Jean de Lattre de Tassigny

Jean Joseph Marie Gabriel de Lattre de Tassigny (2 tháng 2 năm 188911 tháng 1 năm 1952), phiên âm tiếng Việt một phần tên là Đờ-lát Đờ Tát-xi-nhi) là Đại tướng quân đội Pháp (Général d'Armée), anh hùng nước Pháp trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Sau thế chiến, ông tiếp tục tham gia Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất và mất vì bệnh trong khi chiến tranh vẫn còn đang tiếp diễn. Ông từng là tham mưu trưởng các lực lượng lục quân Tây Âu tại NATO. Sau khi mất, ông được truy tặng quân hàm Thống chế.

Jean de Lattre de Tassigny
Jean de Lattre de Tassigny (1946)
Chân dung De Lattre ngày 5 tháng 6 1945 tại Berlin
Tiểu sử
Biệt danhRoi Jean
SinhMouilleron-en-Pareds, Pháp
MấtParis, Pháp
Binh nghiệp
Phục vụFlag of France.svg Quân đội Pháp
Năm tại ngũ1911 - 1951
Cấp bậcArmy-FRA-OF-09.svg Đại tướng
Chỉ huyTập đoàn quân thứ nhất Pháp
Lực lượng viễn chinh Đông Dương
Tham chiếnChiến tranh thế giới thứ nhất
Chiến tranh thế giới thứ hai
Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Khen thưởngThống chế (được truy tặng sau khi chết)
Bắc Đẩu bội tinh
Gia đìnhBernard de Lattre de Tassigny (con trai)

Tiểu sử

Jean de Lattre de Tassigny sinh ngày 2 tháng 2 1889 tại Mouilleron-en-Pareds, cùng quê với cựu thủ tướng Pháp Georges Clemenceau trong một gia đình địa chủ quý tộc. Ông tốt nghiệp Trường Võ bị Saint-Cyr năm 1911 với quân hàm trung úy. Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, ông tham gia kị binh, trong chiến đấu bị thương 5 lần và 8 lần được tuyên dương, từng là trung đoàn trưởng của trung đoàn bộ binh số 93. Sau thế chiến thứ nhất ông lại tiếp tục tham gia chiến đấu ở Maroc.

Năm 1932, khi đang là trung tá, ông trở thành sĩ quan tham mưu dưới quyền tướng Maxime Weygand nhờ cấp hàm và dòng dõi gia đình. 3 năm sau đó, ông trở thành chỉ huy của trung đoàn bộ binh số 151 tại Metz với quân hàm đại tá.

Chiến tranh thế giới thứ hai

Zhukov Eisenhower Montgomery de Lattre
Eisenhower, Zhukov, Mongomery và De Lattre ngày 9 tháng 5 năm 1945 tại Berlin

Ông được phong quân hàm Chuẩn tướng vào ngày 23 tháng 3 năm 1939 và được bổ nhiệm làm tham mưu trưởng quân đoàn 5 đúng 1 ngày sau khi Đức Quốc xã tấn công Ba Lan. Ngày 1 tháng 1 năm 1940, Tassigny là chỉ huy trưởng sư đoàn bộ binh số 14 cho đến khi ký kết hiệp định đình chiến giữa chính phủ VichyĐức quốc xã. Ông thắng một trận nhỏ ở Rethel, nơi một sĩ quan Đức đã so sánh cuộc kháng cự của quân Pháp với trận Verdun. Năm 1941, ông được thăng hàm Thiếu tướng, và làm tổng chỉ huy của quân đội Vichy Pháp tại Tunisia. 1942, ông được thăng hàm Trung tướng và chuyển sang chỉ huy sư đoàn bộ binh số 16 tại Montpellier. Tại đây, ông bắt đầu tập hợp lực lượng chống đối phát xít Đức nên cuối cùng đã bị chính phủ Vichy bắt ở Toulouse rồi tuyên án 10 năm tù giam ở Lyon. Ngày 3 tháng 9 năm 1943, de Lattre vượt ngục thành công bèn cùng gia đình trốn khỏi Riom, tìm cách liên lạc với tướng Charles de GaulleLondon. Ngày 20 tháng 12 năm 1943, ông sang Algiers chỉ huy Tập đoàn quân B, phối hợp cùng với quân Đồng Minh chống phát xít Đức[1]. Ông được thăng quân hàm Đại tướng bởi sắc lệnh do tướng Charles de Gaulle ký ngày 11 tháng 11 năm 1943.

