Hồ Lớn châu Phi

Hồ Lớn châu Phi hay Đại Hồ châu Phi là một chuỗi các hồ tạo thành một phần của các hồ Thung lũng Đứt gãy nằm tại và xung quanh Đới tách giãn Đông Phi. Chúng bao gồm hồ Victoria, hồ nước ngọt lớn thứ hai thế giới về diện tích bề mặt; và hồ Tanganyika, hồ lớn thứ hai thế giới về dung tích và cũng là hồ sâu thứ hai thế giới. Thuật ngữ Hồ Lớn cũng được sử dụng, nhưng ít phổ biến.

Các Hồ Lớn châu Phi nằm trong ba lưu vực sông khác nhau, và một số, chẳng hạn như hồ Turkana, có hệ thống thoát nước nội bộ. Các hồ được sắp xếp từ lớn nhất đến nhỏ nhất, có mặt trong hầu hết danh sách về các Hồ Lớn châu Phi:

Một số cho rằng các Hồ Lớn châu Phi chỉ có bao gồm hồ Victoria, hồ Albert, và hồ Edward, chúng là ba hồ duy nhất thuộc lưu vực sông Nin Trắng. Hồ Kyoga là một phần của hệ thống Hồ Lớn, song nó lại không được coi là một phần của Hồ Lớn do kích thước của nó. Hồ Tanganyika và hồ Kivu đều thuộc lưu vực sông Congo, trong khi hồ Malawi đổ nước vào sông Shire tới Zambezi. Hồ Turkana không có dòng thoát nước ra.

Hai hồ khác gần hồ Tanganyika không xuất hiện trong danh sách mặc dù chúng lớn hơn Edward và Kivu: hồ Rukwa và hồ Mweru.

Bởi thuật ngữ này không rõ ràng, nên nhiều khi các thuật ngữ như Các Hồ Thung lũng Đứt gãy châu Phi hay các Hồ Đông Phi được sử dụng.

GreatLakesAfrica
Các Hồ lớn châu Phi và bờ biển Đông Phi nhìn từ không gian. Ấn Độ Dương ở bên phải.

Vùng Hồ Lớn châu Phi

Vùng Hồ Lớn châu Phi cũng là một khái niệm không thật sự rõ ràng. Theo nghĩa hẹp thì nó là khu vực nằm giữa phía bắc Hồ Tanganyika, phía tây Hồ Victoria, và các hồ Kivu, Edward và Albert. Theo nghĩa hẹp, vùng bao gồm các nước Burundi, Rwanda, đông bắc CHDC Congo, Uganda và tây bắc KenyaTanzania. Theo nghĩa rộng, vùng mở rộng ra toàn bộ KenyaTanzania, song thường không xa về phía nam đến Zambia, MalawiMozambique hoặc xa về phía bắc đến Ethiopia, mặc dù bốn nước này giáp với một trong các Hồ Lớn.

Do mật độ dân số và thặng dư nông nghiệp được tổ chức ở mức cao ở một số nước nhỏ, trong đó các chế độ quân chủ mạnh nhất là Rwanda, Burundi, Buganda, và Bunyoro. Do vậy, khác với những vùng còn lại của châu Phi Hạ Sahara, biên giới truyền thống tại đây phần lớn vẫn được các thế lực thuộc địa duy trì.

Việc thám hiểm nguồn của sông Nin đã khiến người ta tìm kiếm tại khu vực trong một thời gian dài, khu vực đã được những người chau Âu quan tâm từ lâu. Những người Âu đầu tiên đến khu vực to là các nhà truyền giáo và họ đã cải đạo thành công cho người dân bản địa một cách hạn chế, song vào giai đoạn thuộc địa về sau việc truyền đạo đã được mở rộng. Liên hệ gia tăng với phần còn lại của thế giới đã đem tới một loạt các dịch bệnh cho cả người và gia súc. Dân số của khu vực đã suy giảm đáng kể, ở một số nơi là 60%. Dân số thời kỳ tiền thuộc địa chỉ được khôi phục vào thập niên 1950. Mặc dù được cho là một vùng có tiềm năng lớn sau khi các quốc gia giành được độc lập, song trong các thập kỉ gần đây, các cuộc nội chiến và xung đột đã ảnh hưởng tiêu cực đến khu vực, người dân tại các khu vực bị ảnh hưởng tồi tệ nhất phải sống trong cảnh nghèo đói cùng cực.

