HMAS Australia (D84)

HMAS Australia (D84) là một tàu tuần dương hạng nặng thuộc lớp County, được chế tạo tại Anh Quốc thuộc lớp phụ Kent, để hoạt động cùng Hải quân Hoàng gia Australia. Australia đã tham gia hoạt động trong suốt Chiến tranh Thế giới thứ hai, được tin là chiếc tàu chiến đầu tiên bị hư hại bởi hoạt động tấn công cảm tử kamikaze của Nhật Bản, và giữ kỷ lục ngang bằng với tàu khu trục Mỹ USS Laffey về số lần bị "kamikaze" đánh trúng là 6 lần. Sau chiến tranh nó tiếp tục phục vụ như là tàu huấn luyện cho đến khi được tháo dỡ vào năm 1955.

HMAS Australia (D84) passing through the Panama Canal in March 1935
Tàu tuần dương HMAS Australia đi qua kênh đào Panama, năm 1935
Phục vụ (Australia) Naval Ensign of Australia.svg
Hãng đóng tàu: John Brown, Clydebank, Scotland
Đặt lườn: 26 tháng 8 năm 1925
Hạ thủy: 17 tháng 3 năm 1927
Nhập biên chế: 24 tháng 4 năm 1928
Tái biên chế: 31 tháng 8 năm 1954
Biệt danh: "The Aussie"
Số phận: Bị bán để tháo dỡ 25 tháng 1 năm 1955
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu tuần dương County
Trọng tải choán nước: 9.750 tấn (tiêu chuẩn)
13.670 tấn (đầy tải)
Độ dài: 179,8 m (590 ft) (mực nước)
192 m (630 ft) (chung)
Sườn ngang: 20,8 m (68 ft 3 in)
Mớn nước: 5,3 m (17 ft 3 in) (tiêu chuẩn)
6,6 m (21 ft 6 in) (đầy tải)
Động cơ đẩy: 4 × turbine hơi nước hộp số Brown-Curtis
8 × nồi hơi ống nước Admiralty đốt dầu
4 × trục
công suất 80.000 mã lực (59,7 MW)
Tốc độ: 58,3 km/h (31,5 knot)
55,6 km/h (30 knot) (đầy tải)
Tầm xa: 24.600 km ở tốc độ 22 km/h
(13.300 hải lý ở tốc độ 12 knot)
5.740 km ở tốc độ 58 km/h
(3.100 hải lý ở tốc độ 31,5 knot)
Tầm hoạt động: 3.450 tấn dầu đốt
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
679 (848 thời chiến)
Vũ trang:

Ban đầu:
8 × pháo BL 203 mm (8 inch)/50 caliber Mark VIII (4×2)
4 × pháo phòng không QF 102 mm (4 inch)/45 caliber Mark V (4×1)


4 × pháo chào QF 3 pounder
Bọc giáp: đai giáp chính: 114 mm (4,5 inch)
vách ngăn: 25 mm (1 inch) (từ 1935)
sàn tàu: 35 mm (1,375 inch) bên trên động cơ
38 mm (1,5 inch) bên trên bánh lái
vách hầm đạn: 25-102 mm (1-4 inch) bên hông
25-64 mm (1-2,5 inch) quanh bệ tháp pháo
tháp pháo: 25 mm (1 inch)
Máy bay mang theo: 1 × máy bay Seagull III
sau là Walrus

Thiết kế và chế tạo

Australia được chế tạo bởi hãng đóng tàu John Brown tại Clydebank thuộc Scotland, được đặt lườn vào ngày 26 tháng 8 năm 1925. Nó được hạ thủy vào ngày 17 tháng 3 năm 1927, và đưa ra hoạt động vào ngày 24 tháng 4 năm 1928, hai tháng trước con tàu chị em HMAS Canberra.[1]

Lịch sử hoạt động

Chiến tranh Thế giới thứ hai

Sau khi Chiến tranh Thế giới thứ hai bắt đầu, "The Aussie" (như được nội bộ Hải quân Hoàng gia Australia gọi một cách thân mật) khai hỏa các khẩu pháo chính 203 mm (8 inch) lần đầu tiên ngoài khơi bờ biển Dakar vào cuối năm 1940, khi nó tham gia Chiến dịch Menace. Australia đã gây hư hại chiếc tàu khu trục L'Audacieux của phe Vichy Pháp, khiến nó bị mắc cạn vào ngày 2324 tháng 9; tuy nhiên, Australia cũng trúng phải đạn pháo từ các khẩu đội phòng thủ duyên hải, và chiếc thủy phi cơ trinh sát Supermarine Seagull V của nó, được cho tách ra từ Phi đội 9 Không quân Hoàng gia Australia, bị các máy bay Curtiss Hawk của phe Vichy Pháp bắn rơi.

