Hoang mạc Atacama

Hoang mạc Atacama (tiếng Tây Ban Nha: Desierto de Atacama) là một sa mạc nằm ở phía bắc Chile và một phần nhỏ ở phía nam Peru. Hoang mạc Atacama nằm giữa Thái Bình Dương và dãy núi Andes, cách chí tuyến Nam 960 km. Những địa hình ở nơi đây hoàn toàn tương phản với nhau: những ngọn đồi toàn đá, đá núi lửa và những cồn cát trải dài. So với mặt biển, hoang mạc này cao 3.200 m và rộng 181.300 km2. Hoang mạc Atacama nằm giữa các vĩ tuyến 22 - 27 độ nam, dọc theo bờ Thái Bình Dương. Khu vực này có diện tích rộng lớn, và rất ít khi có mưa.

Tọa độ: 24°30′N 69°15′T / 24,5°N 69,25°T

Atacama
Hoang mạc Atacama theo NASA World Wind.

Sự khô cằn

Atacama là một trong những khu vực khô cằn nhất Trái Đất[1][2][3][4][5]. Bằng chứng cho thấy từ năm 1570 đến 1971, sa mạc Atacama không có lượng mưa đáng kể nào.[6] Atacama được cuốn sách Kỷ lục Thế giới Guinness ghi nhận là sa mạc "khô cằn nhất thế giới".[7] Atacama cũng được xem là hoang mạc khô cằn nhất thế giới bởi NASA, Hội địa lý Quốc gia Hoa Kỳ và nhiều sách báo khác.[8][9][10]

Hoang mạc này có lượng mưa trung bình ít hơn 50 mm trong một năm. Hàng năm, Atacama chỉ có mực nước mưa trung bình là 25 mm. Ít nhất là kể từ khi Atacama được con người chú ý đến - một khoảng thời gian cách đây đã rất lâu - tại một số khu vực nằm giữa hoang mạc này, mưa chưa bao giờ rơi.

Hoang mạc Atacama còn có tám hồ nước nóng với nhiệt độ trung bình là 33 độ C. Tám hồ nước nóng này có màu nước đặc biệt xanh và mùi vị có lợi cho sự thư giãn. Cả tám hồ nước nòng này được khu resort Explora Atacama quản lý, quanh năm tám hồ này mở cửa đón du khách đến thăm. Tuy nhiên, khoảng từ tháng Mười đến tháng 6 là thời điểm có thời tiết thuận lợi nhất để du khách đến những hồ nước nóng này.[11]

Không những thế, trên sa mạc này cây xương rồng cũng không thể mọc lên được. Vì không khí quá khô, ôxi hóa không xảy ra ở những vật liệu bằng kim loại, và - không cần một phương pháp ướp xác nào - các miếng thịt cũng có thể được giữ nguyên mãi mãi. Tóm lại, sự mục rữa không có thể xảy ra đối với bất cứ một thứ gì ở hoang mạc không có hơi nước này. Dù hoang mạc Atacama có những ngọn núi không hề thấp, chiều cao 6.885 m, nhưng những ngọn núi này không có băng tuyết. Ngoài ra, trong suốt thời kỳ băng hà, băng tuyết không hề tồn tại ở khu vực phía nam từ 25oN cho tới 27oN. Tại hoang mạc Atacama, mùa hè vô cùng khắc nghiệt. Người đến đây vào mùa hè có thể gặp nhiều hậu quả: gãy vụn tóc và râu và nứt mẻ móng tay, móng chân.

Tuổi thọ lâu đời

Là một sa mạc khô cằn, tại Atacama, từ ít nhất 25 triệu năm trước nước đã không chảy. Từ 120.000 năm, các trầm tích nằm dưới lòng một con sông cổ ở sa mạc Atacama chưa được phát hiện. Tiến sĩ Tibor Dunai và những cộng sự thuộc Trường Đại học Vrije tại thành phố Amsterdam của Hà Lan đã cho biết hoang mạc Atacama "là vùng sa mạc cổ nhất hành tinh".[12]

Trong hội nghị thuộc Hiệp hội Địa vật lý Hoa KỳSan Francisco, tiến sĩ Tibor Dunai cũng cho biết: trong ít nhất là 25 triệu năm, tại hoang mạc Atacama đã có những điều kiện hết sức khô cằn. Như vậy, sa mạc Namibia ở châu Phi hoặc các thung lũng hoang mạc của vùng Nam cực có tuổi thọ kém hơn hẳn hoang mạc Atacama (khoảng 10 triệu năm).[12] Tên gọi của hoang mạc này - Atacama - dường như bắt nguồn từ một bộ lạc cùng tên - bộ lạc người Anh-điêng Atacama. Hiện nay, bộ lạc Atacama vẫn còn định cư tại đây.

