Hồng Quân

Hồng Quân là cách gọi vắn tắt của Hồng quân Công Nông (tiếng Nga: Рабоче-крестьянская Красная армия; dạng ký tự Latin: Raboche-krest'yanskaya Krasnaya armiya, viết tất: RKKA), tên gọi chính thức của Lục quân và Không quân Liên Xô. Hồng Quân cùng với các lực lượng khác (Hải quân, Bộ đội biên phòng, Lực lượng cảnh vệ nội vụ, Lực lượng cận vệ quốc gia) tạo thành Lực lượng vũ trang Liên Xô. Từ "hồng" (màu đỏ) là màu của cách mạng. Hồng quân được những người Bolshevik thành lập ngày 28 tháng 1 năm 1918 (ngày 15 tháng 1 theo lịch Julius). Ngày thành lập chính thức là ngày 23 tháng 2 năm 1918, ngày quân Đức ngừng tấn công Petrograd và ký hòa ước. Tư lệnh đầu tiên của Hồng Quân là Lev Davidovich Trotsky.

Tới năm 1922, Hồng Quân chính thức trở thành quân đội chính quy của Liên bang Xô viết. Đến tháng 2 năm 1946, Hồng quân được đổi tên thành Quân đội Xô viết (Советская Армия) và bao gồm các lực lượng vũ trang Xô viết ngoại trừ hạm đội.

Hồng quân là lực lượng quân đội lớn nhất thế giới từ thập niên 1940 cho tới khi Liên Xô tan rã vào năm 1991 (mặc dù kể từ thập niên 1960, Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc có quân số lớn hơn Hồng quân nhưng số lượng trang bị vũ khí hạng nặng nhìn chung là ít hơn).

Hồng quân Công Nông Xô viết
Red star with hammer and sickle
Hoạt động15 tháng 1 1918 – 25 tháng 2 1946
Quốc gia
Phục vụĐảng Cộng sản Liên Xô
Phân loạiQuân đội
Chức năngLục quân
Tham chiến

Lịch sử

Lực lượng vũ trang Liên Xô
Red Army Badge

Red Army flag
Bộ phận hợp thành
Tên lửa chiến lược
Lục quân
Phòng không
Không quân
Hải quân
Cấp bậc trong Quân đội Xô viết
Cấp bậc và quân hiệu của Quân đội Xô viết
Lịch sử của Quân đội Xô viết
Lịch sử Quân đội Liên bang Xô viết
Lịch sử cấp bậc quân đội Nga

Nền tảng ban đầu của Hồng quân

Khi nguy cơ của cuộc Nội chiến Nga đã dần trở thành hiện thực, những người lãnh đạo Bôn-sê-vích đã nhìn thấy sự cần thiết phải thay thế lực lượng Cận vệ Đỏ tạm thời bằng một quân đội chuyên nghiệp lâu dài. Hội đồng Dân ủy đã thiết lập Hồng quân theo một sắc lệnh vào ngày 28 tháng 1 năm 1918[1] với nòng cốt là lực lượng Cận vệ Đỏ. Tuy nhiên ngày thành lập chính thức Hồng Quân được tính là ngày 23 tháng 2 năm 1918, đó là ngày biệt đội lớn đầu tiên của Hồng quân xuất hiện ở Petrograd và Moskva và là ngày trận đánh đầu tiên với quân đội Đế quốc Đức trên sông Neva[2]. Cuộc nội chiến đang manh nha đã bùng phát dữ dội sau khi Lenin giải tán Hội đồng Lập hiến Nga và ký Hoà ước Brest-Litovsk, khi các lực lượng Bolshevik mới thành lập phải đối mặt với các lực lượng chống Bolshevik liên minh lỏng lẻo, được biết đến với tên Bạch vệ.

Tư lệnh đầu tiên của Hồng quân là Lev Davidovich Trotsky, Bộ trưởng Dân ủy Chiến tranh từ năm 1918 đến 1924, người được ghi công về việc tạo ra một lực lượng quân đội có kỷ cương từ những người tình nguyện ô hợp[3]. Trotsky quyết định bổ sung sĩ quan cho đội quân non nớt của mình bằng những sĩ quan và hạ sĩ quan cũ của quân đội Đế quốc Nga[4]. Điều này bị phái "Cộng sản cánh tả", đứng đầu là Nikolai Ivanovich Bukharin phản đối, vì cho rằng lính chế độ Sa hoàng là không đáng tin.

Các cơ quan quyền lực Bolshevik thành lập một ủy ban đặc biệt do Lev Glezarov đứng đầu, và đến giữa tháng 8 năm 1920 đã huy động được 48.000 sĩ quan Sa hoàng cũ, 10.300 nhân viên hành chính và 214.000 hạ sĩ quan cũ[5]. Phần lớn giữ chức vụ "chuyên gia quân sự". Một số chỉ huy Quân đội Xô viết lỗi lạc trước đây là những tướng lĩnh thuộc quân đội của Sa hoàng. Người chỉ huy đơn vị trong những ngày đầu của Hồng quân được lựa chọn theo phương pháp bầu chọn từ những người lính thành viên trong đơn vị[6].

Một bước đi quan trọng khác là nỗ lực thống nhất các tổ chức quân sự của Bolshevik và thành lập Hội đồng Quân sự Cách mạng vào ngày 6 tháng 9 năm 1918. Trotsky là chủ tịch của Hội đồng Quân sự Cách mạng, dưới ông là Ioakim Ioakimovich Vatsetis, Đại tá của quân đội chế độ cũ, người Latvia, trở thành Tổng tư lệnh Hồng quân đầu tiên.

Khẩu hiệu ban đầu của Hồng quân là "Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đang lâm nguy!" để kêu gọi đăng ký nhập ngũ nhưng không huy động đủ quân số, do vậy chế độ nghĩa vụ quân sự được thiết lập vào ngày 29 tháng 5 năm 1918.

Trotsky và những người Bolshevik sau đó đã phải cố gắng rất nhiều để diệt tận gốc các "đội quân vô chính phủ" trong những tháng hỗn loạn đầu tiên của Hồng quân, theo phương châm "Cổ vũ, Tổ chức và Báo thù", và trong vài trường hợp phải sử dụng đến biện pháp cứng rắn như xử bắn để trừng phạt những kẻ đào ngũ[7]. Để đảm bảo lòng trung thành của những quân nhân từng phục vụ Sa hoàng và để gắn kết những thành phần Hồng Quân khác nhau, chức danh Chính ủy tại các đơn vị được bổ nhiệm với những người là đảng viên Bolshevik trung kiên. Vào mùa hè năm 1918 việc bầu chọn chỉ huy đơn vị chấm dứt, hệ thống lãnh đạo các đơn vị Hồng quân với Chính ủy và Chỉ huy đơn vị do bổ nhiệm được xác lập.

Nội chiến Nga

Giai đoạn đầu tiên của cuộc nội chiến

Giai đoạn này kéo dài từ Cách mạng tháng Mười cho đến đình chiến vào tháng 11 năm 1918. Các lực lượng chính chống lại chính quyền Xô Viết có thể liệt kê bao gồm:

Lực lượng Kazak
Mâu thuẫn phát sinh giữa những người ngụ cư trên phần đất truyền thống của người Kazak. Chính quyền Xô Viết đứng về phía những người ngụ cư và giành quyền điều hành vùng đất truyền thống này của người Kazak trên sông Đông. Cuộc đấu tranh giành chính quyền trên vùng đất này dân đến việc Đại hội những người Kazak lựa chọn tướng Aleksei Maksimovich Kaledin, một vị tướng trong quân đội Sa hoàng trước đây, làm người đứng đầu lực lượng quân tình nguyện của mình. Các đội quân tình nguyện lấy màu trắng của thời Sa hoàng làm tượng trưng được thành lập nhanh chóng tại vùng sông Đông và thường được gọi là quân Bạch vệ.
ĐứcÁo
Hoà ước Brest-Litovsk được ký dẫn đến quân Đức và Áo giành được loạt vùng đất cũ của Đế quốc Nga như Estonia, Latvia, Lítva cùng các vùng khác như một số vùng của tỉnh Pshkov, Petrogradsky, cùng với đó một loạt vùng đất rộng lớn của Belarus, Ukraina, Krym, Dosky, một phần bán đảo Taman, tỉnh Voronezh, Kursk đều năm vào tay Đức và Áo.
Anh
Tháng 3 năm 1918 quân Anh đánh chiếm Arkhangelsk, tiếp đó tháng 7 quân Anh đánh chiếm Murmansk.
Nhật Bản
Ngày 5 tháng 4 năm 1918 quân Nhật chiếm Vladivostok.
Khối Liên minh (Entente)
Ở phía Bắc dưới sự bảo trợ Liên minh Anh-Pháp (theo hiệp ước Entente), chính quyền Bạch vệ được thiết lập và thành lập các đạo quân. Hai đạo quân lớn đến hơn 4500 người như "Đạo quân Lê dương Slav-Anh" hay "Đội quân tình nguyện Murmansk" với lực lượng sĩ quan chỉ huy chủ yếu từ quân đội Sa hoàng cũ.
Đạo quân Tiệp Khắc
Một lực lượng nữa gây tạo nên sự rối ren thời kỳ đầu của Nội chiến là cuộc nổi dậy của đội quân Tiệp Khắc. Vào đầu Chiến tranh thế giới thứ nhất hai quốc gia Séc và Slovakia bị Đế quốc Áo-Hung thôn tính. Đề quốc Áo-Hung là kẻ thù của đế quốc Nga. Đội quân này được Sa hoàng nước Nga thành lập dựa trên các tù binh của mặt trận này theo kế hoạch sẽ gửi lại mặt trận nhưng chưa thực hiện thì đã bị phá vỡ bởi các sự kiện tháng 10 năm 1917 tại Petrograd. Theo thỏa thuận với những người Bolshevik đội quân sẽ được đưa về Pháp theo đường cảng Vladivostok. Trên đường đi đến cảng bằng tàu hỏa đội quân này nổi dậy.
Lực lượng tướng Kolshak
Sự nổi dậy của đoàn quân Tiệp Khắc dẫn đến hình thành một Hội đồng lập hiến của những người Menshevik với tên KOMUCh (Комуч, viết tắt của комитета членов Учредительного Собрания). Chính quyền Xô viết trong một vùng rộng lớn ở Sibira sụp đổ. Một chính quyền lâm thời Sibira hình thành với đội quân của Đô đốc Aleksandr Vasiliyevich Kolchak.

Diễn biến chính

Lenin, Trotsky and Voroshilov with Delegates of the 10th Congress of the Russian Communist Party (Bolsheviks)
Lenin, Trotsky và binh sĩ Hồng quân ở Petrograd

Ba lực lượng chính của Bạch vệ ngay từ những ngày đầu của cuộc nội chiến đã tấn công Nhà nước Xô viết gồm:

  • Tại khu vực sông Đông đội quân Kazak của tướng Ivan Alekseyevich Kornilov (sau khi ông chết 13 tháng 4 năm 1918, tướng Anton Ivanovich Denikin đứng đầu đội quân này)
  • Tại Siberia quân của Đô đốc Kolchak đóng ở Omsk
  • Tại Tây bắc là đạo quân của tướng Nikolai Nikolaevich Yudenich

Tháng 9 năm 1918 chính quyền Menshevik yếu ớt KOMUCh bị sụp đổ do cả hai lực lượng Bạch vệ và Hồng quân. Quân của Đô đốc Kolchak chiếm Ural. Quân của Denikin tiến vào Kiev, ngày 13 tháng 10 năm 1919 chiếm thành phố Oryol. Quân của tướng Yudenich đe dọa trực tiếp Petrograd tháng 9 năm 1919.

Với những nỗ lực cải tổ Hồng quân của Trotsky, cuối năm 1919 các cuộc tấn công mạnh mẽ của Bạch vệ bị dừng lại và vào đầu năm 1920 Hồng quân tấn công mạnh trên tất cả các mặt trận với Tập đoàn kỵ binh số 1 của tướng Semyon Mikhailovich Budyonny.

Tướng Yudenich với khẩu hiệu "Một nước Nga thống nhất và không thể chia cắt" đã không nhận được sự trợ giúp của Estonia và Phần Lan, đến cuối năm 1919, tướng này phải lui quân về lãnh thổ Estonia và sau đó bị bắt.

Tháng 1 năm 1920, Đô đốc Kolchak bị chính quyền Menshevik bắt tại Irkutsk rồi được giao cho Hồng quân, đến ngày 7 tháng 2 bị xử bắn.

Lực lượng của tướng Denikin cùng một lúc chống lại người Kazak, và tại Ukraina họ chiến đấu cả với Hồng quân, quân của tướng Petlyura và cả đội quân của tướng Makhno. Đây là hai lực lượng quân sự mạnh của Ukraina. Sau cái chết của Đô đốc Kolchak, Denikin trở thành thủ lĩnh của Bạch vệ nhưng không nhìn thấy tương lai của Bạch vệ nên ngày 4 tháng 4 năm 1918 rời bỏ quyền lực lên tàu biển sang Anh.

Ngày 10 tháng 1 năm 1920, Hồng quân tiến vào thành phố Rostov-na-Donu (Rostov bên bờ sông Đông). Đội quân tình nguyện Kazak bị dồn lên phía Bắc. Ngày 8 tháng 2, Hồng quân chiếm Odessa. Ngày 27 tháng 3, Hồng quân chiếm Novorossyisk.

Sau khi các đạo quân bị tiêu diệt ngày 20 tháng 2 năm 1920, chính quyền phía Bắc và quân đội của họ chạy sang Na Uy và Phần Lan. Ngày 21 tháng 2 năm 1920, chính quyền phía Bắc về tay Hồng quân.

Ngày 28 tháng 10 Hồng quân vượt qua Sivas tiến về phía Krym. Ngày 14 đến ngày 16, Hồng quân đẩy Bạch vệ ra khỏi Krym.

Czechoslovaks victims of Bolshveki near Vladivostok
Binh sĩ của Trung đoàn 6 Tiệp Khắc bị Hồng quân tiêu diệt trong thời kỳ Nội chiến 1918-1922

Trong những năm 1919-1921 còn xảy ra cuộc Chiến tranh Ba Lan-Xô Viết. Sau khi ký Hoà ước Brest-Litovsk, nước Nga công nhận về pháp lý sự độc lập của Ba Lan. Trên thực tế Ba Lan đã bị Đức chiếm từ mùa hè năm 1915. (Tại Đông Âu Đức chiếm Ba Lan, Litva, một phần Belarus, một phần Latvia và một phần Ukraina).

Sau khi giành độc lập, chính quyền Ba Lan của tướng Pilsudski lập kế hoạch đánh chiếm các lãnh thổ của Nga từ biển Baltic đến Hắc Hải. Quân Ba Lan tấn công vào Ukraina, và ngày 6 tháng 5 năm 1920, quân Ba Lan chiếm được Kiev. Giữa tháng 7 năm 1920, quân Ba Lan bị Hồng quân đẩy về biên giới. Từ ngày 13 đến ngày 20 tháng 8 năm 1920,Hồng quân dưới sự chỉ huy của Thống chế Mikhail Nikolayevich Tukhachevsky đã vây thành Warszawa nhưng cuối cùng bị quân của tướng Józef Piłsudski đẩy lui. Tháng 3 năm 1921 hòa ước được ký. Ba Lan chiếm được vùng lãnh thổ rộng hàng trăm ngàn km2 phía tây Belarus và phía tây của Ukraina.

Kết thúc cuộc nội chiến

Vào ngày 6 tháng 4 năm 1920, những người Bolshevik thành lập nước Cộng hòa Viễn đông (Дальневосточную Республику (ДВР)) bao gồm vùng Vladivostok, vùng Kha-ba-rốp-xcơ, vùng A-mua, vùng Ngoại Bai-can Bắc đảo Sakhalin, bán đảo Cam-sát-ca... với mục tiêu xây dựng một vùng đệm giữa nước Nga và các vùng bị Nhật chiếm (Một kẻ thù đáng gờm mà nước Nga đã phải trả giá trong cuộc chiến tranh 1905).. Những lực lượng chính ở vùng Viễn đông thời kỳ 1920 gồm: những người Bolshevik, quân đội của nước Cộng hòa Viễn đông, quân đội Nhật Bản và quân Kazak vùng Ngoại Baikan. Vào mùa thu năm 1920, quân Nhật rút khỏi Ngoại Baikan.

Nước Cộng hòa Viễn đông nhanh chóng hoàn toàn nằm dưới sự điều khiển của nước Nga Xô viết, đa số đại biểu Quốc hội của nước Cộng hòa Viễn đông là đảng viên Bolshevik, Quân đội Nhân dân Cách mạng được coi như một thành phần của Hồng quân. Điều này dẫn đến việc những tổ chức Bạch vệ tại các vùng nổi dậy và kết quả ngày 26 tháng 5 năm 1921 với sự hậu thuẫn của Nhật Bản, chính quyền ở Vladivostok vào tay anh em nhà Merkulov. Tháng 6 năm 1922, Tướng Bạch vệ Đi-te-ric lập ra hội đồng tự quản địa phương. Chính quyền này đã bị Quân đội nhân dân cách mạng đánh bại. 24 tháng 10 năm 1922 Quân đội cách mạng tiến quân vào Vladivostok. Đến tháng 7 năm 1923, toàn bộ quân Bạch vệ bị loại khỏi vùng Viễn Đông.