Ngày 17 tháng 6 năm 1944, de Lattre dẫn quân đổ bộ lên đảo Elbe rồi Provence, miền nam nước Pháp ngày 16 tháng 8. Mục tiêu trước mắt của ông là giải phóng Toulon và Marseilles, hai thành phố cảng quan trọng ở miền Nam Pháp. Ở hai thành phố này có 35000 quân Đức phòng ngự cứng rắn, được Adolf Hitler ra lệnh chống trả tới người cuối cùng. De Lattre chia quân làm 5 cụm bao vây, đánh chiếm Toulon và Marseilles. Ngày 21 tháng 8, quân Pháp hình thành thế hợp vây Toulon. Giao tranh diễn ra rất ác liệt; quân chính quy Pháp cùng lực lượng kháng chiến nội địa đã chiếm được các pháo đài lớn. Ngày 28 tháng 8, toàn bộ quân Đức ở Toulon đầu hàng. Trận này quân Pháp thiệt hại đến 2700 người, nhưng bắt được 17000 tù binh.[2] Cùng lúc đó, quân De Lattre tiến đánh Marseilles. Nhân dân Marseilles cũng nổi dậy, gây phân tán quân Đức, giúp quân chính quy Pháp bao vây, cô lập các cứ điểm địch. Ngày 28 tháng 8, quân Đức ở Marseilles đầu hàng. Quân Pháp thiệt hại 1.825 người nhưng thu được 10.000 tù binh.[3]

Tiếp theo, ông vượt qua Vosges sau giao tranh ác liệt. De Lattre chiếm Belfort nhưng chấm dứt bước tiến của quân ông. Điều này khiến cho quân Đức thành lập "cái túi Colmar". Tháng 12 năm 1944, cố gắng chiếm Colmar đều thất bại. Tháng 1 năm 1945, Trung tướng Jacob Devers - Tư lệnh Cụm Tập đoàn quân số 6 của Mỹ, đã ra lệnh cho Tassigny thanh toán "cái túi" này. Ngày 20 tháng 1 năm 1945, Chiến dịch hợp vây Colmar bắt đầu, 5 sư đoàn Pháp của Tassigny tấn công thất bại, và Sư đoàn Bộ binh số 3 tinh nhuệ của Mỹ cũng không thu được thắng lợi gì đáng kể.[4] Khó khăn của liên quân Mỹ - Pháp trong chiến dịch này gợi nhớ đến cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất.[5] Trước tình hình đó, Devers phải tăng viện 1 quân đoàn Mỹ. Ngày 9 tháng 2, "cái túi Colmar" bị tiêu diệt, quân Đức thiệt hại nặng và rút chạy qua sông Rhine.[6][7] Nước Pháp được giải phóng, ngày 30 tháng 3 năm 1945, de Lattre dẫn 300.000 quân vượt sông Rhine, lần lượt chiếm Karlsruhe, UlmStuttgart trước khi vượt sông Danube đến Áo. Ngày 8 tháng 5 năm 1945, ông đại diện nước Pháp cùng với các tướng lĩnh hàng đầu khác của phe Đồng Minh như Dwight D. EisenhowerGeorgy Zhukov ký kết văn kiện đầu hàng vô điều kiện của Đức quốc xã tại Berlin, kết thúc chiến tranh tại Châu Âu.