Nhà khoa học Dunai cùng nhóm nghiên cứu đã đo một chất đồng vị của neon để tìm hiểu rằng các trầm tích của hoang mạc này đã bao giờ bị xói mòn chưa. Kết quả là các trầm tích trên hoang mạc Atacama đã được họ định tuổi. Theo khám phá của các nhà địa lý học/vật lý học tại một số nơi khác, trong gần bốn mươi triệu năm những trầm tích vẫn còn nguyên vẹn.[12]

Từ 120.000 năm, các trầm tích và nước đã không tiếp xúc với nhau dưới lòng một dòng sông. Các nhà nghiên cứu đã cho hay: đôi khi, đúng vào lúc khí hậu thay đổi, các trầm tích này trở nên ẩm ướt.[12]

Dân cư, khoáng sản, du lịch và liên quan tới khoa học

Chile-Atacama
Con đường Atacama

Ở hoang mạc Atacama, có khoảng 1 triệu người cư ngụ tại những thành phố ven biển, các làng chài cũng như các thành phố trên ốc đảo. Ngoài ra nghề nông cũng hiện hữu ở hoang mạc Atacama, nước ở các tầng ngầm nước do tuyết tan chảy ở trên dãy núi Andes được những người làm nông nghiệp ở Atacama sử dụng.

Loại muối "diêm tiêu Chile" được xem là thứ duy nhất dồi dào tại đây. Hoang mạc Atacama có những khoáng sản như:

  • Các mỏ đồng lớn
  • Diêm tiêu
  • Muối ăn

Hoang mạc Atacama, được xem như là "Sao Hỏa trên Trái Đất", là một trong năm địa điểm nổi tiếng ở Chile.[13] Vì Atacama là khu vực có bầu trời trong nhất trên Trái Đất, đài quan sát thiên văn lớn nhất thế giới là Very Large Telescope được đặt tại hoang mạc Atacama. Đặt đài thiên văn ở đây sẽ khiến nhà khoa học không gặp khó khăn khi quan sát các vì sao. Ngoài ra, người ta còn sử dụng đất đai tại hoang mạc Atacama cho việc thử nghiệm những robot sau này được dùng đến trên sao Hoả.[12]

Khu vực Atacama cùng với vùng Patagonia ở phía nam và đảo Phục Sinh là những nơi hoàn toàn không chịu ảnh hưởng bởi cuộc Động đất Chile 2010.[14]

Hình ảnh

Atacama desert

Bản đồ Hoang mạc Atacama (lãnh thổ Chi Lê) theo Dữ kiện thế giới của CIA.

Atacama1

Hoang mạc Atacama

Valle de la luna san pedro chile

Cảnh Valle de la Luna (Thung lũng Mặt Trăng) gần San Pedro de Atacama.

Solar Evaporation Ponds, Atacama Desert

Solar Evaporation Ponds ở Hoang mạc Atacama.

Chú thích & tham khảo

  1. ^ Boehm, Richard G.; Editors and writers of The World and Its People (2006). The World and Its People (ấn bản 2005). Columbus, Ohio: Glencoe. tr. 276. ISBN 0-07-860977-1.
  2. ^ Vesilind, Priit J. (tháng 8 năm 2003). “The Driest Place on Earth”. National Geographic Magazine. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2013. (Excerpt)
  3. ^ “Even the Driest Place on Earth Has Water”. Extreme Science. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2013.
  4. ^ Mckay, Christopher P. (May–June 2002). “Two dry for life: the Atacama Desert and Mars” (PDF). AdAstra: 30–33.
  5. ^ Jonathan Amos (ngày 8 tháng 12 năm 2005). “Chile desert's super-dry history”. BBC News. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2009.
  6. ^ Wright, John W. (ed.); Editors and reporters of The New York Times (2006). The New York Times Almanac (ấn bản 2007). New York, New York: Penguin Books. tr. 456. ISBN 0-14-303820-6.
  7. ^ Top 10 sa mạc kỳ vĩ nhất thế giới
  8. ^ http://ngm.nationalgeographic.com/ngm/0308/feature3/
  9. ^ “Driest Desert”. Truy cập 29 tháng 9 năm 2015.
  10. ^ http://quest.nasa.gov/challenges/marsanalog/egypt/AtacamaAdAstra.pdf
  11. ^ Những suối nước nóng nổi tiếng thế giới
  12. ^ a ă â b c Atacama - vùng sa mạc cổ nhất thế giới
  13. ^ Vietrade in Chile - Du lịch
  14. ^ Chile nỗ lực kéo du khách trở lại sau động đất

