Cùng lúc, việc các quốc gia Đông Âu không tham dự chương trình này cũng cho thấy các dấu hiệu rõ rệt đầu tiên về sự phân liệt tại châu Âu.

Kế hoạch Marshall cũng đóng một vai trò quan trọng trong quá trình hòa nhập châu Âu. Cả các nhà lãnh đạo Mỹ và nhiều nhà lãnh đạo châu Âu tin rằng sự hòa nhập là cần thiết để đảm bảo cho hòa bình và phồn vinh của châu Âu, và sử dụng Kế hoạch Marshall như một nguyên tắc chỉ đạo để khuyến khích sự hòa nhập. Trong một chừng mực nào đó, nỗ lực này thất bại, và OEEC chưa bao giờ vươn lên ngoài tầm một tổ chức hợp tác kinh tế. Thay vào đó, Cộng đồng Than Thép châu Âu, đáng lưu ý là không bao gồm Anh, lại lớn mạnh để trở thành Liên minh châu Âu. Tuy nhiên, OEEC đóng vai trò thử nghiệm và chuẩn bị cho cấu trúc và bộ máy quan chức sau này của Tổ chức kinh tế châu Âu EEC. Kế hoạch Marshall, gắn liền với hệ thống tiền tệ mang tên Bretton Woods, cũng đảm bảo tự do thương mại trên toàn Âu châu.

Trong khi một số sử gia ngày nay cảm thấy việc ca ngợi chương trình này có phần thái quá, thì người ta vẫn nhìn nhận nó một cách tích cực, và nhiều người cho rằng một chương trình tương tự có thể sẽ có ích cho nhiều khu vực khác trên thế giới. Sau khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ, có một số đề nghị về "Kế hoạch Marshall cho Đông Âu" để khôi phục khu vực này. Những người khác thì đề nghị một Kế hoạch Marshall cho châu Phi, và Phó Tổng thống Mỹ Al Gore thì đề xuất Kế hoạch Marshall toàn cầu.[37] Cụ từ "Kế hoạch Marshall" đã trở thành một phép ẩn dụ cho bất kỳ một chương trình tầm cỡ quốc gia nhằm giải quyết một vấn đề xã hội nhất định. Nó thường được sử dụng khi nói việc chính phủ bỏ tiền ra để cứu cho một thất bại trong khu vực tư nhân.

Nền kinh tế Tây Đức phục hồi một phần là nhờ vào viện trợ kinh tế từ Kế hoạch Marshall, nhưng phần lớn là nhờ vào cuộc cải cách tiền tệ năm 1948 thay thế đồng Reichsmark bằng đồng mark, chặn đứng nạn lạm phát leo thang. Hành động củng cố nền kinh tế Đức này vốn bị tuyệt đối ngăn cấm trong khoảng thời gian hai năm mà chỉ thị JCS 1067 (của phe Đồng Minh chiếm đóng Tây Đức) có hiệu lực. Quá trình giải thể công nghiệp than và thép của Tây Đức do phe Đồng Minh thực hiện cuối cùng cũng chấm dứt vào năm 1951. Như vậy, Kế hoạch Marshall chỉ là một trong số nhiều thành tố đằng sau sự phục hồi kinh tế Đức.[38][39] Dù vậy, tại Đức huyền thoại về Kế hoạch Marshall vẫn còn được lưu truyền. Theo cuốn Marshall Plan 1947–1997 A German View bởi Susan Stern, nhiều người Đức vẫn còn tin là nước Đức là quốc gia duy nhất hưởng lợi từ chương trình này, rằng nó bao gồm những khoản viện trợ cho không gồm những món tiền lớn, rằng chương trình này là chương trình độc nhất mang lại sự phục hồi kinh tế nước Đức trong thập niên 1950.[39]

Hoàn trả

Tổ chức Hợp tác Kinh tế châu Âu đóng vai trò lãnh đạo trong việc phân phối tài chính, và ECA thu xếp việc chuyển hàng hóa. Các nhà cung cấp phía Mỹ được thanh toán bằng đô la, và số tiền này được ghi vào bên nợ của tài khoản thích hợp của Kế hoạch Phục hưng châu Âu - ERP. Bên nhận (Châu Âu) phải trả tiền (mặc dù không nhất thiết phải trả ngay) bằng đồng nội tệ. Số tiền này được nộp vào tài khoản đối ứng của chính phủ, để đến lượt mình, lại được các quốc gia trong ERP sử dụng trong các dự án đầu tư.

Phần lớn các quốc gia tham gia ERP đều nhận thức được ngay từ ban đầu là họ có lẽ sẽ không bao giờ phải hoàn trả lại số tiền trong tài khoản đối ứng cho phía Hoa Kỳ; số tiền này cuối cùng được gộp vào ngân sách quốc gia và "biến mất". Ban đầu, tổng số viện trợ của Mỹ cho Đức (trái với số tiền viện trợ cho các quốc gia châu Âu khác) phải được hoàn trả. Nhưng sau thỏa thuận về nợ tại Luân Đôn năm 1953, số tiền phải trả được giảm xuống còn khoảng 1 tỷ đô la. Số viện trợ từ sau ngày 1 tháng 7 năm 1951 vào khoảng 270 triệu đô la, trong đó Đức phải trả 16,9 triệu cho ngân hàng Export-Import Bank Washington của Mỹ. Trên thực tế, Đức không biết chính xác họ phải trả lại cho Hoa Kỳ bao nhiêu tiền cho tới tận năm 1953, và muốn số tiền họ được nhận này phải ở dạng tiền cho vay có lãi— một hệ thống đảm bảo nguồn vốn tiếp tục phát triển, thay vì teo lại. Một ngân hàng sẽ chịu trách nhiệm quản lý chương trình này. Các khoản vay ERP phần lớn được dùng để hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đức hoàn trả vốn cho Hoa Kỳ thành nhiều đợt (tờ séc cuối cùng họ trả là vào tháng 6 năm 1971). Tuy nhiên, số tiền được trả này không phải là từ tài khoản của ERP, mà là từ ngân sách chính phủ trung ương.

Các quốc gia không nằm trong Kế hoạch Marshall

Nhiều vùng lãnh thổ trên thế giới bị tàn phá trong Chiến tranh thế giới thứ hai không được hưởng lợi từ kế hoạch Marshall. Quốc gia lớn duy nhất ở châu Âu bị ngoại trừ là nước Tây Ban Nha dưới thời Francisco Franco. Sau chiến tranh, họ theo đuổi chính sách tự cung tự cấp, kiểm soát tiền tệ và chế độ quota, nhưng thu được rất ít kết quả. Với việc chiến tranh Lạnh leo thang, Hoa Kỳ xem xét lại quan điểm của mình, và từ năm 1951, xếp Tây Ban Nha vào trong số các đồng minh, vì chính sách chống cộng quyết liệt của Franco. Trong vòng một thập kỷ tiếp đó, một số lớn viện trợ được chuyển cho Tây Ban Nha, nhưng ít hơn những gì mà các nước láng giềng của quốc gia này nhận được.[40]

Trong khi phần phía tây của Liên Xô bị tàn phá nặng nề vì chiến tranh, thì phần phía đông hầu như không bị đụng chạm gì, mà còn diễn ra quá trình công nghiệp hóa nhanh chóng trong thời chiến. Liên Xô cũng áp đặt những khoản bồi thường chiến phí lớn lên các quốc gia liên minh với phe Trục khi đó nằm dưới vòng ảnh hưởng của mình. Phần Lan, Hungary, România, và đặc biệt là Đông Đức bị buộc phải trả những khoản bồi thường lớn, và phải chuyên chở rất nhiều vật tư sang cho Liên Xô. Các khoản bồi thường đó có nghĩa là Liên Xô cũng nhận được tương đương với các quốc gia nhận viện trợ từ Kế hoạch Marshall.

