Hội nghị Yalta

Thỏa thuận trong Hội nghị Yalta, còn gọi là Hội nghị Crimea và tên mật là Hội nghị Argonaut (Yalta còn được viết phiên âm là I-an-ta hoặc Ianta[1]), với sự tham gia của các nhà lãnh đạo 3 cường quốc: Stalin (Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô), Roosevelt (Tổng thống Hoa Kỳ) và Churchill (Thủ tướng Anh), họp từ ngày 411 tháng 2 năm 1945 tại Cung điện Livadia, gần thành phố Yalta, miền nam Ukraina, là một hợp tác quân sự để giải quyết những bất đồng giữa 3 cường quốc, thắng trục phát xít và buộc Đức đầu hàng vô điều kiện, tổ chức lại thế giới sau chiến tranh, đưa ra chính sách với Đức cũng như với các nước được giải phóng, khi cục diện Chiến tranh thế giới thứ hai đã ngã ngũ.

Chuỗi các hội nghị 3 cường quốc bao gồm Hội nghị Tehran (1943), Hội nghị Yalta (1945) và Hội nghị Potsdam (1945).

Hội nghị quyết định việc chiếm và chia Đức ra 4 vùng chiếm đóng (thêm Pháp), việc đền bù chiến tranh. Đức phải phi quân sự hóa, phi phát xít hóa, dân chủ hóa, bồi thường chiến tranh, một trong những hình thức bồi thường là tịch thu tài sản nước Đức một lần. Liên Xô phải mở mặt trận chống Nhật từ 2–3 tháng sau khi chiến sự ở châu Âu kết thúc, đổi lấy quyền chiếm đóng Viễn Đông (quần đảo KurilTriều Tiên). Tại Hội nghị San Francisco (diễn ra từ ngày 25 tháng 4 đến ngày 26 tháng 6 năm 1945), tổ chức Liên Hợp Quốc được thành lập với sự tham gia của các nước cộng hoà xô viết như Ukraina, Belarus... Với Ba Lan, xác định biên giới phía đông theo tuyến Curzon, mở rộng lãnh thổ sang phía tây, cải tổ chính phủ lâm thời. Với Nam Tư, cần lập ngay chính phủ chung từ Ủy ban Giải phóng Dân tộc của Tito (do Liên Xô ủng hộ) và chính phủ lưu vong của Ivan Šubašić.

Yalta Conference
Crimean Conference
Argonaut Conference
Yalta summit 1945 with Churchill, Roosevelt, Stalin
Từ trái sang phải: Winston Churchill, Franklin D. RooseveltJoseph Stalin tại Hội nghị Yalta.

Trật tự lưỡng cực Yalta

Sự kiện này cũng dẫn đến việc hình thành Trật tự lưỡng cực Yalta là việc phân chia khu vực có ảnh hưởng giữa các nước lớn của phe đồng minh tại Hội nghị. Nội dung của hội nghị về việc kết thúc chiến tranh: Ba cường quốc thống nhất mục đích là tiêu diệt tận gốc Chủ nghĩa Phát xít Đức và Chủ nghĩa quân phiệt Nhật. Liên Xô sẽ tham gia chiến tranh chống Nhật tại Châu Á sau khi chiến tranh ở châu Âu kết thúc. Ba cường quốc thống nhất sẽ thành lập một tổ chức để giữ gìn hòa bình và an ninh thế giới. Hội nghị đã thông qua các quyết định quan trọng về việc phân chia ảnh hưởng của 2 cường quốc Liên Xô và Hoa Kỳ. Theo đó, Liên Xô nắm Đông Âu, Đông Đức, Đông Berlin, quần đảo Kuril (Nhật), Bắc Triều Tiên, Đông Bắc Trung QuốcMông Cổ; Hoa Kỳ nắm ảnh hưởng ở phần còn lại của châu Âu (Tây Âu), Nam Triều Tiên, phần còn lại của Nhật Bản, ở bán đảo Triều Tiên, quân đội Liên Xô chiếm đóng miền Bắc, quân đội Mỹ chiếm đóng miền Nam lấy vĩ tuyến 38 làm ranh giới quân sự, nhằm tạo cơ sở cho việc gìn giữ trật tự thế giới sau khi chiến tranh kết thúc. Anh, Pháp được khôi phục khu vực ảnh hưởng cũ. ÁoPhần Lan trở thành nước trung lập. Vùng Mãn Châu, đảo Đài Loan và quần đảo Bành Hồ được trao trả lại cho Trung Quốc. Ngoài ra, theo thỏa thuận của Hội nghị Potsdam, lấy vĩ tuyến 16 làm ranh giới, việc giải giáp quân đội Nhật được giao cho quân đội Anh về phía Nam và quân đội Trung Hoa Dân Quốc về phía Bắc.