Vào những năm 1920-1921, một số đông các binh sĩ quân đội Đế quốc Nga quay trở về cuộc sống nông dân nghèo khổ. Đây là nguyên nhân của một loạt cuộc nổi dậy của "Cơn lũ Xanh" – tên gọi các phong trào nổi dậy tại khắp các vùng bởi đội "Quân xanh". Đội quân này chống lại cả Hồng Quân và Bạch vệ vì những đòi hỏi cụ thể cho cộng đồng địa phương mà họ sinh sống. Các đội quân Xanh này nổi dậy rất mạnh tại vùng Antonov, vùng Tam-bốp (Антонова на Тамбовщине).. Với việc thay đổi một loạt chính sách về kinh tế và quân sự như chuyển từ chế độ Cộng sản thời chiến sang chính sách Kinh tế mới (НЭП), đời sống ở vùng nông thôn tốt lên khiến các lực lượng Quân xanh giải giáp dần, nhưng một số nhóm vẫn còn hoạt động du kích chống lại chính quyền Xô viết đến tận những năm 1930.

Các lực lượng mà Hồng quân đã đánh bại trong cuộc nội chiến

  1. Bạch vệ;
  2. Quân Kazak vùng sông Đông;
  3. Quân Xanh;
  4. Quân đội của các dân tộc theo chủ nghĩa quốc gia (như quân đội Ukraina...)
  5. Các đội quân vô chính phủ;
  6. Một loạt các đội quân nước ngoài ngoài như Ba Lan, Phần Lan, Đức, Mỹ, Nhật, Séc...

Một bức tranh hỗn loạn rất đặc trưng của thời kỳ nội chiến này là bức tranh chính trị tại Ukraina: chính quyền chuyển từ tay Bạch vệ của tướng Denikin - sang quân vô chính phủ của tướng Nestor Makhno - chính phủ "bù nhìn" thân Đức Skoropadsky - Các chính phủ của những người theo chủ nghĩa Quốc gia như chính quyền Pêt-lu-ra)- hàng loạt chính quyền Xô viết-Sự chiếm đóng của quân Ba Lan, Đức, Áo, Pháp... Tình trạng đó là một ví dụ điển hình về sự hỗn loạn của thời Nội chiến Nga.

Giai đoạn kéo dài từ tháng 1 đến tháng 11 năm 1919 là giai đoạn quyết định. Thoạt đầu, bước tiến của quân Bạch vệ từ phía nam (do Anton Ivanovich Denikin chỉ huy), phía đông (do Aleksandr Vasilevich Kolchak chỉ huy) và phía tây bắc (do Nikolai Nikolaevich Yudenich chỉ huy) đều thành công, đẩy lùi Hồng Quân mới thành lập trên cả ba mặt trận. Nhưng Trotsky đã cải tổ Hồng Quân và đẩy lùi lực lượng của Kolchak (vào tháng 6) và quân đội của Denikin và Yudenich (vào tháng 10)[8]. Sức mạnh của quân Bạch vệ tan rã gần như đồng thời vào giữa tháng 11, và vào tháng 1 năm 1920 đoàn kỵ binh do Budenny dẫn đầu đã tiến đến Rostov-on-Don. Vào năm 1919-1921, Hồng Quân cũng tham gia Chiến tranh Ba Lan-Xô Viết, trong cuộc chiến này, Hồng Quân đã đánh bại cuộc tấn công của Ba Lan, sau đó tiến đến trung tâm Ba Lan vào năm 1920, nhưng sau đó phải chịu một thất bại tại đó, dẫn đến kết cục cho cuộc chiến. Sau thất bại của tướng Bạch vệ Pyotr Nikolayevich Wrangel ở phía nam[9], những người Cộng sản đã giành được chiến thắng sau bốn năm chiến đấu gian khổ, và đã thành lập Liên bang Xô viết vào năm 1922. Vùng đất của Liên Xô đã mở rộng cùng với việc xây dựng quân đội Xô viết vào thời kỳ đó.

Lực lượng Hồng quân trong Nội chiến

Vào giai đoạn 1920 Hồng quân có khoảng 3 triệu người, biên chế trong khoảng 20 tập đoàn quân:

  1. Các Tập đoàn Hồng quân từ số 1 đến số 12;
  2. Các Tập đoàn Hồng quân Ukraina số 1 đến số 3;
  3. Tập đoàn Hồng quân bắc Kavkaz;
  4. Tập đoàn Hồng quân Krym;
  5. Tập đoàn Hồng quân Latvia;
  6. Tập đoàn Hồng quân Estonia và Belorussia;
  7. Tập đoàn Kỵ binh đỏ số 1;
  8. Tập đoàn Kỵ binh đỏ số 2;

Vũ khí cá nhân

  • Súng Nagant M1895 kiểu năm 1895;
  • Súng trường nòng có rãnh xoắn và lưỡi lê Mosin-Nagant kiểu 1891;
  • Súng Cạc-bin kiểu năm 1907;
  • Súng máy Mắc-xim PM M1910 kiểu năm 1910;
  • Kiếm dài kiểu năm 1881;
  • Kiếm ngắn kiểu năm 1907;

Vũ khí nặng:

  • Xe ngựa đặt súng máy Ta-San-ca (Тачанка)
  • Pháo 122mm (kiểu năm 1910) và nhiều kiểu pháo khác

Tác chiến chiều sâu

Vào cuối thập niên 1920 và trong suốt thập niên 1930, những nhà lý luận quân sự Xô viết đã giới thiệu khái niệm Tác chiến chiều sâu[10]. Đó là một hệ quả trực tiếp từ những kinh nghiệm về di chuyển nhanh, rộng của đội kỵ binh trong suốt cuộc Nội chiến và Chiến tranh Ba Lan-Xô Viết.

Tác chiến chiều sâu bao gồm sự vận động đa dạng từ các đội hình cỡ nhiều quân đoàn hoặc quân đội một cách đồng thời. Nó không có nghĩa là mang lại chiến thắng chỉ trong một cuộc hành quân, mà là nhiều cuộc hành quân tiến hành song song hoặc liên tục sẽ đảm bảo cho một chiến thắng. Về mặt này, hành quân sâu khác với sự diễn giải thông thường về học thuyết Blitzkrieg. Mục tiêu của Hành quân sâu là tấn công kẻ thù một cách đồng thời ở mọi cấp độ bộ binh của chúng để đem lại một thất bại thê thảm trong hệ thống phòng thủ của chúng. Thuyết trận chiến sâu của Liên Xô được dẫn dắt bởi những tiến bộ về công nghệ và sự kỳ vọng về chiến tranh vận động sẽ mang lại nhiều cơ hội chiến thắng nhanh, hiệu quả, và mang tính quyết định. Sự phát triển đồng thời về hàng không và bọc thép đã cung cấp sự thúc đẩy bên ngoài cho sự phát triển học thuyết này trong lực lượng Hồng Quân. Nguyên soái Mikhail Nikolayevich Tukhachevsky đã nói rằng sức mạnh trên không nên được "dùng chống lại những mục tiêu ngoài tầm tấn công của bộ binh, pháo binh và những trang bị khác. Để có được hiệu quả chiến thuật cao nhất không quân nên được dùng với số lượng lớn, tập trung trong một khoảng thời gian và không gian, chống lại những mục tiêu có tầm quan trọng chiến thuật cao nhất".

Hành quân sâu được mô tả chính thức đầu tiên là một khái niệm trong "Quy định Chiến trường" của Hồng Quân năm 1929, nhưng đến năm 1936 mới được quân đội chuyển thành luật lệ trong "Quy định Chiến trường Tạm thời" năm 1936. Tuy nhiên, cuộc thanh lọc chính trị vào năm 1937-1938 đã loại bỏ nhiều tướng lĩnh cấp cao của Hồng Quân (trong đó có cả Tukhachevsky), và khái niệm này cũng bị từ bỏ - do những tổn thất của Hồng Quân trong Chiến tranh mùa đông - cho đến khi xuất hiện những cơ hội sử dụng nó trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Vào thời điểm đó, Hồng Quân đã tham gia vào những xung đột biên giới lớn với quân đội Đế quốc Nhật Bản, các chiến dịch vào năm 1938năm 1939, với việc sử dụng các đơn vị xe tăng lớn để đánh bại quân Nhật.

Chiến tranh thế giới thứ hai

Reichstag flag original
Người lính Hồng quân Meliton Kantaria cắm lá cờ đỏ búa liềm Xô Viết trên tòa nhà Quốc hội Đức, đánh dấu chiến thắng của Liên Xô trong thế chiến thứ hai

Vào thời điểm quân đội Phát xít tấn công Liên Xô vào tháng 6 năm 1941, lực lượng Bộ binh của Hồng Quân có 303 sư đoàn và 22 lữ đoàn (4,8 triệu quân), bao gồm 166 sư đoàn và 9 lữ đoàn (2,9 triệu quân) đóng ở các quân khu phía tây. Đối thủ phe Trục có ở Mặt trận phía Đông tổng cộng 3,9 triệu quân. Ba phươn diện quân, Mặt trận Tây Bắc, phía Tây và Tây-Nam, điều khiển các lực lượng bảo vệ biên giới phía tây.

Tuy nhiên, những tuần đầu tiên của trận chiến chứng kiến những thất bại nặng nề của Liên Xô khi hàng trăm ngàn binh sỹ Hồng Quân mắc kẹt trong vòng vây khổng lồ của quân Đức, gây ra tổn hại cho phần lớn trang thiết bị, xe tăng và pháo. Stalin và các nhà lãnh đạo Xô viết trả lời bằng việc tăng cường tổng động viên, và đến ngày 1 tháng 8 năm 1941, mặc cho sự tiêu hao 46 sư đoàn trong trận chiến, sức mạnh của Hồng Quân lại được hồi phục với 401 sư đoàn[11].

Lực lượng Xô viết chịu tổn thất nặng nề trên chiến trường không chỉ xuất phát sự chuẩn bị kém do bị bất ngờ, mà còn là do thiếu hụt sĩ quan từ kết quả của sự thanh lọc, sự phá hoại tổ chức do kết quả của sự động viên không kịp thời, và việc tái tổ chức quân đội mới chỉ bắt đầu được tiến hành[12]. Sự trưởng thành và thăng tiến quá vội vã của các sĩ quan Hồng Quân thiếu kinh nghiệm trước chiến tranh cũng như việc loại bỏ các sĩ quan có kinh nghiệm do cuộc thanh trừng chính trị đã chuyển cán cân sang phía người Đức[12]. Sự chênh lệch về số lượng và chất lượng trang bị của phe Trục cũng không thể đánh giá thấp (mặc dù hai quân đội gần như bằng nhau về số lượng Sư đoàn nhưng mỗi sư đoàn Đức có biên chế quân số gấp rưỡi Hồng quân)[13].

Một thế hệ chỉ huy Xô viết (đáng chú ý nhất là Georgy Konstantinovich Zhukov) đã rút được bài học từ các thất bại[14], và chiến thắng của quân đội Xô viết trong các Trận Moskva, Stalingrad, Kursk và sau đó là ở Chiến dịch Bagration đã chứng minh tinh thần quyết liệt mà sau đó người Xô viết dùng nói để gọi Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại.

Poster russian
Áp phích của chính quyền Mỹ cho thấy một người lính Nga thân thiện theo như mô tả của Đồng minh trong suốt Chiến tranh thế giới thứ hai

Chính quyền Liên Xô đã sử dụng một số biện pháp để tăng vị thế và khí thế của Hồng Quân trong giai đoạn rút lui vào năm 1941. Bộ máy tuyên truyền Xô viết đã chuyển khẩu hiệu chính trị từ đấu tranh giai cấp sang khơi gợi lòng yêu nước của dân chúng, bằng cách nhắc lại lịch sử nước Nga trước Cách mạng. Những nhà tuyên truyền khi nói đến chiến tranh chống lại những kẻ xâm lược Đức đều gọi là "Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại", ám chỉ đến cuộc Chiến tranh Vệ quốc năm 1812 chống lại Napoléon. Bắt đầu xuất hiện việc nhắc đến những anh hùng quân sự Nga cũ như Aleksandr NevskiMikhail Illarionovich Kutuzov. Sự hợp tác với giáo hội Chính Thống giáo Nga được thực hiện, và các nhà tu hành thực hiện lại cách làm dấu truyền thống trước trận chiến. Đảng Cộng sản hủy bỏ cơ quan chính ủy — mặc dù ít lâu sau đó phục hồi lại. Hồng Quân sử dụng lại các cấp bậc quân sự và đưa vào nhiều dấu hiệu phân biệt cá nhân như huy chương và huân chương. Những đơn vị đã chứng tỏ sự anh hùng đặc biệt trong trận chiến sẽ được tặng danh hiệu: đơn vị cận vệ (ví dụ Quân đoàn Súng trường Đặc biệt cận vệ số 1, Quân đoàn Tăng thiết giáp cận vệ số 6.

Khi quân đội của Đức Quốc xã tấn công, đã có những dân tộc bất mãn với chính quyền Xô Viết như người Chechen và người Thổ tại Kavkaz, người TartarKrym, các dân tộc tại Baltic, người Kozak tại Ukraina và vùng sông Đông và các dân tộc chống Xô Viết khác đã vui mừng chào đón quân Đức như những người giải phóng. Người thuộc các nước vùng Baltic đáng tin cậy nhất thì được tham gia các lực lượng Waffen-SS Đức, các dân tộc thiểu số như người Kozak thì tham gia lực lượng Don Cossack (Kozak sông Đông), còn các tù binh người Ukraina và Nga có tinh thần chống Xô Viết thì được biên chế trong Quân đội Giải phóng nước Nga-RNNA do tướng Andrei Vlasov chỉ huy. Sau khi chiến tranh kết thúc, chính quyền Xô Viết đã trừng phạt các dân tộc ủng hộ Đức tương đối khốc liệt.[15]

Khi Hồng Quân bắt đầu phản công ở châu Âu, một bộ phận binh sĩ đã trả thù tàn bạo đáp trả lại sự tàn bạo của quân Đức. Trong khi quy định của Hồng Quân chính thức cấm những hành động như vậy, những chỉ huy cấp thấp cũng im lặng bỏ qua chuyện này. Tuy nhiên vài sử gia đã bác lại luận điệu rằng các quan chức Liên Xô chính thức khuyến khích hành động đó. Đối với tù nhân chiến tranh, cả hai bên đều đã bắt được một lượng lớn và đều có nhiều lính chết trong tù - một con số gần đây của Nga nói rằng đã có 3,6 trong số 6 triệu tù nhân chiến tranh Liên Xô chết trong các trại tập trung của Đức, trong khi cũng theo người Nga thì khoảng 300.000 trong 3 triệu tù binh người Đức đã chết trong trại giam của Nga[16].

Trong đoạn đầu của chiến tranh, Hồng Quân sử dụng vũ khí với đủ các loại chất lượng. Họ có các pháo cực tốt, nhưng không đủ xe tải để vận chuyển và tiếp tế; kết quả là quân đội Đức (những người đánh giá cao vũ khí này) đã chiếm được khá nhiều. Xe tăng T-34 của Hồng Quân nói chung vượt trội hơn hẳn các loại xe tăng khác cho đến năm 1943, tuy nhiên số lượng khá ít và phần lớn các vũ khí quân dụng của Liên Xô khi đó đều là những mẫu cũ. Vấn đề tiếp tế cũng bị cản trở thậm chí đối với những quân đoàn được trang bị xe tăng hiện đại nhất. Không quân Liên Xô ban đầu cũng bị quân Đức áp đảo. Sự tiến công nhanh của quân Đức vào lãnh thổ Liên Xô khiến cho lực lượng tiếp viện và thay thế càng thêm khó khăn do phần lớn các cơ sở quân sự của Liên Xô nằm ở phía tây đất nước. Cho đến khi chính phủ Liên Xô tái thiết lập ngành công nghiệp ở phía đông dãy Ural, những hành động năm 1941 chỉ mang tính ứng biến, do đó các đơn vị Xô viết trong giai đoạn đầu chiến tranh được trang bị kém hơn rất nhiều so với biên chế đúng tiêu chuẩn của họ[17].

Quân đội Xô Viết tổn thất 8,67 triệu lính trong chiến tranh. Khoảng 6,537 triệu chết hoặc mất tích trong chiến đấu và 2,2 triệu tù binh chết trong trại giam của Đức (trên tổng số 4,1 triệu lính bị bắt). Khoảng 400.000 quân Nhảy dù và du kích cũng thiệt mạng.[18].[19] Phía Đức Quốc xã thì bị tổn thất khoảng 5,1 triệu lính chết và 4,5 triệu lính bị bắt.

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai Quân đội Xô viết có được lực lượng lục quân mạnh nhất trong lịch sử. Năm 1945, Quân đội Xô viết có trong tay 13 triệu binh sĩ dày dạn kinh nghiệm, được trang bị 40.000 xe tăngpháo tự hành, gần 80.000 đại bác. Nó có nhiều xe tăng và pháo hơn tất cả các nước khác gộp lại, nhiều lính hơn, và một số lượng lớn các sĩ quan và nhân viên có rất nhiều kinh nghiệm trận mạc. Sau thế chiến, Ủy ban Tham mưu của Anh đã từng lên kế hoạch đem quân tiêu diệt chính quyền Liên Xô và đẩy Hồng Quân ra khỏi châu Âu[12], nhưng kế hoạch bị từ chối do tính không khả thi về mặt quân sự, và kế hoạch này bị gọi là Chiến dịch Không tưởng[20].

Chiến tranh Lạnh

Red army conscript hat insignia
Huy hiệu trên mũ của quân đội Liên Xô

Để đánh dấu bước chuyển đổi cuối cùng từ lực lượng dân quân cách mạng thành quân đội chính quy của một quốc gia độc lập, Hồng Quân được đổi tên thành "Quân đội Xô viết" vào năm 1946. Georgi Konstantinovich Zhukov trở thành Tổng Tư lệnh Lực lượng Lục quân Liên Xô vào tháng 3 năm 1946, nhưng liền sau được Ivan Stepanovich Konev thay thế vào tháng 7. Konev giữ chức vụ này đến năm 1950, lúc đó chức vụ này bị hủy bỏ trong năm năm. Có tác giả suy đoán rằng khoảng trống này "có thể liên quan đến thái độ của Liên Xô đối với Chiến tranh Triều Tiên" [21].