Các quốc gia Đông Âu không nhận được tiền từ Kế hoạch Marshall, vì chính phủ của họ từ chối tham gia kế hoạch, và họ cũng nhận được rất ít viện trợ từ Liên Xô. Liên Xô cũng thiết lập COMECON như một lời cự tuyệt cho Kế hoạch. Các thành viên Comecon được Liên Xô cung cấp dầu mỏ, nhiều khoáng sản và các dây chuyền sản xuất. Để đổi lại, họ cung cấp máy móc, thiết bị, sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp và hàng tiêu dùng cho Liên Xô. Sự phục hồi kinh tế ở Đông Âu diễn ra chậm hơn so với Tây Âu, và nền kinh tế đã không bắt kịp với các nước Tây Âu, dẫn đến khoảng cách giàu nghèo giữa Đông và Tây Âu. Phần Lan, quốc gia không tham gia kế hoạch Marshall và bị buộc phải trả một khoản bồi thường chiến phí lớn cho Liên Xô, đã khôi phục lại nền kinh tế của mình tới mức trước chiến tranh vào năm 1947.[41] Pháp, quốc gia nhận được hàng tỷ đô la từ Kế hoạch Marshall, cũng khôi phục lại mức trước chiến tranh vào năm 1947.[42] Tới giữa năm 1948, sản lượng công nghiệp ở các nước Ba Lan, Hungary, Bulgaria, và Tiệp Khắc cũng chừng nào hồi phục lại bằng mức trước chiến tranh.[43]

Nhật Bản cũng bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh. Tuy nhiên, người Mỹ và Quốc hội Mỹ không thấy cảm thông với người Nhật như họ đã tỏ ra với châu Âu. Nhật Bản không được coi là có giá trị kinh tế hay chiến lược quan trọng với Hoa Kỳ. Vì vậy, không có kế hoạch phục hồi đáng kể nào được vạch ra, và sự phục hồi kinh tế Nhật Bản trước năm 1950 rất chậm. Tuy nhiên, tới năm 1952, mức tăng trưởng đã tăng lên, tới mức từ năm 1952 tới năm 1971 GNP thực tế tăng ở mức 9,6% một năm. Ngược lại, Hoa Kỳ tăng trưởng ở mức 2,9% một năm từ năm 1952 tới năm 1991.[44] Cuộc Chiến tranh Triều Tiên đã đóng một vai trò quan trọng trong sự khởi đầu quá trình phục hồi kinh tế Nhật. Chiến tranh bắt đầu từ năm 1950, và Nhật trở thành căn cứ hậu cần chủ đạo cho nỗ lực chiến tranh của Liên Hiệp Quốc, và là nhà cung cấp vật tư chiến tranh chính yếu. Một ví dụ nổi tiếng là hãng xe Toyota. Tháng 6 năm 1950, công ty này chỉ sản xuất được 300 xe tải, và đang trên bờ phá sản. Nhưng trong những tháng đầu của cuộc chiến, quân đội Mỹ đã đặt mua của họ hơn 5.000 xe tải, hãng này đã hồi phục và bành trướng sản xuất trong những năm tiếp theo[45] Trong vòng 4 năm chiến tranh, nền kinh tế Nhật được bơm một khoản tiền còn lớn hơn bất kỳ một quốc gia nào khác nhận viện trợ từ Kế hoạch Marshall.

Canada, cũng giống như Hoa Kỳ, không bị chiến tranh tàn phá, và tới năm 1945 là một trong những nền kinh tế lớn của thế giới. Nền kinh tế Canada từ lâu đã phụ thuộc vào nền kinh tế Mỹ, hơn là vào giao thương với châu Âu, và sau chiến tranh, có những dấu hiệu cho thấy nền kinh tế Canada đang phải vật lộn với khó khăn. Tháng 4 năm 1948, Quốc hội Mỹ thông qua điều khoản trong kế hoạch, cho phép viện trợ được sử dụng để mua hàng từ Canada. Điều khoản mới này đảm bảo sự lành mạnh của nền kinh tế Canada, với việc Canada thu được hơn một tỷ đô la trong hai năm đầu của kế hoạch.[46] Việc này tương phản với cách mà ECA đối xử với Argentina, một nền kinh tế lớn khác, vốn phụ thuộc vào việc xuất khẩu nông sản sang châu Âu, nền kinh tế này bị cố ý loại trừ vào việc tham gia kế hoạch, vì sự khác biệt về quan điểm chính trị giữa Mỹ và tổng thống Argentina khi đó Perón. Việc này gây tổn hại cho nền nông nghiệp Argentina và góp phần đẩy nhanh đến cuộc khủng hoảng kinh tế tại nước này[47]

Chỉ trích

Những chỉ trích ban đầu

Những lời chỉ trích ban đầu đến từ phía một số nhà kinh tế theo chủ nghĩa tự do. Wilhelm Röpke, người có ảnh hưởng lớn đến Bộ trưởng Kinh tế và Kỹ thuật Đức Ludwig Erhard trong kế hoạch phục hưng kinh tế của ông này, tin rằng sự phục hồi kinh tế nằm trên việc hủy bỏ chế độ kinh tế chỉ huy tập trung, tái lập kinh tế thị trường tự do ở châu Âu, đặc biệt là tại các quốc gia trước đó tồn tại chủ nghĩa phát xít và nền kinh tế lũng đoạn bởi các tập đoàn đại tư bản. Röpke chỉ trích Kế hoạch Marshall là đã ngăn sự chuyển đổi sang thị trường tự do bằng cách trợ giúp hệ thống kinh tế yếu kém đương thời. Erhard đưa lý thuyết của Röpke vào thực hiện, và sau này công nhận những thành công rực rỡ của nền kinh tế Tây Đức là nhờ vào ảnh hưởng của Röpke.[48] Henry Hazlitt thì chỉ trích Kế hoạch Marshall trong cuốn sách xuất bản năm 1947 của ông: Will Dollars Save the World?, lập luận rằng sự hồi phục kinh tế phải đến từ việc dành dụm, tích lũy của cải và công ty tư nhân, chứ không phải thông qua việc hỗ trợ một khoản tiền mặt khổng lồ. Ludwig von Mises cũng chỉ trích Kế hoạch Marshall năm 1951, vì tin rằng "Sự trợ cấp của Mỹ khiến cho các chính phủ châu Âu có thể che giấu phần nào các ảnh hưởng tai hại của các chính sách mang tính xã hội mà họ thực hiện." Ông cũng chỉ trích viện trợ nước ngoài nói chung, cho rằng nó tạo ra kẻ thù ý thức hệ, thay vì bạn hàng kinh tế, vì nó bóp nghẹt nền kinh tế tự do.[49]

Những chỉ trích hiện đại

Việc chỉ trích Kế hoạch Marshall dễ nhận thấy trong số các học giả theo thuyết xét lại, như Walter LaFeber, trong những năm 1960 và 1970. Họ lý luận là chương trình này là sản phẩm của nền kinh tế đế quốc chủ nghĩa của Mỹ, và nó nhằm mục đích kiểm soát Tây Âu, cũng giống như Liên Xô kiểm soát Đông Âu. Trong bản đánh giá nền kinh tế Tây Đức từ năm 1945 cho tới năm 1951, nhà phân tích Đức Werner Abelshauser kết luận là "viện trợ nước ngoài không đóng vai trò quyết định trong việc bắt đầu quá trình phục hồi kinh tế, cũng như duy trì quá trình đó." Sự phục hồi kinh tế của Pháp, Ý và Bỉ, như Cowen nhận thấy, đã diễn ra từ trước khi dòng viện trợ của Mỹ đổ vào. Bỉ, quốc gia sớm nhất và cũng là quốc gia mạnh mẽ nhất áp dụng chính sách kinh tế thị trường tự do sau khi được giải phóng năm 1944, là quốc gia có sự phục hồi kinh tế nhanh chóng nhất, và tránh được nạn thiếu nhà và thiếu lương thực trầm trọng xảy ra tại tất cả các nước khác khi đó tại châu Âu.[50]