Trật tự lưỡng cực Yalta vào năm 1945 đã góp phần hình thành hai hệ thống xã hội đối lập: Tư bản chủ nghĩaXã hội chủ nghĩa. Nước Đức chia hai hình thành nhà nước với hai chế độ chính trị khác nhau: Cộng hòa Liên bang Đức ở phía Tây và Cộng hòa Dân chủ Đức phía Đông. Sự chia cắt thành Bắc Triều TiênHàn Quốc mà vẫn còn tồn tại cho đến bây giờ. Nhưng việc chia cắt theo giới tuyến quân sự tạm thời là vĩ tuyến 17 giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu ở phía Bắc và Quốc gia Việt Nam thuộc Liên hiệp Pháp do Bảo Đại làm quốc trưởng ở phía Nam theo Hiệp định Geneve 1954 không phải là hệ quả của các thỏa thuận giữa các nước đồng minh 1943 đến 1945. Sau 1956, Pháp rút quân, chính phủ Bảo Đại vốn thừa kế Liên hiệp Pháp, đã bị thay thế bởi sự lật đổ của Ngô Đình Diệm bằng việc tổ chức một cuộc Trưng cầu dân ý phế truất Quốc trưởng Bảo Đại vào năm 1955 đương chuyến công du của ông sang Pháp. Sau đó đã cấm không cho Bảo Đại về miền Nam Việt Nam. Những thỏa thuận của 3 cường quốc ở Hội nghị Yalta như vậy đã xâm phạm đến vấn đề chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ cũng như lợi ích dân tộc của các quốc gia này.

Sau chiến tranh, hai hệ thống xã hội nêu trên càng được phát triển bởi:

  • Kế hoạch Marshall đối với các nước Tây Âu của Mĩ.
  • Sự thành lập Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) vào năm 1949 của khối các nước Xã hội Chủ nghĩa.

Trải qua hơn 40 năm, "Trật tự lưỡng cực Yalta" đã từng bước bị xói mòn và sau những biến động to lớn ở Đông Âu và Liên Xô trong những năm 1988–1991, "Trật tự lưỡng cực Yalta" đã bị sụp đổ, do Khối Đông Âu và các liên minh trong phạm vi ảnh hưởng chủ yếu của Liên Xô (liên minh quân sự – khối Hiệp ước Vacxava và liên minh kinh tế – khối SEV) đã bị tan vỡ và do đó thế "lưỡng cực" của hai siêu cường Hoa Kỳ và Liên Xô trong trật tự thế giới cũ đã bị phá vỡ.

Thuật ngữ "Trật tự lưỡng cực Yalta" thường chỉ được dùng trong sách giáo khoa các nước theo Xã hội chủ nghĩa.

Chú thích

  1. ^ trong sách giáo khoa và đề thi do Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam ấn hành
1945

1945 là một năm bắt đầu vào ngày Thứ hai trong lịch Gregory. Theo âm dương lịch Việt Nam, năm 1945 có đa số các ngày trùng với năm âm lịch Ất Dậu.

4 tháng 2

Ngày 4 tháng 2 là ngày thứ 35 trong lịch Gregory. Còn 330 ngày trong năm (331 ngày trong năm nhuận).

Chiếm đóng các nước Baltic

Chiếm đóng các nước Baltic chỉ hành động chiếm đóng quân sự tại các nước Baltic—Estonia, Latvia và Litva— bởi Liên Xô sau thỏa thuận Hiệp ước Xô-Đức ký vào ngày 14 tháng 6 năm 1940. Các nước Baltic bị sáp nhập vào Liên Xô như là các nước cộng hòa bộ phận của Liên Xô, sự sáp nhập này không được đa số các quốc gia khác công nhận. Vào ngày 22 tháng 6 năm 1941 Đức Quốc xã tấn công Liên Xô, chỉ trong vài tuần quân Đức đã chiếm đóng các nước vùng Baltic. Vào tháng 7 năm 1941 các lãnh thổ Baltic được nhập vào vùng bảo hộ Ostland của Đức Quốc xã. Với kết quả của cuộc chiến thắng Chiến dịch Baltic vào năm 1944, Liên Xô đã tái chiếm lại hầu hết các nước Baltic và dăng bẫy các lực lượng quân Đức còn lại tại lòng chảo Courland cho tới khi quân Đức đầu hàng vào năm 1945. Sau đó, sự sáp nhập các nước vùng Baltic trong hệ thống của Liên Xô kéo dài mãi tới tháng 8 năm 1991 thì họ giành lại được độc lập.