Tham khảo

  • Jean-Pierre Chrétien. The Great Lakes of Africa: Two Thousand Years of History trans Scott Straus

Tọa độ: 8°00′N 35°00′Đ / 8°N 35°Đ

Các dân tộc Nin

Các dân tộc Nin (tiếng Anh: Nilotic peoples hay Nilotes) là những dân tộc bản địa tại vùng Thung lũng Nin (Nam Sudan, Uganda, Kenya, và bắc Tanzania), nói các ngôn ngữ Nin (một phân nhánh lớn của hệ ngôn ngữ Nin-Sahara). Theo quan niệm "chung" hơn, các dân tộc Nin gồm tất cả hậu duệ của những người nói ngôn ngữ Nin-Sahara nguyên thủy. Số này gồm có người Luo, Sara, Maasai, Kalenjin, Dinka, Nuer, Shilluk, Ateker, và Maa (mỗi nhóm lại gồm nhiều tiểu dân tộc và bộ lạc nhỏ hơn).Các dân tộc Nin chiếm phần lớn dân số Nam Sudan, khu vực được xem là nơi định cư ban đầu của họ trước khi di cư ra xung quanh. Đây cũng là nhóm người lớn thứ nhì tại vùng Hồ Lớn châu Phi (sau các dân tộc Bantu). Ngoài ra, còn có có những cộng đồng đáng kể tại tây nam Ethiopia.

Các dân tộc Nin chủ yếu theo Kitô giáo và Tôn giáo truyền thống, gồm cả tôn giáo Dinka.

Danh sách lá cờ châu Phi

Đây là danh sách các lá cờ ở châu Phi. Các lá cờ có thể là quốc kỳ hoặc cờ chính thức của các tổ chức, đoàn thể ở châu lục này.

Hồ Albert (châu Phi)

Hồ Albert cũng gọi là Albert Nyanza và tên trước đây Hồ Mobutu Sese Seko – là một trong các Hồ Lớn châu Phi. Đây là hồ lớn thứ bảy tại châu Phi, và hồ có dung tích lớn thứ 27 trên thế giới. Năm 1864, nhà thám hiểm Samuel Baker đã tìm ra hồ và đặt tên nó theo Thân vương Albert, phu quân của Nữ hoàng Victoria. Trong thế kỷ 20, tổng thống Congo Mobutu Sese Seko đã từng đặt tên của hồ theo tên chính ông.

Hồ Albert nằm tại trung tâm của lục địa châu Phi, tại biên giới giữa Uganda và Cộng hòa Dân chủ Congo. Hồ Albert là cực bắc của chuỗi hồ tại Đới tách giãn Albertine, nhánh phía tây của Đới tách giãn Đông Phi. Hồ có chiều dài 160 km (100 mi) và rộng 30 km (19 mi), độ sâu lớn nhất là 51 m (168 ft), và mặt nước nằm ở độ cao 619 m (2,030 ft) so với mực nước biển.

Hồ Albert là một phần của hệ thống phức tạp thượng lưu sông Nin. Nguồn chính của nó là Nin Victoria bắt nguồn từ hồ Victoria ở phía đông nam, và sông Semliki chảy ra từ hồ Edward ở phía tây nam. Nước của Nin Victoria có độ mặn thấp hơn nhiều nước ở hồ Albert. Dòng sông ở cực bắc của hồ này là Nin Albert (được gọi là Nin Núi khi nó chảy đến Nam Sudan).

Ở cực nam của hồ, nơi sông Semliki chảy đến, là các đầm lầy. Xa về phía nam hiện ra lờ mờ dãy núi Ruwenzori hùng vĩ, trong khi một dãy đồi gọi là Dãy núi Xanh vút lên ở bờ phía tây bắc. Các khu định cư dọc theo bờ này bao gồm Butiaba và Pakwach.

Hồ Edward

Hồ Edward hay Edward Nyanza là hồ nhỏ nhất trong các Hồ Lớn châu Phi. Hồ nằm trên Đới tách giãn Albertine, nhánh phía tây của Đới tách giãn Đông Phi, trên biên giới giữa Cộng hòa Dân chủ Congo và Uganda, bờ phía bắc của hồ chỉ cách xích đạo vài kilômét. Hồ được nhà thám hiểm Henry Morton Stanley đặt tên để tỏ lòng kính trọng Hoàng tử Albert Edward, Hoàng tử xứ Wales, người về sau trở thành Vua Edward VII.

