HMAS Norman (G49)

HMAS Norman (G49/D16) là một tàu khu trục lớp N đã phục vụ cùng Hải quân Hoàng gia Australia trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Được chế tạo tại Scotland vào năm 1939-1940 và nhập biên chế với một thủy thủ đoàn người Australia, Norman được đặt hàng và vẫn dưới quyền sở hữu bởi chính phủ Anh Quốc. Nó từng tham gia Chiến dịch Vigorous và Trận Madagascar, nhưng trải qua hầu hết thời gian từ năm 1942 đến đầu năm 1945 tuần tra một các bình yên tại Ấn Độ Dương. Đến tháng 1 năm 1945, nó tham gia Mặt trận Miến Điện trước khi được điều từ Hạm đội Đông sang Hạm đội Thái Bình Dương. Trong tháng 4tháng 5, Norman tham gia Trận Okinawa, và trải qua thời gian còn lại của chiến tranh tuần tra tại đảo Manus. Sau khi chiến tranh kết thúc, Norman được hoàn trả cho Anh vào tháng 10 năm 1945. Nó không được cho hoạt động trở lại và bị tháo dỡ vào năm 1958.

HMAS Norman
Tàu khu trục HMAS Norman (G49) ngoài biển
Phục vụ (Australia)
Tên gọi: HMAS Norman (G49)
Hãng đóng tàu: John I. Thornycroft & Company
Kinh phí: 402.939 Bảng Anh
Đặt lườn: 27 tháng 7 năm 1939
Hạ thủy: 30 tháng 10 năm 1940
Nhập biên chế: 15 tháng 9 năm 1941
Xuất biên chế: tháng 10 năm 1945
Số phận: Bán để tháo dỡ 1955
Đặc điểm khái quát [1]
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục N
Trọng tải choán nước: 1.773 tấn Anh (1.801 t) (tiêu chuẩn)
2.550 tấn Anh (2.590 t) (đầy tải)
Độ dài: 356 ft 6 in (108,66 m) (chung)
Sườn ngang: 35 ft 8 in (10,87 m)
Mớn nước: 9 ft (2,7 m) (đầy tải)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Parsons
2 × nồi hơi ống nước Admiralty
2 × trục
công suất 40.000 shp (30.000 kW)
Tốc độ: 36 hải lý một giờ (67 km/h; 41 mph)
Tầm xa: 5.500 nmi (10.190 km; 6.330 mi) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
183
Vũ trang:

6 x pháo QF 4,7 inch (120 mm) Mk.XII trên bệ nòng đôi CP Mk.XIX (3x2);
4 x pháo phòng không QF 2 pounder Mk.VIII (40 mm) L/39 trên bệ bốn nòng Mk.VII (1x4);
8 × súng máy 0,5 inch (12,7 mm) Mk.III trên bệ Mk.III (2x4);
10 × ống phóng ngư lôi 21 inch (530 mm) Mk. IX (2x5);

45 × mìn sâu[2]

Thiết kế và chế tạo

Lớp tàu khu trục N có trọng lượng choán nước tiêu chuẩn 1.760 tấn Anh (1.790 t), và lên đến 2.550 tấn Anh (2.590 t) khi đầy tải.[3] Nizam có chiều dài ở mực nước là 229 foot 6 inch (69,95 m) và chiều dài chung 356 foot 6 inch (108,66 m), mạn thuyền rộng 35 foot 8 inch (10,87 m) và chiều sâu tối đa của mớn nước là 16 foot 4 inch (4,98 m). Động lực được cung cấp bởi ba nồi hơi Admiralty nối liền với hai turbine hơi nước hộp số Parsons và dẫn động hai trục chân vịt, cho phép có được tổng công suất 40.000 shp (30.000 kW). Norman có thể đạt tốc độ tối đa 36 hải lý một giờ (67 km/h; 41 mph); thủy thủ đoàn của con tàu bao gồm 226 sĩ quan và thủy thủ.

Vũ khí của con tàu bao gồm sáu khẩu QF 4,7 in (120 mm) Mark XII trên ba tháp pháo nòng đôi, một khẩu QF 4 in (100 mm) Mark V, một khẩu đội QF 2 pounder "pom-pom" phòng không bốn nòng, bốn pháo Oerlikon 20 mm phòng không, bốn súng máy Vickers.50 inch trên bệ bốn nòng, bốn súng máy Lewis.303, mười ống phóng ngư lôi 21 inch (533 mm) trên hai bệ năm nòng, hai máy phóng và một đường ray thả mìn sâu với 45 quả mìn được mang theo. Khẩu pháo 4 inch của Norman sau này được tháo dỡ.

