Iceland

Iceland (tiếng Iceland: Ísland phát âm [ˈistlant], phiên âm tiếng Việt: Ai-xơ-len) hay Băng Đảo[8][9][10], là 1 quốc đảo thuộc khu vực châu Âu theo thể chế cộng hòa đại nghị. Đây là 1 trong những quốc gia thưa dân nhất thế giới; tính đến cuối năm 2015, dân số Iceland là 330.823 người, với mật độ dân số 0,31 người/km².

Iceland nằm giáp vòng Cực Bắc nên có khí hậu rất lạnh giá. Tuy nhiên đất nước này lại nằm trên vành đai núi lửa Đại Tây Dương, nên có rất nhiều núi lửa, suối nước nóng và nguồn địa nhiệt khổng lồ. Iceland cũng có rất nhiều sông băng. Nhờ có dòng hải lưu Gulf Stream chảy gần bên, khí hậu Iceland được ôn hòa hơn đôi chút. Iceland còn được gọi với biệt danh là "Vùng đất lửa và băng" (Land of fire and ice).[11]

Lịch sử của Iceland bắt đầu vào năm 874, khi 1 thuyền trưởng người Na Uy tên là Ingólfur Arnarson đến định cư ở hòn đảo. Trong thế kỷ tiếp theo, người Na Uyngười Celt đã đến sinh sống tại Iceland. Đất nước này là 1 phần của Na UyĐan Mạch từ 1262-1944. Sau khi giành được độc lập, nền kinh tế quốc gia này đã phát triển mạnh mẽ, cùng với hệ thống phúc lợi xã hội vào hàng tốt nhất thế giới. Đất nước này xếp thứ 5 thế giới về thu nhập bình quân đầu người, và thứ nhất thế giới về chỉ số phát triển con người (HDI). Với 1 nền kinh tế thị trường, Iceland có các ngành dịch vụ, tài chính rất phát triển. Do có nhiều quang cảnh thiên nhiên độc đáo, Iceland đang ngày càng thu hút khách du lịch quốc tế. Iceland là 1 thành viên của các tổ chức như Liên hiệp quốc, NATO, EFTA, EEA, OECD nhưng không tham gia Liên minh châu Âu.

Cộng hòa Iceland[a]

Flag of Iceland Coat of arms of Iceland
Quốc kỳ Huy hiệu
Bản đồ
Vị trí của Iceland
Vị trí Iceland trên thế giới
Vị trí của Iceland
Vị trí Iceland tại châu Âu
Quốc ca
"Lofsöngur"
Hành chính
Cộng hòa đại nghị
Tổng thốngGuðni Th. Jóhannesson
Thủ tướngBjarni Benediktsson
Thủ đôCoat of arms of Reykjavik Reykjavík
[2]) 64°08′B 21°56′T / 64,133°B 21,933°T
Thành phố lớn nhấtthủ đô
Địa lý
Diện tích102.775[2] km² (hạng 108)
Diện tích nước2,7 %
Múi giờGMT (UTC+0)
Lịch sử
Thành lập
Thế kỷ IXĐịnh cư
9301262Thịnh vượng chung
12621814Liên minh với Na Uy
13801844Quân chủ Đan Mạch
5/1/1874Hiến pháp
1/12/1918Vương quốc Iceland
17/6/1944Cộng hòa
Ngôn ngữ chính thứctiếng Iceland
Sắc tộc
Tôn giáoGiáo hội Iceland[4]
Dân số ước lượng (1/1/2016)332.529 người (hạng 172)
Mật độ (hạng 233)
Kinh tế
GDP (PPP) (2017)Tổng số: 18 tỷ USD[5] (hạng 142)
Bình quân đầu người: 52.500 USD[5] (hạng 18)
GDP (danh nghĩa) (2017)Tổng số: 23 tỷ USD[5]
Bình quân đầu người: 67.570 USD[5] (hạng 6)
HDI (2015)0,921[6] rất cao (hạng 9)
Hệ số Gini (2013)24[7] thấp (hạng 2)
Đơn vị tiền tệKróna (ISK)
Thông tin khác
Mã ISO 3166-1EU ISK
Tên miền Internet.is
Mã điện thoại354
Lái xe bênphải

Lịch sử

Lịch sử ban đầu

Iceland, Carta Marina
Tấm bản đồ Iceland cổ trong tập Carta Marina của Olaus Magnus

Về mặt địa chất, Iceland là 1 hòn đảo trẻ. Iceland hình thành từ 1 chuỗi những vụ phun trào núi lửa cách đây 20 triệu năm tại khe nứt địa mảng Đại Tây Dương. Mẫu vật đá cổ nhất được tìm thấy ở Iceland có niên đại 16 triệu năm. Sau khi hình thành hòn đảo, những vụ phun trào núi lửa vẫn tiếp tục cho đến tận ngày nay ở Iceland.

Thor statue reproduction
1 bức tượng thần Thor được tìm thấy ở Iceland

Iceland đã giữ mình như 1 hòn đảo không có người ở trong 1 thời gian rất lâu. Có ý kiến cho rằng 1 thương nhân Hy Lạp cổ đại tên là Pytheas đã tìm ra Iceland và gọi mảnh đất này bằng cái tên Thule, nhưng giả thuyết này không được hợp lý cho lắm vì Iceland hoàn toàn khác với những lời mô tả của Pytheas như 1 đất nước nông nghiệp với rất nhiều sữa, mật onghoa quả. Khoảng thời gian chính xác về ngày con người đặt chân đến Iceland vẫn là 1 đề tài gây tranh cãi. Những đồng xu La Mã cổ đại vào thế kỷ III đã được tìm thấy tại Iceland, nhưng không ai dám chắc thời gian mà những đồng xu này được mang đến, vì người Viking cũng lưu hành những đồng tiền như vậy trong nhiều thế kỉ.[12]

Có một số bằng chứng văn học rằng những tu sĩ người Ireland đã đến Iceland trước cả người Na Uy. Tuy nhiên lại không có 1 bằng chứng khảo cổ đáng tin cậy nào chứng tỏ điều đó.[13] Vào thế kỷ XII, học giả Ari Þorgilsson đã viết trong cuốn sách Íslendingabók của ông rằng những chiếc chuông nhỏ của các tu sĩ Ireland đã được những người dân nhập cư tìm thấy, tuy nhiên cũng không có bằng chứng khảo cổ để xác minh. một số người Iceland thì cho rằng nguồn gốc của họ là từ vị vua Kjarvalr Írakonungr trong tác phẩm Landnámabók.

Theo tác phẩm Landnámabók, Iceland đã được khám phá ra bởi 1 thủy thủ người Scandinavia tên là Naddoddr, khi ông ta định đi từ Na Uy tới quần đảo Faroe, nhưng bị lạc đường tới bờ biển phía Đông của Iceland. Naddoddr đã đặt tên cho vùng đất này là Snæland (Vùng đất Tuyết). 1 thủy thủ người Thụy Điển tên là Garðar Svavarsson cũng bị lạc tới Iceland. Ông đã khám phá ra đây là 1 hòn đảo và đặt cho nó một cái tên khác là Garðarshólmi (Đồi Garðar). Garðar Svavarsson đã sống tại vùng ngày nay là Húsavík qua mùa đông. Người Scandinavia đầu tiên chủ tâm tìm đường đến Iceland là Flóki Vilgerðarson (hay Hrafna-Flóki). Flóki đã sống ở Iceland 1 thời gian và đặt cho hòn đảo cái tên gọi ngày nay: Ísland, tức là Iceland.

Người đầu tiên đến định cư Iceland là 1 thủ lĩnh Viking người Na Uy, đó là Ingólfur Arnarson. Theo truyền thuyết, ông đã thả 2 chiếc cột chạm khắc xuống biển khi gần tới Iceland và tuyên bố sẽ ở lại bất cứ nơi nào là đất liền. Ông cho đi thuyền dọc theo bờ biển Iceland và dừng lại khi tìm thấy những chiếc cột chạm ở bán đảo phía Tây Nam nước này, nay là bán đảo Reykjanesskagi. Sau đó, Arnarson cùng với gia đình của mình đã sống tại đó năm 874 và đặt tên cho nơi họ đang sống là Reykjavík (Vịnh Khói) do hơi nước nóng bốc lên từ những nguồn địa nhiệt dưới lòng đất. Sau này Reykjavík đã trở thành thủ đô và thành phố lớn nhất Iceland. Tuy nhiên có lẽ Ingólfur Arnarson không phải là người đầu tiên định cư vĩnh viễn ở Iceland mà có lẽ người đó là Náttfari, 1 nô lệ của Garðar Svavarsson sau khi ông chủ của anh ta trở về bán đảo Scandinavia. Những thông tin trên được tìm thấy trong cuốn Landnámabók, cuốn sách kể về những người nhập cư đến Iceland. Tuy nhiên, các nhà sử học Iceland tránh dùng tác phẩm này như nguồn sử liệu chính thức vì có nhiều điều trong cuốn sách mâu thuẫn. Tuy nhiên, đó cũng là tác phẩm đầu tiên kể về lịch sử của Iceland và các khám phá khảo cổ tại Reykjavík đã cho thấy đúng là những người nhập cư đầu tiên đã đến Iceland vào khoảng năm 870.

Ingólfur Arnarson có 1 đoàn tùy tùng đông đảo đi theo gồm các thủ lĩnh Viking, gia đình và những người nô lệ của họ. Những người dân nhập cư này đã đến sống tại tất cả các khu dân cư trên đảo 1 thập kỉ sau đó. Những người đến Iceland này chủ yếu là người Na Uy, IrelandScotland. Trong đó, đa phần người IrelandScotland là những nô lệ bắt được khi người Viking tấn công đất nước của họ. Việc di cư đến Iceland của người Na Uy ngày càng trở nên phổ biến vì họ muốn chạy trốn khỏi ách cai trị tàn bạo của vị vua Na Uy lúc bấy giờ là Haraldur Harfagri, người được cho rằng đã thống nhất các phần của đất nước Na Uy lúc đó.

Trung cổ

Thingvellir1-2
Đồng bằng Thing ở Iceland

Năm 930, các thủ lĩnh cai trị đã thành lập 1 cuộc họp với tên gọi Hội đồng Chấp chính (tiếng Iceland: Alþingi). Cuộc họp này được tổ chức vào mỗi mùa hè tại Đồng bằng Thing (Þingvellir), đây sẽ là lúc các thủ lĩnh họp bàn để đặt ra luật và giải quyết các tranh chấp. Luật pháp không được viết ra làm văn bản mà chỉ được ghi nhớ bởi các nhà hùng biện. Alþingi được coi là 1 trong những kiểu quốc hội cổ xưa mà trong đó, luật pháp được thực thi không phải lúc nào cũng chính xác nên thường dẫn đến những xung đột. Tuy nhiên thời kỳ Liên bang ở Iceland phát triển hầu như không bị đứt quãng. Thời gian này, người Viking đã đến được vùng Tây Nam Greenlandbờ biển phía Đông Canada.

Người Iceland ban đầu thờ cúng những vị thần của người Na Uy như thần Odin, Thor, Freyja. Tuy nhiên đến thế kỷ X, Thiên chúa giáo phát triển mạnh mẽ ở châu Âu đã ảnh hưởng đến tôn giáo ở Iceland và người dân Iceland bắt đầu cải sang tôn giáo mới. Vào khoảng năm 1000, khả năng về 1 cuộc chiến tranh tôn giáo ở Iceland đã gần kề. Hội đồng Chấp chính Alþingi đã quyết định chọn ra 1 thủ lĩnh là Þorgeirr Ljósvetningagoði để ông quyết định tôn giáo chính thức của Iceland. Và ông đã chọn Thiên chúa giáo làm tôn giáo chính thức của đất nước này, tuy nhiên một số người ngoại đạo vẫn bí mật tôn thờ những vị thần cũ. Giám mục đầu tiên của Iceland là Ísleifr Gizurarson, được Giám mục Adalbert của Bremen phong năm 1056.

Vào thế kỷ XIthế kỷ XII, quyền lực chuyển sang tay những dòng họ giàu có. Thời kỳ 1200-1262 được biết đến với tên gọi Sturlungaöld - Thời kỳ của dòng họ Sturlungs, 1 trong 2 thế lực chính tranh giành quyền lực ở Iceland. Năm 1220, Snorri Sturluson đã thần phục vua Hakón của Na Uy, và người cháu trai của ông Sturla Sighvatsson, cũng thần phục Na Uy vào năm 1235. Ông ta đã sử dụng quyền lực và ảnh hưởng của dòng họ Sturlungar để gây chiến chống lại các phe cánh khác ở Iceland. Sau 1 thập kỉ xung đột, các thủ lĩnh Iceland đã đồng ý công nhận chủ quyền của Na Uy và thành lập 1 liên minh với vương triều Na Uy.

Iceland được đặt dưới vương quyền của vua Na Uy cho đến năm 1380, khi vương triều Na Uy không có người kế vị. Đan Mạch đã nhanh chóng sáp nhập cả Iceland và Na Uy vào lãnh thổ của mình. Dưới sự cai trị của Đan Mạch, hoạt động ngoại thương của Iceland bị đình trệ và đến năm 1660, Iceland cũng không còn quyền tự trị và không có luật pháp riêng nữa. Năm 1602, chính quyền Đan Mạch cấm Iceland buôn bán với bất cứ nước nào khác ngoài nước này. Sự độc quyền về thương mại của Đan Mạch đối với Iceland kéo dài đến năm 1854 mới kết thúc.