Tại các nước vùng Baltic Hoa Kỳ và các tòa án tư pháp của những nước này, Nghị viện châu Âu, tòa án Nhân quyền châu Âu và Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc đồng thuận tuyên bố cả ba nước bị xâm lược, chiếm đóng và sáp nhập trái phép theo các điều khoản của Hiệp ước Molotov-Ribbentrop năm 1939, đầu tiên bởi Liên Xô, sau đó bởi Đức Quốc xã trong thời gian 1941-1944, và một lần nữa bởi Liên Xô từ năm 1944 đến năm 1991. Chính sách không công nhận này đã làm tăng nguyên tắc pháp lý liên tục, về khía cạnh pháp luật quốc tế, các nước vùng Baltic vẫn là các quốc gia độc lập dưới sự chiếm đóng bất hợp pháp của Liên Xô suốt giai đoạn từ năm 1940 đến năm 1991.Trong việc xét lại lịch sử Liên Xô được bắt đầu trong thời kỳ perestroika vào năm 1989, Liên Xô đã lên án các giao thức bí mật 1939 giữa Đức và chính họ. Tuy nhiên, Liên Xô không bao giờ chính thức thừa nhận sự hiện diện của họ trong vùng Baltic như là một cuộc xâm lăng cũng như hành động sáp nhập các nước trong vùng này, và coi Estonia, Latvia và Lithuania là các nước cộng hòa hợp hiến của họ. Sách lịch sử theo chủ nghĩa dân tộc yêu nước và các sách giáo khoa ở Nga tiếp tục diễn giải các nước Baltic tự nguyện gia nhập Liên Xô sau khi các nước cùng thực hiện các cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, độc lập với ảnh hưởng của Liên Xô. Chính phủ Nga và quan chức nhà nước của nó khăng khăng lập luận rằng việc sáp nhập các nước Baltic là phù hợp với luật pháp quốc tế và đã đạt được sự công nhận hợp pháp thông qua các thỏa thuận được thực hiện từ Hội nghị Yalta, Hội nghị Potsdam và Hiệp ước Helsinki, trong khi Hiệp định chỉ cam kết tình trạng biên giới hiện tại sẽ không bị vi phạm. Tuy nhiên, Nga đồng ý với đòi hỏi của châu Âu "hỗ trợ những người bị trục xuất khỏi các nước Baltic bị chiếm đóng" khi tham gia Hội đồng châu Âu. Thêm vào đó, khi Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Liên bang Xô viết Nga đã ký một hiệp ước riêng biệt với Lithuania vào năm 1991, nó thừa nhận việc sáp nhập vào năm 1940 là một sự vi phạm chủ quyền của Lithuania và công nhận tính liên tục de jure của nhà nước Lithuania.Hầu hết các chính phủ phương Tây nhấn mạnh là chủ quyền các nước Baltic đã bị tước đoạt một cách hợp pháp và do đó tiếp tục công nhận các nước Baltic như những thực thể chính trị có chủ quyền, và được đại diện bởi các công sứ vốn được bổ nhiệm bởi chính phủ các nước Baltic vào thời điểm trước 1940, họ hoạt động ở Washington và ở những nước khác. Sự độc lập trên thực tế được khôi phục lại ở các nước vùng Baltic vào năm 1991 khi Liên Xô tan rã. Nga bắt đầu rút quân khỏi vùng Baltic (bắt đầu từ Litva) vào tháng 8 năm 1993. Việc thu hồi đầy đủ các binh sĩ được triển khai bởi Moscow đã được hoàn thành vào tháng 8 năm 1994. Nga chính thức kết thúc sự hiện diện quân sự tại vùng Baltic trong tháng 8 năm 1998 thông qua việc ngừng hoạt động trạm radar Skrunda-1 ở Latvia. Các trạm được tháo dỡ và mang về Nga, và khu vực được giao lại cho Latvia kiểm soát, với người lính Nga cuối cùng rời khỏi đất Baltic vào tháng 10 năm 1999.

Chiến dịch Mãn Châu (1945)

Chiến dịch Mãn Châu hay Chiến dịch tấn công chiến lược Mãn Châu (tiếng Nga: Манчжурская стратегическая наступательная операция), hay Cuộc tấn công của Liên Xô vào Mãn Châu hay Chiến tranh chống lại Nhật Bản của Liên Xô (tiếng Nhật:ソ連対日参戦) theo cách gọi của phía Nhật Bản, là một chiến dịch quân sự của Quân đội Liên Xô nhằm vào Đạo quân Quan Đông của Đế quốc Nhật Bản tại Mãn Châu, được thực hiện theo thoả thuận của Liên Xô với các nước Đồng Minh tại Hội nghị Yalta tháng 2 năm 1945. Đây cũng là chiến dịch quân sự trên bộ lớn nhất trong Chiến tranh Thái Bình Dương, được bắt đầu vào ngày 9 tháng 8 và kết thúc ngày 2 tháng 9 năm 1945.

Được chỉ huy bởi một thế hệ tướng lĩnh trưởng thành trong nghệ thuật quân sự Xô viết, Quân đội Liên Xô đã thực hành vận động chiến một cách linh hoạt ở mọi cấp độ, nhanh chóng xuyên thủng các khu vực phòng thủ ngoại vi, thọc sâu vào trung tâm, chia cắt, làm tê liệt và bức hàng đạo quân Quan Đông, kiểm soát Mãn Châu, Bắc Triều Tiên và miền Nam Sakhalin chỉ trong vòng 2 tuần, tạo tiền đề cho việc đổ bộ chiếm đóng thành công quần đảo Kuril trong thời gian ngắn sau đó.

Cùng với hai quả bom nguyên tử được ném xuống Nhật Bản ngày 6 và 9 tháng 8 năm 1945, thành công của chiến dịch Mãn Châu đã góp phần thúc đẩy Đế quốc Nhật Bản nhanh chóng chấp nhận đầu hàng vô điều kiện, kết thúc chiến tranh và tạo thời cơ cho một loạt quốc gia châu Á giành quyền độc lập tự chủ.

Chiến tranh Triều Tiên

Chiến tranh Triều Tiên (ở Hàn Quốc Hangul: 한국전쟁; Hanja: 韓國戰爭; Romaja: Hanguk Jeonjaeng, "Korean War"; ở CHDCND Triều Tiên Chosŏn'gŭl: 조국해방전쟁; Hancha: 祖國解放戰爭; MR: Choguk haebang chǒnjaeng là cuộc chiến xảy ra và kéo dài từ giữa năm 1950 đến năm 1953 trên bán đảo Triều Tiên bị chia cắt vì sự chiếm đóng tạm thời của Liên Xô và Hoa Kỳ. Chiến sự được châm ngòi vào ngày 25 tháng 6 năm 1950 khi Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (Bắc Triều Tiên) tấn công Đại Hàn Dân quốc (Nam Triều Tiên). Từ một cuộc chiến quy mô nhỏ giữa hai lực lượng đối nghịch trên bán đảo Triều Tiên, quy mô cuộc chiến đã trở nên lớn khi lực lượng của Liên hiệp quốc được Hoa Kỳ lãnh đạo và sau đó là Chí nguyện quân của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa can thiệp.