Chiến tranh Đông Dương

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Tassigny trở thành tham mưu trưởng các lực lượng lục quân tại NATO, dưới quyền chỉ đạo của Thống chế Bernard Montgomery. Ngày 6 tháng 12 năm 1950, chính phủ Pháp đã cử ông sang làm Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh kiêm cao ủy Pháp ở Đông Dương nhằm lấy lại ưu thế tại đây. Nắm quyền chỉ huy, de Lattre nhanh chóng đề ra nhiều kế hoạch mới: khẩn trương xây dựng lực lượng quân Âu-Phi cơ động chiến lược mạnh, tăng cường bổ sung nhiều lính người Việt vào quân đội viễn chinh Pháp, xây dựng quân đội quốc gia cho chính quyền Bảo Đại và nhất là ông đã huy động một lực lượng công binh rất lớn để xây 2200 bunker tạo thành một "vành đai trắng" bao quanh vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ nhằm đối phó Việt Minh. Mục tiêu của de Lattre là tiến hành chiến tranh tổng lực để bình định những vùng tạm chiếm và chuẩn bị tiến ra vùng tự do[8].

Để thực hiện những kế hoạch trên, de Lattre đã tập trung phần lớn các tiểu đoàn cơ động chiến lược tại Bắc Bộ xây dựng được 7 binh đoàn cơ động chiến lược (GM) và 4 tiểu đoàn lính nhảy dù. Ông cũng chủ trương lôi kéo Mỹ can thiệp sâu vào Chiến tranh Đông Dương để tăng nguồn viện trợ cho Pháp. Ngay sau khi nhậm chức, ngày 14 tháng 1 năm 1951, ông đã đến Vĩnh Yên để chỉ đạo chiến đấu phản kích Việt Minh. Ông điều binh đoàn cơ động 2 (GM2) từ Hà Nội đến làm quân dự phòng rồi ra lệnh cho GM1 tấn công từ phía tây với hỏa lực yểm trợ của không quân. GM1 sau đó đã cùng GM3 đánh bật Việt Minh. Đại tướng Võ Nguyên Giáp, chỉ huy của Việt Minh, quyết định tấn công lần nữa nhưng lại bị đẩy lùi vì Tassigny đã tập trung không quân mở chiến dịch ném bom lớn và chủ yếu là bom napalm gây thương vong rất lớn cho Việt Minh.

Coubron Parc de la Mairie
Phần mộ de Lattre de Tassigny

Sau chiến thắng ở trận Vĩnh Yên, de Lattre lại lần nữa đẩy lùi được Việt Minh tại Mạo Khê. Nhưng vào ngày 30 tháng 3 năm 1951, con trai duy nhất của ông là trung úy Bernard de Lattre de Tassigny đã chết sau một cuộc tấn công của Việt Minh tại Ninh Bình. Sau đó, xác của Benard đã được tìm thấy và mặc dù chiến sự vẫn đang còn tiếp diễn, de Lattre đã đưa xác con về Pháp và tổ chức đám tang rất trọng thể[9].