Nguyên Chủ tịch Hội đồng Dự trữ Liên bang Mỹ Alan Greenspan cho rằng Thủ tướng Đức Ludwig Erhard có công lớn nhất trong sự phục hồi kinh tế châu Âu. Greenspan viết trong hồi ký của mình The Age of Turbulence (Thời đại rối ren), rằng chính sách kinh tế của Erhard là khía cạnh quan trọng nhất của sự phục hồi kinh tế hậu chiến châu Âu, có giá trị hơn nhiều so với đóng góp của Kế hoạch Marshall. Ông tuyên bố rằng việc Erhard giảm bớt các quy chế đã cho phép sự thần kỳ của nền kinh tế Đức diễn ra, và chính sách đó cũng góp phần khiến nhiều quốc gia Âu châu khác hồi phục. Sự phục hồi của Nhật Bản cũng được dùng như một phản ví dụ, vì họ tự lực tăng trưởng mãnh liệt mà không có bất kỳ sự trợ giúp nào. Sự phục hồi của họ được coi là do các biện pháp kích thích kinh tế truyền thống, như tăng cường đầu tư, hỗ trợ bởi tỷ lệ tiết kiệm cao, và thuế thấp. Nhật có một nguồn vốn lớn chảy vào trong cuộc Chiến tranh Triều Tiên, nhưng đó là nguồn vốn dưới dạng đầu tư, chứ không phải là để trợ giá, và nguồn vốn đó còn tỏ ra hữu ích hơn rất nhiều.

Những người chỉ trích kế hoạch Marshall cũng tìm cách chỉ ra rằng kế hoạch này để lại di sản là sự bắt đầu của những chương trình viện trợ nước ngoài tai hại. Kể từ những năm 1990, những nhà kinh tế học đã bắt đầu phản bác lại ý tưởng về viện trợ nước ngoài. Ví dụ như Alberto Alesina và Beatrice Weder, tổng kết lại tư liệu kinh tế về viện trợ nước ngoài và sự tham nhũng, và thấy rằng viện trợ phần lớn đã bị sử dụng lãng phí, cho lợi ích bản thân của chính phủ và các quan chức chính phủ, dẫn đến gia tăng nạn tham nhũng.[51] Chính sách khuyến khích các chính phủ thối nát này khi đó được gán cho những động lực ban đầu của Kế hoạch Marshall.[52]

Một số chỉ trích cho rằng kế hoạch Marshall thực tế là một bản giao kèo, theo đó Mỹ sẽ giúp đỡ tài chính và kinh tế cho các nước châu Âu để đổi lại sự nhượng bộ chính trị đối với Mỹ của các quốc gia trên châu lục này. Theo đó, Mỹ có quyền tác động vào các cuộc bầu cử quốc hội và thành lập chính phủ các nước châu Âu, đồng thời vô hiệu hóa vai trò của Tổng thống Pháp vào thời điểm đó là Tướng Charles de Gaulle, một người đi theo chủ nghĩa dân tộc độc lập, và đưa các chính khách thân Mỹ lên lắm quyền ở các nước châu Âu. Mục tiêu chủ yếu của Đề án này là từng bước khiến các nước châu Âu từ bỏ chủ quyền quốc gia, và thay vào đó là một trung tâm điều hành châu Âu với sự kiểm soát của Mỹ[3]

Noam Chomsky viết rằng số tiền mà người Mỹ viện trợ cho Pháp và Hà Lan cũng bằng với số kinh phí mà những quốc gia này sử dụng để chi cho lực lượng quân sự của họ ở Đông Nam Á. Kế hoạch Marshall nguyên là để "thiết lập cơ sở cho một số lớn đầu tư tư nhân của Mỹ tại châu Âu, thiết lập nền móng cho các công ty xuyên quốc gia lớn."[53] Những chỉ trích về Kế hoạch Marshall khác đến từ báo cáo rằng Hà Lan sử dụng một phần lớn số viện trợ để tái chiếm Indonesia trong Chiến tranh giành độc lập Indonesia.[54]

Chú thích

  1. ^ Khoảng 13 tỷ đô la so với tổng sản phẩm quốc nội 258 tỷ đô la năm 1948.
  2. ^ Woods, trang 189-191
  3. ^ a ă https://viettimes.vn/lieu-chau-au-co-thoat-noi-vong-kim-co-my-127626.html
  4. ^ Michael J. Hogan, The Marshall Plan, trang 30.
  5. ^ Alan S. Milward, The Reconstruction of Western Europe.
  6. ^ Gregory A. Fossedal, Our Finest Hour.
  7. ^ Nicholas Balabkins, Germany Under Direct Controls: Economic Aspects of Industrial Disarmament 1945 - 1948, Rutgers University Press, 1964 trang 125
  8. ^ The Road Ahead: Lessons in Nation Building from Japan, Germany, and Afghanistan for Postwar Iraq, bởi Ray Salvatore Jennings tháng 5 năm 2003, Peaceworks No. 49, United States Institute of Peace trang 14–15
  9. ^ Pas de Pagaille! Time Magazine, Jul. 28, 1947.
  10. ^ a ă "Cornerstone of Steel", Time Magazine, ngày 21 tháng 1 năm 1946
  11. ^ a ă Cost of Defeat, Time Magazine, 8 tháng 4 năm 1946
  12. ^ Pas de Pagaille! Time Magazine, Jul. 28, 1947.
  13. ^ Dennis L. Bark and David R. Gress. A history of West Germany vol 1: from shadow to substance (Oxford 1989) trang 259
  14. ^ Dennis L. Bark and David R. Gress. A history of West Germany vol 1: from shadow to substance (Oxford 1989) trang 260
  15. ^ Henry C. Wallich. Mainsprings of the German Revival (1955) trang 348.
  16. ^ The President's Economic Mission to Germany and Austria, Report 3 Herbert Hoover, March, 1947 trang 8
  17. ^ Frederick H. Gareau "Morgenthau's Plan for Industrial Disarmament in Germany" The Western Political Quarterly, Vol. 14, No. 2 (Jun., 1961), trang 517-534
  18. ^ Vladimir Petrov, Money and conquest; allied occupation currencies in World War II. Baltimore, Johns Hopkins Press (1967) trang 263
  19. ^ Information bulletin Frankfurt, Germany: Office of the US High Commissioner for Germany Office of Public Affairs, Public Relations Division, APO 757, US Army, January 1952 "Plans for terminating international authority for the Ruhr", trang 61-62 (main URL)
  20. ^ John Lewis Gaddis, [We Now Know(?)], trang 37
  21. ^ Gaddis, We Now Know.
  22. ^ Tony Judt, trong The Marshall Plan: Fifty Years After, biên tập Martin Schain, trang 4.
  23. ^ Henry C. Wallich, Mainsprings of the German Revival (1955), trang 348.
  24. ^ Xem The Marshall Plan của Hogan, trong đó có một thảo luận chi tiết về việc Kế hoạch Marshall là một sản phẩm của Chính sách kinh tế mới
  25. ^ Erik Reinert. “The Marshall Plan at 60: The General’s Successful War On Poverty”. Liên Hiệp Quốc. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2008. Đã định rõ hơn một tham số trong author-name-list parameters (trợ giúp)
  26. ^ Charles L. Mee (1984). The Marshall Plan. New York: Simon & Schuster. tr. trang 99. ISBN 0671421492.
  27. ^ “BBC Correspondent Leonard Miall and the Marshall Plan Speech: An Interview”. The Marshall Foundation. 19 tháng 9 năm 1977. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2007.
  28. ^ Gaddis, trang 41.
  29. ^ Carnations, Tạp chí Time, 09 tháng 2 năm 1948
  30. ^ Schain, trang 132
  31. ^ CNN Cold War - Tư liệu lịch sử: Diễn văn của Vyshinsky
  32. ^ Cini, p.24 in Schain
  33. ^ Hogan, trang 93.
  34. ^ a ă Grogin, trang 118
  35. ^ Hogan, trang 415
  36. ^ Crafts, Toniolo, trang 464
  37. ^ Các đề xuất dạng Kế hoạch Marshall cho các khu vực khác của thế giới là một ý tưởng quay đi quay lại nhiều lần. Ví dụ như Tony BlairGordon Brown đề cập đến mục tiêu giúp đỡ châu Phi của họ như "một Kế hoạch Marshall."[1]. Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, nhiều người tin rằng Đông Âu cần một chương trình tái thiết, ví dụ như tại đây [2].
  38. ^ Henderson
  39. ^ a ă Stern
  40. ^ Crafts, Toniolo, trang 363
  41. ^ Nationsencyclepedia.
  42. ^ University of Sunderland
  43. ^ Economic Changes in Eastern Europe Since the War, by Doreen Warriner © 1949 Royal Institute of International Affairs.
  44. ^ Benjamin Powell.
  45. ^ Stueck, trang 146.
  46. ^ Bothwell, trang 58.
  47. ^ Peterson, trang 215.
  48. ^ Erhard, trang 22
  49. ^ von Mises
  50. ^ Kế hoạch Marshall cho Iraq?
  51. ^ Alesina and Weder, trang 1126–1137
  52. ^ Tucker, 15:9
  53. ^ Chomsky, trang 9
  54. ^ George McTurnan Kahin (2003), Nationalism and Revolution in Indonesia, trang 403. SEAP Publications. ISBN 0-87727-734-6