Stanley thấy hồ lần đầu tiên vào năm 1875, và nghĩ rằng nó là một phần của hồ Albert, và đã đặt tên cho nó là vịnh Beatrice. Trong chuyến viếng thăm lần thứ 2 từ 1888 đến 1889, ông nhận ra rằng đây là hai hồ riêng biệt và đặt cho nó cái tên như hiện nay. Năm 1973, Uganda và Zaire (CHDC Congo) renamed đã đổi tên hồ thành Idi Amin hay Idi Amin Dada theo tên nhà độc tài Uganda Idi Amin. Sau khi ông ta bị lật đổ vào năm 1979, tên hồ được đổi lại thành Edward.

Hồ Edward lies nằm trên độ cao 920 mét, hồ dài 77 km và rộng 40 km ở những điểm cực đại, và có tổng diện tích bề mặt là 2.325 km2 (898 sq mi), và là hồ lớn thứ 15 tại lục địa. Hồ được cung cấp nước nhờ các sông Nyamugasani, Ishasha, Rutshuru, Ntungwe River và Rwindi. Hồ thoát nước ra phía bắc qua sông Semliki, sông này đổ nước vào hồ Albert. Hồ George ở phía đông bắc trút nước vào hồ Edward qua kênh Kazinga.

Phần dốc đứng của thung lũng Tách giãn Lớn nổi lên với chiều cao 2000 m trên mực nước biển nằm ở bờ phía tây của hồ. Bờ hồ phía đông và nam là vùng đồng bằng dung nham bằng phẳng. Dãy núi Ruwenzori nằm cách 20 km về phía bắc của hồ.

Hồ Kivu

Hồ Kivu là một trong các Hồ Lớn châu Phi. Hồ nằm trên biên giới giữa Cộng hòa Dân chủ Congo và Rwanda, và nằm tại đới tách giãn Albertine, nhánh phía tây của Đới tách giãn Đông Phi. Hồ Kivu thoát nước vào sông Ruzizi, sông này chảy về phía nam và đổ vào hồ Tanganyika. Tên gọi kivu có nghĩa là "hồ" trong tiếng Bantu, cũng giống như các từ tanganyika hay nyanza.

Hồ có diện tích mặt nước là 2.700 km2 (1.040 sq mi) và có độ cao 1.460 mét (4.790 ft) trên mực nước biển. Khoảng 1.370 km2 hay 58% mặt nước của hồ thuộc lãnh thổ Cộng hòa Dân chủ Congo. Đáy hồ nằm trên một thung lũng tách giãn đang dần bị tách ra, gây nên các hoạt động núi lửa trong khu vực, và khiến nó đặc biệt sâu: xấp xỉ 480 m (1.575 ft) và là hồ sâu thứ tám trên thế giới. Hồ có các dãy núi hùng vĩ bao bọc.

Đảo nội địa lớn thứ tám trên thế giới là Idjwi nằm tại hồ Kivu, cùng với đó là đảo nhỏ Tshegera, đều nằm trong ranh giới của vườn quốc gia Virunga; các điểm định cư ven bờ hồ bao gồm Bukavu, Kabare, Kalehe, Sake và Goma tại CHDC Congo và Gisenyi, Kibuye và Cyangugu tại Rwanda.

Các loài cá bản địa bao gồm Barbus, Clarias, và Haplochromis, cũng như cá mòi Tanganyika. Limnothrissa miodon, một trong hai loài được biết đến với cái tên cá mòi Tanganyika, được đưa đến vào năm 1959 và tạo nên cơ sở của một vùng thủy sản xa bờ. Vào đầu thập niên 1990, số ngư dân quanh hồ là 6.563 người, trong đó 3.027 liên quan đến thủy sản xa bờ và 3.536 là đánh bắt truyền thống. Xung đột vũ trang đã nổ ra ở khu vực xung quanh từ giữa thập niên 1990 đã khiến cho sản lượng thu hoạch thủy sản bị suy giảm.