Trong năm 1941, Australia hộ tống các đoàn tàu vận tải và tuần tra tại Đại Tây DươngẤn Độ Dương. Sau khi xảy ra trận tấn công Trân Châu Cảng mở màn cuộc Chiến tranh Thái Bình Dương, Australia được tái bố trí đến khu vực Tây Nam Thái Bình Dương, thoạt tiên trong thành phần của Hải đội ANZAC và sau đó là Lực lượng Đặc nhiệm 44. Vào tháng 5 năm 1942, trong trận chiến biển Coral, chiếc tàu tuần dương sống sót qua một cuộc tấn công ngắn nhưng ác liệt của máy bay ném bom-ngư lôi Nhật Bản. Từ ngày 26 tháng 8 năm 1942 đến giữa năm 1944, Australia nằm trong thành phần Lực lượng Đặc nhiệm 61, thực hiện bắn pháo hỗ trợ và bảo vệ cho các lực lượng Đồng Minh trên bờ trong các trận chiến trên bộ, bao gồm cuộc chiếm đóng Guadalcanalchiến dịch New Guinea, kể cả cuộc đổ bộ của Đồng Minh lên New Britain.

HMAS Australia bridge
Cầu tàu và các tháp pháo phía trước của HMAS Australia, tháng 9 năm 1944. Đại tá Hải quân Emile Dechaineux đang ở phía trước, mặc áo trắng và đang hướng sang phải.

Ngày 21 tháng 10 năm 1944, trong Trận chiến vịnh Leyte, Australia bị đánh trúng bởi một máy bay Nhật Bản mang theo một quả bom 200 kg (441 lb) trong cuộc tấn công cảm tử kamikaze lần đầu tiên. Chiếc máy bay đâm trúng cấu trúc thượng tầng bên trên cầu tàu, nhiên liệu và mảnh vụn tung tóe trên một khu vực rộng lớn. Điều còn may mắn là quả bom đã tịt ngòi; nếu không, chiếc tàu tuần dương đã có thể bị phá hủy. Ít nhất 30 thành viên thủy thủ đoàn tử nạn trong cuộc tấn công này, trong đó bao gồm Thuyền trưởng chỉ huy con tàu, Đại tá Hải quân Emile Dechaineux; trong số những người bị thương có Thiếu tướng Hải quân John Collins, tư lệnh lực lượng Australia.

Vào ngày 25 tháng 10, Australia lại bị đánh trúng một lần nữa và bị buộc phải rút lui về New Hebrides để sửa chữa. Chiếc tàu tuần dương quay trở lại chiến đấu vào tháng 1 năm 1945; và cho đến khi chiến tranh kết thúc, nó bị máy bay kamikaze đánh trúng trong sáu dịp khác nhau, khiến có tổng cộng 86 người thiệt mạng. Australia vẫn còn đang sửa chữa những hư hại do lần bị đánh trúng sau cùng khi Nhật Bản đầu hàng.

Sau chiến tranh

Sau khi chiến tranh kết thúc, Australia phục vụ như một tàu huấn luyện. Nó được cho ngừng hoạt động vào ngày 31 tháng 8 năm 1954, và được bán cho hãng BISCO để tháo dỡ vào ngày 25 tháng 1 năm 1955. Nó rời Sydney bằng tàu kéo vào ngày 26 tháng 3 năm 1955, và được tháo dỡ tại xưởng tàu của Thomas W. Ward tại Barrow-in-Furness vào năm 1956.