Sau khi trở lại Việt Nam, Tassigny quyết định chọn Hòa Bình làm điểm quyết chiến mới để hi vọng ngăn chặn đường giao thông Bắc-Nam và tiêu diệt chủ lực quân của Việt Minh. Ngày 9 tháng 11 năm 1951, Tassginy đã sử dụng một lực lượng quân cơ động chiến lược gồm khoảng 20 tiểu đoàn bộ binh, 7 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn thiết giáp và nhiều tàu thuyền, quân dù mở cuộc tấn công Hòa Bình và đến ngày 14 tháng 11 thì chiếm được Hòa Bình. Trước tình hình đó, Việt Minh đã mở chiến dịch Hòa Bình do Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ huy nhằm giành lại Hòa Bình. Và vào thời điểm gay cấn nhất của trận đánh, de Lattre de Tassigny lâm bệnh nặng phải trở về Pháp lần nữa vào ngày 19 tháng 11. Lúc bấy giờ bệnh tình của ông đã không còn hy vọng cứu chữa vì từ nhiều tháng nay ông bị ung thư chân đồng thời phải đảm đương nhiều công việc ở Đông Dương, những hành trình qua Pháp và qua Mỹ để xin viện trợ. Ngoài ra, cái chết của người con trai duy nhất cũng làm ông thêm suy sụp tinh thần khiến cho bệnh tình càng ngày càng trầm trọng.[10] Cuối cùng vào ngày 11 tháng 1 năm 1952, de Lattre từ trần tại Paris. Chính phủ Pháp đã truy tặng ông chức Thống chế và làm lễ quốc táng. Đám tang của ông kéo dài trong 5 ngày và được tạp chí LIFE mô tả là "đám tang dành cho quân nhân lớn nhất kể từ sau cái chết của Thống chế Foch năm 1929". Đám tang ông có sự tham gia của người cha 97 tuổi của ông là Roger de Lattre - thành viên cuối cùng của dòng họ. Quan tài của ông được đặt bên cạnh con ông là Bernard.[11] Sau cái chết của de Lattre, các tướng lĩnh Pháp sau đó được cử đến Đông Dương như Raoul SalanHenri Navarre đã không hoàn thành nhiệm vụ và sau cùng Pháp đã thua trận tại Đông Dương.

50 năm sau ngày ông mất, lễ tưởng niệm ông đã được tổ chức trọng thể tại Paris và quê hương ông với sự tham gia của nhiều cựu chiến binh. Trước nhà ông ở Mouilleron-en-Pareds người ta gắn tấm biển lớn ghi các chức tước của ông với dòng chữ: "Il sauve le Tonkin" (Cứu tinh xứ Bắc Kì) và tên ông từng được đặt cho một đường phố Hà Nội thời Pháp còn chiếm đóng.[12]

Tham khảo

  1. ^ Nguyễn Phương Nam, trang 145
  2. ^ Stout & Yeide 2007, tr. 100-121..
  3. ^ Clarke & Smith (1993), tr. 140–142.
  4. ^ Charles Whiting, The other Battle of the Bulge: Operation Northwind, trang 132
  5. ^ Georges Blond, The death of Hitler's Germany, trang 140
  6. ^ John Craig Ferguson, Hellcats: the 12th Armored Division in World War II, trang 79
  7. ^ Thomas B. Buell, John N. Bradley, Jack W. Dice, John H. Bradley, The Second World War: Europe and the Mediterranean, trang 388
  8. ^ Đại cương lịch sử Việt Nam tập III, trang 85-86
  9. ^ Nguyễn Phương Nam, trang 164
  10. ^ [1]
  11. ^ Destiny is too hard, LIFE 28 tháng 1 năm 1952, trang 20
  12. ^ Nguyễn Phương Nam, trang 144
  • Nguyễn Phương Nam (2008). Những viên tướng ngã ngựa. Việt Nam: Nhà xuất bản Lao động.
  • Nhiều tác giả (2007). Đại cương Lịch sử Việt Nam tập III. Việt Nam: Nhà xuất bản Giáo dục.

Xem thêm

Liên kết ngoài

Cờ Pháp Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp trong Chiến tranh Đông DươngArmoiries république française.svg

Philippe Leclerc de Hauteclocque (1945-1946) | Jean Étienne Valluy (1946-1948) | Roger Blaizot (1948-1949) | Marcel Maurice Carpentier (1949-1950) | Jean de Lattre de Tassigny (1950-1951) | Raoul Salan (1952-1953) | Henri Navarre (1953-1954)

11 tháng 1

Ngày 11 tháng 1 là ngày thứ 11 trong lịch Gregory. Còn 354 ngày trong năm (355 ngày trong năm nhuận).

2 tháng 2

Ngày 2 tháng 2 là ngày thứ 33 trong lịch Gregory. Còn 332 ngày trong năm (333 ngày trong năm nhuận).

