Hệ tọa độ địa lý

Hệ tọa độ địa lý là một hệ tọa độ cho phép tất cả mọi điểm trên Trái Đất đều có thể xác định được bằng một tập hợp các số có thể kèm ký hiệu. Các tọa độ thường gồm số biểu diễn vị trí thẳng đứng, và hai hoặc ba số biểu diễn vị trí nằm ngang. Hệ tọa độ phổ biến hiện dùng là hệ hệ tọa độ cầu tương ứng với tâm Trái Đất với các tọa độ là vĩ độ, kinh độcao độ.[1]

WorldMapLongLat-eq-circles-tropics-non
Bản đồ Trái Đất cho thấy các vĩ tuyến (ngang) và kinh tuyến (dọc), phép chiếu Eckert VI; phiên bản lớn (pdf, 1.8MB)

Chiều thứ nhất và thứ hai: vĩ độ và kinh độ

Dựa theo lý thuyết của những người Babylon cổ đại, rồi được nhà hiền triết và địa lý học nổi tiếng người Hy Lạp Ptolemy mở rộng, một đường tròn đầy đủ sẽ được chia thành 360 độ (360°).

Geographic coordinates sphere
Vĩ độ phi(φ) và Kinh độ lambda (λ)
  • Vĩ độ (ký hiệu: φ) của một điểm bất kỳ trên mặt Trái Đất là góc tạo thành giữa đường thẳng đứng (phương của dây dọi, có đỉnh nằm ở tâm hệ tọa độ-chính là trọng tâm của địa cầu) tại điểm đó và mặt phẳng tạo bởi xích đạo. Đường tạo bởi các điểm có cùng vĩ độ gọi là vĩ tuyến, và chúng là những đường tròn đồng tâm trên bề mặt Trái Đất. Mỗi cực là 90 độ: cực bắc là 90° B; cực nam là 90° N. Vĩ tuyến 0° được chỉ định là đường xích đạo, một đường thẳng tưởng tượng chia địa cầu thành Bán cầu bắc và Bán cầu nam.
  • Kinh độ (ký hiệu: λ) của một điểm trên bề mặt Trái Đất là góc tạo ra giữa mặt phẳng kinh tuyến đi qua điểm đó và mặt phẳng kinh tuyến gốc. Kinh độ có thể là kinh độ đông hoặc tây, có đỉnh tại tâm hệ tọa độ, tạo thành từ một điểm trên bề mặt Trái Đất và mặt phẳng tạo bởi đường thẳng ngẫu nhiên nối hai cực bắc nam địa lý. Những đường thẳng tạo bởi các điểm có cùng kinh độ gọi là kinh tuyến. Tất cả các kinh tuyến đều là nửa đường tròn, và không song song với nhau: theo định nghĩa, chúng hội tụ tại hai cực bắc và nam. Đường thẳng đi qua Đài Thiên văn Hoàng gia Greenwich (gần London ở Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland) là đường tham chiếu có kinh độ 0° trên toàn thế giới hay còn gọi là kinh tuyến gốc. Kinh tuyến đối cực của Greenwich có kinh độ là 180°T hay 180°Đ.

Bằng cách phối hợp hai góc này, ta có thể xác định được vị trí nằm ngang của bất kỳ điểm nào trên Trái Đất.

Ví dụ, Baltimore, Maryland (ở Hoa Kỳ) có vĩ độ 39,3° Bắc, và kinh độ là 76,6° Tây (39°18′B 76°36′T / 39,3°B 76,6°T). Do đó, một vector vẽ từ tâm Trái Đất đến điểm 39,3° phía bắc xích đạo và 76,6° phía tây đường Greenwich sẽ đi qua Baltimore.

"Mạng" vĩ độ/kinh độ này gọi là lưới địa lý. Cũng có một lưới ngang bổ sung (có nghĩa là bộ lưới được dịch chuyển một góc 90°, sao cho địa cực trở thành đường xích đạo ngang), trên đó tất cả các lượng giác cầu đều dựa vào.

Từ trước đến nay, độ được chia thành phút (1 phần 60 độ, ký hiệu là ′ hoặc "m") và giây (1 phần 60 phút, ký hiệu là ″ hoặc "s"). Có nhiều các viết độ, tất cả chúng đều xuất hiện theo cùng thứ tự Vĩ độ - Kinh độ:

  • DMS (Degree:Minute:Second) Độ:Phút:Giây (Ví dụ: 49°30'00"-123d30m00s)
  • DM (Degree:Minute) Độ:Phút (Ví dụ: 49°30.0'-123d30.0m)
  • DD (Decimal Degree) Độ thập phân (Ví dụ: 49.5000°-123.5000d), thường với 4 số thập phân.

Để chuyển từ DM hoặc DMS sang DD, độ thập phân = số độ cộng với số phút chia cho 60, cộng với số giây chia cho 3600. DMS là định dạng phổ biến nhất, và là tiêu chuẩn trên tất cả các biểu đồ và bản đồ, cũng như hệ định vị toàn cầuhệ thông tin địa lý.