Liên kết ngoài

Ao mặt trời

Ao mặt trời là ao nước có công dụng để lưu trữ nhiệt năng có được từ hấp thụ năng lượng của các bức xạ Mặt Trời, thường được đặt ở những vùng có thời gian nắng chiếm tỷ lệ cao đủ để hoạt động. Năng lượng thu được này thường được sử dụng làm nguồn nhiệt dự trữ, khử độ mặn, làm đông lạnh, sấy khô.

Arica và Parinacota (vùng)

Vùng XV Arica và Parinacota (tiếng Tây Ban Nha: XV Región de Arica y Parinacota) là một trong 15 vùng, là đơn vị hành chính cấp I của Chile. Vùng này nằm tận cùng về phía Bắc của Chile, nó tiếp giáp với Peru về phía bắc, Bolivia về phía đông, Tarapacá về phía nam, trong khi phía tây là Thái Bình Dương. Đây cũng là một trong hai vùng mới nhất được thành lập vào ngày 8 tháng 10 năm 2007. Trước đây nó là một phần của vùng Tarapacá và cả hai đều là một tỉnh cũ của Peru mà sau đó đã bị chiếm đóng bởi Chile theo Hiệp ước Ancón năm 1883 sau cuộc Chiến tranh Thái Bình Dương, và sau đó chính thức sáp nhập vào Chile vào năm 1929 theo Hiệp ước Lima.

Browningia candelaris

Browningia candelaris là một loài thực vật có hoa trong họ Cactaceae. Loài này được (Meyen) Britton & Rose mô tả khoa học đầu tiên năm 1920.

Bộ xương Atacama

Ata là tên gọi chung dành cho bộ xương dài 6 inch (150 mm; 15 cm) của một chủng người được tìm thấy vào năm 2003 tại một thị trấn Chile ở sa mạc Atacama hoang vắng, do đó đây là tên viết tắt. Di hài này được đặt trong một bộ sưu tập cá nhân ở Tây Ban Nha. Theo một tờ báo địa phương của Chile, La Estrella de Arica, Ata được Oscar Muñoz tìm thấy ở miền bắc Chile, sau đó ông này đã bán lại di hài này cho chủ sở hữu hiện tại của bộ sưu tập là Ramón Navia-Osorio, một doanh nhân người Tây Ban Nha.

Các xưởng diêm tiêu Humberstone và Santa Laura

Các xưởng diêm tiêu Humberstone và Santa Laura là hai xưởng đã từng sản xuất diêm tiêu (KNO3 và NaNO3) tại vùng Tarapacá, miền bắc Chile. Các xưởng này đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới từ năm 2005.

Echinopsis atacamensis

Echinopsis atacamensis là một loài thực vật có hoa trong họ Cactaceae. Loài này được (Phil.) Friedrich & G.D.Rowley mô tả khoa học đầu tiên năm 1974.

Geoffroea decorticans

Geoffroea decorticans là một loài thực vật có hoa trong họ Đậu. Loài này được (Hook. & Arn.) Burkart miêu tả khoa học đầu tiên.

HD 153950 b

HD 153950 b là một hành tinh ngoài hệ mặt trời cách xa khoảng 162 năm ánh sáng Hành tinh này được phát hiện vào ngày 26 tháng 10 năm 2008 bởi Moutou và cộng sự bằng cách sử dụng máy quang phổ HARPS trên kính viễn vọng ESO được lắp đặt tại Đài thiên văn La Silla ở hoang mạc Atacama, Chile.