Quy mô của Lực lượng Vũ trang Liên Xô giảm xuống từ 11,3 triệu đến còn xấp xỉ 2,8 triệu quân từ năm 1945 đến 1948 [22]. Để quản lý quá trình giải ngũ này, số lượng quân khu tạm thời tăng lên con số 34 khu, rồi giảm xuống còn 21 khu vào năm 1946 [23]. Quy mô của Lực lượng Vũ trang trong suốt Chiến tranh Lạnh vẫn duy trì vào khoảng 2,8 triệu đến 5,3 triệu quân, theo như phương Tây ước tính [24]. Luật pháp Liên Xô bắt buộc mọi nam thanh niên đến tuổi trưởng thành phải phục vụ trong quân đội ít nhất ba năm, đến năm 1967 thì thời hạn nghĩa vụ quân sự của Bộ binh rút xuống còn hai năm[25]. Các đơn vị Quân đội Xô viết đã giải phóng các quốc gia ở Đông Âu khỏi sự cai trị của Đức Quốc xã và vẫn duy trì một lượng quân ở một số nước đó để bảo vệ cho chế độ của quốc gia vệ tinh thuộc Khối Warszawa của Liên Xô và ngăn cản lực lượng NATO. Quân đội Xô viết có thể cũng đã tham gia cùng với Dân ủy Nội vụ (NKVD) trong việc đập tan phong trào ly khai tại Ukraina đối với sự lãnh đạo của Liên Xô. Sự hiện diện quân sự lớn nhất của quân đội Liên Xô là ở Nhóm quân Liên Xô ở Đức, nhưng những Nhóm quân khác cũng được thiết lập ở Ba Lan, Tiệp KhắcHungary (Nhóm quân phía Nam). Ngay trong Liên Xô, lực lượng quân sự đến thập niên 1950 được chia thành mười lăm quân khu, bao gồm Quân khu Moskva, Leningrad và Baltic. Do Cuộc xung đột biên giới Trung-Xô, một quân khu thứ mười sáu được thành lập vào năm 1969, Quân khu Trung Á, với trụ sở đặt tại Alma-Ata [26].

Soviet big 7
Nghiên cứu của Hoa Kỳ về bảy thứ vũ khí quan trọng nhất trong các quân dụng chiến trường của Liên Xô năm 1981.

Để bảo vệ cho lợi ích của Liên Xô ở Đông Âu, Quân đội Xô viết đã đánh bại phong trào chống Xô viết vào thập niên 1950 ở Cộng hòa Dân chủ Đức (1953) và Hungary (1956). Ngay sau đó, Nikita Sergeyevich Khrushov bắt đầu giảm Lực lượng Bộ binh, tập trung nhiều hơn vào khả năng hạt nhân của Lực lượng Vũ trang, và xây dựng Lực lượng Tên lửa Chiến thuật. Trong khi thực hiện kế hoạch này, ông đã hất cẳng Zhukov, người phản đối việc cắt giảm này, khỏi Bộ chính trị vào năm 1957. Năm 1968, lực lượng Bộ binh Xô viết tiến quân vào Tiệp Khắc theo yêu cầu của một số lãnh đạo Đảng Cộng sản Tiệp Khắc nhằm chấm dứt những cải cách của Alexander Dubček, Bí thư thứ nhất chi nhánh Slovak của Đảng Cộng sản Tiệp Khắc, được gọi là Mùa xuân Praha[27].

Liên Xô tái tổ chức Bộ binh để phục vụ cho chiến tranh có sử dụng vũ khí hạt nhân, mặc dù quân Liên Xô không có đủ vũ khí hạt nhân chiến trường cho đến giữa thập niên 1980 [28]. Bộ Tham mưu vẫn duy trì kế hoạch tấn công Tây Âu trong trường hợp nổ ra chiến tranh tổng lực với Mỹ và phương Tây, mà phạm vi rộng lớn của nó chỉ được công khai sau khi các nhà nghiên cứu người Đức tiếp cận được với những tài liệu của Quân đội Nhân dân Quốc gia sau khi Liên Xô sụp đổ [29].

Sa lầy gần 10 năm ở Afghanistan

RIAN archive 21116 Afghan war veterans meeting
Thương phế binh Liên Xô trở về từ Afghanistan

Ngày 25 tháng 12 năm 1979, Tập đoàn quân số 40 của Hồng Quân Liên Xô bắt đầu triển khai tại Afghanistan nhằm bảo vệ chính phủ thân Liên Xô tại đây. Vào giữa thập niên 1980 quân số quân đội Liên Xô tăng lên tới 108.800 lính và chiến tranh lan ra khắp lãnh thổ Afghanistan. Từ 850.000 đến 1,5 triệu người Afghan đã chết và hàng triệu người đã chạy ra khỏi nước tị nạn, hầu hết tới PakistanIran. Cái giá về quân sự cũng như về ngoại giao chẳng bao lâu đã trở nên quá cao cho Liên Xô. Vào giữa năm 1987, Liên Xô dưới sự lãnh đạo của nhà cải tổ Mikhail Gorbachev tuyên bố là sẽ rút quân. Việc rút quân bắt đầu ngày 15 tháng 5 năm 1988, và chấm dứt ngày 15 tháng 2 năm 1989.

Giai đoạn cuối của Liên Xô

Cam Ranh Naval base (concept).JPEG
Hình vẽ của quân đội Mỹ minh họa căn cứ hải quân của Liên Xô tại vịnh Cam RanhViệt Nam vào khoảng đầu thập niên 1980.

Từ khoảng năm 1985 đến 1990, nhà lãnh đạo mới của Liên Xô Mikhail Sergeyevich Gorbachyov đã nỗ lực giảm sự căng thẳng mà quân đội đặt lên nhu cầu kinh tế. Chính phủ của ông đã từ từ giảm quy mô quân đội. Đến năm 1989 quân đội Liên Xô đã hoàn toàn rút ra khỏi các nước láng giềng của thuộc Khối Warszawa để họ tự lo liệu. Trong cùng năm đó quân đội Liên Xô rút khỏi Afghanistan sau khi sa lầy 10 năm tại đây.

Đến cuối năm 1990, toàn Khối Đông Âu đã sụp đổ sau những cuộc cách mạng. Nhiều nước cộng hòa vệ tinh của Liên Xô cũng nhanh chóng quay lại chống đối chính quyền trung ương của họ. Vào tháng 3 năm 1990, những người theo chủ nghĩa quốc gia ở Litva đã tuyên bố độc lập cho nước cộng hòa này. Một loạt các nước cộng hòa xung quanh cũng tuyên bố độc lập vào năm đó. Gorbachev phản ứng một cách yếu ớt, từ chối xoay quân đội chống lại nhân dân, và cơn khủng hoảng ngày càng tăng lên. Đến giữa năm 1991, Liên Xô đã phải tuyên bố tình trạng khẩn cấp[30].

Theo ủy ban chính thức (Viện Khoa học Xô viết) do Xô viết Tối cao chỉ định ngay sau sự kiện tháng 8 năm 1991, quân đội đã không còn đóng vai trò lớn lao trong những gì được mô tả là đảo chính của những người vẫn trung thành với chủ nghĩa cộng sản. Các chỉ huy đã gửi xe tăng đến đường phố Moskva, nhưng (theo tất cả các chỉ huy và quân lính) chỉ với mệnh lệnh đảm bảo an toàn cho dân chúng. Hiện vẫn chưa rõ tại sao lực lượng quân sự lại tiến vào thành phố, nhưng rõ ràng mục tiêu của họ không phải là lật đổ Gorbachyov (lúc đó đang ở Biển Đen) hay chính phủ. Đảo chính thất bại chủ yếu cho những người tham gia không có được những hành động dứt khoát, và sau vài ngày không có hành động nào đáng kể, cuộc đảo chính tự giác sẽ dừng lại. Chỉ có một cuộc chạm trán xảy ra giữa dân chúng và đoàn xe tăng trong suốt cuộc đảo chính, dẫn đến cái chết của ba công dân. Mặc dù nạn nhân sau đó được tôn vinh như anh hùng, những người có trách nhiệm hoàn toàn không gắn trách nhiệm cho xe tăng. Không có ai ra lệnh bắn vào người nào cả[31].

Sau nỗ lực đảo chính tháng 8 năm 1991, những nhà lãnh đạo Liên Xô trên thực tế không còn quyền hành gì đối với các nước cộng hòa. Gần như tất cả các nước Cộng hòa Xô viết tuyên bố ý định ly khai và bắt đầu thông qua các luật lệ mà không đếm xỉa gì đến Xô viết Tối cao. Vào ngày 8 tháng 12 năm 1991, Tổng thống các nước Nga, BelarusUkraina tuyên bố Liên Xô giải tán và ký văn bản tạo nên Cộng đồng các quốc gia độc lập. Gorbachyov cuối cùng đã từ chức vào ngày 25 tháng 12 năm 1991, và ngày hôm sau Xô viết Tối cao, cơ quan chính phủ cao nhất, cũng tự giải tán, chính thức kết thúc sự tồn tại của Liên bang Xô viết. Trong một năm rưỡi tiếp theo các nỗ lực để duy trì sự thống nhất và chuyển quân đội thành quân đội của Cộng đồng Các quốc gia độc lập thất bại. Dần dần, những đơn vị đóng ở Ukraina và những nước cộng hòa ly khai khác đã tuyên thệ trung thành với chính phủ quốc gia mới của họ.

Berlin-wall
Lính Liên Xô đứng gác bức tường Berlin năm 1989

Sau sự sụp đổ của Liên Xô, Quân đội Xô viết giải tán và các quốc gia tiếp nối của Liên Xô đã tự phân chia vũ khí và nhân sự của quân đội. Sự phân chia phần lớn diễn ra theo nền tảng khu vực, ví dụ quân nhân Xô viết từ Nga trở thành một phần của Quân đội Nga mới, trong khi lính Xô viết đến từ Kazakhstan trở thành một phần của Quân đội Kazakhstan mới. Kết quả là phần lớn Lực lượng Bộ binh Xô viết, bao gồm phần lớn lực lượng máy baytên lửa đất đối đất Scaleboard, gia nhập Lục quân Nga (các ước tính vào năm 1992 cho thấy năm lữ đoàn tên lửa đất đối đất với 96 xe phóng tên lửa ở Belarus và 12 lữ đoàn với 204 xe phóng tên lửa ở Ukraina, so với 24 lữ đoàn với 900 xe tên lửa dưới quyền kiểm soát của Lực lượng Bộ binh Nga, một số ở các nước cộng hòa Xô viết cũ)[32].

Đến cuối năm 1992, phần lớn những gì còn sót lại của Quân đội Xô viết ở các nước Cộng hòa Xô viết cũ đã hoàn toàn giải tán. Lực lượng quân đội đồn trú tại Đông Âu (bao gồm các nước Baltic) dần dần quay trở về quê hương trong khoảng từ năm 1991 đến 1994. Danh sách các sư đoàn của Quân đội Xô viết phác thảo một vài số phận của những phần riêng lẻ của Lực lượng Bộ binh.

Vào giữa tháng 3 năm 1992, tổng thống Nga là Yeltsin tự chỉ định ông làm Bộ trưởng Bộ quốc phòng của nước Nga mới, đánh dấu một bước đi quyết định trong việc thành lập lực lượng vũ trang Nga, bao gồm những gì còn sót lại của quân đội. Vết tích cuối cùng của cấu trúc chỉ huy Xô viết cũ cuối cùng đã bị giải tán vào tháng 6 năm 1993, khi các trụ sở quân sự của Cộng đồng các quốc gia độc lập được tổ chức lại thành một bộ tham mưu để hợp tác quân sự giữa các nước SNG được dễ dàng hơn[33].

Trong vài năm tiếp theo, Lực lượng Bộ binh Xô viết cũ đã rút khỏi miền trung và Đông Âu (bao gồm các quốc gia Baltic), cũng như ở những nước độc lập hậu Xô viết như Azerbaijan, Armenia, Uzbekistan, Kazakhstan, Kyrgyzstan. Lục quân Nga hiện nay vẫn có mặt ở Tajikistan, Abkhazia, Gruzia và Transnistria.

Ngân sách Quốc phòng

Sau Thế chiến II, Liên Xô vẫn duy trì một số lượng lớn binh sĩ (khoảng 2,8 tới 5,5 triệu lính tùy giai đoạn, so với 1,4 tới 3 triệu lính của Hoa Kỳ)[34].

Theo số liệu của Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (International Institute for Strategic Studies/IISS), ngân sách Quốc phòng Liên Xô là 32 tỷ 400 triệu USD (năm 1955), năm 1970 tăng lên 53 tỷ 900 triệu USD và tới 1979 thì lên tới 148 tỷ USD, chiếm 16% GDP.[35]. Đây là một gánh nặng lớn cho ngân sách vì cùng lúc Hoa Kỳ chỉ chi ra 6%, Tây Đức là 4% và Nhật chỉ 1%[35].

Các cáo buộc về tội ác chiến tranh

Katyn massacre 1
Một trong những hố chôn tập thể sĩ quan Ba Lan bị Liên Xô xử bắn ở Katyn.

Chiến tranh thế giới thứ 2

Sau khi cùng Đức Quốc Xã xâm lược Ba Lan vào tháng 9 năm 1939, Hồng Quân Liên Xô chiếm đóng nửa phía đông của nước này theo thỏa thuận đã ký kết trước đó với Phát Xít Đức.

Bộ Dân ủy Nội vụ Liên Xô (NKVD) do Lavrentiy Beria đứng đầu đề đã xuất xử bắn tất cả các sĩ quan Ba Lan bị bắt. Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô, gồm cả Stalin đã ký và đóng dấu phê chuẩn. Vụ xử bắn được thực hiện vào tháng 4 và tháng 5 năm 1940, tổng số tù binh chiến tranh Ba Lan bị xử bắn được ước tính khoảng 22.000 người. Sau nhiều năm từ chối và đổ lỗi cho Phát xít Đức, cuối cùng chính phủ Nga đã xác nhận các lãnh đạo Liên Xô đã ra lệnh thực hiện vụ thảm sát[36] Tổng thống Nga, ông Putin cho rằng vụ xử bắn được thực hiện để trả thù cho 32.000 tù binh Hồng quân đã chết vì đói khát và dịch bệnh trong những trại giam của Ba Lan trong cuộc chiến năm 1919-1921.[37], tuy vậy ông cũng khẳng định rằng đây là một "tội ác không thể biện minh bằng bất cứ cách nào"[38]

DeadFinnishcivilians1942
Trẻ con Phần Lan chết trong một cuộc tấn công của du kích Liên Xô trong cuộc chiến tranh giữa hai nước năm 1944. Ảnh tư liệu được Lực lượng Phòng Vệ Phần Lan lưu trữ.

Trong cuộc chiến mùa đông năm 1939-1940, Hồng Quân Liên Xô đã ném hơn 25 ngàn tấn bom (55.000 quả), 41 ngàn khối bom cháy xuống 690 thành phố, thị trấn và làng mạc của Phần Lan, khiến 956 thường dân chết, 540 bị thương nặng, 1.300 bị thương nhẹ với 2.000 ngôi nhà bị phá hủy, 5.000 nhà khác bị hư hại. Trong cả cuộc chiến, Phần Lan phải hứng chịu thiệt hại nặng nề, với 25.000 người chết, 55.000 bị thương, 450.000 người mất nhà cửa. Ngoài ra, Hồng Quân Liên Xô còn bắt hơn 3.500 tù binh chiến tranh, khoảng 40% số tù binh này sau đó đã chết.

Từ 1941 đến 1944, quân Liên Xô tiếp tục có chiến tranh với Phần Lan, nhiều người Phần Lan, trong đó có cả phụ nữ và trẻ em đã chết trong cuộc chiến[39]

Năm 1945, trong lúc tiến quân vào Ba Lan (nước đã bị Đức Quốc xã chiếm đóng), phương tây cáo buộc phụ nữ Ba Lan đã bị lính Liên Xô cưỡng hiếp trên diện rộng.[40] Khi quân Liên Xô tấn công vào Hungary (khi đó là đồng minh của Đức Quốc xã), ước tính khoản 50.000 phụ nữ Hungary đã bị cưỡng hiếp.[41]

Theo một số tài liệu phương Tây, kể từ khi tiến vào nước Đức (1944-1945), ngoài việc cướp nhà dân và cửa hiệu[42] một bộ phận Hồng quân Liên Xô đã hãm hiếp nhiều phụ nữ và trẻ em người Đức, từ 8 đến 80 tuổi [43][44]. Việc hãm hiếp phụ nữ Đức được các binh sĩ này xem là chiến tích để báo thù cho người Liên Xô và để bẻ gãy tinh thần kháng cự của người Đức[45]. Đến năm 1948, các chỉ huy quân đội Liên Xô mới có biện pháp dứt khoát khi cấm binh sĩ ra khỏi doanh trại và tiếp xúc với dân địa phương[46]. Nhiều nhà sử học đã lý giải cho hành động của Hồng quân Liên Xô ở Đức và Hungary rằng "họ có mối căm thù sâu sắc đối với Đức Quốc xã"[47][48][49].

Tuy nhiên, một số tài liệu và hồi ký của các binh sĩ Hồng Quân phủ nhận điều này. Trong Hồi ký của Mansur, tiểu đoàn trưởng một đơn vị Hồng quân, ông nói "không có cướp bóc và hãm hiếp bởi binh sĩ dưới quyền" bởi những hình phạt nghiêm khắc được đề ra. Thậm chí ông kể lại một người Đức đã dẫn hai cô gái đến cho ông để "lấy lòng", và ông đã đuổi họ về vì cho rằng đó là "quá vô đạo đức". Trong hồi ký khác "800 ngày trên Mặt trận phía Đông", tác giả đã gọi những sử gia phương Tây loan báo về nạn cướp bóc hãm hiếp trên diện rộng là "những sử gia xấu bụng", các tài liệu mang màu sắc chính trị chống Xô Viết từ thời Chiến tranh Lạnh. Ông cho rằng những hành vi này chỉ xảy ra ở các đơn vị cá biệt. Hơn nữa con số phụ nữ bị hãm hiếp đã bị phóng đại, vì thực tế có rất ít trẻ em Đức sinh ra sau chiến tranh không rõ cha là ai.