Tham khảo

  • Alesina, Alberto and Weder, Beatrice, "Do Corrupt Governments Receive Less Foreign Aid?" American Economic Review 92 (4): (tháng 9 năm 2002)
  • Bothwell, Robert. The Big Chill: Canada and the Cold War. Canadian Institute for International Affairs/Institut Canadien des Affaires Internationales Contemporary Affairs Series, No. 1. Toronto: Irwin Publishing Ltd., 1998.
  • Chomsky, Noam, & Ruggiero, Greg, The Umbrella of U.S. Power: The Universal Declaration of Human Rights and the contradictions of U.S. policy, Seven Stories Press, 2002 ISBN 1-58322-547-1
  • Cini, Michelle, in Schain, Martin, (ed.) " From the Marshall Plan to the EEC," trong The Marshall Plan: Fifty Years After, New York: Palgrave, 2001
  • Crafts, Nicholas, and Gianni Toniolo, eds. Economic Growth in Europe Since 1945. Cambridge University Press, 1996.
  • Erhard, Ludwig, "Veröffentlichung von Wilhelm Röpke," trong In Memoriam Wilhelm Röpke, Ed., Universität Marburg, Rechts-und-Staatswissenschaftlice Fakultät,
  • Gaddis, John Lewis. We Now Know: Rethinking Cold War History. New York: Oxford University Press, 1997.
  • Grogin, Robert C. Natural Enemies: The United States and the Soviet Union in the Cold War, 1917–1991. Lanham, Md.: Lexington Books, 2001.
  • Henderson, David R. “German Economic Miracle”. Library of Economics and Liberty. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2009.
  • Hogan, Michael J. The Marshall Plan: America, Britain, and the Reconstruction of Western Europe, 1947–1952. Cambridge: Cambridge University Press, 1987.
  • Peterson, Harold F (1964). Argentina And The United States, 1810-1960. SUNY Press. ISBN 0873950100.
  • Schain, Martin, ed. The Marshall Plan: Fifty Years After. New York: Palgrave, 2001.
  • Stern, Susan. “Marshall Plan 1947-1997”. Germany.info. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2009.
  • Stueck, William Whitney, ed. The Korean War in World History. Lexington, Ky.: University Press of Kentucky, 2004.
  • Tucker, Jeffrey, "The Marshall Plan Myth" The Free Market 15:9 (Sept 1997)
  • Van Meter Crabb, Cecil, American foreign policy in the nuclear age, Harper & Row, New York, 1965
  • von Mises, Ludwig, "Profit and Loss" thuyết trình cho Mont Pèlerin Society tại Beauvallon, Pháp, 9 tới 16 tháng 9 năm 1951; được in lại trong Planning for Freedom, South Holland, Ill., Libertarian Press, 1952
  • Woods, Thomas E.; Thomas E. Woods, Jr. (2004). The Politically Incorrect Guide to American History. Regnery Publishing. ISBN 0895260476.

Đọc thêm

  • Agnew, John và Entrikin, J. Nicholas (2004). The Marshall Plan Today: Model and Metaphor. Routledge. ISBN 0-7146-5514-7.
  • Arkes, Hadley. Bureaucracy, the Marshall Plan, and the National Interest. Princeton, N.J: Princeton University Press, 1972.
  • Behrman, Greg, The Most Noble Adventure: The Marshall Plan and the Time When America Helped Save Europe (Free Press, 2007) ISBN 0-7432-8263-9.
  • Bonds, John Bledsoe; Bipartisan Strategy: Selling the Marshall Plan Praeger, 2002 online version
  • Chiarella Esposito; America's Feeble Weapon: Funding the Marshall Plan in France and Italy, 1948–1950, Greenwood Press, 1994 online version
  • Denison, Edward F. & Chung, William K., How Japan's Economy Grew So Fast Brookings Institute, 1976
  • Djelic, Marie-Laure A.; Exporting the American Model: The Post-War Transformation of European Business.Oxford University Press, 1998 online version
  • Fossedal, Gregory A. Our Finest Hour: Will Clayton, the Marshall Plan, and the Triumph of Democracy. Stanford, CA: Hoover Institution Press, 1993.
  • Gimbel, John (1976). The origins of the Marshall plan, Stanford University Press. ISBN 0-8047-0903-3.
  • Kennedy, David, Cohen, Lizbeth, Bailey, Thomas A., The American Pageant A History of the Republic
  • Kipping, Matthias and Bjarnar, Ove; The Americanisation of European Business: The Marshall Plan and the Transfer of Us Management Models Routledge, 1998 online version
  • Mee, Charles L. The Marshall Plan: The Launching of the Pax Americana. New York: Simon and Schuster, 1984.
  • Milward, Alan S. The Reconstruction of Western Europe, 1945–51. London: Methuen, 1984.
  • Vickers, Rhiannon, Manipulating Hegemony: State Power, Labour and the Marshall Plan in Britain Palgrave Publishers, 2000 online edition
  • Wallich, Henry Christopher. Mainsprings of the German Revival. New Haven: Yale University Press, 1955.
  • Wasser, Solidelle F. and Dolfman, Michael L., "BLS and the Marshall Plan: The Forgotten Story: The Statistical Technical Assistance of BLS Increased Productive Efficiency and Labor Productivity in Western European Industry after World War II; Technological Literature Surveys and Plan-Organized Plant Visits Supplemented Instruction in Statistical Measurement," Monthly Labor Review, Vol. 128, 2005
  • Wend, Henry Burke; Recovery and Restoration: U.S. Foreign Policy and the Politics of Reconstruction of West Germany's Shipbuilding Industry, 1945–1955. Praeger, 2001 online version
  • Zmirak, John (2001), Wilhelm Röpke: Swiss Localist, Global Economist, ISI Books. ISBN 1-882926-67-6.

Liên kết ngoài

1948

1948 (số La Mã: MCMXLVIII) là một năm nhuận bắt đầu vào thứ Năm trong lịch Gregory.

Bản mẫu:Tháng trong năm 1948

31 tháng 12

Ngày 31 tháng 12 là ngày thứ 365 (366 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Đây là ngày cuối cùng trong năm.

3 tháng 4

Ngày 3 tháng 4 là ngày thứ 93 trong mỗi năm thường (ngày thứ 94 trong mỗi năm nhuận). Còn 272 ngày nữa trong năm.