Norman được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng John I. Thornycroft & Company ở Southampton, Anh Quốc vào ngày 27 tháng 7 năm 1939. Chiếc tàu khu trục được hạ thủy vào ngày 30 tháng 10 năm 1940, và nhập biên chế cùng Hải quân Hoàng gia Australia vào ngày 15 tháng 9 năm 1941. Cho dù nhập biên chế như một tàu Australia, Norman vẫn là một tài sản của Hải quân Hoàng gia Anh. Con tàu được đặt tên theo người Norman,[4] và với phí tổn tổng cộng 402.939 Bảng Anh.

Lịch sử hoạt động

Norman quay trở về Sydney vào tháng 10 năm 1945, được cho ngừng hoạt động và hoàn trả cho Hải quân Hoàng gia Anh để đổi lấy chiếc tàu khu trục lớp Q HMAS Queenborough.[5] Norman không được cho tái hoạt động; thay vào đó, nó bị bán vào năm 1955 và bị tháo dỡ vào năm 1958.

Tham khảo

Chú thích

  1. ^ Whitley 2000, tr. 117
  2. ^ Gardiner & Chesneau 1980, tr. 41
  3. ^ Cassells 2000, tr. 69
  4. ^ Cassells 2000, tr. 71
  5. ^ Weaver 1994, tr. 87

Thư mục

  • Cassells, Vic (2000). The Destroyers: Their Battles and Their Badges. East Roseville, NSW: Simon & Schuster. ISBN 0-7318-0893-2. OCLC 46829686.
  • Gardiner, Robert; Chesneau, Roger biên tập (1980). Conway's All the World's Fighting Ships, 1922–1946. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 978-0-87021-913-9. OCLC 18121784.
  • Weaver, Trevor (1994). Q class Destroyers and Frigates of the Royal Australian Navy. Garden Island, NSW: Naval History Society of Australia. ISBN 0-9587456-3-3.
  • Whitley, M. J. (2000). Destroyers of World War Two: An International Encyclopedia. London: Cassell. ISBN 1-85409-521-8.

Liên kết ngoài

HMAS Norman

Hai tàu chiến của Hải quân Hoàng gia Australia từng được mang cái tên HMAS Norman, trong đó chiếc thứ nhất đặt theo tên người Norman, còn chiếc thứ hai được đặt theo tên sông Norman ở Queensland:

HMAS Norman (G49) là một tàu khu trục lớp J hạ thủy năm 1938 và hoàn trả cho Hải quân Hoàng gia Anh năm 1945

HMAS Norman (M 84) là một tàu săn mìn lớp Huon nhập biên chế năm 2000 và hiện vẫn đang hoạt động

Lớp tàu khu trục J, K và N

Lớp tàu khu trục J, K và N là một lớp bao gồm 24 tàu khu trục được Hải quân Hoàng gia Anh Quốc hạ thủy vào năm 1938. Sau khi lớp Tribal dẫn trước nhấn mạnh về vũ khí hải pháo hơn là ngư lôi, chúng quay trở lại thiết kế tàu nhỏ hơn với dàn vũ khí ngư lôi mạnh hơn. Chúng được chế tạo thành ba chi hạm đội, mỗi nhóm bao gồm tám tàu với tên được bắt đầu bằng các ký tự "J", "K" và "N". Ký tự dẫn đầu của ký hiệu lườn tàu được thay đổi từ "F" sang "G" vào năm 1940. Trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, chúng được cải biến liên tục, đặc biệt là vũ khí phòng không, cũng như được trang bị thêm radar. Là những tàu khu trục mạnh mẽ và hiện đại nhất của Hải quân Hoàng gia vào lúc chiến tranh nổ ra, chúng được sử dụng rộng rãi, và kết quả là phải chịu tổn thất rất cao, với sáu chiếc lớp J, sáu chiếc lớp K và một chiếc lớp N bị mất trong tổng số 24 chiếc được chế tạo.

 
 Hải quân Hoàng gia Anh
 Hải quân Hoàng gia Úc
 Hải quân Hoàng gia Hà Lan
 Hải quân Ba Lan

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.