Về vấn đề cướp phá các cửa hàng, ông viết: "Quân ta có cướp bóc không? Không rõ. Trong nhiều tính huống cần đánh giá một cách thận trọng vì đó thường chỉ là việc vượt quá quy định một chút. Không việc gì phải cướp bóc cả; sau tất cả, những người lính chỉ thỉnh thoảng cần một chút gì đó để ăn và uống cho thích đáng. Khi bạn tấn công, bao giờ cũng thu được chiến lợi phẩm. Chúng tôi đã bắt gặp rất nhiều kho hậu cần và hàng hóa của bọn Đức dọc đường tiến quân nhưng nhà bếp quân ta bao giờ cũng cung cấp gấp 3 lần số cần thiết. Và thật khó để phân biệt đâu là nhà kho của quân đội, đâu là cửa hàng của dân thường do vấn đề ngôn ngữ"

Theo Stuart Britton, một ký giả chuyên ghi chép về Hồng quân, ông đánh giá: Tình hình thay đổi khi Hồng quân tiến vào nước Đức. Ham muốn báo thù trỗi dậy mạnh mẽ ở phần lớn trong số họ, sau nhiều năm chiến tranh và sự chiếm đóng tàn bạo của người Đức đã hủy diệt vô số trang trại, làng mạc và gia đình người Liên Xô. Các bằng chứng từ cả hai phía dân thường và cựu binh Nga cho biết chỉ có các lực lượng tiếp quản đi sau mới phải chịu trách nhiệm về những hành động tàn bạo quá mức đối với dân thường. Nhiều người trong số họ vốn là tù nhân được gom vội vào Hồng quân hoặc đã từng sống lâu dài trong vùng tạm chiếm, bị quân Đức chiếm đóng đối xử tàn bạo. Sự giáo dục và kỷ luật quân đội trong những đơn vị lính phần lớn là tân binh nghĩa vụ này cũng thấp hơn nhiều cánh lính cựu phục vụ tại các đơn vị tuyến đầu.

Hơn nữa cũng có bằng chứng chứng tỏ các chỉ huy Hồng quân hoàn toàn không làm ngơ với các hành vi của binh lính. Những hành vi cướp bóc, hãm hiếp chỉ là bột phát do tâm lý muốn trả thù của binh lính chứ không phải là chủ trương của các cấp chỉ huy Hồng quân. Đại sứ Nga tới Anh cho biết các cáo buộc hãm hiếp là vô căn cứ, "Đó là một sự ô nhục khi vu khống chống lại những người đã cứu thế giới khỏi chủ nghĩa phát xít."[50] Một số nhà sử học đã dẫn chứng một lệnh ban hành ngày 19 tháng 1 năm 1945, yêu cầu việc ngăn ngừa ngược đãi thường dân. Một lệnh của Hội đồng quân sự của Mặt trận Byelorussia số 1, có chữ ký của Nguyên soái Rokossovsky, đã ra lệnh bắn bọn trộm cướp và hiếp dâm tại hiện trường của vụ án. Một lệnh ban hành bởi Stavka vào ngày 20 tháng 4 năm 1945 nói rằng cần phải duy trì quan hệ tốt với người dân Đức để giảm kháng cự và để chiến sự kết thúc nhanh hơn.[51][52][53]

Trong khu vực chiếm đóng của Liên Xô, các thành viên của SED đã báo cáo cho Stalin cướp bóc và hãm hiếp bởi binh lính Liên Xô có thể dẫn đến một phản ứng tiêu cực của dân Đức đối với Liên Xô và hướng tới tương lai của chủ nghĩa xã hội ở Đông Đức. Stalin đã phản ứng một cách giận dữ: "Tôi sẽ không tha thứ bất cứ ai kéo danh dự của Hồng quân qua vũng bùn."[54][55]

Trong tháng 5 năm 1945, Nguyên soái G. K. Zhukov đã ký ba quyết định quan trọng về đảm bảo đời sống cho nhân dân Đức ở khu vực do quân đội Liên Xô chiếm đóng. Đó là Quyết định số 063 ngày 11 tháng 5 năm 1945 về việc cung cấp lương thực cho người dân ở Berlin, Quyết định số 064 ngày 12 tháng 5 về việc khôi phục vào bảo đảm hoạt động bình thường của các ngành dịch vụ công cộng tại Berlin và Quyết định số 080 ngày 31 tháng 5 về việc cung cấp sữa cho trẻ em ở Berlin. Ông cũng đề nghị Chính phủ Liên Xô khẩn cấp chuyển đến Berlin 96.000 tấn ngũ cốc, 60.000 tấn khoai tây, gần 50.000 gia súc, hàng vạn tấn thực phẩm khác như mỡ động vật, đường. Theo lệnh của ông, tất cả các đơn vị quân đội Liên Xô đóng tại nước Đức, các ủy ban quân quản đều phải tập trung vào việc ổn định đời sống cho nhân dân Đức. Ông yêu cầu các quân nhân dưới quyền phải thực hiện đúng phương châm: "Căm thù chủ nghĩa phát xít nhưng phải tôn trọng nhân dân Đức".[56]

Một phụ nữ Berlin, Elizabeth Shmeer, theo nguồn của phía Nga cho biết[57]:

Đức quốc xã nói rằng nếu người Nga đến đây, họ sẽ tàn phá và hãm hiếp khủng khiếp. Nhưng thực tế sau đó rất khác: dù là những người bại trận, quân đội Đức đã gây ra rất nhiều đau khổ cho nước Nga, nhưng những người chiến thắng đã cho chúng tôi thực phẩm còn nhiều hơn những gì chính quyền cũ phân phát. Đối với chúng tôi điều đó là khó hiểu. Một cách cư xử nhân đạo như vậy dường như chỉ người Nga làm được.

Chiến tranh ở Afghanistan

Giáo sư người Mỹ Samuel Totten,[58] giáo sư Úc Paul R. Bartrop,[58] các học giả từ Trường Luật Yale như W. Michael Reisman[59] và Charles Norchi,[60] cũng như học giả Mohammed Kakar, cáo buộc rằng những người Afghanistan là nạn nhân của nạn diệt chủng bởi Liên Xô.[61][62] Phương Tây cáo buộc quân đội Liên Xô đã giết một số lượng lớn người Afghanistan để trấn áp cuộc nổi dậy chống chính phủ Afghanistan thân Liên Xô.[61] Đã có nhiều cáo buộc rằng các lực lượng Liên Xô và chính phủ Afghanistan thân Liên Xô cố ý nhắm vào dân thường, đặc biệt là ở các vùng nông thôn, khoảng 1,5 - 2 triệu người Afghanistan mất mạng trong cuộc chiến.[63][64]

Trong một sự kiện đáng chú ý quân đội Liên Xô đã giết chết nhiều dân thường vào mùa hè năm 1980 [65]. Để tách quân Mujahideen ra khỏi người dân địa phương và loại bỏ sự ủng hộ của họ đối với quân Mujahideen, quân đội Liên Xô đã giết hại hoặc trục xuất các thường dân ra khỏi các khu vực dân cư, sử dụng chiến thuật "tiêu thổ" để ngăn chặn sự trở lại của họ. Họ đã sử dụng bẫy sập, mìn, và chất hoá học, mặc dù không ở quy mô rộng, nhưng cũng nhằm phục vụ cho cùng một mục đích[65]. Họ đã thực hiện các hoạt động quân sự trong một nỗ lực để đảm bảo sự phục tùng nhanh chóng: việc sử dụng vũ khí hạng nặng, đặc biệt là pháo, máy bay trực thăng hoặc các loại vũ khí không chính xác vốn không thể phân biệt giữa lính đối phương và người thường dân.[65]. Người dân tại các tỉnh Nangarhar, Ghazni, Lagham, Kunar, Zabul, Qandahar, Badakhshan, Lowgar, Paktia và Paktika là nhưng người đã chịu đựng và chứng kiến ​​các chương trình trục xuất dân cư quy mô lớn của các lực lượng Liên Xô.[62]

Các lực lượng Liên Xô đã bắt cóc phụ nữ Afghanistan bằng máy bay trực thăng khi đang bay trong nước để tìm kiếm quân Mudhideen. Vào tháng 11 năm 1980, một số sự kiện đã xảy ra ở nhiều nơi khác nhau của đất nước Afghanistan, bao gồm cả Laghman và Kama. Lính Liên Xô cũng như các nhân viên của KhAD đã bắt cóc phụ nữ trẻ từ thành phố Kabul và các khu vực của Darul Aman và Khair Khana, gần các nhà lính Liên Xô để hãm hiếp họ [66]. Những phụ nữ bị bắt và bị hãm hiếp bởi lính Liên Xô đã bị các gia đình của họ "khinh thường và ghê tởm" nếu họ trở về nhà (người dân Afghanistan theo đạo Hồi giáo có sự chú ý đặc biệt quan trọng tới sự trong trắng của người phụ nữ) [67]. Người đào thoát từ Quân đội Xô viết năm 1984 cũng xác nhận hành động cưỡng bức của quân đội Xô viết đối với phụ nữ và trẻ em Afghanistan, nói rằng phụ nữ Afghanistan bị hãm hiếp tập thể một cách công khai giữa các binh lính.[68]

Cũng có rất nhiều báo cáo về vũ khí hóa học đã được các lực lượng Liên Xô sử dụng ở Afghanistan, thường là trong các vụ tấn công vào các khu dân cư.[69][70][71]. Một báo cáo tình báo được giải mật của CIA vào năm 1982 rằng vào khoảng giữa những năm 1979 và 1982 đã có 43 vụ tấn công vũ khí hóa học riêng biệt mà đã gây ra hơn 3000 trường hợp tử vong cho dân thường[72]. Đến đầu những năm 1980, các báo cáo về cuộc tấn công bằng vũ khí hóa học đã được ghi nhận trong "tất cả các khu vực có hoạt động tập trung của quân Hồi giáo thánh chiến Mujahideen".

Hệ thống thủy lợi, vốn có vai trò cực kỳ quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp ở Afghanistan do khí hậu khô cằn tại quốc gia này, đã bị phá hủy sau một loạt các vụ oanh tạc và bắn phá bởi lực lượng của Liên Xô và chính phủ. Trong năm 1985, hơn một nửa số ruộng đất của những người nông dân còn sống ở Afghanistan đã bị Liên Xô ném bom, hệ thống thủy lợi của họ bị phá hủy và gia súc của họ bị giết bởi quân đội Liên Xô hoặc chính phủ, theo một cuộc khảo sát được tiến hành bởi các chuyên gia cứu trợ Thụy Điển [73][74]

Dân số của thành phố lớn thứ hai tại Afghanistan là Kandahar, đã giảm mạnh từ 200.000 dân trước khi cuộc chiến diễn ra xuống còn 25.000 dân, sau một chiến dịch ném bom rải thảm và san bằng kéo dài hàng tháng bởi Hồng quân Liên Xô và những người lính cộng sản Afghanistan vào năm 1987 [75]. Riêng mìn đã giết chết hơn 25.000 người Afghanistan trong cuộc chiến trong khi có tới 10-15 triệu quả mìn của Liên Xô và quân chính phủ vẫn còn sót lại rải rác ở khắp các vùng nông thôn[76]. Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế ước tính vào năm 1994 rằng sẽ mất tới 4.300 năm để loại bỏ toàn bộ số mìn của Liên Xô tại Afghanistan [77].

Nhiều cựu binh sĩ Hồng quân sau cuộc chiến đã kể lại rằng: "Tình trạng tham nhũng (trong quân đội) diễn ra tràn lan và việc bán các loại vũ khí để đổi lấy ma túy và nhu yếu phẩm đã được cho phép. Cùng với đó là hành vi cướp bóc những người dân Afghanistan, các vụ giết hại thường dân không vũ trang, các cuộc tấn công ác liệt vào những ngôi làng, cũng như các vụ tra tấn tù binh thường được cho phép và thậm chí được khuyến khích bởi những sĩ quan chỉ huy"[78]

Một cựu binh sĩ khác cũng thừa nhận: "Chúng tôi đã gây chú ý bởi sự tàn ác của chúng tôi ở Afghanistan. Chúng tôi sẵn sàng giết hại những người nông dân vô tội. Nếu một người lính của chúng tôi bị giết hoặc bị thương, chúng tôi sẽ giết hết phụ nữ, trẻ em và cả người già để trả thù. Chúng tôi sẽ giết sạch tất cả, kể cả động vật" [79].

Một số binh sĩ Liên Xô thậm chí còn so sánh tội ác của họ ở Afghanistan với tội ác của quân đội Đức Quốc xã trong Chiến tranh Thế giới II. Trong một cuộc phỏng vấn năm 1990, một người lính Hồng quân từng tham gia cuộc chiến nói với tờ Moscow News rằng: "Chúng tôi (lính Liên Xô tham gia cuộc chiến Afghanistan) được so sánh với những người lính đã chiến đấu trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, nhưng trong khi họ (kẻ thù của chúng tôi) bảo vệ quê hương của họ, còn chúng tôi đã làm gì? Chúng tôi đã sắm vai những kẻ xâm lược phát xít Đức!"[80].

Một cựu binh lính Hồng quân khác cũng từng tham gia cuộc chiến đã thú nhận trên báo chí Liên Xô vào năm 1989: "Có những điều khiến chúng tôi (những binh lính Hồng quân) cảm thấy vô cùng xấu hổ khi nhớ lại... Tôi cảm thấy kinh sợ nếu như chúng ta viết một cuốn sách tuyên truyền lừa dối về cuộc chiến tại Afghanistan, và rồi sau khi đọc nó, con cháu chúng tôi lại muốn chúng tôi tiếp tục tham gia chiến đấu ở một nơi nào đó khác... Chúng ta là ai hỡi các cựu binh tham gia chiến tranh Afghanistan? Chiến binh bảo vệ hòa bình quốc tế hay kẻ đã phá hoại cuộc sống của những người xa lạ?"[81].