Hồ Malawi

Hồ Malawi (cũng gọi là Hồ Nyasa hoặc Hồ Nyassa, Hồ Niassa, hay Lago Niassa ở Mozambique), là một trong các hồ Lớn châu Phi. Hồ này nằm ở vùng cực nam của hệ Thung lũng tách giãn Lớn ở Đông Phi. Đây là hồ lớn thứ ba ở châu Phi và là hồ lớn thứ 8 trên thế giới và cũng là hồ sâu thứ nhì châu Phi. Nó nằm giữa các nước Malawi, Mozambique và Tanzania. Vùng nước nhiệt đới của hồ lớn này được cho là nơi sinh sống của nhiều loài cá hơn bất cứ vùng nước ngọt nào trên thế giới, trong đó có trên 1.000 loài cá hoàng đế.Hồ Malawi đã được chính phủ Mozambique chính thức công bố là khu bảo tồn vào ngày 10.6.2011 trong một nỗ lực nhằm bảo vệ một trong các hồ nước ngọt lớn nhất và đa dạng sinh quyển trên thế giới

Hồ Tanganyika

Hồ Tanganyika là một hồ lớn ở châu Phi (3° 20' tới 8° 48' Nam và từ 29° 5' tới 31° 15' Đông). Hồ này được coi là hồ nước ngọt lớn thứ hai thế giới và là hồ sâu thứ hai, sau Hồ Baikal ở Siberia. Hồ này nằm trong lãnh thổ 4 nước – Burundi, Cộng hòa Dân chủ Congo, Tanzania và Zambia, trong đó Cộng hòa Dân chủ Congo (45%) và Tanzania (41%) là 2 nước làm chủ phần lớn hồ. Nước từ hồ chảy vào hệ thống sông Congo rồi cuối cùng vào Đại Tây Dương.

Hồ Turkana

Hồ Turkana (, trước đây được gọi là hồ Rudolf) là một hồ nước nằm trong Thung lũng Tách giãn Lớn ở miền bắc Kenya với xa hơn về phía bắc của hồ vượt ra ngoài biên giới với Ethiopia.

Đây là hồ sa mạc vĩnh cửu lớn nhất thế giới, đồng thời cũng là hồ kiềm lớn nhất thế giới. Theo thể tích thì đây là hồ muối lớn thứ tư thế giới sau Biển Caspi, Issyk-Kul và Hồ Van (vượt qua cả Biển Nam Aral đang thu hẹp lại). Và xét về diện tích trong tất cả các hồ thì nó là hồ lớn thứ 24 thế giới.

Hồ Turkana đang bị đe dọa bởi Đập thủy điện Gilgel Gibe III ở Ethiopia trên dòng sông Omo là nguồn cung cấp phần lớn lượng nước cho hồ. Nước trong hồ có thể uống được nhưng không không mấy ngon. Tuy nhiên, nó lại là nơi hỗ trợ môi trường sống cho rất nhiều loài động vật hoang dã. Khí hậu tại đây rất nóng và khô. Đá xung quanh hồ chủ yếu là đá núi lửa. Đảo Trung nằm trong hồ là một miệng núi lửa vẫn đang còn hoạt động tỏa ra những luồng hơi nước. Bờ phía đông và phía nam của hồ là những bờ đá và thác nước trong khi phía tây và bắc có địa hình thấp hơn là những cồn cát, mũi đất và đất thấp.

Gió trên bờ và trong hồ có thể thổi cực mạnh vì nước trong hồ ấm hơn và nguội dần về phía bờ. Ba con sông chảy vào hồ là Sông Omo, Turkwel, Kerio nhưng lại không có dòng thoát nước. Chính vì vậy, mất nước duy nhất là từ hiện tượng bay hơi. Hồ Turkana có khối lượng và kích thước thay đổi. Độ cao của nó đã giảm 10 mét từ năm 1975 đến 1993.Do nhiệt độ, khô cằn và khó tiếp cận về mặt địa lý mà hồ vẫn giữ được sự hoang dã vốn có của nó. Tại khu vực đất thấp là loài Cá sấu sông Nin, trong khi các bờ đá là môi trường sống của Bọ cạp và Rắn.

Các Vườn quốc gia Hồ Turkana hiện là một Di sản thế giới của UNESCO. Vườn quốc gia Sibiloi nằm trên bờ đông còn Vườn quốc gia Đảo Trung và Đảo Nam nằm trong hồ. Một lượng lớn hóa thạch vượn người đã được phát hiện ở khu vực xung quanh hồ Turkana.