Bức màn sắt

Bức màn sắt là một biên giới vật lý lẫn tư tưởng mang tính biểu tượng chia cắt châu Âu thành hai khu vực riêng rẽ từ cuối Thế chiến II vào năm 1945 đến cuối cuộc Chiến tranh lạnh vào năm 1991. Các quốc gia ở cả hai phía của Bức màn sắt đều thành lập các liên minh kinh tế và quân sự quốc tế riêng của mình: Hội đồng Tương trợ Kinh tế và Hiệp ước Warszawa ở phía đông với Liên Xô là thành viên quan trọng nhất, và Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương và Cộng đồng châu Âu ở phía tây với Hoa Kỳ.

Bức màn sắt đã hình thành nên một biên giới phòng thủ giữa các quốc gia Tây và Đông Âu, mà trong đó nổi bật nhất là Bức tường Berlin, trong một thời gian dài là biểu tượng của toàn bộ Bức màn sắt.

Thuật ngữ này do Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền của Đức Quốc xã, Joseph Goebbels, sử dụng lần đầu tiên trong một bản tuyên ngôn do ông xuất bản trong tờ báo Đức Das Reich vào tháng 2 năm 1945, nhưng được phổ biến nhờ công của Winston Churchill trong diễn văn "Nguồn tiếp sức cho Hòa bình" vào ngày 5 tháng 3 năm 1946.

Chiến tranh Lạnh

Chiến tranh Lạnh (1946–1989) là tình trạng tiếp nối xung đột chính trị, căng thẳng quân sự, và cạnh tranh kinh tế tồn tại sau Thế chiến II (1939–1945), chủ yếu giữa Liên bang Xô viết và các quốc gia đồng minh của họ, với các cường quốc thuộc thế giới phương Tây, gồm cả Hoa Kỳ. Dù các lực lượng tham gia chủ yếu không bao giờ chính thức xung đột, họ đã thể hiện sự xung đột thông qua các liên minh quân sự, những cuộc triển khai lực lượng quy ước chiến lược, một cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân, tình báo, chiến tranh ủy nhiệm, tuyên truyền, và cạnh tranh kỹ thuật, như cuộc chạy đua không gian.

Dù là các đồng minh chống lại Phe Trục, Liên Xô, Hoa Kỳ, Anh Quốc và Pháp đã không đồng thuận trong và sau Thế chiến II, đặc biệt về việc thiết lập thế giới thời hậu chiến. Khi cuộc chiến kết thúc, họ chiếm hầu hết châu Âu, với việc Hoa Kỳ và Liên Xô là các lực lượng quân sự mạnh nhất.

Liên Xô lập ra Khối Đông Âu với các quốc gia Đông Âu mà họ giải phóng, sáp nhập một số trở thành Các nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết và duy trì các quốc gia khác như nước đồng minh của mình, một số nước trong số đó sau này được củng cố vào Khối Hiệp ước Warsaw (1955–1991). Hoa Kỳ và một số quốc gia Tây Âu thì lập ra chính sách ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản như là chính sách ngoại giao chủ yếu của họ, và lập ra các liên minh (ví dụ NATO, 1949) cho mục đích đó.

Nhiều quốc gia trong số đó cũng tham gia vào kế hoạch tái thiết châu Âu, đặc biệt là Tây Đức, vốn bị Liên Xô phản đối. Ở những nơi khác, tại Mỹ Latinh và Đông Nam Á, Liên Xô ủng hộ các cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, nhưng bị nhiều nước phương tây ủng hộ chủ nghĩa thực dân phản đối; một số nước tìm cách hạ thấp dập tắt các phong trào đòi độc lập này, với những kết quả khác nhau. Một số nước liên kết với NATO và Khối hiệp ước Warsaw, tuy thế các khối của những quốc gia không liên kết cũng xuất hiện.

Cuộc chiến tranh Lạnh có đặc điểm ở những giai đoạn khá yên tĩnh và những giai đoạn căng thẳng lên cao trong quan hệ quốc tế – cuộc Phong toả Berlin (1948–1949), Chiến tranh Triều Tiên (1950–1953), Khủng hoảng Berlin 1961, các cuộc Xung đột Ả Rập-Israel (1948-1982), các cuộc Chiến tranh Đông Dương (1945–1975), Khủng hoảng tên lửa Cuba (1962), Chiến tranh Xô viết tại Afghanistan (1979–1989), và những cuộc tập trận Able Archer 83 của NATO vào tháng 11 năm 1983. Cả hai phía đã tìm cách làm giảm các căng thẳng chính trị và tránh một cuộc tấn công quân sự trực tiếp, vốn dường như sẽ dẫn tới một sự tiêu diệt có đảm bảo từ hai phía với các loại vũ khí hạt nhân.

Trong thập niên 1980, Hoa Kỳ tăng cường sức ép ngoại giao, quân sự và kinh tế chống lại Liên Xô, vốn đang ở tình trạng trì trệ kinh tế. Sau đó, Tổng thống Liên Xô Mikhail Gorbachev đưa ra những cuộc cải cách perestroika ("tái cơ cấu" 1987) và glasnost ("mở cửa", khoảng năm 1985). Liên bang Xô viết sụp đổ năm 1991, khiến Hoa Kỳ còn lại là cường quốc quân sự có vị thế thống trị. Nhà nước kế thừa Liên Xô là Liên bang Nga vẫn có sức mạnh khoa học kỹ thuật và quân sự đáng gờm, nhưng không đủ mạnh về kinh tế như Liên Xô trước đây. Tuy nhiên, tới đầu thế kỷ XXI, một cường quốc khác là Trung Quốc ngày càng trở nên mạnh mẽ về kinh tế, khoa học, quân sự và được dự báo sẽ sớm trở thành một đối thủ mới cạnh tranh toàn diện với Mỹ.

Chính sách ngăn chặn

Chính sách ngăn chặn là tên gọi của một chiến lược quân sự để ngăn chặn sự mở rộng của quân thù. Tuy nhiên, nó được biết tới nhiều như là một chính sách của Hoa Kỳ và các đồng minh của nó trong thời kỳ chiến tranh lạnh để ngăn chặn sự mở rộng của các phong trào xã hội chủ nghĩa ở các nước trên thế giới.

Dean Acheson

Dean Gooderham Acheson (phát âm ; 11 tháng 4 năm 1893 – 12 tháng 10 năm 1971) là một chính trị gia và luật sư Hoa Kỳ. Là ngoại trưởng Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống Harry S. Truman từ 1949 đến 1953, ông đã đóng vai trò trung tâm trong việc xác định chính sách ngoại giao của Mỹ trong suốt Chiến tranh Lạnh. Acheson đã có đóng góp trong việc thiết kế kế hoạch Marshall đồng thời giữ vai trò quan trọng trong việc phát triền chủ thuyết Truman và sáng lập ra NATO.

Quyết định nổi tiếng nhất của Acheson là thuyết phục Tổng thống Truman can thiệp vào chiến tranh Triều Tiên tháng 6 năm 1950. Ông cũng thuyết phục Truman gửi viện trợ và cố vấn hỗ trợ cho quân Pháp ở Đông Dương dù rằng rốt cuộc năm 1968 ông đã khuyên Tổng thống Lyndon B. Johnson đàm phán hòa bình với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba, tổng thống John F. Kennedy đã cho triệu tập Acheson để hỏi ý kiến, đưa ông vào uỷ ban chấp hành (EXCOMM), một nhóm cố vấn chiến lược.

Cuối thập niên 1940, Acheson bị công kích mạnh mẽ xoay quanh chính sách của Truman với Trung Quốc và việc Acheson bảo vệ cho những nhân viên Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ (ví dụ như Alger Hiss) bị buộc tội trong các cuộc điều tra trong Khủng hoảng đỏ chống cộng sản và Khủng hoảng Lavender chống đồng tính của thượng nghị sĩ Joseph McCarthy và những người khác.