Bernard de Lattre de Tassigny

Bernard de Lattre de Tassigny (11 tháng 2 năm 1928 – 30 tháng 5 năm 1951) là một sĩ quan quân đội Pháp trong Thế chiến thứ hai và Chiến tranh Đông Dương. Ông là con trai duy nhất của Đại tướng Pháp Jean de Lattre de Tassigny. Bernard tử trận tại Ninh Bình sau một cuộc tấn công của Việt Minh khi mới 23 tuổi.

Chuẩn tướng

Chuẩn tướng là quân hàm sĩ quan cấp tướng trong quân đội của một số Quốc gia.

Trong Quân đội Nhân dân Việt Nam không có cấp hàm này. Trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa (1955-1975), quân hàm Chuẩn tướng là hàm tướng 1 sao, được đặt ra từ năm 1964. Quân hàm này dưới Thiếu tướng, trên Đại tá, tương đương quân hàm Brigadier General (Quân đội Mỹ), Général de Brigade (Quân đội Pháp, có 2 sao). Trong Hải quân Việt Nam Cộng hòa, hàm tương đương là Phó Đề đốc.

Hàm tương đương trong Hải quân Mỹ và Anh là Commodore, trong Hải quân Pháp là Contre-amiral (Chuẩn Đô đốc, có 2 sao). Trong Hải quân Nga không có cấp bậc tương đương.

Trong Quân đội Hoàng gia Anh (Lục quân), cấp bậc tương đương là Brigadier. Quân hàm này không nằm trong cấp tướng; tuy nhiên trong NATO vẫn được xem ngang hàng với Brigadier General của Quân đội Mỹ và cấp tương đương của các quân đội khác. Trong Không quân Anh, cấp bậc tương đương là Air Commodore (Chuẩn tướng Không quân).

François de Linares

François Jean Antonin Gonzalez de Linarès là một thiếu tướng người Pháp đã chỉ huy các lực lượng trong Thế chiến II dưới quyền tướng Jean de Lattre de Tassigny và tại Việt Nam dưới quyền tướng Raoul Salan.

Ngày 26 tháng 01 năm 1919 ông tự tới Saint Cyr, tháng 09 năm 1919 được phân công làm nhiệm vụ tại Ma rốc. Ông đã phục vụ cuộc chiến của người Ma Rốc từ 1919 tới 1922. Năm 1930 đến 1936 phục vụ chiến trường Algeria, thời gian trước khi tham gia chiến tranh thế giới thứ II, ngày 2 tháng 10 năm 1939 ông được phân công vào bộ tổng tham mưu Quân đội thứ 3 (chỉ huy cấp quân đội của Quân đội Đức trong Thế chiến I).

Georgi Konstantinovich Zhukov

Georgi Konstantinovich Zhukov (tiếng Nga: Георгий Константинович Жуков, đọc là Ghê-oóc-ghi Can-xtan-chi-nô-vích Giu-cốp; 1 tháng 12 năm 1896 – 18 tháng 6 năm 1974) là danh tướng trong quân đội Liên Xô. Trong rất nhiều tướng lĩnh nổi danh thế giới trong Chiến tranh thế giới thứ hai, G.K. Zhukov được xếp đầu bảng về số lượng trận thắng nhiều và quy mô lớn, được nhiều người công nhận về tài năng chỉ đạo chiến dịch và chiến lược. Những chiến tích của ông đã trở thành những đóng góp rất lớn vào kho tàng di sản kiến thức quân sự nhân loại. Nó không những có ảnh hưởng lớn về lý luận quân sự của Liên Xô mà cũng có ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển của lý luận quân sự thế giới.Theo nhận định của Nguyên soái A. M. Vasilevsky, G. K. Zhukov là một trong những nhà cầm quân lỗi lạc của nền quân sự Xô Viết. Trong cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại của Liên bang Xô viết, ông đã giữ các chức vụ Tư lệnh Phương diện quân Dự bị, Tư lệnh Phương diện quân Tây, Tư lệnh Phương diện quân Beloussia 1, Tổng tham mưu trưởng quân đội Liên Xô, Thứ trưởng Bộ dân ủy Quốc phòng kiêm Phó Tổng tư lệnh tối cao quân đội Liên Xô, Ủy viên Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Hầu hết các nhà lãnh đạo quân sự nổi tiếng thế giới cùng thời với ông như Thống chế Anh Sir Bernard Law Montgomery, Thống tướng Hoa Kỳ Dwight David Eisenhower, Thống chế Pháp Jean de Lattre de Tassigny đều công nhận tên tuổi của ông đã gắn liền với hầu hết các chiến thắng lớn trong cuộc chiến như Trận Moskva (1941), Trận Stalingrad, Trận Kursk, Chiến dịch Bagration, Chiến dịch Visla-Oder và Chiến dịch Berlin. Trong giai đoạn sau chiến tranh, ông giữ các chức vụ Tổng tư lệnh quân đội Liên Xô tại nước Đức, tư lệnh các quân khu Odessa và Ural. Sau khi lãnh tụ tối cao I. V. Stalin qua đời, ông được gọi về Moskva và được bổ nhiệm chức vụ Thứ trưởng thứ nhất Bộ Quốc phòng Liên Xô. Trong thời gian từ năm 1955 đến năm 1957, ông giữ chức vụ Ủy viên trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Liên Xô. Năm 1957, trong thời gian đang đi thăm Nam Tư, ông bị đưa ra khỏi Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Năm 1958, ông bị miễn nhiệm tất cả các chức vụ trong quân đội.