Vào giữa thế kỷ XVI, vua Christian III của Đan Mạch đã tiếp thu những giáo lý của Luther (Lutheranism). Các mục sư Thiên chúa giáo là Jón Arason và Ögmundur Pálsson đã chống lại tôn giáo cải cách của nhà vua. Ögmundur Pálsson bị trục xuất khỏi Đan Mạch vào năm 1541 nhưng Jón Arason thì vẫn tiếp tục đấu tranh. Cuộc chiến chống lại tôn giáo cải cách kết thúc năm 1550 khi Jón và hai con trai của ông bị bắt và giết hại. Từ sau sự kiện đó, Iceland trở thành 1 nước theo Giáo hội Luther cho đến tận ngày nay.

Hiện đại

Vào thế kỷ XVIII, khí hậu Iceland trở nên tồi tệ nhất kể từ khi những người dân nhập cư đến hòn đảo này. Năm 1783, ngọn núi lửa Laki ở Iceland phun trào, mang theo 12,5 km³ nham thạch. Lũ lụt, tro bụi và khí độc từ vụ phun trào này đã giết chết 9.000 người và 80% số gia súc. Hậu quả tiếp theo đó là 1 nạn đói khủng khiếp, giết chết 1/4 dân số Iceland lúc bấy giờ. Hiệp ước Kiel năm 1814 đã tách Na Uy ra khỏi Đan Mạch, rồi sau đó xảy ra cuộc Chiến tranh Napoléon, khiến Đan Mạch cố gắng giữ Iceland như 1 nước phụ thuộc vào mình.

Sang thế kỷ XIX, tình hình thời tiết ngày càng trở nên tồi tệ hơn, dẫn đến việc 1 bộ phận lớn người dân Iceland bỏ sang Tân thế giới, chủ yếu nhập cư vào vùng Manitoba (Canada). Tuy nhiên, ý thức dân tộc đã hồi sinh ở Iceland trong thời kỳ này, được truyền cảm hứng từ chủ nghĩa lãng mạnchủ nghĩa dân tộc từ châu Âu. Phong trào Vận động Dân tộc tại Iceland được thành lập, dưới sự lãnh đạo của Jón Sigurðsson. Hội đồng Chấp chính Alþingi lỗi thời bị giải thể vào năm 1800 nhưng đến năm 1843, 1 Hội đồng Tư vấn cùng tên được thành lập lại, kế tục Alþingi của Liên bang Iceland.

Năm 1874, Đan Mạch trao cho Iceland quyền tự trị, sau đó được mở rộng hơn vào năm 1904. 1 bản hiến pháp riêng đã được biên soạn vào năm 1874, rồi sau đó được sửa chữa lại năm 1903. Đạo luật Liên bang được ban hành ngày 1/12/1918, với sự đồng ý của Đan Mạch, đã công nhận Iceland là 1 lãnh thổ có chủ quyền thống nhất với Đan Mạch. Iceland có lá cờ riêng và yêu cầu Đan Mạch đại diện cho nước này trong các vấn đề về phòng thủ quân sự.

Ngày 9/4/1940, quân đội Đức xâm chiếm Đan Mạch, cắt đứt sự liên hệ giữa Đan Mạch và Iceland. Kết quả là vào ngày 10/4, Quốc hội Iceland Alþingi đã quyết định tự kiểm soát vấn đề ngoại giao và chọn Sveinn Björnsson làm người đứng đầu chính phủ lâm thời, sau này trở thành tổng thống đầu tiên của Iceland. Trong năm đầu Chiến tranh thế giới thứ hai, Iceland cố gắng giữ mình như 1 nước trung lập và chống lại cả AnhĐức vì cho rằng họ vi phạm sự trung lập của nước này. Ngày 10/5/1940, quân đội Anh xâm lược Iceland. Chính quyền Iceland phản đối lại và gọi đây là hành động can thiệp trắng trợn vào chính sách trung lập của Iceland. Quân Đồng Minh đã chiếm giữ Iceland trong suốt chiến tranh, sau đó được thay thế bởi quân đội Mỹ. Và chính phủ Iceland đã phải đồng ý cho quân đội Mỹ đóng tại nước này.

Reykjavík2
1 con đường tại thủ đô Reykjavík ngày nay

Theo 1 cuộc trưng cầu ý dân, Iceland đã trở thành 1 nước cộng hòa độc lập vào ngày 17/6/1944. Sau khi giành được độc lập, Iceland đã tham gia tổ chức NATO vào ngày 30/3/1949. 2 năm sau, Hiệp định Phòng thủ giữa Mỹ và Iceland được ký kết và quân đội Mỹ quay trở lại đóng tại Iceland trong suốt Chiến tranh Lạnh cho đến tận mùa thu năm 2006 mới kết thúc.

Thời kỳ hậu chiến, Iceland có được sự phát triển kinh tế nhanh chóng do nằm trong Kế hoạch Marshall của Mỹ. Iceland đã tiến hành hiện đại hóa ngành công nghiệp đánh bắt và chế biến cá, xương sống của nền kinh tế nước này và thực hiện các biện pháp tài chính theo thuyết kinh tế của Kaynes. Thập niên 1970 được đánh dấu bởi cuộc Chiến tranh Cá tuyết, do những mâu thuẫn với Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland xung quanh việc Iceland mở rộng hải phận đánh bắt cá. Do quá phụ thuộc vào ngành đánh bắt cá, kinh tế Iceland phát triển không ổn định cho đến năm giữa thập niên 1990, khi nước này tiến hành đa dạng hóa và tự do hóa nền kinh tế, rồi gia nhập EEA (Khu vực Kinh tế châu Âu).

Chính trị

Reykjavik althing
Tòa nhà Quốc hội ở thủ đô Reykjavík

Chính phủ

Quốc hội Iceland hiện nay, Alþingi, được thành lập năm 1845 như 1 cơ quan cố vấn cho vua Đan Mạch. Đây được coi là một sự tiếp nối với Hội đồng Chấp chính Alþingi cổ xưa của Iceland, được thành lập vào năm 930 vào thời kỳ Liên bang và bị giải tán năm 1799. Quốc hội hiện nay có 63 đại biểu, được lựa chọn qua những cuộc tổng tuyển cử 4 năm/lần.

Tổng thống Iceland là người đứng đầu quốc gia nhưng không có thực quyền. Tuy nhiên ông có thể dừng thông qua 1 đạo luật và đưa ra trưng cầu dân ý. Thủ tướng Iceland là người đứng đầu chính phủ, cùng với nội các xem xét các công việc hành pháp. Nội các được bổ nhiệm bởi tổng thống sau mỗi cuộc tổng tuyển cử bầu quốc hội, nhưng thường được lựa chọn bởi chủ tịch của các đảng.

Quốc hội Iceland thường có sự liên kết giữa 2 hoặc nhiều đảng phái với nhau vì không đảng nào giành được đa số ghế trong quốc hội. Nữ tổng thống đầu tiên của thế giới là 1 phụ nữ người Iceland, bà Vigdís Finnbogadóttir, nhiệm kỳ 1980-1996. Các cuộc bầu cử hội đồng địa phương, quốc hội và tổng thống đều được tổ chức 4 năm/lần và không cùng năm với nhau.). Hiện nay Quốc hội nước này duy trì chế độ lưỡng viện. Nghị viện với 63 thành viên, gồm Thượng nghị viện có 21 thành viên và Hạ nghị viện có 42 thành viên, được bầu bằng tuyển cử phổ thông đầu phiếu theo hệ thống đại diện tỷ lệ, nhiệm kỳ năm. Tổng thống được bầu trực tiếp, nhiệm kỳ 4 năm. Tống thống bổ nhiệm Thủ tướng và các thành viên của Nội các. Thủ tướng và Nội các chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Chủ tịch Quốc hội được lựa chọn trong hai Đảng cầm quyền là Đảng Độc lập và Đảng Tiến bộ - Tổng thống đứng trung lập.

Trong cuộc bầu cử quốc hội vào tháng 5 năm 2007, chính phủ mới là một liên minh giữa Đảng Độc lập cánh hữu và Liên minh Dân chủ Xã hội. Thủ tướng là ông Geir Haarde, một người của Đảng Độc lập. Còn tổng thống hiện nay là ông Ólafur Ragnar Grímsson.

Quan hệ ngoại giao 

Iceland, một thành viên của Liên hợp quốc, NATO, EFTA, Hội đồng Châu ÂuOECD duy trì mối quan hệ ngoại giao và thương mại với thực tế ở tất cả các quốc gia, nhưng mối quan hệ với các nước Bắc Âu, Đức, Hoa Kỳ, Canada và các quốc gia NATO khác đặc biệt gần gũi. Theo lịch sử, do những điểm tương đồng về văn hoá, kinh tế và ngôn ngữ, Iceland là một quốc gia Bắc Âu, và tham gia vào hợp tác liên chính phủ thông qua Hội đồng Bắc Âu.

Iceland là một thành viên của Khu vực Kinh tế Châu Âu (EEA), cho phép quốc gia tiếp cận thị trường chung của Liên minh châu Âu (EU). Đây không phải là thành viên của EU, nhưng trong tháng 7 năm 2009, quốc hội Iceland, Althing, đã bỏ phiếu ủng hộ đơn xin gia nhập EU,và chính thức áp dụng vào ngày 17 tháng 7 năm 2009.  Tuy nhiên, năm 2013, các cuộc thăm dò ý kiến ​​cho thấy rằng nhiều người Iceland hiện đang chống lại việc gia nhập EU; sau cuộc bầu cử năm 2013, hai bên thành lập chính phủ mới của hòn đảo - Đảng Tiến bộ Trung ương và Đảng Tự trị cánh hữu - tuyên bố họ sẽ tổ chức trưng cầu về thành viên EU.

Quân đội 

Iceland không có quân đội thường trực, nhưng Đội Cảnh sát biển Iceland vẫn duy trì Hệ thống phòng không Iceland, và Đơn vị Đáp ứng Khủng hoảng Iceland để hỗ trợ các sứ mệnh gìn giữ, thực hiện các nhiệm vụ bán quân sự.

Iceland Defense Force (IDF) là một quân lệnh của lực lượng vũ trang Hoa Kỳ từ năm 1951 đến 2006. Các IDF, được tạo ra theo yêu cầu của NATO, ra đời khi Hoa Kỳ đã ký một thỏa thuận để cung cấp cho việc bảo vệ Iceland. IDF bao gồm các thành viên Iceland và các thành viên quân sự của các quốc gia NATO khác. IDF được giảm bớt sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc và Không quân Hoa Kỳ duy trì bốn đến sáu chiếc máy bay đánh chặn tại Trạm Không quân Hải quân Keflavik, cho đến khi họ rút lui vào ngày 30 tháng 9 năm 2006. Kể từ tháng 5 năm 2008, các quốc gia NATO đã triển khai thường xuyên máy bay chiến đấu để tuần tra không phận Iceland trong sứ mệnh Cải cách Không khí Iceland. Iceland ủng hộ cuộc xâm lược Iraq vào năm 2003 bất chấp nhiều tranh cãi trong nước, triển khai một đội Cảnh sát biển EOD tới Iraq, được thay thế sau đó bởi các thành viên của Tổ chức Đáp ứng khủng hoảng Băng Đảo. Iceland cũng đã tham gia cuộc xung đột đang diễn ra ở Afghanistan và vụ đánh bom Nam Tư năm 1999 của Nam Tư.

Iceland là nhà tổ chức trung lập của hội nghị thượng đỉnh Reagan-Gorbachev vào năm 1986 ở Reykjavík, tạo ra giai đoạn kết thúc Chiến tranh Lạnh. Các vụ tranh chấp quốc tế lịch sử của Iceland liên quan đến các bất đồng về quyền đánh bắt cá. Xung đột với Vương quốc Anh đã dẫn tới một loạt các cuộc gọi là Cuộc chiến tranh Tranh đồng, bao gồm các cuộc đối đầu giữa Lực lượng Cảnh sát Băng Đảo và Hải quân Hoàng gia trên ngư dân Anh, vào năm 1952-1956 do việc mở rộng vùng đánh cá của Iceland từ 3 xuống 4  nmi(5,6 đến 7,4 km, 3,5 đến 4,6 dặm), 1958-1961 sau khi kéo dài thêm 12 nmi (22,2 km, 13,8 dặm), 1972-1973 và một phần khác kéo dài đến 50 nmi (92,6 km, 57,5 ​​mi); và trong giai đoạn 1975-1976 một lần kéo dài thêm 200 nmi (370,4 km; 230,2 dặm).

Theo Chỉ số Hòa bình Toàn cầu, Iceland là quốc gia hòa bình nhất thế giới, do thiếu lực lượng vũ trang, tỷ lệ tội phạm thấp, và mức độ ổn định chính trị-xã hội cao. Sách kỷ lục Guinness công nhận Iceland là "Nước được xếp hạng nhất trong hòa bình" và "Chi tiêu quân sự thấp nhất trên đầu người".

Phân chia hành chính

Iceland được chia thành các khu vực bầu cử, vùng, tỉnh và thành phố tự trị.