Các hình ảnh

HMAS Australia (D84) circa in 1932-1933

Tàu tuần dương HMAS Australia, khoảng năm 1932–1933

HMAS Australia 8 inch

Một trong những khẩu pháo 203 mm (8 inch) của tàu tuần dương HMAS Australia, được trưng bày tại Bảo tàng Chiến tranh Australia

HMAS Australia (D84) at sea on 31 August 1942

Tàu tuần dương HMAS Australia, năm 1942

Xem thêm

Phương tiện liên quan tới HMAS Australia (D84) tại Wikimedia Commons

Tham khảo

  1. ^ Royal Australian Navy, "HMAS CANBERRA (I)" (official history)

Liên kết ngoài

Danh sách tàu hư hại bởi Thần Phong

Đây là danh sách tàu Đồng Minh bị hư hại do các cuộc tấn công của lực lượng Thần phong trong Thế chiến II.

USS Aaron Ward (DM-34) (Tháng Năm, 1945)

USS Achernar (AKA-53) (Tháng Tư, 1945)

USS Achilles (ARL-41)

USS Alpine (APA-92)

USS Ammen (DD-527)

USS Anthony (DD-515)

USS Apache (ATF-67)

HMAS Arunta (I30)

HMAS Australia (D84)

USS Bache (DD-470)

USS Barry (DD-248)

USS Belknap (DD-251)

USS Belleau Wood (CVL-24)

USS Bennett (DD-473)

USS Birmingham (CL-62)

USS Bowers (DE-637)

USS Braine (DD-630)

USS Bright (DE-747)

USS Brooks (DD-232)

USS Bryant (DD-665)

USS Bullard (DD-660)

USS Bunker Hill (CV-17)

USS Butler (DD-636)

USS Cabot (CVL-28)

USS Caldwell (DD-605)

USS California (BB-44)

USS Callaway (APA-35)

USS Cassin Young (DD-793)

USS Champion (AM-314)

USS Chase (DE-158)

USS Claxton (DD-571)

USS Colorado (BB-45)

USS Columbia (CL-56)

USS Comfort (AH-6)

USS Cowell (DD-547)

USS Daly (DD-519)

USS Devilfish (SS-292)

USS Dickerson (DD-157)

USS Dorsey (DD-117)

USS Douglas H. Fox (DD-779)

USS DuPage (APA-41)

USS England (DE-635)

USS Enterprise (CV-6)

USS Essex (CV-9)

USS Evans (DD-552)

USS Facility (AM-233)

HMS Formidable (67)

USS Forrest (DD-461)

USS Franklin (CV-13)

USS Gansevoort (DD-608)

USS Gilligan (DE-508)

USS Gregory (DD-802)

USS Guest (DD-472)

USS Gwin (DM-33)

USS Haggard (DD-555)

USS Halloran (DE-305)

USS Hambleton (DD-455)

USS Hancock (CV-19)

USS Hank (DD-702)

USS Haraden (DD-585)

USS Harding (DD-625)

USS Haynsworth (DD-700)

USS Hazelwood (DD-531)

USS Henrico (APA-45)

USS Hinsdale (APA-120)

USS Hobson (DD-464)

USS Hodges (DE-231)

USS Hopkins (DD-249)

USS Howorth (DD-592)

USS Hughes (DD-410)

USS Hyman (DD-732)

HMS Indefatigable (R10)

USS Ingraham (DD-694)

USS Isherwood (DD-520)

USS J. William Ditter (DM-31)

USS Kadashan Bay (CVE-76)

USS Kalinin Bay (CVE-68)

USS Keokuk (CMc-6)

USS Kidd (DD-661)

USS Kimberly (DD-521)

USS Kitkun Bay (CVE-71)

USS La Grange (APA-124)

USS Laffey (DD-724)

USS Lamson (DD-367)

USS Leutze (DD-481)

USS Liddle (DE-206)

USS Lindsey (DM-32)

USS Louisville (CA-28)

USS Loy (DE-160)

USS LSM(R)-189

USS LST-884

USS Mahnomen County (LST-912)

USS Manila Bay (CVE-61)

SS Marcus Daly

USS Marcus Island (CVE-77)

USS Maryland (BB-46)

USS Mississippi (BB-41)

USS Montpelier (CL-57)

USS Morris (DD-417)

USS Mullany (DD-528)

USS Nashville (CL-43)

USS Natoma Bay (CVE-62)

USS Nevada (BB-36)

USS New Mexico (BB-40)

USS New York (BB-34)

USS Newcomb (DD-586)

USS O'Neill (DE-188)

USS Orestes (AGP-10)

USS Pathfinder (AGS-1)

USS Pinkney (APH-2)

USS Prichett (DD-561)