George F. Kennan

George Frost Kennan (16 tháng 2 năm 1904 – 17 tháng 3 năm 2005) là một nhà cố vấn, ngoại giao, và sử gia, được biết tới nhiều nhất như là một người cổ võ cho chính sách ngăn chặn (containment) sự bành trướng của Liên Xô vào cuối thế chiến thứ hai. Ông sau này lại cho chính sách này là sai lầm. Ông đã đi thuyết trình nhiều nơi và viết sử về quan hệ giữa Liên Xô và Hoa Kỳ.

Cuối thập niên 1940, những bài viết của ông đã gây ảnh hưởng hình thành học thuyết Truman và các chính sách đối ngoại của Mỹ trong việc kiềm chế Liên Xô. "Điện tín dài" của ông từ Moskva trong năm 1946 và bài viết tiếp theo vào năm 1947 "Nguồn gốc hành vi của Liên Xô" lập luận rằng chế độ Liên Xô vốn đã theo chủ nghĩa bành trướng, do đó ảnh hưởng của nó cần được ngăn chận trong những khu vực có tầm chiến lược quan trọng đối với Hoa Kỳ. Những văn bản này cung cấp những biện minh cho chính quyền Truman về chính sách mới chống Liên Xô. Kennan đã đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của những chương trình Chiến tranh Lạnh dứt khoát và đặc biệt là Kế hoạch Marshall.

Chẳng bao lâu, sau khi những quan điểm của ông đã trở thành chính sách của Mỹ, Kennan bắt đầu chỉ trích các chính sách đối ngoại mà ông dường như đã giúp bắt đầu. Sau đó đến trước cuối năm 1948, Kennan tin tưởng rằng có thể bắt đầu đối thoại tích cực với chính phủ Liên Xô. Những đề xuất của ông tuy nhiên đã không được đếm xỉa tới bởi chính quyền Truman và ảnh hưởng của Kennan đã bị giảm đáng kể, đặc biệt là sau khi Dean Acheson được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Ngoại giao thay thế George Marshall trong năm 1949. Không lâu sau đó, chiến lược của Mỹ thời Chiến tranh Lạnh trở nên quyết đoán hơn và và đặt nặng vào sức mạnh quân sự, Kennan đã than phiền và cho là những đánh giá trước đây của ông đã không còn được để ý tới.

Trong năm 1950, Kennan rời Bộ Ngoại giao, ngoại trừ 2 lần làm đại sứ ngắn hạn ở Moscow và Nam Tư, trở thành một nhà phê bình hiện thực về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ. Ông tiếp tục phân tích các quan hệ quốc tế như là một giảng viên của Viện nghiên cứu cao cấp (Institute for Advanced Study) từ năm 1956 cho đến khi ông qua đời lúc được 101 tuổi.

Ông ngoài ra còn là thành viên của Hội đồng sáng lập của Viện Rothermere Hoa Kỳ (Rothermere American Institute) tại Đại học Oxford.

George Marshall

Thống tướng Lục quân George Catlett Marshall, Jr. (31 tháng 12 năm 1880 – 16 tháng 10 năm 1959) là một chính khách và nhà lãnh đạo quân đội Hoa Kỳ. Từng làm Bộ trưởng Quốc phòng, bộ trưởng ngoại giao. Ông được coi là quân nhân số một của Quân đội Hoa Kỳ trong Chiến tranh thế giới thứ hai, nổi tiếng là "người tổ chức chiến thắng", cùng với Winston Churchill làm nên thắng lợi của Đồng Minh trong chiến tranh. Marshall là Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ và là một cố vấn quân sự cấp cao cho Tổng thống Franklin D. Roosevelt. Khi là bộ trưởng ông đưa tên của mình vào Kế hoạch Marshall, với kế hoạch đó ông được nhận Giải Nobel Hòa bình vào năm 1953.

Harry S. Truman

Harry S. Truman (8 tháng 5 năm 1884 – 26 tháng 12 năm 1972) là Tổng thống thứ 33 của Hoa Kỳ (1945–1953), người kế nhiệm Nhà Trắng theo Thứ tự kế vị Tổng thống Hoa Kỳ sau cái chết của Franklin D. Roosevelt khi đó ông là Phó Tổng thống thứ 34 (1945) mới 3 tháng của Hoa Kỳ.

Trong đối nội Truman đối phó với một giai đoạn hỗn loạn của nền kinh tế, được đánh dấu với nhiều thiếu hụt nghiêm trọng, hàng loạt vụ đình công và sự thông qua đạo luật Taft-Hartley vượt qua sự phủ quyết (veto) của ông. Ông tái đắc cử vào năm 1948 nhưng không kiểm soát được Quốc hội và không thể thông qua một chương trình Thỏa thuận Công bằng (Fair Deal) của ông. Ông đã sử dụng quyền hành pháp của mình để bắt đầu sự xóa bỏ nạn phân biệt chủng tộc trong quân đội Hoa Kỳ và bắt đầu cuộc "báo động đỏ" thứ hai để loại bỏ hàng ngàn người thân với cộng sản trong các cơ quan nhà nước. Hàng trăm người được ông bổ nhiệm bị buộc phải từ chức trong hàng loạt các vụ bê bối về tài chính.

Nhiệm kì tổng thống của Truman có nhiều sự kiện xảy ra trong đối ngoại, bắt đầu với chiến thắng Đức quốc xã, vụ thả bom nguyên tử ở Hiroshima và Nagasaki, sự đầu hàng của phát xít Nhật và sự kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai, sự thành lập của Liên Hiệp Quốc, kế hoạch Marshall để tái thiết lại châu Âu, học thuyết Truman để kiểm soát chủ nghĩa cộng sản, sự bắt đầu của Chiến tranh Lạnh, sự thành lập của khối NATO và Chiến tranh Triều Tiên. Sự kiện cuối cùng làm hao tổn 44.000 lính Hoa Kỳ, hy sinh hay mất tích, và làm cho Truman không được tái đắc cử nhiệm kì thứ 3. Vận động chống lại sự thất bại của Truman ("Triều Tiên! Cộng sản! Tham nhũng!"), ứng viên Cộng hòa Dwight D. Eisenhower đã kết thúc 20 năm thống trị của Đảng Dân chủ vào năm 1952.

Ông cũng được xem là tổng thống nghèo nhất trong lịch sử Hoa Kỳ . Từ khi thất bại với việc kinh doanh một mỏ kẽm lúc còn trẻ, sau đó ông phải lao động tay chân. Khi hãng quần áo của ông (chung vốn với 1 người bạn) bị phá sản, Truman còn nợ 30.000 đô la (một tài sản lớn thời đấy). Sau khi mãn nhiệm tổng thống, ông và vợ nghèo đến nỗi cũng phải là hai người đầu tiên nhận trợ cấp Medicare sau khi Tổng thống Lyndon Johnson ký thành luật .

Henry Richardson Labouisse, Jr.

Henry Richardson Labouisse, Jr. (11 tháng 2 năm 1904 – 25 tháng 3 năm 1987) là một nhà ngoại giao và chính khách Mỹ. Ông là Giám đốc thứ ba của Cơ quan Cứu trợ và Công trình của Liên Hợp Quốc cho người tị nạn Palestine ở Cận Đông (UNRWA) từ năm 1954 đến 1958. Ông là giám đốc của Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc trong nhiều năm (1965 - 1979). Ông cũng là thành viên của Hội đồng Quan hệ đối ngoại. Một luật sư, ông là Đại sứ Hoa Kỳ tại Pháp 1952 - 1954, cũng như Đại sứ Hoa Kỳ tại Hy Lạp 1962 - 1965. Labouisse đã từng là quan chức chính của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đối phó với việc thực hiện Kế hoạch Marshall.