Iceland có tất cả sáu khu vực bầu cử. Cho tới tận năm 2003, các khu vực bầu cử vẫn đồng nhất với các vùng. Sự sửa đổi hiến pháp về các khu vực bầu cử diễn ra nhằm mục đích cân bằng lại quyền lực giữa các vùng trong cả nước, bởi vì theo cách bầu cử cũ, các phiếu bầu ở những khu vực hẻo lánh ít dân được tính cao hơn so với khu vực thành phố Đại Reykjavík (gồm thủ đô và 3 thị trấn lân cận), nơi tập trung đông dân cư nhất cả nước. Iceland có những khu vực bầu cử sau:

  • Bắc ReykjavíkNam Reykjavík (khu vực thành phố)
  • Tây Nam (ba thị trấn quanh Reykjavík)
  • Tây BắcĐông Bắc (hai khu vực phía bắc Iceland)
  • Nam (nửa phía nam Iceland, không gồm khu Đại Reykjavík)

Iceland được chia thành 8 vùng, chủ yếu nhằm mục đích thống kê. Dưới vùng là các tỉnh. Iceland có tất cả 23 tỉnh, nhưng lại có 26 tòa án đại diện cho chính quyền tại những khu vực khác nhau. Các tòa án có nhiệm vụ quản lý lực lượng cảnh sát địa phương (trừ Reykjavík), thu thuế, đăng ký kết hôn... Các tỉnh của Iceland được chia tiếp thành 79 thành phố tự trị, quản lý các công việc địa phương như trường học, giao thông.

Constituencies Iceland

6 khu vực bầu cử

Regions of Iceland

8 vùng của Iceland

Sýslur á Íslandi

23 tỉnh của Iceland

Sveitarfélög-landsvæði

79 thành phố tự trị của Iceland

Địa lý

Vị trí

Map of Iceland
Bản đồ Iceland

Iceland là một hòn đảo nằm ở phía bắc Đại Tây Dương, gần kề phía nam Vòng Cực Bắc. Vòng Cực Bắc đi qua một số hòn đảo nhỏ nằm ở ngoài khơi phía bắc Iceland, tuy nhiên không cắt qua hòn đảo chính của nước này. Không giống như Greenland, Iceland được coi là một phần của châu Âu chứ không phải thuộc Bắc Mỹ, mặc dù về mặt địa chất thì Iceland thuộc về cả hai châu lục. Nếu xét về mặt văn hóa, kinh tế và sự tương đồng ngôn ngữ thì Iceland được xếp vào nhóm Bắc Âu cùng với các nước Scandinavia. Iceland là hòn đảo rộng thứ 18 trên thế giới và rộng thứ nhì châu Âu, sau đảo Anh. Iceland có vị trí chiến lược giữa biển Greenland và châu Âu.

Tổng diện tích của Iceland là 103.000 km², trong đó phần đất là 100.250 km² còn phần nước là 2.750 km²[14].

Diện tích các vùng địa hình:

  • Thảm thực vật: 23.805 km²
  • Hồ: 2.757 km²
  • Sông băng: 11.922 km²
  • Đất hoang: 64.538 km²

Diện tích đất con người sử dụng:

  • Đất trồng trọt được: 0,07%
  • Đất trồng cây quanh năm: 0%
  • Đồng cỏ quanh năm: 23%
  • Rừng cây gỗ: 1%
  • Mục đích khác: 76%

Địa hình

Iceland satellite
Ảnh chụp Iceland từ vệ tinh vào ngày 29 tháng 1 năm 2004

Khoảng 11% diện tích[15] của Iceland được bao phủ bởi các sông băng với tổng diện tích lên tới 11.922 km², trong đó ba sông băng rộng nhất là Vatnajökull (8.300 km²), Langjökull (953 km²), Hofsjökull (925 km²). Ngoài ra còn có một số sông băng nhỏ hơn như Mýrdalsjökull, Drangajökull, Eyjafjallajökull và Snæfellsjökull. Vào mùa đông, phần lớn diện tích của Iceland bị bao phủ bởi băng và tuyết, như ta có thể thấy trên hình bên. Khu vực trung tâm hòn đảo là Cao nguyên Iceland có khí hậu khắc nghiệt và là nơi không thể sinh sống được. Khu vực ven biển Iceland là những vùng đất thấp. Các vịnh biển fio được tạo thành do nước biển nhấn chìm các thung lũng sông băng cũ ăn sâu vào đất liền làm tăng độ dài đường bờ biển của Iceland lên tới 4.970 km[16]. Khu vực ven biển là nơi sinh sống chủ yếu của người dân Iceland.

Điểm cao nhất của Iceland là ngọn núi Hvannadalshnúkur, cao 2.110 m. Còn điểm thấp nhất của Iceland là phá Jölkulsárlón (-146 m).

Erupting geysir
Geysir phun trào ở thung lũng Haukadalur, đây là mạch nước phun lâu đời nhất được biết đến trên thế giới

Là một hòn đảo trẻ, lại nằm trên vành đai núi lửa Đại Tây Dương, Iceland là một trong những nơi có hoạt động địa chất mạnh mẽ nhất trên thế giới với rất nhiều núi lửa và các suối nước nóng. Núi lửa phun hoặc động đất có thể gây ra rất nhiều thiệt hại cho hòn đảo. Vụ phun trào của núi lửa Laki vào những năm 1783-1784 đã gây ra nạn đói khủng khiếp khiến cho 1/4 dân số của hòn đảo bị chết. Những đám mây bụi từ vụ phun trào này thậm chí đã được nhìn thấy tại nhiều nơi ở châu Âu và còn bay đến một số nơi thuộc châu Áchâu Phi vài tháng sau đó.

Tuy nhiên, người dân Iceland cũng được hưởng nhiều ưu đãi từ núi lửa. Hệ thống sông ngòi và thác nước rộng lớn tại đất nước này cung cấp một nguồn thủy điện lớn cho người dân sử dụng với giá rất rẻ. Người dân Iceland sử dụng hơi nóng từ những nguồn địa nhiệt để sưởi ấm cho nên hòn đảo gần như không phải đốt nhiên liệu hóa thạch gây ô nhiễm môi trường. Những suối nước nóng phun lên từ lòng đất là một món quà lớn khác mà thiên nhiên dành cho Iceland. Núi lửa cũng mang lại cho Iceland lượng đất badan màu mỡ và một số khoáng chất như rhyolite và andesite.

Iceland được sở hữu Surtsey, một trong những hòn đảo trẻ nhất thế giới được hình thành sau chuỗi phun trào núi lửa dưới biển từ năm 1963-1968.

Khí hậu

Iceland Köppen
Phân loại khí hậu Köppen Iceland
Eyjafjallajökull.jpeg
Sông băng Eyjafjallajökull, một trong những sông băng nhỏ của Iceland

Khu vực bờ biển của Iceland có khí hậu ôn đới hải dương lạnh. Dòng biển nóng Bắc Đại Tây Dương đã mang đến cho hòn đảo một khí hậu ấm áp hơn so với những nơi khác cũng vĩ độ. Vùng bờ biển Iceland có một mùa đông tương đối dễ chịu, trời nhiều mây còn vào mùa hạ thì mát mẻ và ẩm ướt.

Nhiệt độ ban ngày dao động trong khoảng từ 0 đến 3 °C vào mùa đông và từ 12 đến 15 °C vào mùa hè, mặc dù trong đất liền có thể mát hơn đáng kể. Vào mùa hè, ở một số địa điểm đặc biệt, nhiệt độ cao hơn đáng kể (trên 20 °C) xảy ra. Đặc biệt là do "Dòng Vịnh" (Hải lưu Gulf Stream) nên ở phía nam của hòn đảo tương đối hiếm có tuyết.

Có những sự tương phản về khí hậu giữa các vùng của hòn đảo. Vùng bờ biển phía nam Iceland thường ấm và ẩm ướt hơn so với bờ biển phía bắc. Còn những vùng đất thấp trong nội địa thì lại vô cùng khô hạn. Tuyết rơi nhiều hơn ở phía bắc của Iceland. Và trong khi vùng bờ biển Iceland có khí hậu tương đối ôn hòa thì khu vực cao nguyên trung tâm lại có khí hậu vô cùng lạnh giá, thường xuyên không có người ở.

Nhiệt độ cao nhất ghi được là 30,5 °C vào ngày 22 tháng 6 năm 1939 tại Teigarhorn thuộc bờ biển phía đông nam Iceland. Còn nhiệt độ thấp nhất ghi được là -38 °C ghi được ngày 22 tháng 1 năm 1918 tại Grímsstaðir và Möðrudalur thuộc vùng nội địa đông bắc. Tại thủ đô Reykjavík, nhiệt độ cao nhất ghi được là 24,8 °C vào ngày 11 tháng 8 năm 2004, còn nhiệt độ thấp nhất ghi được là -24,5 °C vào ngày 21 tháng 1 năm 1918.

Thực vật và động vật

Icelandic-Sheep-20030608
Những chú cừu trên đồng cỏ Iceland

Từ sau khi Thời kỳ Băng hà kết thúc, các loài thực vật và động vật chỉ có khoảng thời gian ngắn ngủi 10.000 năm để nhập cư vào Iceland và tiến hóa. Khoảng 3/4 đất đai ở Iceland cằn cỗi không thích hợp cho thực vật sinh trưởng. Loài thực vật chủ yếu ở đây là các loại cỏ mọc trên những cánh đồng chăn nuôi gia súc rộng lớn. Loại cây thân gỗ duy nhất của Iceland là một giống cây bulô phương bắc có tên gọi Betula pubescens. Trước khi con người tới, các rừng cây bulô chiếm 25-40% diện tích đất màu ở Iceland, nhưng qua nhiều thế kỉ, do sự chặt phá của con người, diện tích của rừng giảm dần và đến đầu thế kỷ XX thì còn lại rất ít. Điều này gây ra nhiều hậu quả khôn lường như xói mòn đất, mà đất lại là một tài nguyên rất quý đối với Iceland. Con người đã cố gắng trồng lại các rừng cây bulô nhưng chất lượng rừng không thể bằng được rừng tự nhiên.

Khi con người đến Iceland, họ đã mang đến một số gia súc mà ngày nay ta có thể thấy như cừu Iceland, và đặc biệt là giống ngựa rất khỏe của đất nước này. Có rất nhiều ở những vùng biển xung quanh Iceland. Đánh bắt cá đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế Iceland, chiếm tới hơn một nửa tổng sản phẩm xuất khẩu của nước này.

Các loài thú hoang dã ở Iceland gồm có cáo Bắc Cực, chồn, chuột, thỏtuần lộc. Chúng di cư đến Iceland vào cuối Thời kỳ Băng hà, khi mặt nước biển còn đang đóng băng. Vào khoảng trước năm 1900, một số con gấu Bắc Cực cũng thỉnh thoảng ghé thăm Iceland trên những tảng băng trôi từ Greenland. Do khí hậu lạnh đặc trưng, Iceland không có bất cứ một loài bò sát hay lưỡng cư nào, vì chúng là những động vật biến nhiệt. Theo ước tính, Iceland có khoảng 1300 loài côn trùng.

Nhân khẩu

Dân số

Từ khi những người dân nhập cư đầu tiên đến Iceland cho đến tận giữa thế kỷ XIX, dân số của nước này dao động trong khoảng từ 40.000 đến 60.000 người. Trong khoảng thời gian đó, các yếu tố như khí hậu khắc nghiệt, những vụ phun trào núi lửa cũng như các dịch bệnh đã ảnh hưởng rất bất lợi đối với dân số của Iceland. Tiêu biểu là vụ phun trào của núi lửa Laki vào cuối thế kỷ XVIII khiến 1/4 dân số hòn đảo thiệt mạng. Cuộc điều tra dân số đầu tiên ở Iceland diễn ra vào năm 1703, lúc đó dân số nước này là 50.358 người. Từ giữa thế kỷ XIX đến nay, điều kiện sống được cải thiện cộng với một hệ thống phúc lợi xã hội tốt đã khiến cho dân số Iceland tăng lên nhanh chóng. Dân số Iceland đã tăng nhanh từ 60.000 người (năm 1850) lên 300.000 người (năm 2006). Dân số năm 2007 của Iceland là 301.931 người[18].

Khác với nhiều nước châu Âu khác đang bước vào thời kỳ suy giảm dân số, dân số của Iceland hiện nay được đánh giá là tăng khá nhanh. Tốc độ tăng dân số của Iceland đạt 0,84%, chỉ đứng sau các nước Ireland, LuxembourgLiechtensteinTây Âu[19].

Hellnar church
Một nhà thờ trong làng Hellnar, ở phía nam của bán đảo Snæfellsnes.

Người Iceland có nguồn gốc từ những người Na Uy và người Celt nhập cư vào đất nước này từ lâu đời. Người Iceland ngày nay là kết quả của sự hòa trộn đồng nhất giữa tổ tiên Na Uy và Celt của họ. Năm 2004, 20.665 người (tương đương 7% dân số Iceland) được sinh ra ở nước ngoài. Trong khi đó thì 10 636 người (3,6% dân số) có mang một quốc tịch nước ngoài. Những cộng đồng dân cư nước ngoài đông nhất tại Iceland là người Ba Lan, Đan Mạch, Nam Tư cũ, PhilippinesĐức, chiếm khoảng 6% dân số.