Hồ Victoria

Hồ Victoria có diện tích 69.000 km², chu vi 3.440 km. Victoria là hồ nước ngọt lớn nhất châu Phi và thứ nhì thế giới. Hồ nằm trong vùng thuộc biên giới các quốc gia Uganda, Kenya và Tanzania. Nửa phía bắc thuộc Uganda, nửa phía nam thuộc Tanzania, và một phần đông bắc thuộc Kenya.

Hồ Victoria nhận nước chủ yếu từ nước mưa trực tiếp và hàng ngàn sông suối nhỏ. Sông lớn nhât chảy vào hồ là sông Kagera,châu thổ của nó nằm ở bờ tây của hồ. Hai sông chảy ra khỏi hồ là Nile trắng (hay "Victoria Nile"), chảy ra tại Jinja, Uganda trên bờ bắc của hồ, và sông Katonga chảy ra tại Lukaya ở bờ tây của hồ nối với Hồ George.Hồ Victoria nằm ở của châu Phi và có độ sâu lớn nhất 84 m (276 ft) và độ sâu trung bình 40 m (130 ft). Lưu vực của nó là 184.000 km2. Hổ có chu vi 4.828 km (3.000 mi), với các đảo chiếm 3,7% chiều dài này, và nó thuộc 3 quốc gia: Kenya (6% hay 4,100 km2 hoặc 1,583 sq mi), Uganda (45% hay 31,000 km2 hoặc 11,969 sq mi) và Tanzania (49% hay 33,700 km2 hoặc 13,012 sq mi).

Jasminum grandiflorum

Jasminum grandiflorum, còn được gọi là hoa nhài Tây Ban Nha, hoa nhài Hoàng gia, hoa nhài Catalan, và còn một vài tên gọi khác, là một loài hoa nhài có nguồn gốc từ Nam Á, bán đảo Ả Rập (Oman, Ả Rập Saudi), Đông Bắc Châu Phi (Eritrea, Ethiopia, Djibouti, Somalia, Sudan), Hồ Lớn châu Phi (Kenya, Uganda, Rwanda), và các khu vực Vân Nam và Tứ Xuyên của Trung Quốc. Loài này được trồng rộng rãi và được báo cáo đang được thuần hóa để sống trong tự nhiên ở République de Guinée, quần đảo Maldive, Mauritius, Réunion, Java, quần đảo Cook, Chiapas, Mỹ Latinh và phần lớn vùng Caribê.

Josephine Okot

Josephine Okot là một doanh nhân Uganda, doanh nhân và giám đốc điều hành công ty, người sáng lập, giám đốc điều hành và giám đốc điều hành của Victoria Seeds Limited, một doanh nghiệp kinh doanh nông nghiệp có trụ sở tại Uganda để xử lý, đóng gói và tiếp thị hạt giống nông nghiệp cho nông dân ở các nước của vùng Hồ Lớn châu Phi.

Người Bantu

Người Bantu là một thuật ngữ dùng để chỉ chung 300–600 nhóm dân tộc châu Phi nói các ngôn ngữ Bantu.

Người Hutu

Người Hutu còn được gọi là người Abahutu là một nhóm sắc tộc hoặc nhóm xã hội vùng Baltu có nguồn gốc từ khu vực Hồ Lớn châu Phi của Châu Phi, một khu vực hiện chủ yếu ở Burundi và Rwanda. Họ chủ yếu sống ở Rwanda, Burundi và Cộng hòa Dân chủ Congo ở phía đông, nơi họ tạo thành một trong những bộ phận dân số chính cùng với người Tutsi và Twa.

Người Swahili

Người Swahili (Waswahili) là một nhóm dân tộc cư trú tại vùng Hồ Lớn châu Phi. Họ chủ yếu sống tại bờ biển Swahili, một vùng gồm quần đảo Zanzibar, bờ biển Kenya, bờ biển Tanzania, và bắc Mozambique. Cái tên Swahili xuất phát từ từ Sawahil سواحل trong tiếng Ả Rập, nghĩa là "những bờ biển." Người Swahili nói tiếng Swahili, một ngôn ngữ thuộc nhánh Bantu trong ngữ hệ Niger-Congo.

Người Tutsi

Người Tutsi (phát âm tiếng Rwanda-Rundi: [tūtsī]), hay Abatutsi, là một nhóm người cư ngụ tại vùng Hồ Lớn châu Phi. Họ cũng được gọi bằng những tên gồm Watutsi, Watusi, Wahuma và Wahima. Người Tutsi là một phân nhóm người Banyarwanda, sinh sống chủ yếu trên lãnh thổ Rwanda và Burundi, nhưng cũng hiện diện tại Uganda, Cộng hòa Dân chủ Congo và Tanzania. Họ nói các ngôn ngữ Rwanda-Rundi.