Chú thích

  1. ^ 15 tháng 1 năm 1918 theo lịch cũ.
  2. ^ S.S. Lototskiy, The Soviet Army (Moscow:Progress Publishers, 1971), p.25, cited in Scott and Scott, The Armed Forces of the Soviet Union, Eastview Press, Boulder, Co., 1979, p.3. February 23 became an important national holiday in the Soviet Union, later celebrated as "Soviet Army Day".
  3. ^ Scott and Scott, 1979, p.8
  4. ^ John Erickson, The Soviet High Command - A Military-Political History 1918–41, MacMillan, Luân Đôn, 1962, p.31–34
  5. ^ N. Efimov, Grazhdanskaya Voina 1918–21 (The Civil War 1918–21), Second Volume, Moskva, kh. 1928, p.95, cited in Erickson, 1962, p.33
  6. ^ “Контрольная История Октябрьская революция в России”. Truy cập 19 tháng 2 năm 2015.
  7. ^ Erickson, 1962, p.38–9
  8. ^ John Erickson, The Soviet High Command 1918–41, p.72–73
  9. ^ Erickson, 1962, p.102–107
  10. ^ Mary Habeck, Storm of Steel: The Development of Armor Doctrine in Germany and the Soviet Union, 1919–1939, Cornell University Press, 2003, ISBN 0-8014-4074-2.
  11. ^ David Glantz, Stumbling Colossus, University Press of Kansas, 1998, p.15
  12. ^ a ă â David Glantz, Stumbling Colossus, University Press of Kansas, 1998
  13. ^ David Glantz in Stumbling Colossus discusses the correlation of forces in Appendix D (pages 292–295), and concludes that the Axis forces had a superiority of 1:1.7 in personnel, though the Red Army had 174 divisions to the Axis' 164, a 1.1:1 ratio.
  14. ^ David Glantz, Colossus Reborn, 2005, p.61–62
  15. ^ Rossiiskaia Akademiia nauk. Liudskie poteri SSSR v period vtoroi mirovoi voiny:sbornik statei. Sankt-Peterburg 1995 ISBN 5-86789-023-6
  16. ^ German-Russian Berlin-Karlhorst museum, http://newsfromrussia.com/science/2003/06/13/48180.html
  17. ^ Antony Beevor, Stalingrad, 1998. ISBN 0-14-024985-0
  18. ^ G. I. Krivosheev. Soviet Casualties and Combat Losses. Greenhill 1997 ISBN 1-85367-280-7
  19. ^ http://www.soldat.ru/doc/casualties/book/chapter5_05.html.
  20. ^ Operation Unthinkable report - page 2, opening date.
  21. ^ Scott and Scott, The Armed Forces of the Soviet Union, Eastview Press, Boulder, Co., 1979, p.142
  22. ^ William E. Odom, The Collapse of the Soviet Military, Yale University Press, New Haven and London, 1998, p.39
  23. ^ Scott and Scott, The Armed Forces of the Soviet Union, Westview Press, Boulder, CO., 1979, p.176
  24. ^ Odom, 1998, p.39
  25. ^ Scott and Scott, 1979, p.305
  26. ^ Scott and Scott, 1979, p.176
  27. ^ Fowkes, Ben (29 tháng 8 năm 2000). Eastern Europe 1945–1969: From Stalinism to Stagnation. Longman. ISBN 0582326931, page 64–85
  28. ^ William E. Odom, The Collapse of the Soviet Military, Yale University Press, New Haven and Luân Đôn, 1998, p.69
  29. ^ http://www.isn.ethz.ch/php/collections/coll_1.htm, also see Viktor Suvorov, Inside the Soviet Army
  30. ^ Helene Carrere D'Encausse, The End of the Soviet Empire: The Triumph of the Nations, Basic Books, 1992, ISBN 0-465-09818-5
  31. ^ David Remnick, Lenin's Tomb: The Last Days of the Soviet Empire, Vintage Books, 1994, ISBN 0-679-75125-4
  32. ^ IISS, The Military Balance 1992–93, Brassey's, Luân Đôn, 1992, p.72,86,96
  33. ^ Jack F. Matlock, Jr., Autopsy on an Empire: The American Ambassador's Account of the Collapse of the Soviet Union, Random House, 1995, ISBN 0-679-41376-6
  34. ^ Lịch sử Thế giới thời đương đại 1945-2000 Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh p 578
  35. ^ a ă Lịch sử Thế giới thời đương đại 1945-2000 Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh p 350
  36. ^ MỸ LOAN. Nga thừa nhận Stalin ra lệnh thảm sát Katyn. TUỔI TRẺ. 2018-02-20. URL:https://tuoitre.vn/nga-thua-nhan-stalin-ra-lenh-tham-sat-katyn-413231.htm. Accessed: 2018-02-20. (Archived by WebCite® at http://www.webcitation.org/6xNNOet6p)
  37. ^ Stalin 'killed Poles for revenge'
  38. ^ Putin Gesture Heralds New Era in Russian-Polish Relations
  39. ^ Nykänen, Anna-Stina (19 tháng 11 năm 2006). “Too awful an image of war: Sixty years on, there are no grounds to withhold images kept in a Finnish Defence Forces' safe”. Helsingin Sanomat. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 12 năm 2006.
  40. ^ Joanna Ostrowska, Marcin Zaremba (7 tháng 3 năm 2009). "Kobieca gehenna" (The women's ordeal)”. No 10 (2695) (bằng tiếng Ba Lan). Polityka. tr. 64–66. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2011. 
    Tiến sĩ Marcin Zaremba của Học viện Hàn Lâm Khoa học Ba Lan, đồng tác giả bài viết trên là nhà sử học hiện là giảng viên Đại học Warsaw, Chuyên khoa Lịch sử Thế kỷ XX (cited 196 times in Google scholar). Zaremba đã xuất bản nhiều tài liệu chuyên khảo, gồm: Komunizm, legitymizacja, nacjonalizm (426 trang),[1] Marzec 1968 (274 trang), Dzień po dniu w raportach SB (274 trang), Immobilienwirtschaft (tiếng Đức, 359 trang), xem inauthor:"Marcin Zaremba" in Google Books.
    Joanna Ostrowska từ Warsaw, Ba Lan, là giảng viên Khoa Giới tính Học ở trường Đại học Jagiellonian ở Kraków, Đại học Warsaw, và Học viện Hàn Lâm Khoa học Ba Lan. Bà là tác giả nhiều nghiên cứu về chủ đề cưỡng hiếp tập thể và ép buộc bán dâm ở Ba Lan trong Thế Chiến II (như "Prostytucja jako praca przymusowa w czasie II Wojny Światowej. Próba odtabuizowania zjawiska," "Wielkie przemilczanie. Prostytucja w obozach koncentracyjnych,"...).
  41. ^ James, Mark. “Remembering Rape: Divided Social Memory and the Red Army in Hungary 1944–1945”. Past & Present (Oxford University Press) 188 (August 2005): 133–161. ISSN 1477-464X. doi:10.1093/pastj/gti020.
  42. ^ Hubertus Knabe, Tag der Befreiung? Das Kriegsende in Ostdeutschland (Ngày giải phóng? Kết thúc chiến tranh ở Đông Đức); mua sách này trên Amazon
  43. ^ Helke Sander và Barbara Johr, phim tư liệu BeFreier und Befreite. Krieg, Vergewaltigung, Kinder (Những kẻ đem lại tự do lại cướp mất tự do. Chiến tranh, hãm hiếp, và trẻ con); mua phim tư liệu này trên Amazon
  44. ^ Richard Overy, phim tư liệu Russia's War: Blood upon the Snow (Cuộc chiến của nước Nga: Máu trên tuyết), năm 1997; mua phim tư liệu này trên Amazon
  45. ^ Antony James Beevor, Berlin: The Downfall 1945 (Ngày tàn của Berlin năm 1945); mua cuốn sách này trên Amazon
  46. ^ Norman Naimark, The Russians in Germany: A History of the Soviet Zone of Occupation, 1945-1949 (Người Nga trên đất Đức, Lịch sử của vùng chiếm đóng của Xô Viết), xuất bản 1995 bởi Đại học Harvard; mua sách này trên Amazon
  47. ^ Theo sách của phóng viên chiến trường người Nga Vasily Semyonovich Grossman, người đã theo Hồng Quân trong cuộc chiến; mua sách của Grossman trên Amazon
  48. ^ Bài viết của Daniel Johnson trên báo Telegraph, ngày 25 tháng 1 năm 2002
  49. ^ Bài viết của Jonathan Shainin trên Salon, ngày 18 tháng 8 năm 2005
  50. ^ telegraph.co.uk
  51. ^ “Н. Мендкович. Кто «изнасиловал Германию»? (часть 1). Актуальная история”. Truy cập 19 tháng 2 năm 2015.
  52. ^ http://gpw.tellur.ru/page.html?r=books&s=beevor
  53. ^ svpressa.ru. “Секс-Освобождение: эротические мифы Второй мировой”. Truy cập 19 tháng 2 năm 2015.
  54. ^ Wolfgang Leonhard, Child of the Revolution, Pathfinder Press, 1979, ISBN 0-906133-26-2
  55. ^ Norman M. Naimark. The Russians in Germany: A History of the Soviet Zone of Occupation, 1945–1949. Harvard University Press, 1995. ISBN 0-674-78405-7
  56. ^ Grigori Doberin. Những bí mật của chiến tranh thế giới thứ hai. trang 340-343.
  57. ^ “За что сражались советские люди: «Русский НЕ должен умереть»”.
  58. ^ a ă Totten, Samuel; Bartrop, Paul R. (2008). Dictionary of Genocide: A-L. ABC-CLIO. tr. 64. ISBN 0313346429. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2017.
  59. ^ Reisman, W. Michael; Norchi, Charles H. “Genocide and the Soviet Occupation of Afghanistan” (PDF). Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2017. W. Michael Reisman is Hohfeld Professor of Jurisprudence at Yale Law School and a member of the Independent Counsel on International Human Rights.
  60. ^ Reisman, W. Michael; Norchi, Charles. “Genocide and the Soviet Occupation of Afghanistan” (PDF). Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2017. Charles Norchi, a Visiting Scholar at Yale Law School, directed the Independent Counsel on International Human Rights (with the Committee for a Free Afghanistan).
  61. ^ a ă Kakar, Mohammed. The Soviet Invasion and the Afghan Response, 1979–1982. University of California Press. ISBN 9780520208933. The Afghans are among the latest victims of genocide by a superpower. Large numbers of Afghans were killed to suppress resistance to the army of the Soviet Union, which wished to vindicate its client regime and realize its goal in Afghanistan.
  62. ^ a ă Reisman, W. Michael; Norchi, Charles H. “Genocide and the Soviet Occupation of Afghanistan” (PDF). Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2017. According to widely reported accounts, substantial programmes of depopulation have been conducted in these Afghan provinces: Ghazni, Nagarhar, Lagham, Qandahar, Zabul, Badakhshan, Lowgar, Paktia, Paktika and Kunar...There is considerable evidence that genocide has been committed against the Afghan people by the combined forces of the Democratic Republic of Afghanistan and the Soviet Union.
  63. ^ Klass, Rosanne (1994). The Widening Circle of Genocide. Transaction Publishers. tr. 129. ISBN 978-1-4128-3965-5. During the intervening fourteen years of Communist rule, an estimated 1.5 to 2 million Afghan civilians were killed by Soviet forces and their proxies- the four Communist regimes in Kabul, and the East Germans, Bulgarians, Czechs, Cubans, Palestinians, Indians and others who assisted them. These were not battle casualties or the unavoidable civilian victims of warfare. Soviet and local Communist forces seldom attacked the scattered guerrilla bands of the Afghan Resistance except, in a few strategic locales like the Panjsher valley. Instead they deliberately targeted the civilian population, primarily in the rural areas.
  64. ^ Goodson, Larry P. (2001). Afghanistan's Endless War: State Failure, Regional Politics, and the Rise of the Taliban. University of Washington Press. tr. 5. ISBN 978-0-295-98050-8.
  65. ^ a ă â Kakar, Mohammed. The Soviet Invasion and the Afghan Response, 1979–1982. University of California Press. ISBN 9780520208933. Incidents of the mass killing of noncombatant civilians were observed in the summer of 1980...the Soviets felt it necessary to suppress defenseless civilians by killing them indiscriminately, by compelling them to flee abroad, and by destroying their crops and means of irrigation, the basis of their livelihood. The dropping of booby traps from the air, the planting of mines, and the use of chemical substances, though not on a wide scale, were also meant to serve the same purpose...they undertook military operations in an effort to ensure speedy submission: hence the wide use of aerial weapons, in particular helicopter gunships or the kind of inaccurate weapons that cannot discriminate between combatants and noncombatants.
  66. ^ Kakar, M. Hassan (1995). The Soviet Invasion and the Afghan Response, 1979–1982. University of California Press. ISBN 9780520208933. While military operations in the country were going on, women were abducted. While flying in the country in search of mujahideen, helicopters would land in fields where women were spotted. While Afghan women do mainly domestic chores, they also work in fields assisting their husbands or performing tasks by themselves. The women were now exposed to the Russians, who kidnapped them with helicopters. By November 1980 a number of such incidents had taken place in various parts of the country, including Laghman and Kama. In the city of Kabul, too, the Russians kidnapped women, taking them away in tanks and other vehicles, especially after dark. Such incidents happened mainly in the areas of Darul Aman and Khair Khana, near the Soviet garrisons. At times such acts were committed even during the day. KhAD agents also did the same. Small groups of them would pick up young women in the streets, apparently to question them but in reality to satisfy their lust: in the name of security, they had the power to commit excesses.
  67. ^ The War Chronicles: From Flintlocks to Machine Guns. Fair Winds. tr. 393. ISBN 9781616734046. A final weapon of terror the Soviets used against the mujahideen was the abduction of Afghan women. Soldiers flying in helicopters would scan for women working in the fields in the absence of their men, land, and take the women captive. Russian soldiers in the city of Kabul would also steal young women. The object was rape, although sometimes the women were killed, as well. The women who returned home were often considered dishonored for life.
  68. ^ Sciolino, Elaine (3 tháng 8 năm 1984). “4 Soviet Deserters Tell Of Cruel Afghanistan War”. The New York Times. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2017. 'I can't hide the fact that women and children have been killed,' Nikolay Movchan, 20, a Ukrainian who was a sergeant and headed a grenade-launching team, said in an interview later. 'And I've heard of Afghan women being raped.'
  69. ^ Report from Afghanistan Claude Malhuret
  70. ^ Schwartzstein, Stuart j. d. (Winter 1982–83). “Chemical Warfare in Afghanistan: An Independent Assessment”. World Affairs. JSTOR 20671950.
  71. ^ The Story of Genocide in Afghanistan Hassan Kakar
  72. ^ “Use of toxins and other lethal agents in Southeast Asia and Afghanistan” (PDF). CIA. 2 tháng 2 năm 1982. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2014.
  73. ^ Kaplan, Robert D. (24 tháng 12 năm 2008). Soldiers of God: With Islamic Warriors in Afghanistan and Pakistan. Knopf Doubleday Publishing Group. ISBN 9780307546982. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2019 – qua Google Books.
  74. ^ Peter Tomsen (2013). The Wars of Afghanistan: Messianic Terrorism, Tribal Conflicts, and the Failures of Great Powers. PublicAffairs. tr. 11. ISBN 978-1-61039-412-3.
  75. ^ Kaplan 2008, tr. 188.
  76. ^ Pear, Robert (14 tháng 8 năm 1988). “Mines Put Afghans in Peril on Return”. New York Times. tr. 9.
  77. ^ “Reversing the gun sights: transnational civil society targets land mines”. International Organization. 22 tháng 6 năm 1998. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2013.
  78. ^ https://books.google.com.vn/books?id=noBmDwAAQBAJ&pg=PA138&lpg=PA138&dq=%5D+widespread+corruption+and+smuggling+of+army+equipment+for+trade+in+drugs+and+goods+was+permitted.+And+looting+among+the+Afghan+population,+killing+of+non-combatants,+punitive+attacks+on+villages,+as+well+as+torture+of+prisoners+of+war+was+often+permitted+and+even+encouraged+by+officers&source=bl&ots=JfVvYb_cMs&sig=ACfU3U22NlbauSmpA2oc_S9B13nCbBGSpA&hl=vi&sa=X&ved=2ahUKEwjp7trtzqfiAhXNdHAKHcPVDrwQ6AEwAHoECAgQAQ#v=onepage&q=%5D%20widespread%20corruption%20and%20smuggling%20of%20army%20equipment%20for%20trade%20in%20drugs%20and%20goods%20was%20permitted.%20And%20looting%20among%20the%20Afghan%20population%2C%20killing%20of%20non-combatants%2C%20punitive%20attacks%20on%20villages%2C%20as%20well%20as%20torture%20of%20prisoners%20of%20war%20was%20often%20permitted%20and%20even%20encouraged%20by%20officers&f=false
  79. ^ A. Alexiev, Inside the Soviet Army—Afghanistan, Report no. 3627 (The Rand Corporation, 1988), p. 58.
  80. ^ Svetlana Aleksievich, ‘Don’t Say You Have Been in that War’, International Affairs (1990), p. 133.
  81. ^ Valery Abramov, ‘We Should Tell the Whole Truth about This War’, Moscow News (weekly) 3 (1989), p. 9.
1930

1991

Berlin

Berlin (phát âm tiếng Đức: [bɛɐ̯ˈliːn] ( nghe), cũng còn gọi với tên tiếng Việt là Bá Lâm hoặc Béc-lin) là thủ đô, và cũng là một trong 16 bang của Cộng hòa Liên bang Đức. Với hơn 3.7 triệu người dân, đây là thành phố lớn nhất của Đức. Nếu so với cả Liên minh châu Âu, Berlin là thành phố lớn thứ nhì chỉ sau Luân Đôn. Nằm ở miền Đông Bắc nước Đức, Berlin là trung tâm của khu vực đô thị Berlin-Brandenburg, trong đó có khoảng 6 triệu người đến từ hơn 180 quốc gia trên thế giới. Nằm trong vùng Đồng bằng châu Âu, Berlin bị ảnh hưởng bởi khí hậu ôn đới theo mùa. Khoảng 1/3 diện tích của thành phố là rừng, công viên, vườn, sông và hồ, do đó thành phố này luôn có một bầu không khí trong lành.Được ghi nhận lần đầu tiên vào thế kỷ 13, Berlin từng là thủ đô của Vương quốc Phổ (1701–1918), Đế chế Đức (1871–1918), Cộng hòa Weimar (1919–1933) và Đức Quốc Xã (1933–1945). Vào những năm 1920, Berlin là thành phố lớn thứ ba trên thế giới. Sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, thành phố đã bị liên quân bốn nước chiếm đóng, và sau đó các khu vực do Anh, Pháp, Hoa Kỳ chiếm đóng được hợp nhất và trở thành Tây Berlin, được bao quanh bởi Bức tường Berlin và phần còn lại do Liên Xô chiếm đóng trở thành Đông Berlin (thủ đô của Cộng hòa Dân chủ Đức). Sau khi nước Đức tái thống nhất ngày 3 tháng 10 năm 1990, Berlin trở thành thủ đô của toàn liên bang Đức, lưu trữ 147 đại sứ quán nước ngoài. Sau Quyết nghị Thủ đô của Quốc hội Liên bang Đức (Deutsche Bundestag) vào năm 1991 thành phố cũng thực thi chức năng của mình là trụ sở của chính phủ và quốc hội từ năm 1999.Berlin là một trung tâm chính trị, văn hóa, khoa học quan trọng của châu Âu. Đô thị lớn này là một điểm nút giao thông và một trong những thành phố thu hút được nhiều khách du lịch nhất của lục địa già này. Nhiều trường đại học, viện nghiên cứu, nhà hát và viện bảo tàng tại Berlin có danh tiếng quốc tế.

Chiến dịch Baltic (1944)

Chiến dịch Baltic còn có tên gọi là "Chiến dịch tấn công chiến lược Baltic" đối với Hồng Quân, lực lượng đã thực hiện chiến dịch này. Chiến trường chủ yếu giữa Đức và Liên Xô là vùng Baltic, chiến dịch diễn ra trong suốt cuối mùa hè và mùa thu năm 1944. Mặt trận số 1, 2, 3 và 4 trên vùng Baltic được Hồng quân thành lập đối chọi với Cụm Tập đoàn quân Trung tâm và Cụm Tập đoàn quân Bắc của Đức Quốc xã. Kết quả của hàng loạt các trận đánh là sự mất liên lạc hoàn toàn của Cụm Tập đoàn quân Trung tâm và Cụm Tập đoàn quân Bắc, và sự hình thành túi Kurland ở Latvia, tại nơi này hơn 300.000 quân Đức đã bị cầm chân cho đến khi Đức quốc xã đầu hàng quân Đồng Minh.