Khi những người dân nhập cư đầu tiên đến Iceland, họ chủ yếu tôn thờ những vị thần của Na Uy. Sau đó, Iceland trở thành một quốc gia theo đạo Cơ đốc từ thế kỷ X. Đến giữa thế kỷ XVI, dưới sự cai trị của vua Christian III của Đan Mạch, Iceland cải theo Giáo hội Luther cho đến tận ngày nay. Theo số liệu năm 2004, khoảng 85,5% dân số Iceland theo Giáo hội Luther, 2,1% theo tôn giáo Tự do Reykjavík, 2% theo Công giáo La Mã, 1,5% theo tôn giáo Tự do Hafnarfjorou. Các nhóm Cơ Đốc giáo khác chiếm tỉ lệ khoảng 2,7%. Số còn lại không rõ hoặc không có tôn giáo[18].

Những thành phố lớn

Thành phố đông dân cư nhất của Iceland là thủ đô Reykjavík. Reykjavík cùng với các thị trấn lân cận khác là Kópavogur, HafnarfjörðurGarðabær tạo thành khu vực Đại Reykjavík, chiếm tới hai phân ba dân số nước này. Reykjavík là thành phố duy nhất của Iceland có dân số vượt quá 100.000 người. Dân số của riêng thành phố là 117 099 dân, còn nếu tính cả khu vực Đại Reyljavík thì tổng cộng là 192.996 người. Reykjavík là thủ đô nằm xa nhất về phía bắc của thế giới.

Các thành phố có dân số trên 10.000 dân khác là Akureyri, Hafnarfjörður, Keflavík, Kópavogur.

Kinh tế

NesjavellirPowerPlant edit2
Nhà máy địa nhiệt Nesjavellir, cung cấp nước nóng cho khu vực Đại Reykjavík

Iceland là một trong những quốc gia có nền kinh tế phát triển nhất thế giới. Thu nhập bình quân của người Iceland năm 2005 đạt 19.444 USD, xếp thứ 12 thế giới và cao hơn cả nhiều nước công nghiệp phát triển như Mỹ, Anh, Pháp. Nền kinh tế phát triển cộng với hệ thống phúc lợi xã hội tốt đã khiến cho chỉ số phát triển con người của Iceland rất cao, xếp thứ nhất thế giới (xem Danh sách quốc gia theo chỉ số phát triển con người). Dựa trên hệ số Gini, Iceland có tỷ lệ bất bình đẳng thu nhập thấp. Iceland là nước có điều kiện sống tốt nhất trên thế giới.[20]

Trong cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính thế giới năm 2008, nền tài chính của Iceland đã lâm vào một cuộc khủng hoảng trầm trọng với những khoản nợ lớn bằng 10 lần GDP, đưa đất nước này rơi vào tình trạng "phá sản". Đây là cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất đối với Iceland từ trước đến nay.[21] Cuộc khủng hoảng về tài chính này cũng làm sụp đổ chính phủ liên minh tại Iceland và dự kiến trong năm 2009, kinh tế nước này sẽ tăng trưởng -9,6%.[22] GDP đã có sự tăng trưởng trở lại vào năm 2011, và đã giúp thúc đẩy một xu hướng giảm dần cho tỷ lệ thất nghiệp. Thâm hụt ngân sách của chính phủ đã giảm từ 9,7% GDP trong năm 2009 và 2010 xuống 0,2% GDP trong năm 2014 [23]; tỷ lệ nợ / GDP của chính phủ dự kiến sẽ giảm xuống dưới 60% vào năm 2018 từ mức tối đa là 85% vào năm 2011 [24]. Sự tăng trưởng của nền kinh tế của Iceland thời gian gần đây đã được nhìn nhận như một câu chuyện thành công về sự hồi phục kinh tế nhanh chóng sau khủng hoảng ở châu Âu [25].

Các ngành kinh tế

Các sản phẩm nông nghiệp chủ yếu của Iceland là khoai tây, củ cải, rau xanh trồng trong nhà kính, thịt cừu, bơ sữa và cá. Kinh tế Iceland phụ thuộc rất lớn vào ngành đánh bắt và chế biến cá. Cá chiếm tới 40% tổng sản phẩm xuất khẩu của Iceland và cung cấp 8% việc làm cho người dân nước này. Kinh tế Iceland rất dễ bị tổn thương do sản lượng cá đánh bắt được hàng năm giảm dần và do giá cả loại sản phẩm này cũng như các tài nguyên khác của Iceland là nhôm và sắt silicon trên thị trường thế giới giảm sút. Thời gian gần đây, chính phủ Iceland tiến hành đa dạng hóa và tự do hóa nền kinh tế nhằm làm giảm sự phụ thuộc vào ngành đánh bắt cá của nước này, đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế bền vững hơn. Sản xuất công nghiệp và các ngành công nghệ hiện đại như dịch vụ phần mềm, dịch vụ tài chính, công nghệ sinh học được đẩy mạnh. Thị trường chứng khoán của Iceland được thành lập vào năm 1985. Là một nước thưa dân ở phía bắc với rất nhiều cảnh quan thiên nhiên phong phú, Iceland đang phát triển mạnh ngành du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái. Tỉ trọng các ngành của kinh tế Iceland như sau: nông nghiệp chiếm 8,4%, công nghiệp chiếm 15,6% và dịch vụ chiếm 76% GDP[26].

Ngoại thương chiếm khoảng 40% tổng thu nhập từ xuất khẩu hàng hóa, chiếm 7% lực lượng lao động, làm việc chủ yếu trong nghề đánh bắt cá và công nghiệp chế biến cá. Năm 2006, xuất khẩu của Iceland đạt 3.587 tỉ USD, chủ yếu là và các sản phẩm từ cá (chiếm tổng cộng 70%), các sản phẩm từ động vật, nhôm, một số khoảng sản khác như sắt silicon, diatomite. Các thị trường xuất khẩu chính của Iceland là Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland (17,9%), Đức (16,4%), Hà Lan (13%), Mỹ (8,1%), Tây Ban Nha (7,7%), Đan Mạch (4,3%).

Nhập khẩu của Iceland năm 2006 đạt 5.189 tỉ USD, cao hơn nhiều so với xuất khẩu. Các sản phẩm mà Iceland nhập khẩu chủ yếu là máy móc, thiết bị, dầu mỏ, thực phẩm, vải. Iceland nhập khẩu các sản phẩm trên từ các nước là Đức (13,4%), Mỹ (9,1%), Thụy Điển (8,6%), Đan Mạch (7,3%), Na Uy (7,2%), Vương quốc Liên hiệp Anh và bắc Ireland (5,9%), Trung Quốc (5,3%), Hà Lan (5%)...

Công nghiệp luyện nhôm là ngành công nghiệp sử dụng năng lượng quan trọng nhất tại Iceland và hiện tại đang có 3 nhà máy đang đi vào hoạt động là nhà máy Rio Tinto Alcan, Nordurál và Alcoa.

Công nghiệp sản xuất trang thiết bị cho tàu thủy và công nghiệp chế biến cá phát triển, trước hết phục vụ cho nhu cầu trong nước. Các thiết bị tàu đánh cá do Iceland sản xuất được xuất khẩu rộng rãi trên thị trường thế giới bao gồm tàu đánh cá có lưới kéo.

Iceland có rất nhiều sông suối, thác nước và một nguồn địa nhiệt khổng lồ dưới lòng đất. Những nguồn năng lượng này đã cung cấp 99% sản lượng điện cho Iceland. Nguồn nhiệt để sưởi ấm của Iceland được lấy trực tiếp từ những nguồn địa nhiệt dồi dào trong lòng đất nên giá thành rất rẻ. Iceland gần như không phải đốt các loại nhiên liệu hóa thạch gây ô nhiễm môi trường nào như than hay khí đốt nên là một trong những đất nước sạch nhất thế giới. Nesjavellir là dự án nhiệt điện lớn nhất tại Iceland, trong khi đập Kárahnjúkar là nhà máy thủy điện lớn nhất tại nước này.

Diện tích đất có thể trồng trọt được chiếm 19% diện tích cả nước, nhưng diện tích được canh tác chỉ chiếm 1% diện tích cả nước, chủ yếu là trồng cỏ và chăn nuôi, và hàng năm chỉ canh tác được từ 4-5 tháng. Iceland có khoảng 4.700 nông trại cỡ trung bình là 1.200 ha, trong đó 85% là thuộc tư nhân và khoảng 4,8% lực lượng lao động làm việc trong khu vực nông nghiệp.

Giao thông

Icelandair.b757-200.tf-fin.arp
Một chiếc máy bay Boeing 757-200, loại máy bay chủ yếu ở Iceland

Giao thông ở Iceland chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như địa hình gồ ghề, điều kiện khí hậu phức tạp. Iceland hiện nay là một trong số ít quốc gia và vũng lãnh thổ vẫn chưa có đường sắt, mặc dù một dự án xây dựng đường sắt đang được triển khai lần đầu tiên giữa KeflavíkReykjavík. Iceland có tổng cộng 13.034 km đường bộ, việc xây dựng đường sá được bắt đầu vào năm 1900 và xúc tiến mạnh trong năm 1980. Các dịch vụ đường biển và đường hàng không kết nối Iceland với các nước khác trong khu vực, gồm châu ÂuBắc Mĩ. Vào năm 1999, Iceland có tổng cộng 86 sân bay. Hãng hàng không quốc gia Iceland, Icelandair là một trong những nơi cung cấp nhiều việc làm nhất tại nước này.

Tiền tệ

Đồng tiền chính thức được sử dụng tại Iceland là đồng Króna hay krónur (íslensk króna, viết tắt là ISK). Một króna bằng 100 xu (aurar hay eyrir). Các mệnh giá tiền xu là 1, 5, 10, 50 và 100 króna, còn các mệnh giá tiền giấy là 500, 1000, 2000 và 5000 króna. Tỷ giá hối đoái giữa Dollar Mỹ và đồng króna là 1 USD/70.195 króna (năm 2006). Tỷ lệ lạm phát năm 2006 là 6,8%. Iceland có thể sẽ gia nhập nhóm các nước sử dụng đồng tiền chung châu Âu euro trong tương lai, mặc dù không phải là một thành viên của Liên minh châu Âu.

Văn hóa

Những tác phẩm văn học kinh điển của Iceland là các truyện dân gian (sagas), đó là các bộ sử thi bằng văn xuôi được viết vào thời kỳ người định cư đến Iceland. Nổi tiếng nhất là tác phẩm Njáls saga, kể về một mối hận thù truyền kiếp và hai tác phẩm Grænlendinga sagaEiríks saga kể về những chuyến phiêu lưu khám phá và di cư đến Greenland và Vinland (nay là Newfoundland). Egils saga, Laxdæla saga, Grettis saga, Gísla sagaGunnlaugs saga ormstungu cũng rất nổi tiếng trong các truyện dân gian của Iceland. Đất nước này cũng sản sinh ra nhiều nhà văn nổi tiếng như Halldór Laxness, Guðmundur Kamban, Tómas Guðmundsson, Davíð Stefánsson, Jón Thoroddsen, Guðmundur G. Hagalín, Þórbergur Þórðarson và Jóhannes úr Kötlum. Halldór Laxness là nhà văn đầu tiên của Iceland đoạt giải thưởng Nobel Văn học vào năm 1955.

Thorramatur
Þorramatur

Kiến trúc ở Iceland chịu ảnh hưởng lớn của kiến trúc Scandinavia. Khi những người dân Viking di cư đến Iceland, họ không thể tìm được nhiều gỗ để làm nhà vì Iceland có rất ít rừng cây gỗ, do vậy họ đã sáng tạo ra kiểu nhà cỏ, một nét kiến trúc rất đặc sắc của Iceland. Những ngôi nhà cỏ ngày nay nằm chủ yếu ở thôn quê và không còn được xây dựng tiếp nữa, một số trở thành địa điểm tham quan cho du khách. Tại các thành phố lớn như thủ đô Reykjavík, kiến trúc hiện đại chiếm ưu thế, tuy nhiên vẫn xen lẫn nhiều công trình mang kiến trúc cổ như các nhà thờ.

Þorramatur là món ăn dân tộc của Iceland, thường được ăn vào tháng 1tháng 2 để tưởng nhớ tổ tiên. Món ăn này gồm rất nhiều những thành phần khác nhau. Một số món ăn khác rất phổ biến ở Iceland là Hákarl (thịt cá mập để lâu), graflax (cá hồi ướp muối với cây thì là), hangikjöt (thịt cừu hun khói), slátur (xúc xích làm từ ruột cừu), skyr (một thức uống làm từ sữa thường kèm theo quả việt quất vào mùa hè như một món tráng miệng).

FWC 2018 - Group D - ARG v ISL - Photo 195
Người hâm mộ Iceland tại World Cup 2018

Iceland là một quốc gia của những con người khỏe mạnh. Thanh thiếu niên Iceland tham gia rất nhiều các hoạt động thể thao như bóng đá, điền kinh, bóng rổ. Các môn thể thao khác như golf, tennis, bơi, cờ vua, cưỡi ngựa cũng hết sức phổ biến. Cờ vua là một thú tiêu khiển được yêu thích của tổ tiên Viking của người Iceland. Nước này có rất nhiều kiện tướng cờ vua như Friðrik Ólafsson, Jóhann Hjartarson, Margeir Pétursson, và Jón Arnason. Glíma là một môn vật cổ khởi nguồn từ thời kỳ xa xưa của nước này. Bơi và cưỡi ngựa rất được yêu thích tại Iceland. Và môn golf được 1/8 dân số nước này chơi. Bóng ném được coi là môn thể thao quốc gia ở Iceland và độ tuyển bóng ném Iceland được xếp hạng cao trên thế giới. Đội tuyển bóng đá nữ của nước này cũng nằm trong nhóm tốt nhất thế giới. Bên cạnh đó, còn có một số môn thể thao mạo hiểm khác như leo núi cũng được ưa chuộng. Đội tuyển bóng đá quốc gia Iceland lần đầu tiên tham dự Euro 2016 và đã gây bất ngờ lớn khi lọt vào tứ kết của giải ở ngay lần đầu tham dự.