Lực lượng hỗ trợ chính cho miền Bắc là Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa với sự tiếp ứng hạn chế của Liên Xô trong hình thức các cố vấn quân sự, phi công quân sự và vũ khí. Đại Hàn Dân quốc được lực lượng Liên Hiệp Quốc, chủ yếu là quân đội Hoa Kỳ, hỗ trợ. Trước cuộc xung đột, CHDCND Triều Tiên và Đại Hàn Dân quốc tồn tại như hai chính phủ lâm thời đang tranh giành ảnh hưởng kiểm soát toàn bộ Bán đảo Triều Tiên.

Sau ba năm, chiến cuộc tạm ngưng khi hai miền đạt được một thỏa hiệp ngừng bắn vào ngày 27 tháng 7 năm 1953, và vì không có hiệp định hòa bình nên trên thực tế, cuộc chiến này vẫn chưa kết thúc cho đến tận nay. Xung đột quy mô nhỏ vẫn diễn ra, hai bên tiếp tục ở trong tình trạng chiến tranh và có thể phát động tấn công bất ngờ mà không cần tuyên chiến. Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (Bắc Triều Tiên) vẫn tiếp tục đầu tư rất lớn cho quân đội và coi việc thống nhất đất nước Triều Tiên là mục tiêu cao nhất của họ. Trong khi đó, Mỹ vẫn duy trì 28.000 quân tại Hàn Quốc để ngăn chặn việc Bắc Triều Tiên tấn công Hàn Quốc một lần nữa. Hiện nay, lập trường của hai bên là đối nghịch nhau khi họ đều cho rằng chính phủ mình mới là hợp pháp và chính danh trong việc tấn công đối phương nhằm thống nhất đất nước Triều Tiên.

Franklin D. Roosevelt

Franklin Delano Roosevelt (30 tháng 1 năm 1882 – 12 tháng 4 năm 1945, thường được gọi tắt là FDR) là Tổng thống Hoa Kỳ thứ 32 và là một khuôn mặt trung tâm của các sự kiện thế giới trong giữa thế kỷ XX. Là tổng thống Hoa Kỳ duy nhất được bầu hơn hai nhiệm kỳ, ông tạo ra một liên minh bền vững giúp tái tổ chức nền chính trị Hoa Kỳ trong nhiều thập niên. FDR đánh bại đương kim tổng thống Cộng hòa là Herbert Hoover trong cuộc bầu cử tổng thống vào tháng 11 năm 1932 ở thời điểm tệ hại nhất của cuộc Đại khủng hoảng. Chính nhờ vào chủ nghĩa lạc quan và sự năng nổ hoạt động của ông đã làm cho tinh thần quốc gia sống dậy. Tuy nhiên các sử gia và kinh tế gia vẫn còn đang tranh luận về tính thông thái trong các chính sách của ông. Ông lãnh đạo Hoa Kỳ qua Chiến tranh thế giới thứ hai, mất khi đang bắt đầu nhiệm kỳ thứ tư của mình khi chiến thắng Đức và Nhật gần kề một bên.

Trong một trăm ngày đầu tiên với vai trò tổng thống, bắt đầu từ ngày 4 tháng 3 năm 1933, Roosevelt đã khởi động rất nhiều chương trình lớn khác nhau. Trong nhiệm kỳ đầu tiên (1933–37), FDR đã hướng dẫn Quốc hội Hoa Kỳ thông qua chương trình kinh tế Kinh tế Mới. Đây là một loạt gồm nhiều chương trình phức hợp lớn có liên quan với nhau nhằm giải cứu khủng hoảng (đặc biệt là tạo ra các việc làm của chính phủ dành cho người thất nghiệp) và cải cách kinh tế (theo ông có nghĩa là lập ra quy định kiểm soát đối với Phố Wall, ngân hàng và giao thông). Nền kinh tế cải thiện nhanh chóng từ năm 1933 đến 1937 nhưng lúc đó cũng đang rơi vào một tình trạng khủng hoảng sâu. Liên minh bảo thủ lưỡng đảng hình thành vào năm 1937 đã ngăn cản ông "đưa người" vào Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ hoặc thông qua quá nhiều luật mới; liên minh này cũng đã hủy bỏ phần lớn các chương trình trợ cấp khi tình trạng thất nghiệp thực tế chấm dứt trong suốt Chiến tranh thế giới thứ hai. Phần lớn các quy định kiểm soát thương nghiệp chấm dứt vào khoảng thời gian từ năm 1975–85, trừ quy định kiểm soát đối với Phố Wall do Ủy ban Giao dịch và Chứng khoán Hoa Kỳ đảm trách vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Cùng với một số chương trình nhỏ hơn, chương trình lớn còn tồn tại đến ngày nay là chương trình An sinh Xã hội được quốc hội thông qua năm 1935.

Vào lúc Chiến tranh thế giới thứ hai sắp bùng nổ sau năm 1938 khi Nhật Bản xâm lược Trung Hoa và Đức Quốc xã trở nên hiếu chiến, FDR đã giang tay hỗ trợ tài chính và ngoại giao mạnh mẽ cho Trung Hoa và Anh Quốc trong lúc vẫn duy trì chính thức tình trạng trung lập. Mục tiêu của ông là phải tạo cho nước Mỹ thành "kho vũ khí dân chủ" — cung cấp đạn dược vũ khí trong khi các quốc gia khác thực hiện việc chiến đấu. Tháng 2 năm 1941, với sự chấp thuận của Quốc hội Hoa Kỳ thông qua Đạo luật Lend-Lease, Roosevelt cung cấp viện trợ cho các quốc gia chiến đấu chống Đức Quốc xã bên cạnh Anh Quốc. Ông được Quốc hội Hoa Kỳ gần như nhất trí cho phép tuyên chiến với Nhật Bản sau khi Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng vào ngày 7 tháng 12 năm 1941. Ông trông coi việc tổng động viên toàn lực nền kinh tế Hoa Kỳ để hỗ trợ cho những nỗ lực chiến tranh của đồng minh, bị chỉ trích vì lúng túng lúc ban đầu nhưng chứng kiến tình trạng thất nghiệp biến mất và nền kinh tế phát triển lên đỉnh cao chưa từng có trước đó.