Ông được sinh ra cho Henry Richardson Labouisse Sr. và Frances Devereux (Huger) Labouisse, cháu gái của Leonidas Polk, ở New Orleans, Louisiana. Ông kết hôn với Elizabeth Scriven Clark vào ngày 29 tháng 6 năm 1935. Ông kết hôn với Ève Curie vào năm 1954, chín năm sau khi Elizabeth qua đời. Cuộc hôn nhân với Ève khiến anh trở thành con rể của Marie và Pierre Curie, người giành giải thưởng Nobel. Năm 1965, ông đã thay mặt UNICEF nhận giải thưởng Nobel vì hòa bình và trở thành một trong năm người đoạt giải thưởng Nobel của gia đình Curie

Có một giải thưởng trong danh dự của ông được thành lập tại Đại học Princeton, trường cũ của ông, được trao cho một sinh viên tốt nghiệp mỗi năm.

Hy Lạp

Hy Lạp (tiếng Hy Lạp: Ελλάδα, chuyển tự Ellada hay Ελλάς, chuyển tự Ellas), tên chính thức là Cộng hòa Hy Lạp (tiếng Hy Lạp: Ελληνική Δημοκρατία, chuyển tự Elliniki Dimokratia), là một quốc gia thuộc khu vực châu Âu, nằm phía nam bán đảo Balkan. Hy Lạp giáp với các nước Albania, Cộng hòa Macedonia và Bulgaria về phía bắc, giáp với Thổ Nhĩ Kỳ về phía đông. Biển Aegea bao bọc phía đông và phía nam Hy Lạp, còn biển Ionia nằm ở phía tây. Phần lớn địa hình của đất nước này là núi non hiểm trở. Hy Lạp có rất nhiều những hòn đảo lớn nhỏ thuộc khu vực Địa Trung Hải. Dân số Hy Lạp năm 2015 xấp xỉ 10,955 triệu người.

Hy Lạp là một trong những nền văn minh rực rỡ nhất thời cổ đại, có ảnh hưởng sâu rộng đến nền văn minh quanh khu vực Địa Trung Hải. Đây là nơi ra đời của nền dân chủ, triết học phương Tây và Thế vận hội Olympic. Đến thời trung cổ, Hy Lạp trở thành một bộ phận của Đế chế Byzantine, rồi sau đó lại nằm trong Đế chế Ottoman trong gần bốn thế kỉ. Năm 1821, nhân dân Hy Lạp đã nổi dậy khởi nghĩa và giành lại độc lập cho dân tộc.

Đất nước Hy Lạp ngày nay là một quốc gia phát triển. Hy Lạp là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế như Liên Hiệp Quốc, NATO, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế - OECD, Tổ chức Thương mại Thế giới - WTO. Năm 1981, Hy Lạp trở thành một thành viên của Liên minh châu Âu.

Hòa bình Mỹ

Hòa bình của Mỹ (hay Hòa bình của người Mỹ) là một thuật ngữ chính trị, từ nguyên là Pax Americana (tiếng Latin) được sử dụng phổ biến trong lĩnh vực chính trị và quan hệ quốc tế tại các nước nói tiếng Anh, trong tiếng Anh có nghĩa là "American Peace" (dịch sang tiếng Việt: "Hòa bình của người Mỹ)").

Thuật ngữ Hòa bình của Mỹ được sử dụng cho Hoa Kỳ từ sau Thế chiến II trong bối cảnh các cường quốc châu Âu và Nhật Bản suy yếu sau chiến tranh, Hoa Kỳ đã nổi lên trở thành một quyền lực toàn cầu. Cán cân quyền lực quốc tế thay đổi trong tương quan vị trí quân sự và kinh tế của Hoa Kỳ so với phần còn lại của thế giới. Kế hoạch Marshall, Hoa Kỳ đã chi 13 tỷ đô la để xây dựng lại nền kinh tế Tây Âu, điều này đã được xem là sự khởi đầu của Pax Americana.

Kaprun

Kaprun là một đô thị ở huyện Zell am See bang Salzburg, ở nước Áo. Đô thị này có diện tích 100,41 km², dân số năm 2001 là 2947 người. Thị trấn nằm ở chân núi băng Kitzsteinhorn, là một trung tâm thể thao. Thị trấn có nhà máy điện được xây thời thế chiến 2. Một trong các đập có ghi dòng chữ:

ERP - Erbaut mit Marshallplan hilfe

(ERP (Chương trình hồi phục châu Âu) - được xây với sự giúp đỡ của kế hoạch Marshall).Năm 2000, tại đây xảy ra thảm hoạ Kaprun, với 155 người trượt tuyết thiệt mạng trong một vụ hoả hoạn.

Liên hiệp Công đoàn Thế giới

Bản mẫu:Labor

Liên hiệp Công đoàn Thế giới (tiếng Anh: World Federation of Trade Unions, viết tắt: WFTU, tiếng Pháp: Fédération syndicale mondiale) là một liên hiệp các tổ chức công đoàn được thành lập vào năm 1945 tại Paris, Pháp nhằm thay thế cho tổ chức Liên hiệp Công đoàn Quốc tế. Sứ mạng của WFTU là tập hợp các tổ chức công đoàn trên thế giới vào một tổ chức quốc tế đơn nhất, tương tự mô hình Liên Hiệp Quốc. Sau khi hàng loạt tổ chức công đoàn phương Tây ra khỏi WFTU vào năm 1949 do hậu quả của những tranh cãi về vấn đề ủng hộ Kế hoạch Marshall thì thành phần WFTU chủ yếu chỉ còn gồm những công đoàn liên kết hoặc ủng hộ đảng cộng sản. Trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh, WFTU thường được miêu tả là tổ chức mặt trận của Xô Viết. Nhiều công đoàn đến từ Nam Tư hay Trung Quốc về sau cũng rời bỏ tổ chức này do sự khác biệt về ý thức hệ của những nước này với Liên Xô.

Hiện Liên hiệp Công đoàn Thế giới có trụ sở đặt tại Athens, Hy Lạp sau khi di dời khỏi Praha, Cộng hòa Séc vào tháng 1 năm 2006.

Ngân hàng Tái thiết Đức

Ngân hàng Tái thiết Đức (tiếng Đức: Kreditanstalt für Wiederaufbau, viết tắt: KfW) là định chế tài chính quốc tế thuộc sở hữu chính phủ của Đức. Tập đoàn này được thành lập vào năm 1948 như một phần của Kế hoạch Marshall. Ban điều hành gồm sáu thành viên, còn Ban tư vấn gồm 37 thành viên. Luân phiên đứng đầu Ban tư vấn là Bộ trưởng Bộ Tài chính Đức và Bộ trưởng Bộ Các vấn đề kinh tế và Năng lượng. Tỉ lệ sở hữu giữa chính phủ liên bang và chính quyền các bang là 80:20.

Paul Ramadier

Paul Ramadier (phát âm tiếng Pháp: [pɔl ʁamadje]; 17 tháng 3 năm 1888 – 14 tháng 10 năm 1961) là một chính trị gia người Pháp nổi bật của Thứ ba và thứ tư Cộng hòa. Thị trưởng của Decazeville, bắt đầu từ năm 1919, ông giữ cương vị là người đầu tiên Thủ tướng nước Cộng hòa thứ tư năm 1947.

Vào ngày 10 tháng 7 năm 1940, ông đã bỏ phiếu chống lại việc trao toàn bộ quyền lực cho Thống chế Philippe Pétain, người đã cài đặt chế độ Vichy vào ngày hôm sau.

Ramadier tham gia Kháng chiến, nơi ông đã sử dụng nom de guerre Violette. Tên ông được đưa vào đài tưởng niệm Do Thái Yad Vashem sau chiến tranh. Chính trong chức vụ đầu tiên của mình, những người Cộng sản đã bị buộc rời khỏi chính phủ vào tháng 5 năm 1947, chấm dứt liên minh " ba bên " giữa Bộ phận Công nhân Pháp (SFIO), Phong trào Cộng hòa và Cộng sản phổ biến. Ông đã bỏ phiếu cho Kế hoạch Marshall.