Phong tục tập quán

Festival procession in Reykjavik
Đoàn diễu hành trong ngày quốc khánh tại thủ đô Reykjavík

Iceland là một trong những nước bình đẳng về giới tính nhất thế giới, rất nhiều phụ nữ Iceland làm việc ở những vị trí lãnh đạo trong chính phủ và các doanh nghiệp. Sau khi lấy chồng, phụ nữ Iceland giữ nguyên tên họ của mình. Iceland có một bộ luật rất khắt khe để bảo vệ quyền trẻ em. Những hành vi ngược đãi thân thể hay tinh thần của trẻ em đều bị trừng phạt rất nghiêm khắc, thậm chí có thể bị bỏ tù. Iceland có tỉ lệ người dân sử dụng internet cao nhất thế giới[27].

Iceland cũng là một trong những nước có thái độ cới mở với người đồng tính nữ, đồng tính nam, song tính và chuyển giới nhất thế giới, vì có liên quan đến văn hóa với những nước Bắc Âu khác như Na Uy, Thụy Điển, Đan Mạch (cả ba nước đều thuộc khối Scandinavia). Luật kết hợp dân sự đã được hợp pháp hóa tại nước này vào năm 1996. Vào năm 2010, Iceland đã trở thành quốc gia thứ 9 trên thế giới và là quốc gia thứ 7 tại châu Âu gia nhập nhóm quốc gia cho phép hôn nhân đồng tính.

Người Iceland rất tự hào về đất nước mình. Họ tự hào về di sản văn hóa Viking được thừa hưởng và ngôn ngữ riêng của họ, tiếng Iceland. Người dân Iceland rất quan tâm đến việc bảo vệ truyền thống văn hóa và ngôn ngữ của mình. Những lễ hội phổ biến ở Iceland là Ngày Quốc khánh vào ngày 17 tháng 6 để kỉ niệm ngày Iceland giành độc lập dân tộc năm 1944, lễ hội Sumardagurinn fyrsti được tổ chức ngày đầu tiên của mùa hè và lễ hội Sjómannadagurinn được tổ chức vào mỗi tháng 6 để nhớ ơn những chuyến vượt biển của tổ tiên đến Iceland.

Tôn giáo

Hiến pháp của Iceland quy định quyền tự do tôn giáo, mặc dù Giáo hội Luther là nhà thờ nhà nước. Trong năm 2013, dân số Iceland được chia thành các nhóm tôn giáo như sau:

  • 76,18% là tín hữu Giáo hội Luther Iceland
  • 11,33% là tín hữu của các giáo phái Kitô giáo khác
  • 5.91% hoặc 5,16% không theo tôn giáo nào
  • 1.42% là tín đồ các tôn giáo ngoài Kitô giáo.

Iceland là quốc gia thế tục như các quốc gia Bắc Âu khác. Sự ảnh hưởng của tôn giáo đến chính trị là rất thấp.[28]

Du lịch

Hvalfjörður-Botnsdalur-Iceland-20030527
Quang cảnh một vùng thôn quê ở Iceland

Những năm gần đây, Iceland ngày càng trở nên thu hút khách du lịch quốc tế. Là một nước Bắc Âu dân cư thưa thớt, Iceland có nhiều quang cảnh thiên nhiên tươi đẹp như những vùng đồng cỏ yên bình rộng lớn ở thôn quê, những dãy núi cao, những sông băng lớn hay những thác nước hùng vĩ. Tại Iceland, khách du lịch có thể tham gia loại hình nghỉ dưỡng suối nước nóng. Iceland có rất nhiều các dòng suối nước khoáng nóng chứa nhiều khoáng chất có lợi cho sức khỏe. Du lịch sinh thái với những hoạt động như leo núi, trượt tuyết, cưỡi ngựa cũng rất được ưa chuộng.

Hình ảnh về Iceland

Tự nhiên

Iceland Dettifoss 1972 B

Thác nước Dettifoss

Grímsey Iceland

Đảo Grímsey

Selfoss-Waterfall-Iceland-06050027

Thác nước Selfoss

Vestmannaeyjar009

Cảnh biển ở Vestmannaeyjar

1972 Iceland Geysir-3

Suối nước nóng phun ở Gaysir

PIC009522.JPEG

Gulfoss vào mùa hạ

Kalfárvellir-Snæfellsnes-Iceland-20030528

Thác nước Kalfárvellir ở Snæfellsnes

Skorradalsvatn 2004

Khung cảnh ở Skorradalsvatn

Các thành phố lớn

Austurstræti01

Phố Austurstræti tại thủ đô Reykjavík

Reykjavík03

Thành phố Reykjavík về đêm

Reykjavík belváros 2004 07 12

Một góc phố ở Reykjavík

Reykjavík séð úr Hallgrímskirkju.jpeg

Quang cảnh nhìn từ trên cao Reykjavík

Iceland Plants 4885

Một vườn cây ở Akureyri

Akureyri12

Quang cảnh thành phố Akureyri

HusavikChurch

Nhà thờ tại thành phố Husavík

Xếp hạng quốc tế

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ “Interinstitutional style guide — Annex A5 — List of countries, territories and currencies”. Publications Office of the European Union. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2019.
  2. ^ “Ísland er minna en talið var” (bằng tiếng Iceland). RÚV. 26 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2015.
  3. ^ “Population by country of citizenship, sex and age 1 January 1998–2016”. Reykjavík, Iceland: Statistics Iceland. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2017.
  4. ^ “Constitution of Iceland”. Government of Iceland. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2014. Section VI deals with religion and Article 62 states "The Evangelical Lutheran Church shall be the State Church in Iceland and, as such, it shall be supported and protected by the State". In English this church is commonly called the Church of Iceland.
  5. ^ a ă â b “Iceland”. International Monetary Fund.
  6. ^ “2016 Human Development Report” (PDF). United Nations Development Programme. 2016. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2017.
  7. ^ “Gini coefficient of equivalised disposable income (source: SILC)”. Eurostat Data Explorer. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2013.
  8. ^ “Nghiên cứu lịch sử”. Viện Sử học.
  9. ^ Khánh Huy (10 tháng 10 năm 2017). “Băng đảo có dân số chưa bằng 1/20 Hà Nội giành vé dự World Cup 2018”. VTC. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2018.
  10. ^ Anh Minh (27 tháng 3 năm 2015). “Băng đảo - nơi yêu tinh không phải trò đùa”. VNExpress. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2018.
  11. ^ Iceland: land of fire and ice, Keith Wilson, Geographical Ltd
  12. ^ Eldjám, Kristján (1949). "Fund af romerske mønter på Island". Nordisk Numismatisk Årsskrift: 4–7.
  13. ^ Liber de Mensura Orbis Terrae.
  14. ^ Theo CIA - The World Factbook - Địa lý Iceland
  15. ^ (tiếng Anh) Sông băng ở Iceland
  16. ^ CIA - The World Factbook, Địa lý Iceland
  17. ^ “Populations by religious and life stance organizations 1998–2016”. Reykjavík, Iceland: Statistics Iceland.
  18. ^ a ă CIA - The World Factbook - Con người Iceland
  19. ^ Wikipedia tiếng Anh - Danh sách các quốc gia theo tốc độ gia tăng dân số
  20. ^ “Điều kiện sống ở Iceland tốt nhất thế giới”. Báo Tiền Phong Onine. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2012.
  21. ^ “Iceland inflation soars to 17.1%”. BBC NEWS. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2012. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)(tiếng Anh)
  22. ^ “Iceland: Cracks in the crust”. The Economist. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2012. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)(tiếng Anh)
  23. ^ “Hagstofa Íslands. Helstu hagstærðir hins opinbera 1980–2014” (bằng tiếng Iceland). Statistics Iceland. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2015.
  24. ^ “Stefna í lánamálum ríkisins 2015–2018.” (PDF) (bằng tiếng Iceland). Ministry of Finance and Economic Affairs. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2015. Trích dẫn Stefnter að því að lækka heildarskuldir á tímabilinu þannig að þær verði undir 60% af VLF í árslok 2018.
  25. ^ Forelle, Charles (19 tháng 5 năm 2012). “In European Crisis, Iceland Emerges as an Island of Recovery”. Wall Street Journal.
  26. ^ CIA - The World Factbook Kinh tế Iceland
  27. ^ Tỉ lệ sử dụng internet của các nước trên thế giới
  28. ^ “University of Michigan News Service”. Truy cập 18 tháng 2 năm 2015.
  29. ^ GDP per capita (current US$) The World Bank. Dữ liệu 2010. Truy cập 21/12/2011.
  30. ^ World Economic Outlook Database-September 2011 - Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Dữ liệu 2011. Truy cập 6 tháng 1 năm 2012.
  31. ^ “Human Development Report 2011 - Human development statistical annex” (PDF). HDRO (Human Development Report Office United Nations Development Programme. tr. 127–130. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2011.
  32. ^ Xếp hạng chỉ số tự do kinh tế. Truy cập 3/3/2012.

Liên kết ngoài


Lỗi chú thích: Đã tìm thấy thẻ <ref> với tên nhóm “lower-alpha”, nhưng không tìm thấy thẻ tương ứng <references group="lower-alpha"/> tương ứng, hoặc thẻ đóng </ref> bị thiếu

.is

.is là tên miền quốc gia cấp cao nhất (ccTLD) của Iceland. Các thực thể nước ngoài phải chỉ định một đại diện ở Iceland và chỉ có thể đăng ký tên miền liên quan đến thương hiệu quốc tế của họ.

".is" là từ hai chữ cái đầu của tên nước bằng tiếng Iceland, Ísland (dấu này không thỏa mãn tên miền).

Bảng mã IOC

Ủy ban Olympic Quốc tế (IOC) sử dụng ba ký tự tiêu biểu cho mã quốc gia và chùm ký tự này sẽ đại diện cho các vận động viên trong các kì Đại hội Olympic. Mỗi chùm ký tự đại diện cho Ủy ban Olympic của các quốc gia; nhưng cũng có thể trong các sự kiện quá khứ nó được dùng để đại diện cho liên hiệp các quốc gia hay tập thể cá nhân không đại diện cho bất kì một quốc gia nào.

Bảng mã này có một vài điểm khác biệt so với bảng chuẩn ISO 3166-1 alpha-3. Trong một số tổ chức thể thao khác, chẳng hạn FIFA hay Liên đoàn Thịnh vượng chung Anh, dùng ký hiệu giống với bảng này.

Chiến tranh Triều Tiên

Chiến tranh Triều Tiên (ở Hàn Quốc Hangul: 한국전쟁; Hanja: 韓國戰爭; Romaja: Hanguk Jeonjaeng, "Korean War"; ở CHDCND Triều Tiên Chosŏn'gŭl: 조국해방전쟁; Hancha: 祖國解放戰爭; MR: Choguk haebang chǒnjaeng là cuộc chiến xảy ra và kéo dài từ giữa năm 1950 đến năm 1953 trên bán đảo Triều Tiên bị chia cắt vì sự chiếm đóng tạm thời của Liên Xô và Hoa Kỳ. Chiến sự được châm ngòi vào ngày 25 tháng 6 năm 1950 khi Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (Bắc Triều Tiên) tấn công Đại Hàn Dân quốc (Nam Triều Tiên). Từ một cuộc chiến quy mô nhỏ giữa hai lực lượng đối nghịch trên bán đảo Triều Tiên, quy mô cuộc chiến đã trở nên lớn khi lực lượng của Liên hiệp quốc được Hoa Kỳ lãnh đạo và sau đó là Chí nguyện quân của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa can thiệp.

Lực lượng hỗ trợ chính cho miền Bắc là Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa với sự tiếp ứng hạn chế của Liên Xô trong hình thức các cố vấn quân sự, phi công quân sự và vũ khí. Đại Hàn Dân quốc được lực lượng Liên Hiệp Quốc, chủ yếu là quân đội Hoa Kỳ, hỗ trợ. Trước cuộc xung đột, CHDCND Triều Tiên và Đại Hàn Dân quốc tồn tại như hai chính phủ lâm thời đang tranh giành ảnh hưởng kiểm soát toàn bộ Bán đảo Triều Tiên.

Sau ba năm, chiến cuộc tạm ngưng khi hai miền đạt được một thỏa hiệp ngừng bắn vào ngày 27 tháng 7 năm 1953, và vì không có hiệp định hòa bình nên trên thực tế, cuộc chiến này vẫn chưa kết thúc cho đến tận nay. Xung đột quy mô nhỏ vẫn diễn ra, hai bên tiếp tục ở trong tình trạng chiến tranh và có thể phát động tấn công bất ngờ mà không cần tuyên chiến. Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (Bắc Triều Tiên) vẫn tiếp tục đầu tư rất lớn cho quân đội và coi việc thống nhất đất nước Triều Tiên là mục tiêu cao nhất của họ. Trong khi đó, Mỹ vẫn duy trì 28.000 quân tại Hàn Quốc để ngăn chặn việc Bắc Triều Tiên tấn công Hàn Quốc một lần nữa. Hiện nay, lập trường của hai bên là đối nghịch nhau khi họ đều cho rằng chính phủ mình mới là hợp pháp và chính danh trong việc tấn công đối phương nhằm thống nhất đất nước Triều Tiên.