Roosevelt đã chi phối nền chính trị Mỹ, không chỉ trong suốt 12 năm làm tổng thống mà còn nhiều thập niên về sau. Ông là nhạc trưởng của việc tái phối trí cử tri mà sau đó hình thành nên Hệ thống đảng phái lần thứ 5. Liên minh New Deal của ông đã qui tụ được các công đoàn lao động, những cỗ máy thành phố lớn (?), các sắc tộc da trắng, những người nhận trợ cấp xã hội, người Mỹ gốc châu Phi và những người nông dân da trắng ở miền Nam Hoa Kỳ. Ảnh hưởng ngoại giao của Roosevelt cũng vang dội trên sân khấu thế giới rất lâu sau khi ông qua đời trong đó phải kể đến Liên Hiệp Quốc và Hệ thống Bretton Woods là những thí dụ về sức ảnh hưởng rộng lớn của chính phủ ông. Roosevelt từ trước đến nay luôn được các học giả đánh giá là một trong số các tổng thống vĩ đại của Hoa Kỳ.

Hà Lan sáp nhập lãnh thổ Đức sau Chiến tranh thế giới thứ hai

Vào cuối Thế chiến II, các kế hoạch đã được thực hiện ở Hà Lan để sáp nhập lãnh thổ Đức như là sự đền bù cho những thiệt hại do chiến tranh gây ra. Vào tháng Mười năm 1945, Chính phủ Hà Lan hỏi Đức cho 25 tỷ guilder trong bồi thường. Vào tháng 2 năm 1945, nó đã được thành lập tại Hội nghị Yalta rằng các khoản bồi thường sẽ không được đưa ra dưới dạng tiền tệ. Kế hoạch được thực hiện chi tiết nhất là kế hoạch do Frits Bakker Schut thực hiện, và do đó được gọi là Kế hoạch Bakker-Schut.

Ở dạng tham vọng nhất, kế hoạch này bao gồm các thành phố Cologne, Aachen, Münster và Osnabrück, và sẽ mở rộng khu vực châu Âu của đất nước từ 30 đến 50%. Dân số địa phương đã phải bị trục xuất, hoặc, khi vẫn nói tiếng địa phương gốc tiếng Đức thấp, tiếng Hà Lan. Kế hoạch đã bị hủy bỏ phần lớn sau khi Mỹ bác bỏ. Cuối cùng, một khu vực có tổng kích thước 69 km 2 đã được phân bổ cho Hà Lan. Hầu như tất cả những thứ này đã được trả lại cho Tây Đức vào năm 1963 sau khi Đức trả cho Hà Lan 280 triệu nhãn hiệu Đức.

Nhiều người Đức sống ở Hà Lan đã được tuyên bố là "đối tượng của kẻ thù" sau khi Thế chiến II kết thúc và được đưa vào một trại thực tập trong một chiến dịch có tên là Black Tulip. Tổng cộng có 3.691 người Đức cuối cùng đã bị trục xuất.

Hậu quả của Chiến tranh thế giới thứ hai

Chiến tranh thế giới thứ hai đã để lại hậu quả kéo dài trong khoảng thời gian từ năm 1945 - 1957. Thế giới từ chỗ đa cực đã chuyển thành lưỡng cực với sự thống trị tuyệt đối của 2 nước thắng trận mạnh nhất là Liên Xô và Hoa Kỳ.

Hội nghị Potsdam

Hội nghị Potsdam được tổ chức ở Cecilienhof, cung điện của thái tử Wilhelm Hohenzollern, tại Potsdam, Đức từ 17 tháng 7 đến 2 tháng 8 năm 1945. Các quốc gia tham dự hội nghị là Liên bang Xô Viết, Anh và Mỹ. Đại diện của ba quốc gia gồm có tổng bí thư đảng cộng sản Liên Xô Joseph Stalin, thủ tướng Anh Winston Churchill người sau đó được thay bởi Clement Attlee, và tổng thống Mỹ Harry S. Truman. Stalin, Churchill và Truman - cũng như Atlee, người thay thế Churchill làm thủ tướng Anh sau khi đảng Lao động giành chiến thắng trước đảng Bảo Thủ trong cuộc bầu cử năm 1945 - đã nhóm họp để thống nhất về cách tái tổ chức nước Đức thời hậu chiến, quốc gia đã đồng ý đầu hàng vô điều kiện chín tuần trước đó. Mục đích của hội nghị bao gồm cả việc thành lập trật tự thế giới mới thời hậu chiến, những vấn đề về hiệp ước hòa bình và cách thức giải quyết hậu quả của chiến tranh.

Lavrentiy Pavlovich Beriya

Lavrentiy Pavlovich Beria (tiếng Gruzia: [ლავრენტი პავლეს ძე ბერია, Lavrenti Pavles dze Beria] ; tiếng Nga: Лавре́нтий Па́влович Бе́рия; 29 tháng 3 năm 1899 – 23 tháng 12 năm 1953) là một chính trị gia Liên Xô, Nguyên soái Liên Xô và là người phụ trách an ninh quốc gia, lãnh đạo bộ máy an ninh và cảnh sát mật Liên Xô (NKVD) thời Iosif Vissarionovich Stalin trong Thế chiến II, và là Phó Thủ tướng trong những năm thời hậu chiến (1946–1953).