Chiến dịch Barbarossa

Barbarossa (tiếng Đức: Unternehmen Barbarossa) là mật danh của chiến dịch xâm lược Liên bang Xô viết do Quân đội Đức Quốc xã tiến hành trong chiến tranh thế giới thứ hai. Với tên ban đầu là kế hoạch Otto và được đích thân Hitler đổi thành "Barbarossa" theo biệt hiệu của vị Hoàng đế La Mã Thần thánh Friedrich I ở thế kỷ XII vào ngày 18 tháng 12 năm 1940, chiến dịch có mục tiêu nhanh chóng chiếm đóng phần lãnh thổ phía Tây đường ranh giới nối liền giữa hai thành phố Arkhangelsk và Astrakhan (thường gọi là tuyến A-A) của Liên Xô, được mở màn vào sáng ngày 22 tháng 6 năm 1941 trên toàn bộ tuyến biên giới phía Tây của Liên Xô và thực tế kết thúc vào đầu tháng 2 năm 1942 trước cửa ngõ Moskva.

Trong toàn chiến dịch, mặc dù Quân đội Đức Quốc xã đã giành được một số chiến thắng vang dội ở cấp độ chiến thuật, chiếm được phân nửa lãnh thổ thuộc châu Âu của Liên Xô trong đó có một số vùng kinh tế quan trọng, nhưng không hoàn thành mục tiêu mà kế hoạch đề ra. Kể từ sau khi đợt tấn công Moskva bị bẻ gãy vào cuối tháng 1 năm 1942, Quân đội Đức Quốc xã không còn đủ sức tổ chức một đợt tổng tấn công nào khác trên toàn bộ mặt trận, khiến chiến lược đánh nhanh thắng nhanh trước mùa đông 1941-1942 của Hitler hoàn toàn phá sản.

Thất bại về mặt chiến lược của chiến dịch Barbarossa là một bước ngoặt quan trọng, buộc Hitler phải tham gia vào một cuộc chiến tranh tổng lực mà nước Đức Quốc xã và đồng minh phe Trục kém thế tương quan về năng lực sản xuất công nghiệp và khả năng tổng động viên so với Liên Xô và phe Đồng minh, dẫn tới sự suy yếu rồi thất bại hoàn toàn trong Chiến tranh thế giới thứ hai.

Về mặt lịch sử, thì chiến dịch Barbarossa được ghi nhận là chiến dịch quân sự có quy mô lớn nhất về quân số tham chiến và cũng là chiến dịch đẫm máu nhất với con số thương vong lớn chưa từng có trong lịch sử thế giới.

Chiến dịch Barvenkovo-Lozovaya

Chiến dịch Barvenkovo-Lozovaya (Lozova) (được Thống chế Đức Wilhelm Bodewin Gustav Keitel gọi là Trận Kharkov lần thứ hai) là một hoạt động quân sự lớn của quân đội Liên Xô và quân đội Đức Quốc xã tại sườn phía Nam mặt trận Xô-Đức, chiến trường chính của chiến dịch là khu vực tam giác Barvenkovo-Vovchansk-Krasnograd ở phía Đông Kharkov, trên khu vực nằm giữa hai con sông Bắc Donets và Oskol. Dựa vào ưu thế tương đối về binh lực tại khu vực mặt trận Tây Nam, Phương diện quân Tây Nam đã đệ trình kế hoạch chiến dịch từ cuối tháng 2 năm 1942 với ý đồ chiếm lại Kharkov bằng hai đòn vu hồi từ phía Bắc và phía Nam. Kế hoạch này bị Bộ Tổng tham mưu quân đội Liên Xô phản đối vì khi tính toán tại thì thấy không được bảo đảm về nhân lực và vật chất. Tuy nhiên, I. V. Stalin lại ủng hộ kế hoạch này và lệnh cho Bộ Tổng tham mưu phải tuân thủ do Tư lệnh Phương diện quân Tây Nam S. K. Timoshenko cam đoan sẽ thành công.Khởi đầu ngày 12 tháng 5, sau ba ngày tấn công, bốn tập đoàn quân bộ binh và hai quân đoàn xe tăng Liên Xô đã tiến công đến cách phía Bắc và phía Nam Kharkov khoảng 40 đến 60 km. Ngày 14 tháng 5, Cụm tập đoàn quân Nam (Đức) bắt đầu giai đoạn đệm của Chiến dịch Blau với mục đích chiếm một số bàn đạp chuẩn bị cho cuộc tổng tấn công lớn vào mùa hè tại phía Nam mặt trận Xô-Đức. Sự cố tình trì hoãn việc dừng chiến dịch khi hậu cứ các cánh quân tấn công bị uy hiếp của nguyên soái S. K. Timoshenko đã khiến Phương diện quân Tây Nam (Liên Xô) đã phải trả giá đắt. Hai tập đoàn quân và hai quân đoàn xe tăng bị bốn tập đoàn quân Đức và Tập đoàn quân 2 Hungary bao vây tiêu diệt và bị bắt làm tù binh. Hai tập đoàn quân và hai quân đoàn xe tăng khác bị thiệt hại nặng. Phương diện quân Tây Nam và Phương diện quân Nam (Liên Xô) phải rút lui về sông Oskol. Một tháng sau, với binh lực lên đến 102 sư đoàn, Cụm tập đoàn quân Nam (Đức) được tăng cường Tập đoàn quân xe tăng 4 từ Cụm tập đoàn quân Trung tâm tiếp tục tấn công, đánh chiếm tuyến đường sắt bên hữu ngạn sông Đông, chiếm một loạt các vị trí quan trọng trên bờ Tây sông Đông và mở các chiến dịch Braunschweig tấn công trực diện vào Stalingrad, chiến dịch Edelweiss tràn vào Bắc Kavkaz.Thất bại của quân đội Liên Xô trong Chiến dịch Barvenkovo-Lozovaya vô hình trung đã tạo đà cho quân Đức phát huy thế mạnh các lực lượng tăng - thiết giáp của họ còn đang sung sức để hoàn thành bước đầu Kế hoạch Xanh, bổ đôi mặt trận của Liên Xô, tiến ra sông Volga và tràn đến Bắc Kavkaz, uy hiếp vùng dầu mỏ Baku - Grozny cực kỳ quan trọng đối với Liên Xô. Sau thất bại này, Nguyên soái S. K. Timoshenko phải rời khỏi vị trí tư lệnh Phương diện quân Tây Nam và chỉ còn vài lần được cử ra mặt trận với tư cách đại diện của Đại bản doanh. Kết quả tai hại của chiến dịch này còn làm cho Bộ Tổng tư lệnh quân đội Liên Xô phải đưa đến Phương diện quân Tây Nam một phần lực lượng dự bị mà khó khăn lắm, họ mới dành dụm được trong mùa đông 1941-1942. Tất cả cũng chỉ đủ để cứu vãn cho bốn tập đoàn quân còn lại của Phương diện quân này khỏi bị hợp vây và lập được trận tuyến phòng ngự mới trên tả ngạn sông Đông.

Chiến dịch Blau

Chiến dịch Blau (tiếng Đức: Fall Blau) là mật danh của Kế hoạch tổng tấn công từ mùa hè năm 1942 của quân đội Đức Quốc xã trên toàn bộ cánh Nam của mặt trận Xô-Đức trong Chiến tranh thế giới thứ hai, (blau có nghĩa là "xanh" trong tiếng Đức). Ban đầu tên dự định của chiến dịch này là Siegfried, đặt theo tên của một người anh hùng trong thần thoại German. Tuy nhiên Adolf Hitler nhớ đến chiến dịch tấn công trước đó với cái tên hoành tráng, chiến dịch Barbarossa (tên của một hoàng đế nổi tiếng của Đức thế kỉ 12), với kết quả không như mong đợi của nó nên đã đặt một cái tên vừa phải hơn là Blau. Do đó "Chiến dịch Blau" thực chất là tổ hợp các chiến dịch mang tên Blau.

Trong lịch sử quân sự Liên Xô (trước đây) và Nga (hiện nay), nó còn được biết đến với tên gọi Chiến cục 1942-1943. Đây là một tổ hợp hoạt động quân sự rất lớn gồm hàng loạt chiến dịch song song và nối tiếp nhau tương tự như Chiến dịch Barbarossa một năm trước đó. Bắt đầu ngày 28 tháng 6 năm 1942 bằng Chiến dịch Voronezh, với thất bại cực kỳ nặng nề ngày 2 tháng 2 năm 1943 tại Trận Stalingrad và kết thúc bằng việc tạm giành được quyền chủ động mong manh trước Trận Kursk, Chiến dịch Blau thể hiện tham vọng rất lớn của nước Đức Quốc xã trong những cố gắng tiêu diệt nhà nước Xô Viết, đối thủ lớn nhất của nước Đức tại châu Âu; qua đó làm thất bại những nỗ lực tiếp tục chiến tranh của Liên Xô, đánh chiếm nốt phần phía đông còn lại của vùng công nghiệp Donbass và vựa lúa mỳ lớn nhất của Liên Xô khi đó ở hạ lưu hai con sông Đông và Volga, cắt đứt và đánh chiếm nguồn dầu mỏ quan trọng của Liên Xô tại Kavkaz, tiến ra Trung - Cận Đông và xa hơn nữa, đến Ấn Độ, thực hiện mưu đồ bá chủ toàn cầu của nước Đức Quốc xã cùng các đồng minh của nó là Nhật Bản và Ý tại các châu lục của "cựu thế giới".

Chiến dịch Mãn Châu (1945)

Chiến dịch Mãn Châu hay Chiến dịch tấn công chiến lược Mãn Châu (tiếng Nga: Манчжурская стратегическая наступательная операция), hay Cuộc tấn công của Liên Xô vào Mãn Châu hay Chiến tranh chống lại Nhật Bản của Liên Xô (tiếng Nhật:ソ連対日参戦) theo cách gọi của phía Nhật Bản, là một chiến dịch quân sự của Quân đội Liên Xô nhằm vào Đạo quân Quan Đông của Đế quốc Nhật Bản tại Mãn Châu, được thực hiện theo thoả thuận của Liên Xô với các nước Đồng Minh tại Hội nghị Yalta tháng 2 năm 1945. Đây cũng là chiến dịch quân sự trên bộ lớn nhất trong Chiến tranh Thái Bình Dương, được bắt đầu vào ngày 9 tháng 8 và kết thúc ngày 2 tháng 9 năm 1945.

Được chỉ huy bởi một thế hệ tướng lĩnh trưởng thành trong nghệ thuật quân sự Xô viết, Quân đội Liên Xô đã thực hành vận động chiến một cách linh hoạt ở mọi cấp độ, nhanh chóng xuyên thủng các khu vực phòng thủ ngoại vi, thọc sâu vào trung tâm, chia cắt, làm tê liệt và bức hàng đạo quân Quan Đông, kiểm soát Mãn Châu, Bắc Triều Tiên và miền Nam Sakhalin chỉ trong vòng 2 tuần, tạo tiền đề cho việc đổ bộ chiếm đóng thành công quần đảo Kuril trong thời gian ngắn sau đó.

Cùng với hai quả bom nguyên tử được ném xuống Nhật Bản ngày 6 và 9 tháng 8 năm 1945, thành công của chiến dịch Mãn Châu đã góp phần thúc đẩy Đế quốc Nhật Bản nhanh chóng chấp nhận đầu hàng vô điều kiện, kết thúc chiến tranh và tạo thời cơ cho một loạt quốc gia châu Á giành quyền độc lập tự chủ.

Chiến dịch Sao Thiên Vương

Chiến dịch Sao Thiên Vương (Uranus) (tiếng Nga: Операция «Уран», phiên âm La Tinh: Operatsiya Uran; tiếng Đức: Operation Uranus) là mật danh của chiến dịch có tính chiến lược của Liên Xô thời gian cuối năm 1942 trong Thế chiến thứ hai tại khu vực phía Nam mặt trận Xô-Đức, trên hai khúc ngoặt giáp nhau của sông Đông và sông Volga với trung tâm là thành phố Stalingrad. Kết quả của chiến dịch này là việc ba phương diện quân Liên Xô đã bao vây Tập đoàn quân 6 và một phần Tập đoàn quân xe tăng 4 của quân đội Đức Quốc xã, đánh thiệt hại nặng các Tập đoàn quân 3 và 4 của Romania, tập đoàn quân 8 của Ý và bộ phận bên ngoài vòng vây của Tập đoàn quân xe tăng 4 của Đức. Chiến dịch này là giai đoạn đầu của toàn bộ Chiến dịch Stalingrad với mục đích tiêu diệt các lực lượng Đức ở bên trong và xung quanh Stalingrad, đánh lùi các cuộc tấn công mở vây của Quân đội Đức Quốc xã trong chiến dịch Bão Mùa đông. Việc hoạch định chiến dịch Sao Thiên Vương được khởi xướng vào thượng tuần tháng 9 năm 1942, được triển khai đồng thời với các kế hoạch bao vây và tiêu diệt một bộ phận của Cụm tập đoàn quân Trung tâm (Đức) tại khu vực Rzhev - Vyazma (Chiến dịch Sao Hoả) và các chiến dịch kiềm chế Cụm tập đoàn quân A của Đức tại Kavkaz.Sau hơn 4 tháng triển khai Chiến dịch Blau trên toàn bộ cánh Nam của Mặt trận Xô-Đức, quân đội Đức Quốc xã đã tiến sâu thêm từ 150 km (trên hướng Voronezh) đến hơn 250 km (trên hướng Stalingrad). Đặc biệt, đòn đánh vào Bắc Kavkaz do Cụm tập đoàn quân A (Đức) thực hiện không triệt để, không chiếm được các dải đất liền ven Biển Đen phía Nam Novorossissk đã làm cho toàn bộ chiến tuyến cánh Nam của mặt trận Xô-Đức kéo dài hơn gấp 2 lần, lên đến trên 1000 km. Đến cuối tháng 5 năm 1942, mặc dù có trong tay tổng cộng 102 sư đoàn nhưng hai Cụm tập đoàn quân A và B vẫn không đủ quân để gây áp lực với quân đội Liên Xô. Điều này buộc Bộ Tổng tư lệnh quân Đội Đức Quốc xã phải điều thêm quân từ Trung Âu và Tây Âu để bảo đảm tính liên tục của trận tuyến. Ngoài 28 sư đoàn Đức được điều động từ Tây Âu đang hoàn toàn yên tĩnh, Bộ Tổng tư lệnh quân đội Đức còn điều động cho cụm tập đoàn quân B hai tập đoàn quân 3 và 4 của Romania, tập đoàn quân 8 của Ý. Các đơn vị này cùng với tập đoàn quân 6 và tập đoàn quân xe tăng 4 (Đức) phụ trách hướng Stalingrad (hướng chủ yếu). Cụm tác chiến Weichs thuộc Cụm tập đoàn quân B gồm tập đoàn quân 2 (Đức) và tập đoàn quân 2 Hungary có nhiệm vụ giữ tuyến mặt trận Voronezh - Liski - Kantemirovka. Cụm tập đoàn quân A gồm tập đoàn quân xe tăng 1 và tập đoàn quân 17 (Đức) hoạt động tại Bắc Kavkaz với mục tiêu đánh chiếm các mỏ dầu ở Baku hay ít nhất cũng cắt đứt các đường ống dẫn dầu từ Baku về Nga. Tại hướng Stalingrad đã hình thành một thế trận bất lợi cho quân đội Đức. Từ ngày 23 tháng 8, chủ lực cụm tập đoàn quân B gồm Tập đoàn quân 6 và Tập đoàn quân xe tăng 4 tấn công vây bọc Stalingrad từ hai hướng Bắc và bị hút vào các trận đánh trong thành phố để cố chiếm lấy Stalingrad từ tay các tập đoàn quân 62, 63, 64 của Liên Xô. Các tập đoàn quân 3 và 4 (Romania) và tập đoàn quân 8 (Ý) yểm hộ hai bên sườn có binh lực yếu hơn. Các lực lượng Đức tại mặt trận phía Đông đã bị căng ra đến mức tối đa. Quân Đức thiếu các lực lượng dự bị mạnh và rảnh rỗi để điều động đến các địa đoạn xung yếu.Qua phân tích các tin tức tình báo, nghiên cứu hình thế chiến trường và căn cứ vào thực lực các tập đoàn quân dự bị mới được xây dựng, số lượng vũ khí và các phương tiện chiến tranh do nền công nghiệp quốc phòng cung cấp, trung tuần tháng 9 năm 1942, Bộ Tổng tư lệnh tối cao quân đội Liên Xô vạch kế hoạch bao vây và tiêu diệt cánh Nam (cánh chủ yếu) của Cụm tập đoàn quân B (Đức) tại khu vực Stalingrad. Cuối tháng 9, những nét cơ bản nhất của kế hoạch này đã được hoàn thành với mật danh "Sao Thiên Vương".Mở màn lúc 7 giờ 20 phút (giờ Moskva) vào ngày 19 tháng 11, Phương diện quân Tây Nam ở sườn phía bắc của các lực lượng phe Trục tại Stalingrad bắt đầu mở cuộc tấn công các tập đoàn quân 3 Romania. Sau một ngày, Phương diện quân Stalingrad tấn công ở phía Nam vào tập đoàn quân 4 Romania và tập đoàn quân 8 Ý. Sau 4 ngày tiến công liên tục, các đơn vị đi đầu của Tập đoàn quân xe tăng 5 (Phương diện quân Tây Nam) và Quân đoàn cơ giới cận vệ 4 (Phương diện quân Stalingrad) đã gặp nhau tại Kalach trên sông Đông, đánh bại các tập đoàn quân 3, 4 Romania và đẩy lùi tập đoàn quân 8 Ý; hoàn thành việc bao vây tập đoàn quân 6 và một phần tập đoàn quân xe tăng 4 (Đức) trong khu vực Stalingrad. Thay vì tìm cách tháo lui, Führer nước Đức Adolf Hitler quyết định giữ nguyên các lực lượng phe Trục ở Stalingrad và tổ chức tiếp tế bằng đường hàng không và hy vọng giải vây cho lực lượng này bằng Chiến dịch Bão Mùa đông do Cụm tập đoàn quân Sông Đông (mới được tổ chức) thực hiện.