Từ năm 1956 đến năm 1957, Ramadier là Bộ trưởng Bộ Tài chính dưới thời Guy Mollet.

Richard Nixon

Richard Milhous Nixon (phiên âm tiếng Việt: Ri-chớt Min-hau Ních-xơn) (9 tháng 1 năm 1913 – 22 tháng 4 năm 1994) là tổng thống thứ 37 của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Nhiệm kỳ tổng thống của ông bắt đầu từ năm 1969, kết thúc khi ông từ chức vào năm 1974, khiến ông là tổng thống duy nhất từ chức trong lịch sử Hoa Kỳ. Trước đó, Nixon từng phục vụ trong vai trò là một nghị sĩ của Đảng Cộng hòa tại Hạ viện và Thượng viện liên bang, đại diện cho California; và từng đảm nhiệm chức vụ Phó Tổng thống thứ 36 của Hoa Kỳ từ năm 1953 đến năm 1961.

Nixon sinh tại Yorba Linda, California; ông tốt nghiệp Học viện Whittier vào năm 1934 và Trường Luật Đại học Duke vào năm 1937, rồi quay về California hành nghề luật. Đến năm 1942, ông cùng phu nhân là Pat Nixon chuyển đến Washington, D.C. để làm việc cho chính phủ liên bang. Sau đó, ông phục vụ cho Hải quân Hoa Kỳ trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Đến năm 1946, Nixon được cử tri tại California bầu vào Hạ nghị viện liên bang, ông tái cử vào năm 1948, và được bầu vào Thượng nghị viện liên bang vào năm 1950. Hành động theo đuổi vụ án Alger Hiss đem lại Nixon danh tiếng là một nhân vật chống Cộng hàng đầu, khiến ông trở nên nổi bật trên toàn quốc. Ông là nhân vật đồng tranh cử với Dwight D. Eisenhower trong bầu cử tổng thống năm 1952, sau đó ông phục vụ tám năm trong cương vị phó tổng thống. Ông tiến hành một chiến dịch tranh cử tổng thống không thành công vào năm 1960, thất bại sít sao trước John F. Kennedy, và thất bại khi tranh cử Thống đốc California vào năm 1962. Năm 1968, ông lại tiến hành chiến dịch tranh cử tổng thống và đắc cử.

Nixon ban đầu gia tăng sự tham dự của Hoa Kỳ trong Chiến tranh Việt Nam, song đến năm 1972 thì ông chấm dứt sự tham dự này. Chuyến công du của Nixon đến Trung Quốc vào năm 1972 mở ra những giao thiệp giữa hai quốc gia và cuối cùng dẫn đến bình thường hóa quan hệ ngoại giao. Ông đề xướng chính sách hòa hoãn và ký Hiệp ước Chống tên lửa đạn đạo với Liên Xô trong cùng năm. Về đối nội, chính phủ của ông thường đi theo các chính sách nhằm chuyển giao quyền lực từ trung ương cho các bang. Trong các vấn đề khác, ông đưa ra các sáng kiến nhằm chống ung thư và ma túy bất hợp pháp, áp đặt kiểm soát lương và giá, thúc đẩy cấm chỉ kỳ thị chủng tộc trong các trường học miền Nam, thi hành các cải cách môi trường, và ban hành các điều luật nhằm cải cách y tế và phúc lợi. Ông chỉ huy các cuộc đổ bộ mặt Trăng bằng Apollo 11, thay thế thăm dò không gian có người lái bằng các sứ mệnh con thoi. Ông tái đắc cử vào năm 1972 với chênh lệch phiếu lớn.

Trong thời gian nhiệm kỳ thứ nhì của Nixon, tại Trung Đông xảy ra một cuộc khủng hoảng, dẫn đến một lệnh cấm vận dầu mỏ và tái khởi động tiến trình hòa bình Trung Đông. Cùng với đó là một loạt tiết lộ liên tục về bê bối Watergate, Nixon mất đi phần lớn ủng hộ chính trị của mình khi bê bối leo thang, và đến ngày 9 tháng 8 năm 1974 thì ông từ chức khi phải đối diện với tình hình gần như chắc chắn bị luận tội và bãi chức. Sau khi từ chức, Nixon được người kế nhiệm là Gerald Ford ân xá. Khi về hưu, công việc của Nixon giống như của một nguyên lão, ông là tác giả của chín cuốn sách và thực hiện nhiều chuyến đi ra ngoại quốc, giúp khôi phục hình ảnh công chúng của mình. Ông suy nhược do đột quỵ vào ngày 18 tháng 4 năm 1994, và từ trần 4 ngày sau đó.

Tây Đức

Tây Đức (tiếng Đức: Westdeutschland) là tên thường dùng để chỉ Cộng hòa Liên bang Đức (tiếng Đức: Bundesrepublik Deutschland) trong thời kỳ từ khi được thành lập vào tháng 5 năm 1949 đến khi Tái Thống nhất nước Đức vào ngày 3 tháng 10 năm 1990. Trong thời kỳ này, Đức cùng với thủ đô Berlin bị phân chia cho đến khi Đông Đức cộng sản sụp đổ và 5 bang của nó sáp nhập vào Cộng hòa Liên bang Đức. Cộng hòa Liên bang Đức (thường gọi là Đức) được mở rộng thành 16 bang cùng với việc thành lập 5 bang tại Đông Đức trước đây và như vậy trở thành nhà nước kế tục của Cộng hòa Liên bang Đức từ trước năm 1990.

Cộng hòa Liên bang Đức được thành lập từ 11 bang từ ba khu vực chiếm đóng của Đồng minh do Hoa Kỳ, Anh Quốc và Pháp kiểm soát. Thành phố Bonn là thủ đô lâm thời của đất nước. Khu vực thứ tư do Liên Xô chiếm đóng. Nhiều vùng của khu vực này nằm ở phía đông của Oder-Neisse, những nơi này sau đó đã bị Liên Xô và Ba Lan cộng sản sáp nhập; phần trung tâm còn lại quanh Berlin trở thành Cộng hòa Dân chủ Đức (Deutsche Demokratische Republik) với thủ đô trên thực tế là Đông Berlin. Theo sau sự phân chia, Tây Đức có một lãnh thổ chỉ bằng khoảng một nửa kích thước của Cộng hòa Weimar, là quốc gia tồn tại giữa hai Thế chiến tại Đức.

Cùng với Sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu bắt đàu từ năm 1989, tượng trưng là việc mở cửa Bức tường Berlin, các chuyển động nhanh chóng đã diễn ra hướng tới việc tái Thống nhất nước Đức. Cuộc bầu cử tự do ở Đông Đức diễn ra với kết quả là Quốc hội mới tuyên bố giải thể chính quyền và tán thành gia nhập Cộng hòa Liên bang Đức vào năm 1990. Lãnh thổ Đông Đức được tổ chức lại thành 5 bang như trước chiến tranh cùng với việc hợp nhất Berlin, xóa bỏ tình trạng bị cô lập của Tây Berlin. Các bang trên lãnh thổ Đông Đức cũ gia nhập Cộng hòa Liên bang Đức vào ngày 3 tháng 10 năm 1990, nâng số bang từ 10 lên thành 16. Nước Đức thống nhất tiếp tục các chính sách của Cộng hòa Liên bang Đức từ trước năm 1990 và tiếp tục là thành viên của các tổ chức quốc tế như Liên minh châu Âu và NATO.

Thập niên 1940
Thập niên 1950
Thập niên 1960
Thập niên 1970
Thập niên 1980
Thập niên 1990
Xem thêm
Tổ chức
Chạy đua
Ý thức hệ
Tuyên truyền
Chính sách ngoại giao

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.