Beria trở thành lãnh đạo của NKVD từ tháng 11 năm 1938, sau khi người tiền nhiệm Yezhov bị hạ bệ. Beria lập tức cho điều tra lại các hành động tra tấn, bắt người, vu oan trong thời kì của Yezhov, kết quả là 100.000 người được thả và Yezhov cùng nhiều tay chân bị xử bắn vì tội lạm quyền.

Beria là một trong những lãnh đạo an ninh cầm quyền lâu dài nhất và có ảnh hưởng lớn nhất trong thời Stalin. Ông điều hành nhiều vùng rộng lớn của Liên Xô và là chỉ huy của lực lượng vũ trang của NKVD trong cuộc chiến tranh chống phát xít Đức, chỉ huy và điều phối hoạt động của các lực lượng du kích Liên Xô trong hậu phương Đức, điều phối các hoạt động tình báo và phá hoại trong hậu phương Đức, xử lý các trường hợp đào ngũ, phản bội, vô kỷ luật trong hàng ngũ quân đội Liên Xô. Beria cũng coi sóc các trại cải tạo lao động Gulag và điều hành các viện nghiên cứu bí mật bao hàm các nhà khoa học bị vướng vòng lao lý (gọi là sharashka). Ông cũng tham dự Hội nghị Yalta. Sau chiến tranh, Beria hỗ trợ hoạt động của các đảng cộng sản và đồng minh trong cuộc đấu tranh giành quyền lực ở các nước Đông Âu.

Beria còn là người lãnh đạo chương trình chế tạo thành công bom nguyên tử của Liên Xô, vì ông là người có khả năng lãnh đạo, điều hành giỏi, có thái độ cứng rắn và không khoan nhượng, và là người có khả năng đem lại kết quả cho các dự án.

Tháng 3 năm 1953, Stalin qua đời. Beria trở thành phó thủ tướng thứ nhất của Liên Xô. Ông là một trong bộ ba cầm quyền trong thời gian này cùng với G. Malenkov và V. Molotov. Tuy nhiên, Khruschyov đã tiến hành một cuộc đảo chính dưới sự hỗ trợ của các tướng lĩnh quân đội, bắt giam Beria và kết án ông phản quốc. Beria bị xử bắn ở tầng hầm của tổng hành dinh quân khu Moskva bởi tướng Pavel Batitsky.

Lãnh thổ ủy trị Hội Quốc Liên

Lãnh thổ Ủy trị Hội Quốc Liên là một địa vị pháp lý cho một số khu vực nhất định được chuyển từ quyền kiểm soát của một quốc gia sang nước khác sau chiến tranh thế giới thứ nhất hoặc các công cụ pháp lý có các điều khoản được quốc tế đồng ý để quản lý lãnh thổ thay mặt cho Hội Quốc Liên. Đó là bản chất của cả hiệp định và hiến pháp, trong đó có các điều khoản về quyền thiểu số cung cấp cho các quyền khiếu nại và xét xử của Toà án Quốc tế. Chế độ uỷ trị được thành lập theo Điều 22 của Công ước Liên đoàn Quốc gia, được ký kết vào ngày 28 tháng 6 năm 1919. Với sự tan rã Liên đoàn các quốc gia sau chiến tranh thế giới II, nó đã được quy định tại Hội nghị Yalta rằng các uỷ trị còn lại phải là Đặt dưới sự ủy trị của Hội Quốc liên, tùy thuộc vào các cuộc thảo luận trong tương lai và các thỏa thuận chính thức. Hầu hết các nhiệm vụ còn lại của Liên đoàn các quốc gia (ngoại trừ Nam Phi-Tây Phi) do đó cuối cùng trở thành Các lãnh thổ Tin cậy của Hội Quốc liên.

Hai nguyên tắc điều hành đã hình thành cốt lõi của Hệ thống Uỷ trị, không phải là sự sáp nhập lãnh thổ và chính quyền của nó như một "sự tin tưởng thiêng liêng của nền văn minh" để phát triển lãnh thổ vì lợi ích của người dân bản xứ.Khi Hội Quốc Liên ngừng hoạt động năm 1946, hầu hết các lãnh thổ ủy trị này (trường hợp ngoại trừ là Tây-Nam Phi) được chuyển đổi thành Lãnh thổ Ủy thác Liên Hiệp Quốc và được quản lý bởi Hội đồng Quản thác Liên Hiệp Quốc.

Quan hệ tam cường Đồng Minh trong Chiến tranh thế giới thứ hai

Tam cường Đồng minh trong Chiến tranh thế giới thứ hai gồm có Liên Xô, Hoa Kỳ và Anh.Cả ba nước đều

góp nhiều công lao cho chiến thắng cuối cùng của Quân đồng minh.Nhờ sự liên kết chặt giữa các nước trên mà quân đồng minh có thể chiến thắng.

Sự phản bội của phương Tây

Sự phản bội của phương Tây ý muốn nói tới việc Vương quốc Anh và nước Pháp đã không làm tròn bổn phận về luật pháp, ngoại giao, quân sự và đạo đức đối với đất nước của người Séc và người Ba Lan ở Trung Âu trước và sau cuộc thế chiến thứ Hai.