Chiến tranh biên giới Việt–Trung 1979

Chiến tranh biên giới 1979, hay thường được gọi là Chiến tranh biên giới Việt – Trung năm 1979, là một cuộc chiến ngắn nhưng khốc liệt giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, nổ ra vào ngày 17 tháng 2 năm 1979 khi Trung Quốc đưa quân tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới giữa 2 nước.Chiến tranh biên giới Việt - Trung bắt nguồn từ quan hệ căng thẳng kéo dài giữa hai quốc gia, kéo dài trong khoảng một tháng với thiệt hại về người và tài sản cho cả hai phía.

Cuộc chiến kết thúc khi Trung Quốc tuyên bố hoàn thành rút quân vào ngày 16 tháng 3 năm 1979 sau khi Chủ tịch Tôn Đức Thắng bên phía Việt Nam kí lệnh Tổng động viên toàn dân và Trung Quốc đã đánh chiếm các thị xã Lạng Sơn, Lào Cai, Cao Bằng và một số thị trấn vùng biên. Mặc dù chịu thiệt hại lớn và thất bại trong việc buộc Việt Nam phải rút quân khỏi Campuchia nhưng Trung Quốc đã chứng minh được rằng đối thủ Liên Xô sẽ không trực tiếp tham chiến để bảo vệ đồng minh Việt Nam của mình. Cuộc chiến cũng để lại hậu quả lâu dài đối với nền kinh tế Việt Nam và căng thẳng trong quan hệ giữa hai nước. Xung đột vũ trang tại biên giới giữa hai nước vẫn còn tiếp diễn thêm hơn mười năm. Tới năm 1991, Quan hệ ngoại giao Việt–Trung mới chính thức được bình thường hóa.

Georgi Konstantinovich Zhukov

Georgi Konstantinovich Zhukov (tiếng Nga: Георгий Константинович Жуков, đọc là Ghê-oóc-ghi Can-xtan-chi-nô-vích Giu-cốp; 1 tháng 12 năm 1896 – 18 tháng 6 năm 1974) là danh tướng trong quân đội Liên Xô. Trong rất nhiều tướng lĩnh nổi danh thế giới trong Chiến tranh thế giới thứ hai, G.K. Zhukov được xếp đầu bảng về số lượng trận thắng nhiều và quy mô lớn, được nhiều người công nhận về tài năng chỉ đạo chiến dịch và chiến lược. Những chiến tích của ông đã trở thành những đóng góp rất lớn vào kho tàng di sản kiến thức quân sự nhân loại. Nó không những có ảnh hưởng lớn về lý luận quân sự của Liên Xô mà cũng có ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển của lý luận quân sự thế giới.Theo nhận định của Nguyên soái A. M. Vasilevsky, G. K. Zhukov là một trong những nhà cầm quân lỗi lạc của nền quân sự Xô Viết. Trong cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại của Liên bang Xô viết, ông đã giữ các chức vụ Tư lệnh Phương diện quân Dự bị, Tư lệnh Phương diện quân Tây, Tư lệnh Phương diện quân Beloussia 1, Tổng tham mưu trưởng quân đội Liên Xô, Thứ trưởng Bộ dân ủy Quốc phòng kiêm Phó Tổng tư lệnh tối cao quân đội Liên Xô, Ủy viên Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Hầu hết các nhà lãnh đạo quân sự nổi tiếng thế giới cùng thời với ông như Thống chế Anh Sir Bernard Law Montgomery, Thống tướng Hoa Kỳ Dwight David Eisenhower, Thống chế Pháp Jean de Lattre de Tassigny đều công nhận tên tuổi của ông đã gắn liền với hầu hết các chiến thắng lớn trong cuộc chiến như Trận Moskva (1941), Trận Stalingrad, Trận Kursk, Chiến dịch Bagration, Chiến dịch Visla-Oder và Chiến dịch Berlin. Trong giai đoạn sau chiến tranh, ông giữ các chức vụ Tổng tư lệnh quân đội Liên Xô tại nước Đức, tư lệnh các quân khu Odessa và Ural. Sau khi lãnh tụ tối cao I. V. Stalin qua đời, ông được gọi về Moskva và được bổ nhiệm chức vụ Thứ trưởng thứ nhất Bộ Quốc phòng Liên Xô. Trong thời gian từ năm 1955 đến năm 1957, ông giữ chức vụ Ủy viên trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Liên Xô. Năm 1957, trong thời gian đang đi thăm Nam Tư, ông bị đưa ra khỏi Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Năm 1958, ông bị miễn nhiệm tất cả các chức vụ trong quân đội.

Hiệp ước Xô-Đức

Hiệp ước Xô-Đức, còn được gọi là Hiệp ước Molotov-Ribbentrop hay Hiệp ước Hitler-Stalin có tên chính thức là Hiệp ước không xâm lược lẫn nhau giữa Đức và Liên bang Xô viết (Tiếng Đức: Deutsch-sowjetischer Nichtangriffspakt; Tiếng Nga: Договор о ненападении между Германией и Советским Союзом); được ký kết ngày 23 tháng 8 năm 1939 giữa Ngoại trưởng Vyacheslav Mikhailovich Molotov đại diện cho Liên Xô và Ngoại trưởng Joachim von Ribbentrop đại diện cho Đức Quốc xã. Nghị định thư bí mật đính kèm Hiệp ước quy định các nước Phần Lan, Estonia, Latvia, Litva, và România thuộc "vùng ảnh hưởng của Liên Xô". Ngoài ra, Đức chấp thuận việc Liên Xô thu hồi lại Tây Ukraine và Tây Byelorussia (khi đó bị Ba Lan chiếm đóng và gọi là Đông Ba Lan).

Các bên thỏa thuận với các cam kết kiềm chế không tấn công lẫn nhau và giữ thái độ trung lập trong trường hợp một trong hai bên trở thành mục tiêu của những hành động quân sự của bất kỳ bên thứ ba nào. Các thành viên Hiệp định cũng cam kết không tham gia vào các nhóm thế lực trực tiếp hoặc gián tiếp chống lại phía bên kia. Trong tương lai, hai bên cam kết việc cung cấp, trao đổi lẫn nhau về thông tin đối với những vấn đề có ảnh hưởng đến lợi ích của các bên.

Kèm theo hiệp định là một nghị định thư bí mật được ký bổ sung. Trong đó quy định Đông Âu là phần lãnh thổ nằm trong phạm vi quyền lợi của Đức và Liên Xô trong trường hợp có "sự sắp xếp lại về chính trị đối với lãnh thổ" của các quốc gia này. Nghị định này cho phép thành lập chính quyền thân Liên Xô tại Litva, Latvia, Estonia và Đông Ba Lan. Phần Lan và Bessarabia đều nằm trong phạm vi ảnh hưởng của Liên Xô. Ngày 1 tháng 9 năm 1939 Đức xâm chiếm Ba Lan, và ngày 17 tháng 9 quân đội Liên Xô tiến vào miền Đông Ba Lan theo lệnh của Stalin. Việc phân chia lãnh thổ của Ba Lan giữa Liên Xô và Đức đã được hoàn thành. Ngày 28 tháng 9 năm 1939, Đức và Liên Xô ký kết Hiệp ước hữu nghị về biên giới. Sau đó, Liên Xô đã sáp nhập các nước Baltic (Estonia, Latvia, Litva), Bessarabia và Bắc Bukovina, và một phần của Phần Lan vào lãnh thổ của mình.

Các thỏa thuận đã được ký kết đã làm dịu sự căng thẳng trong quan hệ chính trị và kinh tế giữa Liên Xô và Đức đang nóng lên sau sự xuất hiện của Hitler trên vũ đài chính trị và nắm quyền điều hành nước Đức cùng với các cuộc xung đột vũ trang (trong đó Liên Xô chống lại sự can thiệp của Đức và Italy ở Tây Ban Nha và ủng hộ phái Cộng hoà Tây Ban Nha, chống lại quân đội Nhật Bản ở Viễn Đông trong các Chiến dịch hồ Khasan và Khalkhyn Gol). Sự kiện này trở thành một bất ngờ chính trị cho các nước thứ ba. Gần như đồng thời với các tin đồn về sự tồn tại của thỏa thuận bí mật bổ sung, các văn bản Hiệp ước đã được xuất bản vào năm 1948 dưới dạng các bản sao. Năm 1993, văn bản gốc của Hiệp ước được tìm thấy.

Sau khi Đức tấn công Liên Xô ngày 22 tháng 6 năm 1941, cũng như tất cả các văn kiện ngoại giao Xô-Đức khác, hiệp định này đã không còn giá trị..

Mùi cỏ cháy

Mùi cỏ cháy là một bộ phim điện ảnh Việt Nam thuộc thể loại tâm lý xã hội, chiến tranh. Bối cảnh chính của phim là sự kiện Mùa hè đỏ lửa 1972 với trận chiến tại Thành cổ Quảng Trị. Nhân vật chính trong phim là bốn sinh viên trường đại học Tổng hợp Hà Nội là: Hoàng, Thành, Thăng, Long theo lệnh tổng động viên lên đường nhập ngũ năm 1971, được huấn luyện tốc hành và sau cùng đã tham gia chiến đấu tại Thành cổ Quảng Trị năm 1972. Tại đây, Thành, Thăng, Long đã hy sinh còn Hoàng thì may mắn sống sót trở về. Bộ phim được kể lại từ ký ức của Hoàng, khi ông thăm lại chiến trường xưa.

Mùi cỏ cháy do Hãng phim truyện Việt Nam sản xuất. Kịch bản của phim do nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm đảm nhiệm, dựa trên quyển nhật ký Mãi mãi tuổi hai mươi của liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc. Khởi quay từ tháng 12/2010, bộ phim được đặc cách tham dự Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 17 tại Tuy Hòa tỉnh Phú Yên, được công chiếu giới thiệu tại Lễ Khai mạc tuần phim và đoạt giải Bông Sen Bạc.

Ngày 17/3/2012, phim đã được trao 4 giải Cánh diều vàng cho phim điện ảnh xuất sắc, âm nhạc xuất sắc (nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân), biên kịch xuất sắc (Hoàng Nhuận Cầm) và quay phim xuất sắc nhất (Nghệ sĩ ưu tú Phạm Thanh Hà) tại Lễ trao giải Cánh diều Vàng năm 2011.

Bộ phim được Cục Điện ảnh chọn chiếu khai mạc đợt phim kỷ niệm các ngày lễ lớn tháng 4-5/2012 và tiếp tục công chiếu trong tuần phim kỷ niệm 65 năm Ngày Thương binh, liệt sĩ 27/7/1947-27/7/2012.

Phim cũng được phát hành DVD bởi Hãng phim Phương Nam năm 2012.

Sao Thiên Vương

Sao Thiên Vương là hành tinh thứ bảy tính từ Mặt Trời; là hành tinh có bán kính lớn thứ ba và có khối lượng lớn thứ tư trong hệ. Sao Thiên Vương có thành phần tương tự như Sao Hải Vương, và cả hai có thành phần hóa học khác so với hai hành tinh khí khổng lồ lớn hơn là Sao Mộc và Sao Thổ. Vì lý do này, các nhà thiên văn thỉnh thoảng phân chúng vào loại hành tinh khác gọi là "hành tinh băng khổng lồ". Khí quyển của Sao Thiên Vương, mặc dù tương tự như của Sao Mộc và Sao Thổ về những thành phần cơ bản như hiđrô và heli, nhưng chúng chứa nhiều "hợp chất dễ bay hơi" như nước, amoniac, và mêtan, cùng với lượng nhỏ các hiđrôcacbon. Hành tinh này có bầu khí quyển lạnh nhất trong số các hành tinh trong Hệ Mặt Trời, với nhiệt độ cực tiểu bằng 49 K (−224 °C). Nó có cấu trúc tầng mây phức tạp, với khả năng những đám mây thấp nhất chứa chủ yếu nước, trong khi mêtan lại chiếm chủ yếu trong những tầng mây phía trên. Ngược lại, cấu trúc bên trong Thiên Vương Tinh chỉ chứa chủ yếu một lõi băng và đá.Giống như những hành tinh khí khổng lồ khác, Sao Thiên Vương có một hệ thống vành đai, từ quyển, và rất nhiều vệ tinh tự nhiên. Hệ thống Sao Thiên Vương có cấu hình độc nhất bởi vì trục tự quay của hành tinh bị nghiêng rất lớn, gần như song song với mặt phẳng quỹ đạo của hành tinh. Do vậy cực bắc và cực nam của hành tinh này gần như tại vị trí xích đạo so với những hành tinh khác. Năm 1986, những ảnh chụp của tàu không gian Voyager 2 cho thấy Sao Thiên Vương qua ánh sáng khả kiến hiện lên với một màu gần như đồng nhất mà không có các dải mây hay cơn bão như những hành tinh khí khổng lồ khác. Các nhà thiên văn thực hiện quan sát từ mặt đất phát hiện ra dấu hiệu của sự thay đổi mùa và sự gia tăng hoạt động thời tiết trong những năm gần đây khi nó tiếp cận đến vị trí điểm phân trên quỹ đạo. Tốc độ gió trên Sao Thiên Vương đạt tới 250 mét trên giây (900 km/h).

Thảm sát Katyn

Thảm sát Katyn, cũng được gọi là vụ Thảm sát rừng Katyn (tiếng Ba Lan: Zbrodnia katyńska, mord Katyński, 'Tội ác Katyń'; tiếng Nga: Катынский расстрел Katynskij ra'sstrel 'Xử bắn Katyn'), được cho là một cuộc xử bắn hàng loạt những tù binh Ba Lan do Bộ Dân ủy Nội vụ (NKVD), cảnh sát mật Liên xô, thực hiện vào tháng 4 và tháng 5 năm 1940, khởi đầu từ đề xuất của L. P. Beriya đề nghị xử bắn tất cả các sĩ quan Ba Lan, ngày 5 tháng 3 năm 1940. Tài liệu chính thức này đã được Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô, gồm cả lãnh đạo I. V. Stalin, ký và đóng dấu. Số tù binh bị xử bắn được ước tính khoảng 22.000 người, với con số thấp hơn là 21.768 người.Các tù binh bị xử bắn tại Rừng Katyn Nga, các trại tù Kalinin, Kharkiv và những nơi khác. Trong tổng số người bị xử bắn, khoảng 8.000 là các sĩ quan Ba Lan bị bắt làm tù binh trong cuộc tấn công Ba Lan của Liên Xô năm 1939, 6.000 người khác là các sĩ quan cảnh sát, số còn lại là những người thuộc giới trí thức Ba Lan bị bắt giữ vì bị kết tội là các thành phần "gián điệp, sen đầm, địa chủ, những kẻ phá hoại, chủ nhà máy, luật sư, viên chức và thầy tu".

Chính phủ Đức Quốc xã đã thông báo việc phát hiện những ngôi mộ tập thể ở rừng Katyn năm 1943. Khi Chính phủ Ba Lan lưu vong tại Luân Đôn yêu cầu Chữ thập đỏ quốc tế điều tra, Stalin ngay lập tức chấm dứt quan hệ ngoại giao với chính phủ này. Liên Xô tuyên bố các nạn nhân đã bị phát xít Đức giết hại, và tiếp tục phủ nhận trách nhiệm với các vụ xử bắn cho tới năm 1990, khi tổng thống Gorbachev chính thức thừa nhận và lên án việc xử bắn tù binh của NKVD, cũng như sự từ chối sau đó của chính phủ Liên Xô.Ngày 7 tháng 4 năm 2010, Thủ tướng Nga Vladimir Putin đã đến đặt vòng hoa tại đài tưởng niệm dành cho các nạn nhân của vụ xử bắn Katyn. Trong bài phát biểu tại buổi lễ tưởng niệm, Putin tuyên bố rằng vụ thảm sát Katyn là một "tội ác không thể biện minh bằng bất cứ cách nào". Cũng trong bài phát biểu, ông Putin cho rằng Stalin đã ra lệnh thực hiện vụ xử bắn như một cách để trả thù cho 32.000 tù binh Hồng quân đã chết vì đói khát và dịch bệnh trong những trại giam của Ba Lan trong cuộc chiến năm 1919-1921.. Theo một cuộc khảo sát năm 2009, 54% số người Nga được hỏi không biết một chút gì về sự kiện này, và đa số người dân Nga không muốn chính phủ Nga đưa ra lời xin lỗi Trong tháng 11 năm 2010, Quốc hội Nga đã chính thức thông qua một tuyên bố quy kết trách nhiệm cho Stalin và các viên chức Liên Xô khác đã đích thân ra lệnh cho vụ xử bắn.

Trần Nhân Tông

Trần Nhân Tông (chữ Hán: 陳仁宗 7 tháng 12 năm 1258 – 14 hoặc 16 tháng 12 năm 1308) tên khai sinh là Trần Khâm (陳昑), là vị hoàng đế thứ ba của Hoàng triều Trần nước Đại Việt. Ông trị vì từ ngày 8 tháng 11 năm 1278 đến ngày 16 tháng 4 năm 1293, sau đó làm Thái thượng hoàng cho đến khi qua đời. Trần Nhân Tông được sử Việt đánh giá là một vị vua anh minh, đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển bền vững của Đại Việt cuối thế kỷ XIII, cũng như việc bảo vệ nền độc lập và mở rộng cương thổ đất nước. Ngoài ra, ông cũng là một thiền sư lớn của Phật giáo Việt Nam thời trung đại.Là con trai trưởng của Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông đã được truyền ngôi vào tháng 11 năm 1278 – lúc ông chưa đầy 20 tuổi. Vị hoàng đế trẻ sớm phải đương đầu với hiểm họa xâm lược từ đế quốc Mông – Nguyên hùng mạnh ở phương Bắc. Do vậy, ngay sau khi lên ngôi Trần Nhân Tông đã triển khai nhiều biện pháp nhằm nâng cao sức mạnh kinh tế và ổn định chính trị – xã hội của Đại Việt, đồng thời xây dựng quan hệ tích cực với nước láng giềng phía nam là Chiêm Thành. Năm 1285, hoàng đế nhà Nguyên Hốt Tất Liệt huy động một lực lượng lớn (theo Đại Việt sử ký toàn thư là 50 vạn người) tấn công Đại Việt. Quân dân Đại Việt ban đầu gặp nhiều tổn thất; nhưng dưới sự chỉ huy của vua Nhân Tông, Thượng hoàng Thánh Tông và Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo, người Việt đã dần dần xoay chuyển tình thế và đánh bật quân Nguyên ra khỏi đất nước. Sau đó, 2 vua Trần và Hưng Đạo vương tiếp tục lãnh đạo dân Việt đánh bại một cuộc xâm lược khác của Mông – Nguyên vào năm 1287.