Henri Navarre

Henri Eugène Navarre (31 tháng 7 năm 1898 - 26 tháng 9 năm 1983) là một tướng của quân đội Pháp. Ông đã tham gia Chiến tranh thế giới thứ nhất, Chiến tranh thế giới thứ hai và là chỉ huy thứ 7 của Quân đội viễn chinh Pháp vùng Viễn Đông trong Chiến tranh Đông Dương. Navarre là tổng chỉ huy quân Pháp trong thời gian diễn ra trận Điện Biên Phủ.

Đến cuối năm 1953, Chiến tranh Đông Dương đã kéo dài 8 năm, Pháp lâm vào thế bị động trên chiến trường, quân đội Việt Minh của chính phủ Hồ Chí Minh đã giải phóng nhiều khu vực rộng lớn ở Tây Nguyên, khu 5, các tỉnh Cao Bắc Lạng và nhiều khu vực ở đồng bằng Bắc bộ. Chính phủ Pháp muốn tìm một giải pháp hòa bình có thể chấp nhận được để chấm dứt cuộc chiến nhưng mặt khác họ muốn duy trì quyền lợi tại Đông Dương. Pháp bổ nhiệm tổng chỉ huy Henri Navarre sang Đông Dương thay cho Raoul Salan nhằm tìm kiếm một chiến thắng quân sự quyết định để làm cơ sở cho một cuộc thảo luận hòa bình trên thế mạnh.

Navare đã nhanh chóng chuyển chiến lược quân Pháp tại Đông Dương từ phòng thủ sang tấn công, ông đã lập các lực lượng quân tấn công lưu động và phái đến Điện Biên Phủ, là địa điểm quan trọng chiến lược trong tuyến vận chuyển của Việt Minh, là nơi được cho là cho thể lôi kéo quân Việt Minh vào các cuộc chiến và Pháp có thể dùng pháo binh và không kích ưu thế hơn của quân đội Pháp để đè bẹp Việt Minh. Tuy nhiên, Pháp đã đánh giá thấp khả năng của Việt Minh và đã thất bại thảm hại trong trận Điện Biên Phủ.

Navarre nghỉ hưu năm 1956. Trong năm đó ông cho xuất bản cuốn Agonie de l'Indochine, một tác phẩm phân tích nguyên nhân thất bại của Pháp tại Đông Dương. Ông mất tại Paris năm 1983.