Đặc biệt, nó nói tới việc đối xử với Tiệp Khắc trong Hiệp ước München đưa tới việc Đức chiếm đóng Tiệp Khắc, cũng như sự thất bại của đồng minh phương Tây để giúp đỡ Ba Lan chống lại cuộc xâm lăng của người Đức và Liên Xô vào năm 1939. Ngoài ra nó cũng nói tới sự nhượng bộ của Hoa Kỳ và Vương quốc Anh đối với Liên Xô trong hội nghị Tehran, hội nghị Yalta và hội nghị Potsdam, thái độ của họ trong cuộc khởi nghĩa Warszawa, và các biến cố khác, mà đã phân bố vùng này vào vùng ảnh hưởng của Liên Xô, tạo ra khối phía Đông.

Về lịch sử, những cái nhìn như vậy trộn lẫn với những biến cố địa chính trị đặc biệt nhất của thế kỷ 20, bao gồm sự vượt dậy và giao quyền lực cho đế chế thứ ba Đức (Đức Quốc xã), sự nổi dậy của Liên Xô (USSR) như là một siêu cường kiểm soát phần lớn của Âu Châu, và nhiều hiệp ước khác nhau, các liên minh, và các thế đứng trong và sau thế chiến thứ Hai, và trong thời chiến tranh lạnh.

Tây Âu

Tây Âu là một khái niệm chính trị – xã hội xuất hiện trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh để chỉ khu vực của châu Âu, nằm kề các nước thuộc khối Warszawa và Nam Tư về phía tây. Đây là hệ thống chính trị và kinh tế đối lập với Đông Âu, vốn là khu vực chịu ảnh hưởng của Liên Xô từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Thuật ngữ này được dùng khi đề cập đến yếu tố kinh tế, chính trị, lịch sử hơn là nói về sự phân cách đất đai cụ thể. Các quốc gia trung lập được xác định theo bản chất bộ máy chính trị.

Ranh giới văn hóa và tôn giáo giữa Tây Âu và Đông Âu xen phủ lẫn nhau, không đơn giản phân định một cách chính xác bởi những biến động lịch sử.

USS Quincy (CA-71)

USS Quincy (CA-71) là một tàu tuần dương hạng nặng lớp Baltimore của Hải quân Hoa Kỳ, là chiếc tàu chiến thứ ba của Hải quân Mỹ mang cái tên này. Nguyên được đặt tên là USS St. Paul, con tàu được đổi tên thành Quincy trước khi hạ thủy nhằm tưởng niệm chiếc tàu tuần dương hạng nặng USS Quincy (CA-39) đã bị đánh chìm trong Trận chiến đảo Savo vào ngày 9 tháng 8 năm 1942.

Quincy đã hoạt động tại mặt trận châu Âu và Thái Bình Dương trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, từng phục vụ đưa Tổng thống Roosevelt tham dự Hội nghị Yalta năm 1945. Được tạm ngừng hoạt động sau khi chiến tranh kết thúc, nó được cho tái hoạt động vào năm 1952 để góp mặt trong Chiến tranh Triều Tiên trước khi ngừng hoạt động hẳn vào năm 1954, rút đăng bạ năm 1973 và bị bán để tháo dỡ vào năm 1974.

USS Springfield (CL-66)

USS Springfield (CL-66/CLG-7/CG-7) là một tàu tuần dương hạng nhẹ của Hải quân Hoa Kỳ thuộc lớp Cleveland được hoàn tất trong hoặc ngay sau Chiến tranh Thế giới thứ hai. Tên của nó được đặt theo thành phố Springfield thuộc tiểu bang Illinois, và nó là chiếc tàu chiến thứ ba của Hải quân Mỹ mang cái tên này. Springfield đã tham gia đoàn tàu hộ tống cho Tổng thống Franklin D. Roosevelt đi dự Hội nghị Yalta trước khi chuyển sang phục vụ tại Mặt trận Thái Bình Dương cho đến khi chiến tranh kết thúc và được tặng thưởng hai Ngôi sao Chiến đấu. Giống hầu hết các tàu chị em cùng lớp, nó ngừng hoạt động không lâu sau đó được đưa về lực lượng dự bị.

Sau gần mười năm bị bỏ không, Springfield là một trong số ba chiếc lớp Cleveland được cải biến thành tàu tuần dương tên lửa điều khiển thuộc lớp Providence, đồng thời cũng cải biến để phục vụ như soái hạm, nên đã mở rộng cấu trúc thượng tầng phía trước và tháo dỡ hầu hết vũ khí phía mũi. Được tái hoạt động trở lại với ký hiệu lườn mới CLG-7 (sau là CG-7), nó hoạt động thuần túy tại khu vực Đại Tây Dương và Địa Trung Hải. Springfield được cho ngừng hoạt động lần cuối cùng vào năm 1974 và bị tháo dỡ không lâu sau đó.

Yalta

Yalta (phiên âm Tiếng Việt: I-an-ta; Tiếng Ukraina và Tiếng Nga: Ялта, Tiếng Krym Tatar: Yalta) là một thành phố ở Krym, miền nam Ukraina, trên bờ bắc của biển Đen.

Thành phố này thuộc vùng thuộc địa cũ của Hy Lạp và được cho rằng thành lập bởi các thủy thủ Hy Lạp, những người tìm kiếm bờ biển an toàn để cập bến. Thành phố nằm cạnh một vịnh sâu hướng thằng về phía nam biển Đen, xung quanh được bao bọc bởi núi rừng. Vùng này sở hữu khí hậu Địa Trung Hải ấm áp với các vườn nho và cây ăn quả ở các vùng lân cận thành phố.