USS Purdy (DD-734)

USS Rall (DE-304)

USS Ralph Talbot (DD-390)

USS Randolph (CV-15)

USS Ransom (AM-283)

USS Rathburne (DD-113)

USS Rednour (APD-102)

USS Reno (CL-96)

USS Riddle (DE-185)

USS Roper (DD-147)

USS Salamaua (CVE-96)

USS Samuel S. Miles (DE-183)

USS Sandoval (APA-194)

USS Sangamon (CVE-26)

USS Santee (CVE-29)

USS Savo Island (CVE-78)

USS Sederstrom (DE-31)

USS Shubrick (DD-639)

USS Sims (DE-154)

USS Sonoma (AT-12)

USS Southard (DD-207)

USS Spectacle (AM-305)

USS St. George (AV-16)

USS St. Louis (CL-49)

USS Stafford (DE-411)

USS Suwannee (CVE-27)

USS Taluga (AO-62)

USS Telfair (APA-210)

USS Tennessee (BB-43)

USS Terror (CM-5)

USS Thatcher (DD-514)

USS Tyrrell (AKA-80)

USS Wadsworth (DD-516)

USS Walke (DD-723)

USS Wesson (DE-184)

USS White Plains (CVE-66)

USS Whitehurst (DE-634)

USS Wilson (DD-408)

USS Witter (DE-636)

USS Zeilin (APA-3)

HMAS Australia

Một tàu chiến của Hải quân Hoàng gia Anh và hai tàu chiến của Hải quân Hoàng gia Australia từng được mang cái tên Australia. Một chiếc thứ tư cũng được dự định để mang cái tên này, nhưng việc chuyển giao nó cho Hải quân Hoàng gia Australia bị hủy bỏ:

HMS Australia (1888) là một tàu tuần dương lớp Orlando của Hải quân Hoàng gia hoàn tất năm 1888 và bị tháo dỡ năm 1905

HMAS Australia (1911) là một tàu chiến-tuần dương lớp Indefatigable hạ thủy năm 1911 không lâu sau khi thành lập Hải quân Hoàng gia Australia và bị đánh chìm 1924 nhằm tuân thủ theo Hiệp ước Hải quân Washington

HMAS Australia (D84) là một tàu tuần dương hạng nặng lớp County hạ thủy năm 1927 và bị tháo dỡ năm 1956

Tàu sân bay Anh HMS Invincible (R05) được dự định bán cho Australia vào năm 1982 và đổi tên thành HMAS Australia, nhưng việc chuyển giao bị hủy bỏ sau cuộc Chiến tranh Falklands và cuộc tổng tuyển cử Australia năm 1983

Trận Leyte

Trận Leyte trong chiến dịch Thái Bình Dương, Chiến tranh thế giới thứ hai là một cuộc đổ bộ và chiến đấu giành sự kiểm soát Leyte thuộc quần đảo Philippines bởi lực lượng Mỹ và quân du kích Philippines dưới quyền chỉ huy Tướng Douglas MacArthur, người lãnh đạo quân Đồng Minh đối đầu với Lục quân Đế quốc Nhật Bản ở Philippines do tướng Tomoyuki Yamashita chỉ huy từ 17 tháng 10 đến 31 tháng 12 năm 1944. Trận đánh đánh dấu sự mở màng chiến dịch Philippines (1944-45) đồng thời là dấu hiệu mở đầu kết thúc cho ba năm tồn tại của nền Đệ nhị Cộng hòa Philippines, một chính thể bù nhìn bị chi phối bởi người Nhật.

USS Manila Bay (CVE-61)

USS Manila Bay (CVE-61) là một tàu sân bay hộ tống lớp Casablanca được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo trong Chiến tranh Thế giới thứ hai; tên nó được đặt theo vịnh Manila, Philippines, nơi diễn ra Trận chiến vịnh Manila trong cuộc Chiến tranh Tây Ban Nha-Hoa Kỳ vào năm 1898. Manila Bay đã hoạt động cho đến hết Thế Chiến II, xuất biên chế năm 1946, rút đăng bạ năm 1958 và bị bán để tháo dỡ năm 1959. Nó được tặng thưởng tám Ngôi sao Chiến trận do thành tích phục vụ trong Thế Chiến II.

 
Lớp Kent
Lớp London
Lớp Norfolk

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.