HD 40307 c

HD 40.307 c là một hành tinh ngoài hệ mặt trời quay quanh ngôi sao HD 40307, cách 42 năm ánh sáng ở hướng phía nam của chòm sao Hội Giá. Hành tinh được phát hiện bằng phương pháp vận tốc hướng tâm, bằng cách sử dụng HARPS, vào tháng 6 năm 2008. Trong số sáu hành tinh được đề xuất trong hệ thống sao HD 40307, nó là hành tinh lớn thứ ba và có quỹ đạo gần thứ hai từ ngôi sao. Hành tinh được quan tâm như sao mẹ của nó vì có tương đối thấp độ kim loại.

HD 40307 d

HD 40307 d là một hành tinh ngoài hệ mặt trời quay quanh ngôi sao HD 40307, cách 42 năm ánh sáng từ Trái đất nằm ở phía nam chòm sao Hội Giá. Hành tinh được phát hiện bằng phương pháp vận tốc hướng tâm, sử dụng HARPS vào tháng 6 năm 2008. Nó là hành tinh có khối lượng lớn nhất trong số sáu hành tinh được đề xuất trong hệ thống. Hành tinh được quan tâm như sao mẹ vì có tương đối thấp độ kim loại.

Ojos del Salado

Nevado Ojos del Salado là một ngọn núi lửa dạng tầng lớn trong dãy Andes, nằm trên biên giới Argentina - Chile và là núi lửa cao nhất thế giới còn hoạt động với độ cao 6.893 mét (22.615 ft) so với mực nước biển. Nó cũng là ngọn núi cao thứ hai ở Tây và Nam bán cầu, cao nhất ở Chile. Nó nằm cách khoảng 600 km (370 dặm) về phía bắc so với Aconcagua, ngọn núi cao nhất ở Tây bán cầu với độ cao 6.962 m (22.841 ft).

Do vị trí của nó gần sa mạc Atacama, ngọn núi có điều kiện rất khô với tuyết thường xuất hiện trên đỉnh núi trong mùa đông, mặc dù trận bão lớn có thể kéo tuyết tại đây và các khu vực xung quanh đi một vài feet ngay cả trong mùa hè. Mặc dù điều kiện khí hậu ở đây khắc nghiệt và khô cằn, nhưng trên đỉnh núi có một hồ miệng núi lửa có đường kính khoảng 100 mét (300 ft), ở độ cao 6.390 m (20,960 ft) và nằm về phía đông của Ojos del Salado. Đây chính là hồ nước cao nhất trên thế giới.

Lên được đỉnh Ojos del Salado chủ yếu là đi bộ được trừ đoạn cuối cùng của cuộc hành trình cần phải có dây thừng để tới được đích. Cuộc hành trình đầu tiên lên đỉnh núi đã được thực hiện vào năm 1937 bởi Alfred Jan Szczepański và Justyn Wojsznis, là các thành viên của một đoàn thám hiểm dãy núi Andes người Ba Lan.

Tên của nó xuất phát từ việc có lượng lớn muối trong các đầm phá và đỉnh núi, thậm chí xuất hiện ngay trong các sông băng tại đây.

R136a1

R136a1 là một ngôi sao khổng lồ với khối lượng gấp 256 lần khối lượng Mặt Trời, và có độ sáng gấp 7,7 triệu lần độ sáng Mặt Trời, có bề mặt nóng đến 56.000 độ C (100.832 độ F), tức gấp 9 lần so với Mặt trời. R136a1 là ngôi sao nặng nhất và sáng nhất đã được con người quan sát thấy.

Rừng sương mù

Rừng mây mù hay rừng sương mù thường là rừng thường xanh nhiệt đới hay cận nhiệt đới, trên vùng núi ẩm ướt, đặc trưng bởi lớp mây tầng thấp bao phủ, có thể lâu dài, thường xuyên hoặc theo mùa, thường ở tầng tán chính. Rừng sương mù thường biểu lộ sự phong phú các loại rêu bao phủ mặt đất và thảm thực vật, do đó chúng cũng thường được xem là rừng rêu. Các rừng rêu thường phát triển tại các đèo yên ngựa trên núi, nơi mà hơi nước được đưa vào bởi sự lắng đọng của các đám mây được giữ lại có hiệu quả hơn.

Tocopilla

Tocopilla là một thành phố của Chile và là tỉnh lỵ của tỉnh Tocopilla, tọa lạc ở vùng Antofagasta, nằm ở phía Bắc của Chile.