Người Tutsi là nhóm người lớn thứ nhì trong số ba nhóm dân tộc lớn ở Rwanda và Burundi; sau người Hutu (lớn nhất) và người Twa (nhỏ nhất). Một nhóm nhỏ người Hema, Kiga và Furiiru cũng số lân cận với người Tutsi tại Rwanda. Người Bắc Tutsi (ở Rwanda) được gọi là Ruguru (Banyaruguru), còn người Nam Tutsi (ở Burundi) được gọi là Hima.

Ngữ tộc Cushit

Ngữ tộc Cushit là một nhánh của ngữ hệ Phi-Á được sử dụng chủ yếu tại Sừng châu Phi (Somalia, Eritrea, Djibouti, và Ethiopia), Thung lũng Nin (Sudan và Ai Cập), và một số phần của vùng Hồ Lớn châu Phi (Tanzania và Kenya). Nhóm ngôn ngữ này được đặt tên theo nhân vật Cush trong kinh thánh.

Ngôn ngữ Cushit phổ biến nhất là tiếng Oromo (tính tất cả các dạng và phương ngữ) với chừng 35 triệu người nói, theo sau là tiếng Somali với 18 triệu người nói, và tiếng Sidamo với 3 triệu người nói. Những ngôn ngữ Cushit với hơn một triệu người sử dụng là tiếng Afar (1,5 triệu) và tiếng Beja (1,2 triệu). Tiếng Somali, một trong các ngôn ngữ chính thức của Somalia, là ngôn ngữ Cushit duy nhất có tình trạng chính thức ở bất kỳ quốc gia nào. Dùng với tiếng Afar, nó cũng là một trong số các ngôn ngữ quốc gia của Djibouti.

Tanganyika

Tanganyika, sau đó chính thức là Cộng hòa Tanganyika, từng là một quốc gia có chủ quyền tại Đông Phi từ năm 1961 đến 1964. Quốc gia này nằm giữa Ấn Độ Dương và các Hồ Lớn châu Phi như hồ Victoria, hồ Malawi và hồ Tanganyika. Quốc gia này giành được độc lập từ Anh Quốc và trở thành một thịnh vượng chung vào ngày 9 tháng 12 năm 1961, rồi trở thành một nước cộng hòa trong Vương quốc Khối thịnh vượng chung đúng một năm sau đó vào ngày 9 tháng 12 năm 1962. Ngày 26 tháng 4 năm 1964, Tanganyika cùng với quốc đảo Zanzibar hình thành nên Cộng hòa Liên hiệp Tanganyika và Zanzibar, nhà nước mới này đổi tên thành Cộng hòa Liên hiệp Tanzania trong vòng một năm.

Tanganyika ban đầu bao gồm phần thuộc Anh của thuộc địa Đông Phi thuộc Đức theo ủy thác của Hội Quốc Liên vào năm 1922, sau đó trở thành một Lãnh thổ ủy thác Liên Hiệp Quốc sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Các phần khác của Đông Phi thuộc Đức được ủy thác cho Bỉ, cuối cùng trở thành hai nước Rwanda và Burundi ngày nay.

Turdus abyssinicus

Turdus abyssinicus là một loài chim trong họ Turdidae.

Gần đây loài này đã được tách từ Turdus olivaceus dựa trên khác biệt di truyền học. Phạm vi phân bố của chúng không chồng lấn. Các nhóm phía nam và phía bắc có thể là các loài riêng. Loài này được tìm thấy ở Eritrea và các khu vực khác của Sừng châu Phi, cũng như các khu vực phía nam kéo dài từ vùng Các hồ lớn châu Phi đến Mozambique.

Victoria Walusansa

Victoria Walusansa-Abaliwano (nhũ danh Victoria Walusansa), là một bác sĩ phẫu thuật và bác sĩ ung thư người Uganda, làm việc với tư cách là Phó Giám đốc của Viện Ung thư Uganda (UCI), một tổ chức nghiên cứu và điều trị ung thư, có trụ sở tại Kampala, Uganda và phục vụ các quốc gia của Khu vực hồ lớn châu Phi.

Các khu vực trên thế giới

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.