Thuật ngữ "Yalta mở rộng" dùng để chỉ phần duyên hải của Krym kéo dài từ Foros ở phía tây đến Gurzuf ở phía đông, bao gồm Yalta và các đô thị kế cận.

Đây là nơi tổ chức hội nghị Yalta giữa Mỹ, Anh và Liên Xô năm 1945 nhằm thiết lập trật tự thế giới mới - trật tự hai cực Yalta khi mà kết cục chiến tranh thế giới lần thứ hai đã ngã ngũ.

Đông Neisse

Đông Neisse, còn được biết đến với tên tiếng Ba Lan là Nysa Kłodzka (tiếng Đức: Glatzer Neiße, tiếng Séc: Kladská Nisa), là một con sông ở phía tây nam Ba Lan, một nhánh bên trái của sông Oder, với chiều dài là 188 km (dài thứ 21) và diện tích lưu vực là 4.570 km² (3.742 ở Ba Lan).Trước Thế chiến II, nó là một phần của Đức. Trong Hội nghị Yalta, nó đã được các đồng minh phương Tây thảo luận như là một dòng sông biên giới phía tây Ba Lan. Các nỗ lực đã được thực hiện để đàm phán một thỏa hiệp với Liên Xô trên biên giới mới giữa Ba Lan-Đức; nó đã được đề xuất rằng Đông Neisse là một ranh giới. Điều này có nghĩa là (Đông) Đức có thể đã giữ lại khoảng một nửa Silesia, bao gồm hầu hết Wrocław (trước đây là Breslau). Tuy nhiên, Liên Xô đã từ chối lời đề nghị tại Hội nghị Potsdam và nhấn mạnh rằng ranh giới phía nam giữa Đức và Ba Lan sẽ được kéo về phía tây, tại Lusatian Neisse.

Đông Âu

Đông Âu hoặc Khối Đông Âu là một khái niệm chính trị – xã hội chủ yếu bị ảnh hưởng bởi Chiến tranh Lạnh, là yếu tố chính tạo ra biên giới của nó. Biên giới của nó được củng cố hữu hiệu trong các giai đoạn cuối của Chiến tranh thế giới thứ hai (sau Hội nghị Yalta) và bao trùm tất cả các quốc gia nằm dưới quyền ảnh hưởng và kiểm soát của Liên Xô, liên kết bởi các liên minh – liên minh quân sự (Khối Warszawa) và liên minh kinh tế (Khối SEV hay còn gọi là Hội đồng Tương trợ Kinh tế). Vì các quốc gia này theo chế độ cộng sản và nằm ở phía đông của châu Âu, với ranh giới là dãy Ural và Kavkaz nên chúng được sắp xếp một cách tự nhiên thành các quốc gia Đông Âu.

Tuy nhiên, định nghĩa này đã dần lỗi thời sau những biến động to lớn ở Đông Âu và Liên Xô trong những năm 1988–1991, khi mà Đông Đức đã sáp nhập với Tây Đức qua cuộc thống nhất nước Đức, và trở thành một phần của Tây Âu. Khối Đông Âu đã bị tan vỡ và cùng theo với sự tan vỡ này, các liên minh trên tuyên bố tự giải thể.

Theo cách sử dụng và nhận thức thông thường, Đông Âu trước đây (và bây giờ theo quy mô hẹp hơn) khác với Tây Âu vì những dị biệt về văn hoá, chính trị và kinh tế, biên giới của nó có chút liên quan tới yếu tố địa lý. Dãy núi Ural là biên giới địa lý rõ ràng của Đông Âu, Đông Âu nằm ở phía tây dãy Ural. Tuy nhiên đối với Phương Tây, biên giới tôn giáo và văn hóa giữa Đông và Tây Âu có sự nằm chồng lên nhau đáng kể và quan trọng nhất là sự thay đổi bất thường trong lịch sử khiến việc hiểu về nó một cách chính xác gặp phải đôi chút khó khăn.

Đông Âu gồm có:

Lãnh thổ châu Âu của Nga, một quốc gia xuyên lục địa.

Các quốc gia Baltic:

Estonia

Latvia

Litva.

Phần lớn các nước Balkan, trừ Hy Lạp được xem là một phần của Tây Âu, và lãnh thổ châu Âu của Thổ Nhĩ Kỳ thường thì không tính vào.

Slovenia

Croatia

Bosna và Hercegovina

Serbia

Montenegro

Macedonia

Albania

Bulgaria

Các quốc gia khác:

Ba Lan

Cộng hòa Séc

Slovakia

Hungary

Belarus

Ukraina

România

Moldova.

Thông tin
Nước chủ nhà Liên Xô
Thời gian4–11 Tháng 2 1945
Địa điểmLivadia Palace
Thành phốYalta, Nga xô Viết, Liên xô
Tham giaLiên Xô Joseph Stalin
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Winston Churchill
Hoa Kỳ Franklin D. Roosevelt
Trước đóHội nghị Tehran
Kế tiếpHội nghị Potsdam
Quan hệ ngoại giao giữa các nước trong Chiến tranh thế giới thứ hai
Hiệp ước
Hội nghị quan trọng
Sự kiện lớn
Thập niên 1940
Thập niên 1950
Thập niên 1960
Thập niên 1970
Thập niên 1980
Thập niên 1990
Xem thêm
Tổ chức
Chạy đua
Ý thức hệ
Tuyên truyền
Chính sách ngoại giao

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.