Hàng năm Tocopilla kỷ niệm ngày 29 tháng 9 với một chương trình lớn vào ngày hôm trước, bao gồm một cuộc diễu hành trên đường phố chính của thành phố, thức ăn và màn pháo hoa vào lúc nửa đêm.

Thành phố được chia thành hai phần chính bao gồm thành phố trung tâm và phần nhỏ hơn được gọi là La Villa Sur (trong đó có những ngôi nhà sang trọng hơn). Hai phần được chia bởi nhà máy nhiệt điện và nhà máy quy mô lớn chuyên chế biến và vận chuyển kali nitrat, với đường cao tốc ven biển nối liền hai phần.

Phần phía bắc của Tocopilla là các tòa nhà thành phố, quảng trường trung tâm và một số lượng lớn các cửa hàng. Những con dốc lớn của thành phố từ bãi biển đến sườn đồi dọc được bao phủ trong nhà và căn hộ được xây sát nhau để tiết kiệm không gian. Một bãi biển nhân tạo lớn được gọi là "Covadonga" và một bãi biển nhân tạo nhỏ gọi là "Caleta Boy" là những điểm thu hút chính trong mùa hè cho những người dân muốn trốn khỏi cái nóng từ hoang mạc Atacama gần đó thổi đến. Ở phía bắc của thành phố, có một bãi biển cát đen gọi là "El Panteón".

Tocopilla là nơi sinh ra của nghệ sĩ Alejandro Jodorowsky và cầu thủ bóng đá nổi tiếng Alexis Sánchez.

Tương lai của Trái Đất

Tương lai của Trái Đất về mặt sinh học và địa chất có thể được ngoại suy dựa trên việc ước lượng những tác động trong dài hạn của một số yếu tố, bao gồm thành phần hóa học của bề mặt Trái Đất, tốc độ nguội đi ở bên trong của nó, những tương tác trọng lực với các vật thể khác trong hệ Mặt Trời, và sự tăng dần lên trong độ sáng của Mặt Trời. Nhân tố bất định trong phép ngoại suy này là ảnh hưởng liên tục của những công nghệ mà loài người phát minh ra, chẳng hạn như kỹ thuật khí hậu, có khả năng gây ra những thay đổi lớn tới Trái Đất. Sự kiện tuyệt chủng Holocen đang diễn ra là hậu quả của công nghệ và những tác động của nó có thể kéo dài tới năm triệu năm. Từ đó, công nghệ có khả năng sẽ dẫn đến sự tuyệt chủng của loài người, để hành tinh quay trở lại nhịp độ tiến hóa chậm hơn chỉ nhờ vào những quá trình tự nhiên diễn ra một cách lâu dài.Giữa những khoảng thời gian dài tới hàng trăm triệu năm, các sự kiện vũ trụ ngẫu nhiên có khả năng đe dọa tới sinh quyển của Trái Đất trên quy mô toàn cầu và thậm chí gây tuyệt chủng hàng loạt. Chúng bao gồm những sự va chạm với sao chổi hoặc tiểu hành tinh có bán kính từ 5–10 km (3,1–6,2 mi) trở lên, và một vụ nổ siêu tân tinh xảy ra trong vòng bán kính 100 năm ánh sáng tính từ Mặt Trời (được gọi là siêu tân tinh gần Trái Đất. Các sự kiện địa chất quy mô lớn khác thì dễ dự đoán hơn. Nếu bỏ qua tác động lâu dài của sự ấm lên toàn cầu, học thuyết Milankovitch dự đoán rằng Trái Đất sẽ tiếp tục trải qua các thời kỳ băng hà ít nhất là cho đến khi kỷ băng hà Đệ tứ kết thúc. Điều này là kết quả của độ lệch tâm quỹ đạo, độ nghiêng trục quay và tiến động của quỹ đạo Trái Đất. Trong chu kỳ biến đổi của các siêu lục địa (chu kì siêu lục địa) đang tiếp diễn, hoạt động kiến tạo mảng có khả năng sẽ tạo nên một siêu lục địa sau 250–350 triệu năm. Trong khoảng 1,5–4,5 tỉ năm tới, độ nghiêng trục quay của Trái Đất có thể sẽ bắt đầu thay đổi một cách hỗn loạn với độ chênh lệch lên tới 90° so với hiện tại.