Chiến tranh biên giới Việt–Trung 1979

Chiến tranh biên giới 1979, hay thường được gọi là Chiến tranh biên giới Việt – Trung năm 1979, là một cuộc chiến ngắn nhưng khốc liệt giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, nổ ra vào ngày 17 tháng 2 năm 1979 khi Trung Quốc đưa quân tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới giữa 2 nước.Chiến tranh biên giới Việt - Trung bắt nguồn từ quan hệ căng thẳng kéo dài giữa hai quốc gia, kéo dài trong khoảng một tháng với thiệt hại về người và tài sản cho cả hai phía.

Cuộc chiến kết thúc khi Trung Quốc tuyên bố hoàn thành rút quân vào ngày 16 tháng 3 năm 1979 sau khi Chủ tịch Tôn Đức Thắng bên phía Việt Nam kí lệnh Tổng động viên toàn dân và Trung Quốc đã đánh chiếm các thị xã Lạng Sơn, Lào Cai, Cao Bằng và một số thị trấn vùng biên. Mặc dù chịu thiệt hại lớn và thất bại trong việc buộc Việt Nam phải rút quân khỏi Campuchia nhưng Trung Quốc đã chứng minh được rằng đối thủ Liên Xô sẽ không trực tiếp tham chiến để bảo vệ đồng minh Việt Nam của mình. Cuộc chiến cũng để lại hậu quả lâu dài đối với nền kinh tế Việt Nam và căng thẳng trong quan hệ giữa hai nước. Xung đột vũ trang tại biên giới giữa hai nước vẫn còn tiếp diễn thêm hơn mười năm. Tới năm 1991, Quan hệ ngoại giao Việt–Trung mới chính thức được bình thường hóa.

Danh sách các quốc gia không có lực lượng vũ trang

Đây là một danh sách các quốc gia không có lực lượng vũ trang. Thuật ngữ "quốc gia" được sử dụng với nghĩa lãnh thổ độc lập, do đó nó chỉ áp dụng với các quốc gia có chủ quyền và không phải là thuộc địa (ví dụ như Guam, Quần đảo Bắc Mariana, Bermuda), nơi mà quốc phòng thuộc trách nhiệm của một quốc gia khác hoặc một phương án thay thế quân đội. Thuật ngữ "lực lượng vũ trang" đề cập đến tất cả lực lượng quân đội do chính phủ tài trợ được sử dụng để mở rộng các chính sách đối nội và đối ngoại. Một vài quốc gia trong danh sách, ví dụ như Iceland và Monaco, không có quân đội, nhưng vẫn có lực lượng quân đội dân sự.Rất nhiều quốc gia trong danh sách có một hiệp ước lâu đời với mẫu quốc cũ; một ví dụ là hiệp ước giữa Monaco và Cộng hòa Pháp đã tồn tại ít nhất 300 năm. Các nước trong Hiệp ước Liên kết Tự do gồm Quần đảo Marshall, Liên bang Micronesia (FSM) và Cộng hòa Palau không có quyền quyết định trong các vấn đề quốc phòng, và có rất ít tiếng nói trong các quan hệ quốc tế. Ví dụ như khi FSM thương lượng một hiệp ước quốc phòng với Hoa Kỳ, họ ở trong thế yếu vì phụ thuộc hầu như hoàn toàn vào trợ cấp của người Mỹ. Andorra có một lực lượng quân đội nhỏ và có thể yêu cầu viện trợ quốc phòng nếu cần thiết, trong khi Iceland từng có một hiệp ước độc đáo với Hoa Kỳ tồn tại cho đến năm 2006, yêu cầu họ phải cung cấp sự bảo vệ cho Iceland nếu cần thiết.Các quốc gia còn lại chịu tự trách nhiệm cho vấn đề quốc phòng của đất nước mình, với bất cứ lực lượng vũ trang nào hoặc các lực lượng vũ trang bị hạn chế. Một vài quốc gia, như Costa Rica, Haiti và Grenada, đang trong quá trình giải trừ quân bị. Các quốc gia khác được thành lập mà không có lực lượng vũ trang, như Samoa hơn 50 năm trước; cũng là lý do chính khiến họ đã hoặc đang nằm trong sự bảo vệ của một nước khác trong thời điểm giành độc lập.

Nhật Bản không nằm trong danh sách này vì trong khi đất nước không có quân đội chính thức theo Điều 9 trong Hiến pháp, Nhật Bản vẫn có Lực lượng Phòng vệ, một đội quân bảo vệ chủ quyền đất nước chỉ có thể được điều động bên ngoài biên giới Nhật Bản bởi Liên hiệp quốc cho nhiệm vụ gìn giữ hòa bình.

Giải thưởng âm nhạc Shortlist

Giải thưởng âm nhạc Shortlist (tên gốc: Shortlist Music Prize; cách điệu thành (shôrt–lĭst)), là một giải thưởng âm nhạc thường niên dành cho album xuất sắc nhất phát hành tại Hoa Kỳ với doanh số chưa tới 500.000 bản, tính tới thời điểm đề cử. Chương trình do hai nhà chỉ đạo của ngành công nghiệp âm nhạc, Greg Spotts và Tom Serig, sáng lập một cách luân phiên với giải Grammy. Giải thưởng được trao tặng lần đầu bằng tiền mặt, dưới tên gọi Giải thưởng Shortlist cho Thành tựu nghệ thuật âm nhạc. Một ban giám khảo ("Listmakers") gồm các thành viên là những người làm việc trong ngành công nghiệp giải trí và nhà báo chọn ra người thắng giải. Hơn 50 album hay nhất trong 12 tháng được lựa chọn vào danh sách Shortlist, từ đó chọn ra người chiến thắng. Kể từ năm 2003, một bức tượng vàng mang tên "The Shorty" được trao cùng với một phần tiền mặt. Năm 2005, chương trình đổi tên thành New Pantheon vì xung đột giữa những nhà sáng lập. Chưa có đề cử hay người chiến thắng nào được công bố kể từ mùa giải 2007.Dựa trên giải Mercury của Anh, Giải thưởng âm nhạc Shortlist dùng để vinh danh "những album mạo hiểm và sáng tạo nhất năm ở tất cả thể loại âm nhạc". Cuối năm 2001, ban nhạc post-rock người Iceland Sigur Rós trở thành những người chiến thắng đầu tiên tại lễ trao giải diễn ra ở Knitting Factory Hollywood. Chuỗi cửa hàng bán lẻ Virgin Megastores là nhà tài trợ cho giải thưởng trong năm đầu tiên. Định dạng của chương trình tiếp tục giữ nguyên trong những năm kế tiếp nhưng các buổi lễ lại diễn ra tại những nhà hát khác nhau. Tower Records mở một cửa hàng trực tuyến dành riêng cho giải thưởng, bao gồm CD nghe thử của mỗi nghệ sĩ đề cử. Đa số người thắng cử là những ca sĩ kiêm sáng tác nhạc: nhạc sĩ người Iceland Damien Rice giành giải năm 2003, nhạc sĩ người Mỹ Sufjan Stevens và Cat Power lần lượt đoạt giải năm 2005 và 2006 và nhạc sĩ người Canada Feist đoạt giải năm 2007. 3 album chiến thắng hợp lệ trong thời gian đề cử—In Search of... của N.E.R.D, O của Rice và The Reminder của Feist—sau đó bán hơn 500.000 bản ở Mỹ và đoạt chứng nhận đĩa Vàng. N.E.R.D đạt thành tích này giữa thời gian đề cử và lễ trao giải.Giải thưởng âm nhạc Shortlist nhanh chóng trở thành một sự kiện đáng giá và được mong đợi. Giải tập trung vào dòng nhạc độc lập và nghệ thuật, đối lập với sự cạnh tranh của những hãng thu âm lớn hay vị trí xếp hạng của giải Grammy. Lễ trao giải năm 2003 và 2004 được thu lại và phát sóng trên MTV2. Năm 2005, Sarig đổi tên chương trình thành New Pantheon sau khi nhà đồng sáng lập Spotts từ bỏ dự án. Lễ trao giải năm 2005 bị dời lịch từ cuối năm đó cho đến tháng 3 năm 2006 nhằm mục đích tổ chức sao cho trùng khớp với giải Grammy; buổi lễ sau cùng bị hủy vì "nhiều lý do hậu cần" và người chiến thắng là Stevens được trao giải một cách không chính thức. Sau khi đứng trước nguy cơ bị truy tố do tiếp tục trao giải dưới cái tên New Pantheon, Spotts trở lại, mua lại cả hai thương hiệu rồi sáp nhập dưới cái tên Giải thưởng âm nhạc Shortlist. Giải thưởng tiếp tục được tổ chức cho đến khi công bố người chiến thắng cuối cùng vào năm 2007.

Hiệp hội bóng đá Iceland

Hiệp hội bóng đá Iceland (KSÍ) (tiếng Iceland: Knattspyrnusamband Íslands) là tổ chức quản lý, điều hành các hoạt động bóng đá ở Iceland. Hiệp hội quản lý đội tuyển bóng đá quốc gia nam và nữ, tổ chức các giải bóng đá như vô địch quốc gia và cúp quốc gia. Hiệp hội bóng đá Iceland gia nhập FIFA năm 1947 và UEFA năm 1954.

Hôn nhân đồng giới ở Iceland

Hôn nhân đồng giới đã hợp pháp tại Iceland kể từ ngày 27 tháng 6 năm 2010. Một dự luật đưa ra một định nghĩa hôn nhân trung lập về giới đã được thông qua bởi Althing Iceland vào ngày 11 tháng 6 năm 2010. Không có thành viên Quốc hội bỏ phiếu chống lại dự luật, và các cuộc thăm dò dư luận cho rằng dự luật rất phổ biến ở Iceland. Iceland trở thành quốc gia thứ chín trên thế giới đã hợp pháp hoá hôn nhân đồng giới.

Iceland đã trở thành một điểm đến kết hôn phổ biến cho các cặp đôi cùng giới và được liệt kê trong "10 điểm đến đám cưới đồng tính hàng đầu" của Lonely Planet.

Kiến tạo mảng

Kiến tạo mảng (tiếng Anh: plate tectonics; tiếng Hy Lạp: τέκτων tektōn, nghĩa là "người xây dựng", "thợ nề") mô tả các chuyển động ở quy mô lớn của thạch quyển Trái Đất. Học thuyết này hoàn thiện các quan niệm trước đây về trôi dạt lục địa do Alfred Wegener đề xuất trong các thập niên đầu thế kỷ 20 và tách giãn đáy đại dương trong thập niên 1960.

Phần ngoài cùng nhất của Trái Đất được cấu tạo bởi thạch quyển nằm trên và quyển mềm bên dưới. Thạch quyển bao gồm vỏ Trái Đất và phần trên cùng nhất của quyển manti. Quyển mềm thuộc manti ở trạng thái rắn, nhưng có độ nhớt và ứng suất cắt tương đối thấp nên có thể chảy giống như chất lỏng nếu xét theo thời gian địa chất. Phần sâu nhất của manti bên dưới quyển mềm thì cứng do chịu áp suất lớn hơn.

Thạch quyển bị vỡ ra thành các mảng kiến tạo và chúng trượt trên quyển mềm. Các mảng này di chuyển tương đối với nhau theo một trong ba kiểu ranh giới mảng: hội tụ hay va chạm; tách giãn, cũng được gọi là trung tâm tách giãn; và chuyển dạng. Các trận động đất, hoạt động núi lửa, sự hình thành các dãy núi, và rãnh đại dương đều xuất hiện dọc theo các ranh giới này. Sự dịch chuyển sang bên của các mảng vào khoảng 50–100 mm/năm.

Kế hoạch Marshall

Kế hoạch Marshall (Marshall Plan) là một kế hoạch trọng yếu của Hoa Kỳ nhằm tái thiết và thiết lập một nền móng vững chắc hơn cho các quốc gia Tây Âu, đẩy lùi chủ nghĩa cộng sản sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Mang tên chính thức "Kế hoạch phục hưng châu Âu" (European Recovery Program - ERP), nhưng Kế hoạch Marshall thường được gọi theo tên của Ngoại trưởng Mỹ George Marshall, người đã khởi xướng và ban hành kế hoạch. Kế hoạch Marshall là thành quả lao động của các quan chức Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, trong đó ghi nhận sự đóng góp đặc biệt của William L. Clayton và George F. Kennan.

Kế hoạch tái thiết được phát triển tại cuộc họp mặt của các quốc gia Châu Âu ngày 12 tháng 7 năm 1947. Kế hoạch Marshall đề ra việc viện trợ tương đương cho Liên Xô và đồng minh của họ, nhưng không được chấp nhận. Kế hoạch được thực thi trong vòng 4 năm, kể từ tháng 7 năm 1947. Trong thời gian đó, có khoảng 17 tỷ đô la Mỹ viện trợ kinh tế và hỗ trợ kỹ thuật để giúp khôi phục các quốc gia châu Âu tham gia Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế - OECD. Nhiều quốc gia châu Âu đã nhận được viện trợ trước khi có Kế hoạch Marshall, kể từ năm 1945, cùng với các điều kiện chính trị kèm theo.