Jean Étienne Valluy

Jean Étienne Valluy (hay còn được phiên âm: Va-luy, 15/05/1899 - 4/01/1970) là một tướng Pháp. Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương 8/1946-9/1948 thay tướng Philippe Leclerc, trong phong trào chống Việt Minh. Tổng chỉ huy đầu tiên khi Pháp quay trở lại Đông Dương, ra lệnh đánh chiếm Hải Phòng, tiếp theo Hà Nội. Ông phục vụ và chỉ huy trong quân đội Pháp từ năm 1943 đến năm 1970. Mất tại Paris năm 1970.

Marcel Maurice Carpentier

Marcel Maurice Carpentier hay Marcel Carpentier (02-03-1895 tại Preuilly-sur-Claise - 14-09-1977 tại Mettray), là một tướng Pháp, phục vụ tại các cuộc chiến trong Chiến tranh thế giới thứ I, Chiến tranh thế giới thứ II, và Chiến tranh Đông Dương. Ông được xem là một chuyên gia về Bắc Phi, ngày 3/9/1949 được điều sang Đông Dương thay tướng Blaizot. Làm tổng tư lệnh Quân viên chinh Pháp tại Đông Dương, thời gian từ năm (1949-1950). Sau Chiến tranh biên giới năm 1950, ông bị thay thế bởi tướng Lattre de Tassigny.

Carpentier trở lại châu Âu và đã được phân vào Nato trong (1951-1953).

Nguyên soái

Nguyên soái, hay Thống chế, là danh xưng Việt ngữ dành chỉ quân hàm sĩ quan cao cấp nhất trong quân đội của một số quốc gia. Trong nhiều trường hợp, cấp bậc này được xem là tương đương với quân hàm Thống tướng trong quân đội của một số quốc gia theo hệ thống cấp bậc quân sự Mỹ, dù nguyên nghĩa của chúng không thực sự đồng nhất.

Pierre Langlais

Pierre Charles Albert Marie Langlais (ngày 02 tháng 12 năm 1909 – 17 tháng 7 năm 1988) là một sĩ quan quân đội Pháp đã chiến đấu trong Thế chiến II và Đông Dương. Ông được biết đến là người chỉ huy đặc biệt của quân đồn trú Pháp trong trận Điện Biên Phủ, ông là trung tá làm phụ tá không vận cho Christian de Castries.

Quân đội Quốc gia Việt Nam

Quân đội Quốc gia Việt Nam (tiếng Pháp: Armée Nationale Vietnamienne, ANV) là lực lượng vũ trang của Quốc gia Việt Nam, là một phần của Quân đội Liên hiệp Pháp, được sự bảo trợ tài chính và chỉ huy từ Liên hiệp Pháp, tồn tại từ 1950 đến 1955.

Quân đội viễn chinh Pháp vùng Viễn Đông

Quân đội viễn chinh Pháp vùng Viễn Đông (tiếng Pháp: Corps Expéditionnaire Français en Extrême-Orient, tắt là CEFEO) là một lực lượng quân đội viễn chinh của quân đội Liên hiệp Pháp thành lập ở Đông Dương thuộc Pháp trong năm 1945 trong thời gian Chiến tranh Thái Bình Dương. Sau đó, CEFEO đã chiến đấu và thất bại trong cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất trong cuộc chiến chống lại quân nổi dậy Việt Minh.

Raoul Salan

Raoul Albin Louis Salan người việt thường gọi Xalăng (10 tháng 6 năm 1899 - 3 tháng 7 năm 1984) là một Đại tướng quân đội Pháp, từng là tổng tư lệnh chiến trường Bắc Đông Dương vạch kế hoạch tiến công Việt Bắc. Tổng tư lệnh quân đội Pháp tại Chiến tranh Đông Dương vào (1952-1953). Salan là một trong bốn vị tướng trong Chiến tranh Algérie, tổng tư lệnh tại Algeria. Ông tham gia trong cuộc đảo chính Algérie năm 1961 (Putsch d'Alger ) và sau đó thành lập Organisation de l'armée secrète (Tổ chức quân đội mật).