Trong suốt 4 tỉ năm tới, độ sáng của Mặt Trời sẽ ngày càng tăng lên, làm gia tăng lượng phóng xạ Mặt Trời ảnh hưởng tới Trái Đất. Điều này đẩy nhanh tốc độ phong hóa của các khoáng vật silicat, làm giảm hàm lượng cacbon điôxít trong khí quyển. Trong vòng khoảng 600 triệu năm, hàm lượng CO2 sẽ là không đủ để các thực vật C3 tiếp tục quang hợp. Mặc dù một số các thực vật khác sử dụng phương pháp cố định cacbon C4 vẫn có thể quang hợp với hàm lượng CO2 thấp tới 10 phần triệu, trong dài hạn toàn bộ thực vật vẫn sẽ không thể sống sót. Sự tuyệt chủng của thực vật, thành phần chủ chốt trong chuỗi thức ăn trên Trái Đất, cũng sẽ làm cho hầu hết các loài động vật diệt vong.Trong vòng 1,1 tỉ năm tới, mặt trời sẽ sáng hơn 10% so với hiện tại. Điều này khiến cho hiệu ứng nhà kính trong khí quyển Trái Đất không ngừng gia tăng và các đại dương sẽ dần bay hơi hết. Do đó, hoạt động kiến tạo mảng sẽ dừng lại và chu trình cacbon cũng chấm dứt theo. Kết quả là Trái Đất sẽ mất đi từ trường và từ quyển, làm gia tăng tốc độ mất vật chất trong khí quyển vào không gian. Đến thời điểm đó, hầu hết hoặc tất cả sự sống trên Trái Đất sẽ không còn tồn tại. Kết cục nhiều khả năng xảy ra nhất là Trái Đất sẽ bị Mặt Trời nuối chửng vào khoảng 7,5 tỉ năm tới, khi nó đã trở thành một sao khổng lồ đỏ và nở rộng ra tới quỹ đạo Trái Đất.

Tổ chức Nghiên cứu thiên văn châu Âu tại Nam Bán cầu

Đài thiên văn phía Nam của Châu Âu (tiếng Anh: European Southern Observatory (ESO), tiếng Pháp: Observatoire européen austral), tên chính thức là Tổ chức Nghiên cứu thiên văn châu Âu tại Nam Bán cầu (tiếng Anh: European Organization for Astronomical Research in the Southern Hemisphere, tiếng Pháp: Organisation Européenne pour des Recherches Astronomiques dans l'Hémisphere Austral) là một tổ chức nghiên cứu liên chính phủ về thiên văn học, kết hợp từ mười bốn nước thuộc châu Âu và Brasil (2010). Được thành lập năm 1962 với mục đích cung cấp những cơ sở tiên tiến nhất và khả năng quan sát bầu trời ở Nam Bán cầu cho các nhà thiên văn châu Âu. Tổ chức này nổi tiếng với những đài thiên văn và điều hành những kính thiên văn lớn nhất, công nghệ hiện đại nhất trên thế giới; như Kính thiên văn công nghệ mới (NTT), đây là kính tiên phong áp dụng công nghệ quang học chủ động, và kính thiên văn rất lớn - VLT (Very Large Telescope), gồm bốn kính đường kính 8 m và bốn kính phụ đường kính 1,8 m.

Nhiều cơ sở quan sát của tổ chức đã đóng góp những khám phá thiên văn quan trọng, cũng như thực hiện một vài danh lục thiên văn học. Một trong những khám phá gần đây đó là sự khám phá ra vụ bùng phát tia gamma xa nhất và chứng cứ cho một lỗ đen tại trung tâm của thiên hà chúng ta, dải Ngân Hà. Năm 2004, kính VLT đã cho phép các nhà thiên văn học chụp được bức ảnh trực tiếp đầu tiên về một hành tinh ngoại hệ 2M1207b, nó quay xung quanh lùn nâu cách Mặt Trời 173 năm ánh sáng. Nhờ phổ kế HARPS mà tổ chức đã phát hiện ra nhiều hành tinh ngoài Hệ Mặt Trời, bao gồm một hành tinh với khối lượng khoảng 5 lần khối lượng Trái Đất, Gliese 581c. Kính VLT cũng đã quan sát thấy một trong những thiên hà xa nhất Abell 1835 IR1916 đồng thời cung cấp thêm bằng chứng về thiên hà xa nhất cho tới tháng 11/2010, thiên hà UDFy-38135539.