Kế hoạch Marshall cũng là một phần trong kế hoạch chính trị của Mỹ nhằm tăng cường ảnh hưởng đối với các nước Đồng minh Tây Âu và chống lại Liên Xô, cũng như để tạo thuận lợi cho việc kinh doanh của các Tập đoàn xuyên quốc gia Mỹ tại Tây Âu. Để phục vụ mục đích này, Mỹ đã viện trợ kinh tế cho cả chính quyền phát xít Tây Ban Nha, cũng như viện trợ chiến phí cho thực dân Pháp, thực dân Hà Lan quay trở lại xâm chiếm Đông Nam Á. Cho tới khi kết thúc dự án, nền kinh tế của các quốc gia nằm trong Kế hoạch, ngoại trừ Tây Đức, đã phát triển vượt mức trước chiến tranh.

Trong vòng hai thập kỷ tiếp đó, nhiều vùng ở Tây Âu tiếp tục đạt được mức tăng trưởng chưa từng có trước đó. Kế hoạch Marshall cũng được xem là một trong các thành tố của quá trình hội nhập châu Âu, vì nó xóa bỏ hàng rào thuế quan và thiết lập các cơ quan điều phối kinh tế tầm cỡ lục địa.

Trong những năm gần đây, các sử gia đặt câu hỏi về cả động cơ bên trong cũng như tính hiệu quả chung của Kế hoạch Marshall. Một số sử gia cho rằng hiệu quả của Kế hoạch Marshall thực tế là từ chính sách laissez-faire (tạm dịch: thả nổi) cho phép thị trường tự bình ổn qua sự phát triển kinh tế. Người ta cho rằng Tổ chức Cứu trợ và Phục hồi của Liên Hiệp Quốc, vốn giúp hàng triệu người tị nạn từ năm 1944 tới 1947, cũng giúp đặt nền móng cho sự phục hồi châu Âu thời hậu chiến.

Lionel Messi

Lionel Andrés "Leo" Messi Cuccittini (phát âm tiếng Tây Ban Nha: [ljoˈnel anˈdɾes ˈmesi] ( nghe); sinh ngày 24 tháng 6 năm 1987), thường biết tới với tên gọi Lionel Messi, là một cầu thủ bóng đá người Argentina hiện đang chơi ở vị trí tiền đạo cho câu lạc bộ Barcelona và là đội trưởng đội tuyển bóng đá quốc gia Argentina. Anh là một trong những cầu thủ xuất sắc nhất mọi thời đại và một trong hai cầu thủ hay nhất thế giới hiện tại (cùng với Cristiano Ronaldo), anh cũng là chủ nhân của nhiều danh hiệu cao quý như Quả bóng vàng châu Âu 2009, Cầu thủ xuất sắc nhất năm 2009 của FIFA, Quả bóng vàng FIFA các năm 2010, 2011, 2012 và 2015. Lối chơi của anh được so sánh với huyền thoại Diego Maradona, người tự coi Messi là "truyền nhân" của mình.Messi bắt đầu chơi bóng từ khi còn nhỏ và tài năng của anh đã được câu lạc bộ Barcelona phát hiện. Anh rời đội bóng quê nhà Newell's Old Boys năm 2000 và cùng cả gia đình chuyển tới Tây Ban Nha sau khi Barcelona đề nghị hỗ trợ anh chi phí điều trị chứng thiếu hụt hormone tăng trưởng. Có trận ra mắt vào mùa giải 2004-2005, anh đã phá vỡ kỉ lục cầu thủ trẻ nhất ra sân của La Liga và trở thành cầu thủ trẻ nhất ghi bàn ở giải này khi đó.Năm 2005, anh dành danh hiệu Golden Boy (giải thưởng dành cho cầu thủ dưới 21 tuổi xuất sắc nhất năm). Những danh hiệu đã tới với Barca ngay trong mùa đầu tiên của Messi đó là chức vô địch La Liga, và họ giành cú đúp khi vô địch cả La Liga và cúp C1 vào mùa giải 2006. 2006-07 là mùa giải đột phá của anh: trở thành cầu thủ quan trọng trong đội hình I, ghi một cú hattrick trong trận El Clásico và kết thúc mùa giải với 14 bàn trong 26 trận. Mùa giải 2008-09 là mùa giải thành công nhất của Messi khi anh đã ghi 38 bàn và trở thành nhân tố chủ chốt trong cú ăn sáu của đội bóng xứ Catalan. Kỉ lục này sau đó bị phá vỡ ở mùa giải 2009–10, khi Messi ghi được 47 bàn thắng ở tất cả các giải đấu, cân bằng với kỉ lục của Ronaldo ở Barcelona. Anh tiếp tục vượt qua thành tích này một lần nữa ở mùa giải 2010–11 với 53 bàn thắng ở tất cả các giải đấu. Mùa giải 2011-12, anh đã lập kỉ lục trở thành cầu thủ ghi được nhiều bàn thắng nhất trong một mùa giải La Liga với 50 bàn thắng, đồng thời cũng lập kỉ lục cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất trong một mùa giải trên mọi đấu trường, với 73 bàn thắng.

Kể từ khi bắt đầu chơi cho Barcelona từ năm 2005 đến nay, anh luôn là nhân tố chủ chốt trong mỗi chiến thắng của gã khổng lồ xứ Catalan. Cùng với Barcelona, Messi đã giành được nhiều danh hiệu lớn nhỏ khác nhau, trong đó có 10 chức vô địch La Liga, 4 chức vô địch Champions League, và 6 chức vô địch Cúp Nhà vua Tây Ban Nha. Anh ghi 2 bàn trong 2 trận Chung kết năm 2009 và Chung kết năm 2011 với đối thủ Manchester United. Anh hiện là người giữ kỷ lục ghi nhiều bàn thắng nhất trong một mùa giải cho Barcelona với 73 bàn thắng. Anh cũng là người đầu tiên 3 lần liên tiếp giành được giải thưởng Vua phá lưới UEFA Champions League kể từ khi giải đấu này được đổi tên lại. Messi là cầu thủ đầu tiên trong lịch sử bóng đá 5 lần nhận Quả bóng vàng (tính cho cả trước và sau khi hợp nhất hai giải thưởng Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA và Quả bóng vàng châu Âu thành Quả bóng vàng FIFA vào năm 2011), xếp trên những huyền thoại như Johan Cruyff, Michel Platini và Marco van Basten là những người đều 3 lần nhận Quả bóng vàng và là cầu thủ thứ 2 ba lần liên tiếp nhận Quả bóng vàng, sau Michel Platini. Năm 2012, Messi trở thành cầu thủ đầu tiên ghi được 5 bàn trong một trận đấu UEFA Champions League, trong chiến thắng 7–1 trước Bayer Leverkusen.. Cuối năm đó, anh phá kỉ lục trở thành cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất trong một năm dương lịch với 91 bàn thắng. Hai năm sau đó, Messi đều về nhì trong cuộc đua giành Quả bóng Vàng, xếp sau Cristiano Ronaldo. Đến mùa giải 2014-15, Messi là đầu tàu đưa Barcelona giành được cú ăn ba lần thứ hai trong lịch sử CLB. Anh tiếp tục giành thêm 3 danh hiệu La Liga cùng đội bóng vào các năm 2016, 2018 và 2019. Messi hiện đang nắm giữ kỉ lục cầu thủ ghi bàn nhiều nhất và kiến tạo thành bàn nhiều nhất tại La Liga, đồng thời cũng là cầu thủ ghi bàn hàng đầu trong lịch sử câu lạc bộ Barcelona.

Messi là vua phá lưới Giải vô địch bóng đá U-20 thế giới 2005 với 6 bàn, bao gồm 2 bàn ở trận chung kết. Một thời gian không lâu sau đó, anh được gọi vào đội tuyển bóng đá quốc gia Argentina. Vào năm 2006, anh trở thành cầu thủ Argentina trẻ nhất thi đấu tại World Cup và về đích ở vị trí thứ nhì ở Copa América 2007. Vào năm 2008, ở Bắc Kinh, anh có được danh hiệu đầu tiên ở cấp độ quốc tế khi cùng ĐT Olympic Argentina giành huy chương vàng Olympic. Hiện anh đang là cầu thủ có số bàn thắng nhiều nhất cho Đội tuyển bóng đá quốc gia Argentina. Là đội trưởng của đội tuyển quốc gia từ tháng 8 năm 2011, anh đã cùng đội tuyển Argentina lọt vào chung kết của ba giải đấu lớn liên tiếp: World Cup 2014, giải đấu anh đã giành được Quả bóng Vàng, cùng với hai kỳ Copa America năm 2015 và 2016. Sau khi thông báo từ giã tuyển quốc gia vào năm 2016, anh đã rút lại quyết định của mình và đưa đội tuyển Argentina vượt qua vòng loại World Cup 2018.

Trong suốt hơn 10 năm (2008-nay), anh và Cristiano Ronaldo đã tạo nên cuộc cạnh tranh vĩ đại nhất lịch sử bóng đá thế giới. Hai người thâu tóm hầu hết mọi danh hiệu từ cá nhân đến tập thể. Chính sự xuất sắc của hai cầu thủ này đã tạo nên một cuộc tranh luận nảy lửa giữa những người hâm mộ bóng đá trên toàn thế giới rằng :" Ai mới là người xuất sắc hơn?".

Reykjavík

Reykjavík (IPA: [ˈreiːcaˌviːk]) là thủ đô của Iceland, là thành phố lớn nhất của quốc gia này và có vĩ độ 64°08' vĩ Bắc, là thủ đô quốc gia có vĩ độ cao nhất thế giới. Thành phố này nằm ở Tây Nam Iceland, bên bờ vịnh Faxaflói. Với dân số hơn 117.000, đây là trung tâm của các hoạt động chính quyền, kinh tế của đảo quốc Iceland.

Người ta tin rằng Reykjavík là nơi có khu định cư lâu dài đầu tiên ở Iceland và, theo Ingólfur Arnarson, được thiết lập khoảng năm 874 CN. Cho đến thế kỷ 18, không có sự phát triển đô thị ở vị trí ngày nay là thành phố. Thành phố này đã được thành lập năm 1786 làm một đô thị buôn bán chính thức và nó đã tăng trưởng đều đặn trong các thập kỷ sau và chuyển thành một trung tâm vùng sau đó là trung tâm quốc gia về các hoạt động thương mại, dân số và chính quyền.

Ngày nay, Reykjavík là trung tâm của Vùng đại Reykjavík với dân số hơn 190.000 và đến nay là vùng đô thị lớn nhất ở Iceland. Là một thủ đô của một trong những quốc gia phát triển nhất thế giới, dân cư thành phố Reykjavík được hưởng một chế độ phúc lợi và hạ tầng hạng nhất. Vị trí của thành phố, chỉ hơi lệch về phía Nam của vòng Bắc Cực, chỉ nhận được 4h ban ngày mỗi ngày vào mùa Đông; vào mùa Hè thì đêm hầu như trắng như ban ngày. Thành phố này vẫn tiếp tục chứng kiến sự gia tăng dân số trong 10 năm qua cũng như sự tăng trưởng của lĩnh vực thương mại và công nghiệp.

Ronald Reagan

Ronald Wilson Reagan (IPA: ; 6 tháng 2 năm 1911 – 5 tháng 6 năm 2004) là tổng thống thứ 40 của Hoa Kỳ (1981–1989). Trước đó, ông là Thống đốc thứ 33 của bang California (1967–1975), và từng là diễn viên truyền hình, truyền thanh và điện ảnh.

Reagan sinh ra tại thành phố Tampico, Illinois, và lớn lên ở Dixon. Ông học Đại học Eureka và có bằng cử nhân về kinh tế và xã hội học. Sau khi tốt nghiệp, đầu tiên ông chuyển đến tiểu bang Iowa để làm việc trong vai trò phát thanh viên, sau đó vào năm 1937, ông đến thành phố Los Angeles nơi ông khởi nghiệp trong vai trò diễn viên điện ảnh và sau đó là diễn viên truyền hình. Một số bộ phim nổi bật nhất của ông gồm có Knute Rockne, All American (1940), Kings Row (1942), và Bedtime for Bonzo (1951). Reagan làm chủ tịch liên đoàn lao động Screen Actors Guild và sau đó là người phát ngôn cho công ty General Electric (GE). Ông bắt đầu tham gia chính trị trong thời kỳ làm việc cho công ty GE. Ban đầu ông là đảng viên Dân chủ. Thiên hướng của ông bắt đầu chuyển đổi sang cánh hữu vào thập niên 1950 và sau đó ông đổi sang đảng Cộng hòa vào năm 1962. Sau khi đọc một bài diễn văn mạnh mẽ ủng hộ ứng cử viên tổng thống Barry Goldwater năm 1964, mọi người thuyết phục ông chạy đua vào chức Thống đốc tiểu bang California. Ông thắng cử thống đốc tiểu bang California hai năm sau đó và tái đắc cử lần nữa vào năm 1970. Ông thất bại trong các lần chạy đua tìm sự đề cử của đảng Cộng hòa ra tranh cử tổng thống Hoa Kỳ vào các năm 1968 và năm 1976 nhưng sau cùng ông giành được sự đề cử của đảng Cộng hòa và chiến thắng trong Tổng tuyển cử năm 1980, đánh bại đương kim tổng thống Jimmy Carter.Trong vai trò tổng thống, Reagan thực hiện các đề xướng kinh tế và chính trị mới có tầm cỡ. Các chính sách kinh tế trọng cung của ông, được gọi là "Reaganomics", chủ trương giảm tỉ lệ thuế để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kiểm soát nguồn tiền để giảm lạm phát, bãi bỏ kiểm soát kinh tế, và giảm chi tiêu của chính phủ. Trong nhiệm kỳ đầu tiên, ông thoát chết trong một vụ ám sát; ông kiên quyết chống lại các công đoàn lao động, và ra lệnh xâm chiếm Grenada. Reagan tái đắc cử tổng thống một cách vang dội vào năm 1984 và tuyên bố rằng điều này là "bình minh tại Mỹ". Nhiệm kỳ thứ hai của ông để lại với những vấn đề còn gây tranh cãi, chủ yếu vì các vấn đề đối ngoại, thí dụ như sự kết thúc Chiến tranh lạnh, vụ không kích Libya năm 1986, và vụ bê bối Iran-Contra bị phơi bày. Công khai mô tả Liên Xô là một "đế quốc ma quỷ", Reagan ủng hộ các phong trào chống cộng sản trên toàn thế giới và dành ra nhiệm kỳ đầu tiên của mình hủy bỏ chiến lược giảm thiểu tối đa căng thẳng giữa phương Tây và khối Xô Viết, thường được gọi là chiến lược détente, bằng cách ra lệnh tăng cường mạnh mẽ sức mạnh quân sự trong cuộc chạy đua vũ trang với Liên Xô. Reagan thương thuyết với Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô là Mikhail Gorbachev và kết quả đỉnh điểm là sự ra đời của Hiệp ước Lực lượng Hạt nhân tầm trung và việc giảm thiểu kho vũ khí hạt nhân của cả hai nước.