Roger Blaizot

Roger Charles André Henri Blaizot (1895 – 1981) là một tướng quân Pháp, một nhà chỉ huy quân sự trong chiến tranh thế giới thứ hai. Ông phục vụ tại Đông Dương với tư cách tổng tư lệnh quân viên chinh Pháp tại từ năm (04/1948-09/1949), thay tướng Valluy.

Thiếu tướng

Thiếu tướng là quân hàm sĩ quan cao cấp trong quân đội nhiều quốc gia. Quân hàm Thiếu tướng trong quân đội một số quốc gia phương Tây mang 2 sao, xếp trên Chuẩn tướng. Quân hàm Thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam mang 1 sao, xếp dưới Trung tướng, trên Đại tá, được xếp tương đương quân hàm Major General (Quân đội Mỹ, có 2 sao; Lục quân Hoàng gia Anh), Général de Division (Quân đội Pháp, có 3 sao), Генерал-майор (Quân đội Nga), 少將 (Quân đội Trung Quốc).

Quân hàm Thiếu tướng Hải quân nhân dân Việt Nam hiện nay được gọi với danh xưng Chuẩn đô đốc, tương đương trong Hải quân Anh và Mỹ là Rear Admiral (Chuẩn Đô đốc), trong Hải quân Pháp là Vice-amiral (Phó Đô đốc, có 3 sao), trong Hải quân Nga là контр-адмирал (Chuẩn Đô đốc).

Thiếu tướng Không quân Anh được gọi là Air Vice Marshal.

Thiếu tướng trong Quân đội Trung Quốc thường đảm nhiệm các chức vụ sư đoàn trưởng, quân đoàn phó, quân đoàn trưởng hoặc Phó Tư lệnh đại quân khu.

Thống tướng

Thống tướng là một danh xưng quân hàm sĩ quan cao cấp nhất trong quân đội của một số quốc gia, trên cả Đại tướng. Quân hàm này thường được xem là tương đương với quân hàm Thống chế hay Nguyên soái ở một số quốc gia khác như Nga, Anh, Pháp, dù nguyên nghĩa của chúng không thực sự đồng nhất.

Trận Vĩnh Yên

Trận Vĩnh Yên là một trận đánh quan trọng của Chiến dịch Trần Hưng Đạo diễn ra từ 13 tháng 1 đến 17 tháng 1 năm 1951. Đây là trận đánh có quy mô cấp trung đoàn trong Chiến tranh Đông Dương giữa lực lượng của Liên hiệp Pháp và Quân đội Nhân dân Việt Nam. Lực lượng quân đội khối Liên hiệp Pháp, do Đại tướng Jean de Lattre de Tassigny làm Tổng chỉ huy, đã thành công trong việc ngăn chặn ý đồ chiếm giữ thị xã Vĩnh Yên của lực lượng Quân đội Nhân dân Việt Nam, do Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Tổng chỉ huy. Việc giữ được thị xã Vĩnh Yên của quân Pháp đã buộc tướng Giáp chấm dứt sớm Chiến dịch Trần Hưng Đạo, không thực hiện được hoàn toàn ý đồ đề ra. Về phía Pháp, việc Quân đội Nhân dân Việt Nam phải bỏ cuộc bao vây Vĩnh Yên đã củng cố sĩ khí của quân đội viễn chinh, cũng như những kinh nghiệm để xây dựng "Phòng tuyến De Lattre" sau này.

Vĩnh Yên

Vĩnh Yên là thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Vĩnh Phúc, Việt Nam.

Vĩnh Yên là trung tâm kinh tế trọng điểm, là đầu mối giao thông quan trọng của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, đây cũng là một trong những thành phố cấp tỉnh có diện mạo thay đổi nhanh nhất của miền Bắc. Là thành phố có nhiều công trình mang những điểm nhấn rất riêng.

Đây là nơi từng diễn ra trận đối đầu đầu tiên của tướng Võ Nguyên Giáp và tướng Jean de Lattre de Tassigny: Trận Vĩnh Yên (tháng 1 năm 1951).

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.