Đài thiên văn La Silla

Đài thiên văn La Silla là một đài thiên văn ở Chile với ba kính thiên văn được xây dựng và điều hành bởi Đài thiên văn Nam Âu (ESO). Một số kính thiên văn khác được đặt tại địa điểm và được duy trì bởi một phần ESO. Các đài quan sát là một trong những lớn nhất ở Nam bán cầu và là người đầu tiên ở Chile để được sử dụng bởi ESO.Các kính thiên văn La Silla và các công cụ đang nằm 150 km về phía đông bắc của La Serena ở vùng ngoại ô của Chile sa mạc Atacama, một trong những vùng khô nhất và xa xôi nhất của thế giới. Cũng giống như các đài thiên văn khác trong khu vực địa lý này, La Silla nằm cách xa nguồn ô nhiễm ánh sáng và, giống như Đài thiên văn Paranal, quê hương của kính viễn vọng cực lớn, nó có một trong bầu trời đêm đen tối nhất trên Trái đất.

Đài thiên văn Paranal

Đài thiên văn Paranal là một đài quan sát thiên văn của Đài thiên văn Nam Âu (ESO); nó nằm ở sa mạc Atacama ở miền bắc Chile ở Cerro Paranal tại 2.635 m (8.645 ft) ở độ cao 120 km (70 dặm) về phía nam của Antofagasta. Tổng diện tích ánh sáng thu được, nó là đài thiên văn quang học hồng ngoại lớn nhất ở Nam bán cầu; trên toàn thế giới, nó là thứ hai sau Đài thiên văn Kea Mauna ở Hawaii.

Very Large Telescope (VLT), kính viễn vọng lớn nhất trên Paranal, gồm có bốn riêng biệt 8,2 m (320 in) kính thiên văn. Ngoài ra, bốn kính thiên văn chính có thể kết hợp ánh sáng của họ để làm cho một công cụ thứ năm, Very Large Telescope giao thoa (VLTI). Bốn chiếc kính thiên văn phụ trợ là 1,8 m (71) từng cũng là một phần của VLTI để làm cho nó có sẵn khi kính viễn vọng chính đang được sử dụng cho các dự án khác.

Địa điểm cũng bao gồm Kính viễn vọng VLT Survey 2,6 m và kính thiên văn khảo sát VISTA 4 mvới các lĩnh vực rộng lớn hơn của điểm khảo sát khu vực rộng lớn của bầu trời thống nhất.

Hai cơ sở mới lớn đang được xây dựng gần đó: phần phía Nam của kính thiên văn tia gammar Array Cherenkov (không thuộc sở hữu của ESO) sẽ được bố trí tại các căn cứ 10 km về phía đông nam Paranal; trong khi tương lai E-ELT ESO sẽ được trên đỉnh lân cận của Cerro Armazones 20 km về phía đông của Paranal, và sẽ chia sẻ một số thiết bị cơ bản.

Đám Mây Magellan Lớn

Đám mây Magellan lớn (viết tắt tên tiếng Anh: LMC) là một thiên hà vô định hình lùn trong nhóm láng giềng (đôi khi được coi là thiên hà vệ tinh) của Ngân Hà, là thiên hà lớn hơn trong nhóm hai thiên hà được đặt theo tên nhà thám hiểm hàng hải người Bồ Đào Nha Ferdinand Magellan (1480-1521). Với khoảng cách chưa đến 160 nghìn năm ánh sáng, LMC là thiên hà thứ ba tính từ trung tâm Ngân Hà, sau Sag DEG và Canis Major; với khối lượng gấp 10 tỷ lần khối lượng Mặt Trời của chúng ta và bán kính 7.000 năm ánh sáng, LMC chỉ bằng 1/100 Ngân Hà về khối lượng nhưng bằng 1/8 nếu so về kích thước, đứng thứ tư trong nhóm địa phương. Với cấp sao biểu kiến 0,9, LMC có thể quan sát thấy như một đám mây mờ nhạt trên bầu trời đêm của thiên cầu nam, tối hơn một chút so với sao Ngưu Lang (0,77).

Các hoang mạc trên thế giới
Châu Phi
Châu Á
Châu Úc
Châu Âu
Bắc Mỹ
Nam Mỹ
Châu Đại Dương
Vùng cực

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.