Reagan rời chức tổng thống vào năm 1989. Năm 1994, Reagan tiết lộ rằng ông bị mắc bệnh mất trí nhớ; ông mất 10 năm sau đó ở tuổi 93. Là một hình tượng bảo thủ, Reagan được xếp cao trong các cuộc thăm dò ý kiến công chúng và được công nhận vì đã tạo ra cuộc phục sinh ý tưởng chính trị cánh hữu Mỹ.

Tiếng Iceland

Tiếng Iceland (íslenska, phát âm ['iːs(t)lɛnska] ()) là một ngôn ngữ German và là ngôn ngữ chính thức của Iceland. Đây là một ngôn ngữ Ấn-Âu, thuộc về nhánh Bắc German của nhóm ngôn ngữ German. Về mặt lịch sử, nó từng là ngôn ngữ phân bố xa nhất về phía tây của hệ Ấn-Âu, trước thời kỳ thuộc địa hóa châu Mỹ. Trước đây, tiếng Iceland, Faroe, Norn, và Tây Na Uy tạo nên nhóm Tây Bắc Âu; còn tiếng Đan Mạch, Đông Na Uy và Thụy Điển tạo nên nhóm Đông Bắc Âu. Tiếng Na Uy Bokmål hiện đại được ảnh hưởng bởi cả hai nhóm, do đó các ngôn ngữ Bắc German hiện được chia thành nhóm Scandinavia đất liền và Bắc Âu Hải đảo (gồm có tiếng Iceland).

Đa phần người nói tiếng Iceland—chừng 320.000—sống tại Iceland. Hơn 8.000 người bản ngữ tiếng Iceland sống ở Đan Mạch, trong đó chừng 3.000 là học sinh/sinh viên. Thứ tiếng này cũng được sử dụng bởi chừng 5.000 người tại Hoa Kỳ và bởi hơn 1.400 người ở Canada. Cộng đồng người nói tiếng Iceland lớn nhất nằm ngoài Iceland là ở Manitoba, đáng chú ý là Gimli (Gimli là một từ tiếng Bắc Âu Cổ, nghĩa là 'thiên đường').

Dù 97% dân số Iceland xem tiếng Iceland là tiếng mẹ đẻ của họ, lượng người nói đang suy giảm tại các cộng đồng ngoài Iceland, đặc biệt là Canada.

Học viên Iceland học Árni Magnússon là trung tâm bảo tồn những bản thảo tiếng Iceland thờ Trung Cổ, nghiên cứu ngôn ngữ này cũng như nền văn học của nó. Từ năm 1995, ngày 16 tháng 11, sinh nhật của nhà thơ thế kỷ 19 Jónas Hallgrímsson, cũng là Ngày tiếng Iceland.

Trung Cổ

Thời kỳ Trung Cổ (hay Trung Đại) là giai đoạn trong lịch sử châu Âu bắt đầu từ sự sụp đổ của Đế quốc Tây Rôma vào thế kỷ 5, kéo dài tới thế kỉ 15, hòa vào thời Phục hưng và Thời đại khám phá. Thời Trung Cổ (Trung đại) là thời đại thứ hai trong ba thời đại lịch sử theo cách phân kỳ truyền thống của lịch sử phương Tây, cùng với Cổ đại và Hiện đại. Thời kỳ Trung Cổ tự nó chia làm ba giai đoạn, Sơ kỳ Trung Cổ, Trung kỳ Trung Cổ và Hậu kỳ Trung Cổ.

Suy giảm dân số, sự đảo ngược đô thị hóa, xâm lược, và di dân, bắt đầu từ Hậu kỳ Cổ đại, tiếp diễn trong thời Sơ kỳ Trung Cổ. Những man tộc xâm lược, bao gồm các dân tộc German, lập nên những vương quốc mới trên tàn tích của Đế quốc Tây Rôma. Bắc Phi, Trung Đông và bán đảo Iberia rơi vào tay người Hồi giáo, tuy Đế quốc Đông Rôma (tức Byzantine) vẫn duy trì vai trò một cường quốc quan trọng ở phương Đông. Quá trình Kitô hóa vẫn tiếp tục, chế độ tu viện được thành lập. Người Frank, dưới triều đại Nhà Carolingien, đã thiết lập nên một đế chế ngắn ngủi bao phủ phần lớn Tây Âu, trước khi tàn lụi dưới áp lực của nội chiến cộng với ngoại xâm.

Trong thời Trung kỳ Trung Cổ, bắt đầu từ thế kỉ 11, dân số châu Âu tăng nhanh khi các tiến bộ kĩ thuật và thời tiết thuận lợi giúp sản xuất phát triển và theo đó là thương mại phát đạt. Chế độ trang viên và chế độ phong kiến xác lập nên cấu trúc kinh tế-chính trị của xã hội thời Trung kỳ Trung Cổ. Giáo hội Công giáo củng cố sức ảnh hưởng trong khi những cuộc thập tự chinh được kêu gọi để tái chiếm Đất Thánh từ tay người Hồi giáo. Các nhà quân chủ ở nhiều quốc gia củng cố nhà nước trung ương tập quyền, giảm bớt tình trạng cát cứ. Đời sống trí thức ghi nhận sự thống trị của chủ nghĩa kinh viện và sự thành lập những trường đại học, trong khi nghệ thuật chứng kiến phong cách Gothic lên đến đỉnh cao.

Thời Hậu kỳ Trung Cổ đánh dấu một loạt những khó khăn và tai họa bao gồm nạn đói, dịch hạch, và chiến tranh, gây suy giảm nghiêm trọng dân số Tây Âu; chỉ riêng Cái chết Đen đã hủy diệt một phần ba dân số châu Âu. Tranh cãi giáo lý, dị giáo và ly giáo bên trong Giáo hội song hành với chiến tranh quy mô giữa các cường quốc, nội chiến, khởi nghĩa nông dân nổ ra trong khắp châu lục. Trong khi đó, những phát triển và văn hóa biến đổi xã hội châu Âu, khép lại thời Trung Cổ và bắt đầu thời kỳ Cận đại.

Wayne Rooney

Wayne Mark Rooney (sinh ngày 24 tháng 10 năm 1985) là một cầu thủ bóng đá người Anh hiện đang chơi ở vị trí Tiền vệ tấn công cho câu lạc bộ D.C. United tại Giải bóng đá nhà nghề Mỹ MLS cũng như từng thi đấu cho đội tuyển Anh ở các trận đấu cấp độ quốc tế. Trước đây vị trí thi đấu của anh là trung phong hoặc hộ công tuy nhiên hiện nay anh thường thi đấu ở hàng tiền vệ. Rooney là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất cho Manchester United trong lịch sử câu lạc bộ (253 bàn) và đội tuyển Anh (53 bàn). Anh đã ghi 208 bàn tại Giải bóng đá Ngoại hạng Anh, chỉ sau Alan Shearer (260 bàn).

Rooney bắt đầu sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp của mình với câu lạc bộ Everton vào năm 2002 và bàn thắng đầu tiên của Rooney vào lưới Arsenal khiến anh trở thành cầu thủ ghi bàn trẻ nhất trong lịch sử Premier League vào thời điểm đó. Anh nhanh chóng trở thành một phần của đội bóng và thi đấu hai mùa giải ở câu lạc bộ vùng Merseyside. Năm 2004, anh dành danh hiệu Golden Boy (giải thưởng dành cho cầu thủ dưới 21 tuổi xuất sắc nhất năm).

Trước khi bắt đầu mùa giải 2004-05, anh chuyển tới Manchester United với mức phí chuyển nhượng là 25,6 triệu bảng và trở thành một thành viên chủ chốt của đội một United. Kể từ đó, anh đã giành được Cúp ngoại hạng Anh năm lần, một danh hiệu UEFA Champions League mùa giải 2007-08, ba Cúp Liên Đoàn và hai cúp FA cùng câu lạc bộ. Cá nhân anh cũng được trao giải Cầu thủ xuất sắc nhất năm của Hiệp hội Nhà báo Bóng đá Anh, Cầu thủ xuất sắc nhất năm của Hiệp hội Cầu thủ Chuyên nghiệp Anh và Cầu thủ xuất sắc nhất mùa giải của Barclays trong cùng một mùa giải 2009-2010.

Rooney được gọi vào đội tuyển Anh lần đầu tiên vào năm 2003 và tại UEFA Euro 2004, anh có một thời gian ngắn trở thành cầu thủ ghi bàn trẻ nhất qua các kì giải đấu và cũng là cầu thủ thứ hai dưới 20 tuổi được gọi vào đội tuyển. Rooney thường xuyên được chọn để thi đấu cho đội tuyển Anh và đã có mặt tại FIFA World Cup 2006 và 2010. Tuy nhiên cả hai đều là những giải đấu đáng quên đối với anh khi Rooney không ghi được bàn thắng nào và đội tuyển Anh chỉ có thành tích cao nhất là vào đến tứ kết năm 2006.

Anh và người bạn gái từ thuở nhỏ Coleen Rooney đã cưới nhau vào năm 2008 và có con trai đầu lòng là Kai Rooney vào năm 2009.

Úrvalsdeild

Úrvalsdeild karla là giải bóng đá cao nhất trong hệ thống bóng đá Iceland. Do mùa đông khắc nghiệt tại Iceland, giải đấu thường được tổ chức vào mùa xuân và hè (từ tháng 5 đến tháng 9). Úrvalsdeild được điều hành bởi Hiệp hội bóng đá Iceland (KSI) và hiện đang có 12 câu lạc bộ tham dự. Cuối mùa giải 2012-2013, giải đấu được UEFA xếp hạng thứ 40 ở châu Âu. Từ ngày 27 tháng 4 năm 2009, Úrvalsdeild còn được gọi là Pepsi-deildin ("The Pepsi League") sau khi KSÍ và Ölgerðin (nhà sản xuất Pepsi tại Iceland) ký một hợp đồng tài trợ 3 năm.Giải đấu hiện có 12 câu lạc bộ, thi đấu vòng tròn 2 lượt tính điểm. Vào cuối mùa giải, hai câu lạc bộ đứng cuối bảng sẽ xuống hạng trong khi 2 câu lạc bộ đứng đầu giải 1. deild karla sẽ được thăng hạng lên Úrvalsdeild.

Lần đầu tiên trong lịch sử giải đấu, mùa giải 2008 đã có 12 đội tham dự giải, đây là một phần trong nỗ lực của KSI để phát triển bóng đá Iceland.

Cũng vì vậy, chỉ có một đội phải xuống hạng mùa giải 2007 và ba câu lạc bộ tại giải 1. deild karla được thăng hạng.

KR là câu lạc bộ thành công nhất giải với 26 lần giành chức vô địch. Đội bóng kế tiếp là Valur với 20 lần, ÍA và Fram Reykjavík theo sau với 18 lần mỗi đội. Đương kim vô địch của giải là KR.

Đội tuyển bóng đá quốc gia Iceland

Đội tuyển bóng đá quốc gia Iceland (tiếng Iceland: Íslenska karlalandsliðið í knattspyrnu) là đội tuyển cấp quốc gia của Iceland do Hiệp hội bóng đá Iceland quản lý.

Trận thi đấu quốc tế đầu tiên của đội tuyển Iceland là trận gặp đội tuyển Đan Mạch vào năm 1946.

Đội đã một lần tham dự giải vô địch bóng đá châu Âu là vào năm 2016 và gây chấn động lớn khi lọt vào vòng tứ kết của giải đấu này ở ngay lần đầu tham dự. Đội cũng đã một lần tham dự giải vô địch bóng đá thế giới là vào năm 2018. Tại giải năm đó, đội chỉ có 1 trận hòa trước Argentina, thua 2 trận trước Nigeria và Croatia, do đó dừng bước ở vòng bảng.

Các quốc gia có chủ quyền và lãnh thổ phụ thuộc tại Châu Âu
Quốc gia
có chủ quyền
Thành viên
Thành viên phụ
Các thành viên
Các ứng cử viên

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.