Sau khi đẩy lùi các cuộc xâm lược của người Mông Cổ, Trần Nhân Tông đã khôi phục được sự hưng thịnh của Đại Việt đồng thời thực thi phương sách ngoại giao vừa mềm dẻo, vừa cứng rắn với nhà Nguyên. Năm 1293, ông truyền ngôi cho Thái tử Trần Thuyên (tức vua Trần Anh Tông) và lên làm Thái thượng hoàng. Sau đó Nhân Tông xuất gia tu hành theo đạo Phật và lấy hiệu Trúc Lâm Đại sĩ (竹林大士); nhưng ông vẫn tham gia điều hành chính sự, đánh dẹp quân Ai Lao xâm phạm biên giới và mở rộng bờ cõi về phương Nam bằng phương pháp ngoại giao. Trần Nhân Tông cũng chính là vị tổ sáng lập Thiền phái Trúc Lâm, một dòng thiền Phật giáo mang bản sắc văn hóa Việt Nam và tinh thần nhập thế.

Trận Smolensk (1941)

Trận Smolensk là một trận đánh lớn trong Chiến tranh Xô-Đức thuộc khuôn khổ chiến dịch Barbarossa năm 1941. Đây là một tổ hợp các trận đánh phòng thủ kết hợp với các hoạt động phản kích của quân đội Liên Xô chống lại Cụm tập đoàn quân Trung tâm và một phần Cụm tập đoàn quân Bắc của quân đội Đức Quốc xã đang tấn công theo hướng trực chỉ Moskva theo Kế hoạch Barbarossa. Trong vòng hai tháng (từ 10 tháng 7 - 10 tháng 9 năm 1941), cuộc chiến ác liệt tiếp tục diễn ra trên một vùng lãnh thổ rộng lớn với mặt trận trải dài kéo từ 600 đến 650 km trên tuyến Idritsa và Velikie Luky ở phía bắc tới Lgov và Novgorod-Seversky ở phía nam; có chiều sâu lên đến 200–250 km từ Polotsk, Vitebsk và Zlobin ở phía tây đến Andreapol, Yartsevo, Yelnya và Trubchevsky ở phía đông.

Chiến dịch được phát động bởi các đòn tấn công của Tập đoàn quân xe tăng 2 do tướng Heinz Guderian chỉ huy và Tập đoàn quân xe tăng 3 do tướng Hermann Hoth chỉ huy thuộc Cụm Tập đoàn quân Trung tâm của quân đội Đức Quốc xã. Cuộc tấn công bao gồm hai đòn công kích vu hồi liên tiếp trên khu vực từ Vitebsk-Orsha đến Smolensk nhằm bao vây tiêu diệt một phần binh lực của bốn phương diện quân Liên Xô. Phòng thủ tại tuyến này bao gồm Phương diện quân phía Tây do nguyên soái Semyon Timoshenko chỉ huy, Phương diện quân Dự bị do đại tướng Georgi Zhukov chỉ huy, Phương diện quân Trung tâm do thượng tướng Fyodor Kuznetsov chỉ huy và Phương diện quân Bryansk do trung tướng Andrei Yeremenko chỉ huy.

Mặc dù một phần Tập đoàn quân 16, Tập đoàn quân 19 và Tập đoàn quân 20 (Liên Xô) bị bao vây và tiêu diệt hoặc bị bắt làm tù binh ở phía Nam Smolensk nhưng một phần lớn lực lượng của các tập đoàn quân 16 và 19 đã rút lui an toàn. Việc "để sổng" một lực lượng lớn quân đội Liên Xô như vậy đã khiến Hitler quyết định từ bỏ chiến thuật bao vây tiêu diệt các lực lượng Hồng quân, thay vào đó quân Đức tập trung vào mục tiêu tấn công các khu vực giàu tiềm năng kinh tế của Liên Xô như các vùng nông nghiệp trù phú ở đồng bằng ven các con sông Đông, Dniepr, Volga; các khu công nghiệp Voronezh, Kharkov, Zaporozhe, Poltava, Krasnohrad, Nikolaev, Krivoi Rog...; nhằm phá hoại nền kinh tế của Liên Xô, hy vọng bằng cách đó làm cho họ suy kiệt và đi đến chỗ sụp đổ.

Trận Stalingrad

Trận Stalingrad là một trận đánh lớn diễn ra trong Chiến tranh Xô-Đức giữa một phe là quân đội phát xít Đức cùng với các chư hầu và phe kia là Hồng quân Liên Xô tại thành phố Stalingrad (nay là Volgograd) ở miền Tây Nam nước Nga. Trận đánh diễn ra từ ngày 17 tháng 7 năm 1942 đến ngày 2 tháng 2 năm 1943, và thường được đánh giá như một bước ngoặt quan trọng và bước đầu làm xoay chuyển cục diện trong chiến tranh thế giới thứ 2, thậm chí là một trong những bước ngoặt lớn nhất của nền quân sự thế giới vào thế kỷ XX. Đây cũng là trận đánh đẫm máu nhất trong lịch sử thế giới1.250.000 #, với con số thương vong lên đến hơn 2 triệu người.

Số binh sĩ tham gia trận đánh này cũng nhiều hơn hẳn các trận đánh lớn khác trong lịch sử thế giới (hai bên đã huy động tổng cộng hơn 3,5 triệu quân), và nó cũng nổi tiếng vì mức độ khốc liệt, chết chóc cũng như thương vong cao về dân thường. Việc quân Đức thất bại trong việc đánh chiếm Stalingrad và việc Hồng quân Xô Viết phản công bao vây tiêu diệt 33 vạn quân của Tập đoàn quân số 6 (Đức) cùng với nhiều lực lượng khác của phe Trục xung quanh thành phố đã dẫn tới một trong những thất bại quan trọng nhất của phát xít Đức trong thế chiến thứ hai. Với chiến thắng điểm ngoặt này, Hồng quân đã cầm chắc lợi thế của cuộc Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại. Song, đây không chỉ là một bước ngoặt quyết định và quan trọng nhất trong cuộc chiến tranh vệ quốc mà còn cả của Chiến tranh thế giới thứ hai vì nó cùng với các chiến thắng ở Tunisia đã mang lại lợi thế và củng cố niềm tin thắng lợi cho toàn khối Đồng Minh, và bắt đầu cho giai đoạn Hồng quân Xô Viết chủ động tổ chức phản công trên toàn mặt trận và đóng góp một phần đáng kể vào sự đầu hàng của phát xít Đức hai năm rưỡi sau đó.

Đợt tấn công Stalingrad của phát xít Đức tiến triển nhanh vào giai đoạn nửa sau năm 1942 dưới sự hỗ trợ mạnh mẽ của không quân Đức Luftwaffe, những trận oanh tạc của lực lượng này đã biến phần lớn thành phố trở thành đống gạch vụn. Tuy nhiên quân đội phát xít Đức nhanh chóng bị sa lầy trong những trận đánh đẫm máu trên đường phố và trong từng căn nhà. Dù có lúc đã kiểm soát 90% thành phố nhưng người Đức đã hoàn toàn thất bại trong việc triệt tiêu những ổ đề kháng cuối cùng của Hồng quân Xô Viết vốn bám trụ một cách vững chắc và kiên cường bên bờ Tây sông Volga, trong lúc đó thì thời tiết khắc nghiệt của mùa Đông nước Nga đang đến gần.

Ngày 19 tháng 11 năm 1942, Hồng quân Liên Xô mở chiến dịch Sao Thiên Vương, một đợt tấn công vu hồi gồm hai gọng kìm đánh vào cạnh sườn của Tập đoàn quân số 6 (Đức) đóng tại Stalingrad. Đòn tấn công này đã hoàn toàn thay đổi cục diện của trận đánh: cạnh sườn yếu kém của quân Đức nhanh chóng sụp đổ tan tành và 33 vạn quân của Tập đoàn quân số 6 bị bao vây trong nội đô Stalingrad. Khi mùa đông đến, cái đói, cái lạnh khủng khiếp và những đợt tấn công liên tục của Hồng quân Xô Viết đã làm suy kiệt nhanh chóng lực lượng Đức, tuy nhiên mệnh lệnh không được đầu hàng của Hitler do niềm tin vào "sức mạnh ý chí", vấn đề danh dự nước Đức cùng các tính toán chiến lược khác đã buộc họ phải tiếp tục cố bám trụ mà không được tự ý phá vây. Vào tháng 12 năm 1942, phát xít Đức mở Chiến dịch Bão Mùa đông nhằm giải cứu đội quân bị vây nhưng thất bại, và theo sau đó là toàn bộ hệ thống tiếp vận cho khối quân bị vây cũng sụp đổ theo. Đầu tháng 2 năm 1943, sức kháng cự của khối quân này hoàn toàn bị dập tắt, và Tập đoàn quân số 6 bị tiêu diệt hoàn toàn vào ngày 2 tháng 2 năm 1943. Đối với nước Đức thất thế, trận thua này là tin xấu nhất của họ, và sau thất bại này họ sẽ còn thua trận Kursk với tầm quan trọng chẳng kém. Về phần minh, Hồng quân Liên Xô đã phải chịu tổn thất vô cùng lớn lao trong chiến thắng quyết định này. Trận đánh diễn ra trong khoảng hơn nửa năm và thực chất là hai giai đoạn nối tiếp nhau:

Giai đoạn đầu là cuộc tiến công của quân đội Đức trong chiến cục mùa hè năm 1942 và kết thúc bằng việc quân Đức tiến được tới bờ sông Volga, tấn công và bao vây thành phố Stalingrad nhưng không thể đánh chiếm được (từ giữa tháng 7 đến 18 tháng 11 năm 1942), hay còn gọi là trận phòng thủ Stalingrad.

Giai đoạn hai là cuộc phản công của quân đội Xô viết bao vây và tiêu diệt quân Đức (từ 19 tháng 11 năm 1942 đến 2 tháng 2 năm 1943) với các chiến dịch Sao Thiên Vương, Sao Thổ và Cái vòng (Кольцо).

Trận Trân Châu Cảng

Trận tấn công Trân Châu Cảng (hay Chiến dịch Hawaii và Chiến dịch AI của Hawaii, và như Chiến dịch Z, theo cách gọi của Bộ Tổng tư lệnh Đế quốc Nhật Bản) là một đòn tấn công quân sự bất ngờ được Không lực Hải quân Nhật Bản thực hiện nhằm vào căn cứ hải quân của Hoa Kỳ tại Trân Châu Cảng thuộc tiểu bang Hawaii vào sáng Chủ Nhật, ngày 7 tháng 12 năm 1941, dẫn đến việc Hoa Kỳ sau đó quyết định tham gia vào hoạt động quân sự trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Trận đánh này được trù tính sẽ ngăn ngừa và giữ chân Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ không can thiệp đến cuộc chiến mà Nhật Bản đang hoạch định nhằm xâm chiếm Đông Nam Á, chống lại Anh Quốc, Hà Lan và Hoa Kỳ. Cuộc tấn công bao gồm hai đợt không kích với tổng cộng 353 máy bay xuất phát từ 6 tàu sân bay Nhật Bản. Trận tấn công đã đánh chìm 4 thiết giáp hạm Hoa Kỳ (2 chiếc trong số đó sau này được vớt lên và đưa trở lại hoạt động), và gây hư hỏng cho 4 chiếc khác. Quân Nhật còn đánh chìm hoặc phá hoại 3 tàu tuần dương, 3 tàu khu trục và 1 tàu thả mìn, phá hủy 188 máy bay, gây tổn thất về nhân mạng là 2.402 người tử trận và 1.282 người khác bị thương. Các trạm phát điện, xưởng tàu, xưởng sửa chữa và các kho chứa nhiên liệu và ngư lôi, cùng các bến tàu dành cho tàu ngầm và tòa nhà sở chỉ huy (cũng là nơi đặt bộ phận tình báo) đã không bị đánh trúng. Nhật Bản thiệt hại ít nhất, chỉ mất 29 máy bay và 4 tàu ngầm mini, với 65 người thương vong.

Cuộc tấn công là một sự kiện lớn trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Nó đã diễn ra trước khi có bất cứ một lời tuyên chiến chính thức nào được đưa ra, cả trước khi phần cuối cùng trong một thông điệp gồm 14 phần được chuyển hoàn tất đến Bộ Ngoại giao ở Washington, D.C. Tòa Đại sứ Nhật Bản ở Washington đã được chỉ thị phải chuyển giao thông điệp này ngay trước thời điểm trù định cho cuộc tấn công ở Hawaii. Cuộc tấn công, và đặc biệt là bản chất "bất ngờ" của nó, là hai nhân tố khiến cho công chúng Hoa Kỳ thay đổi quan điểm từ những người theo chủ nghĩa biệt lập (Isolationism) như vào những năm giữa thập niên 1930 sang ủng hộ việc Hoa Kỳ tham chiến. Nhật Bản đã không đưa ra một lời tuyên chiến chính thức nào trước khi thình lình tấn công Trân Châu Cảng, trong khi hai quốc gia Hoa Kỳ và Nhật Bản vẫn còn đang trong giai đoạn đàm phán hoà bình, vì thế cuộc tấn công bất ngờ này bị dư luận quốc tế xem là đánh lén (sneak attack), và Tổng thống Franklin D. Roosevelt tuyên bố rằng ngày 7 tháng 12 năm 1941 "sẽ sống mãi trong sự ô nhục" ("A date which will live in infamy").

Tiếp theo Hoa Kỳ, Anh và các thuộc địa của Anh, chính phủ Hà Lan và một loạt các quốc gia Mỹ Latinh cũng tuyên chiến với Nhật. Về phía phe Trục, ngày 11 tháng 12, Đức Quốc xã và Ý cũng tuyên chiến với Hoa Kỳ lấy cớ là Hoa Kỳ đã phá vỡ "sự trung lập". Theo đó, România, Hungary, Bulgaria và Slovakia cũng tuyên chiến với Hoa Kỳ. Việc Đức nhanh chóng tuyên chiến với Hoa Kỳ mà không bị thúc ép bởi bất kỳ cam kết nào với Nhật Bản đã lập tức khiến Hoa Kỳ can dự vào Mặt trận châu Âu.

Tác chiến chiều sâu

Tác chiến chiều sâu (Tiếng Nga: Теория глубокой операции | Teoriya glubokoy operaschy; tiếng Anh: Deep operations) hay Chiến đấu có chiều sâu là một học thuyết quân sự của Hồng quân Liên Xô được phát triển trong thời kỳ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới bởi các nhà chiến lược và lý luận quân sự xuất sắc của Hồng quân mà nổi bật là Nguyên soái Liên Xô M.N. Tukhachevsky, A.A. Svechin, N.E. Varfolomeev, V.K. Triandafillov, G.S. Isserson. Học thuyết đã giới thiệu thêm khái niệm nghệ thuật chiến dịch ở giữa hai cấp độ chiến lược và chiến thuật, được các nhà nghiên cứu quân sự trên thế giới sử dụng làm cơ sở phát triển lý luận cho nghệ thuật chiến dịch hiện đại.

Điểm xuất phát tư tưởng của học thuyết là quan niệm bản chất của chiến tranh đã thay đổi và mang tính chất tổng lực. Tư tưởng này dẫn tới sự xác nhận rằng chiến thắng không thể đạt được bằng một trận đánh quyết định, mà bằng các chiến dịch tuần tự nối tiếp nhau liền lạc hợp lý - mỗi chiến dịch một mục tiêu cụ thể được nối kết trong một mục tiêu thống nhất. Ở cấp độ chiến thuật, học thuyết đưa ra cách thức tấn công đồng thời suốt chiều sâu phòng tuyến đối phương bằng lực lượng xung kích chia làm 2 thê đội được hỗ trợ bằng pháo binh, không quân và lực lượng nhảy dù. Để phục vụ cho tư tưởng chiến tranh này, học thuyết nhấn mạnh vào việc cơ giới hóa lực lượng xung kích ở quy mô lớn.

Trên phương diện lịch sử, học thuyết được đánh giá là một hệ thống lý luận khoa học hiện đại nhất so với đương thời, đã được triển khai hoàn chỉnh thành Điều lệ tác chiến 1936 của Hồng quân. Tuy nhiên, do cuộc đại thanh trừng của Stalin vào những năm 1935-1941, khi các tác giả bị xử tử hình hoặc bị đi đày thì học thuyết mất chỗ đứng. Cho đến sau những thất bại ban đầu của Hồng quân ở Chiến tranh thế giới thứ hai, học thuyết mới được áp dụng trở lại và trở thành nền tảng cho nghệ thuật quân sự Xô Viết đi đến chiến thắng cuối cùng.

Phương diện quân
Cụm phòng không mặt trận
Hạm đội
Hải đoàn, Giang đoàn
Binh chủng hợp thành
Xe tăng
Không quân
Phòng không không quân
Công binh phòng thủ
Bộ binh
Xe tăng
Cơ giới
Kỵ binh
Pháo binh
Đổ bộ đường không
Không quân
Không quân phòng không

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.