Trên mặt cầu tại mực nước biển, một giây vĩ độ bằng 30.82 mét và một phút vĩ độ bằng 1849 mét. Các vĩ tuyến cách nhau 110,9 kilômét. Các kinh tuyến gặp nhau tại cực địa lý, với độ rộng một giây về phía đông-tây phụ thuộc vào vĩ độ. Trên bề mặt cầu tại mực nước biển, một giây kinh độ bằng 30,92 mét trên xích đạo, 26,76 mét trên vĩ tuyến thứ 30, 19,22 mét tại Greenwich (51° 28' 38" B) và 15,42 mét trên vĩ tuyến thứ 60.

Chiều rộng của một độ kinh độ tại vĩ độ có thể được tính toán bằng công thức sau (để có được chiều rộng theo phút và giây, lần lượt chia cho 60 và 3600):

trong đó bán kính độ kinh trung bình của Trái Đất xấp xỉ bằng 6.367.449 m. Do sử dụng giá trị bán kính trung bình, công thức này dĩ nhiên không chính xác do độ dẹt của Trái Đất. Bạn có thể có được độ rộng thực của một độ kinh độ tại vĩ độ bằng:

trong đó các bán kính xích đạo và cực của Trái Đất, lần lượt bằng 6.378.137 m, 6.356.752,3 m.

Xích đạo là mặt phẳng cơ bản của tất cả các hệ tọa độ địa lý. Tất cả các hệ tọa độ cầu đều định nghĩa một mặt phẳng cơ bản như vậy.

Giá trị vĩ độ và kinh độ có thể dựa trên vài hệ đo đạc hoặc mốc tính toán khác nhau, phương pháp phổ biến nhất là WGS 84 mà tất cả các thiết bị GPS đều dùng. Nói một cách nôm na, một điểm trên bề mặt Trái Đất có thể được mô tả bởi nhiều giá trị vĩ độ và kinh độ khác nhau tùy thuộc vào mốc tính toán đang dùng.

Trong phần mềm GIS phổ biến, mốc được chiếu theo vĩ độ/kinh độ thường được xác định thông qua 'Hệ tọa độ địa lý'. Ví dụ, mốc theo vĩ độ/kinh độ theo như Mốc Bắc Mỹ năm 1983 được chỉ ra trong 'GCS_North_American_1983'.

Chiều thứ ba: độ cao, chiều cao, chiều sâu

Hetoadodialy
Yếu tố độ cao, chiều cao AB, chiều sâu BC và các yếu tố khác trong Hệ toạ độ địa lý

Để xác định hoàn toàn một vị trí nằm trên, ở trong hoặc ở phía trên Trái Đất, ta cần phải xác định độ cao của điểm, được định nghĩa bằng vị trí của điểm theo chiều thẳng đứng so với trung tâm của hệ thống tham chiếu hoặc một vài định nghĩa bề mặt Trái Đất. Điều này được mô tả theo thuật ngữ khoảng cách theo chiều thẳng đứng đến Trái Đất bên dưới, nhưng, do sự nhập nhằng của chữ "bề mặt" và "chiều thẳng đứng", nó thường được mô tả phổ biến hơn bằng cách so sánh với những mốc được định nghĩa chính xác hơn như mặt nước biển trung bình (chính xác hơn nữa là geoid, một mặt có thế năng trọng trường không đổi). Khoảng cách đến trung tâm Trái Đất có thể được dùng cho cả vị trí rất sâu hoặc một nơi nào đó trên không gian.

Những thuật ngữ khác được dùng tương ứng với khoảng của một điểm từ mặt đất hoặc một cột mốc khác là độ cao, chiều cao, và độ sâu.

Tọa độ địa tĩnh

Vệ tinh địa tĩnh (như vệ tinh truyền hình) nằm ở phía trên xích đạo. Do đó, vị trí của nó so với Trái Đất được biểu diễn bằng độ vĩ. Độ vĩ của chúng không thay đổi, và luôn luôn là zero đối với xích đạo.

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ A Guide to coordinate systems in Great Britain v1.7 October 2007. Truy cập 01 Jun 2014
  • Portions of this article are from Jason Harris' "Astroinfo" which is distributed with KStars, a desktop planetarium for Linux/KDE. See [1]

Liên kết ngoài

Bản đồ địa hình

Bản đồ địa hình trong đồ bản hiện đại, là loại bản đồ biểu diễn chi tiết và định lượng các đặc trưng của địa hình địa vật theo một hệ tọa độ địa lý xác định.

Định nghĩa truyền thống đòi hỏi một bản đồ địa hình phải hiển thị các chi tiết của cả thiên nhiên và con người tạo ra. Định nghĩa hiện đại thì do Trung tâm Thông tin Canada đưa ra: Bản đồ địa hình là biểu diến đồ họa đầy đủ và chính xác các chi tiết văn hóa và tự nhiên trên mặt đất.Trên Bản đồ địa hình, bề mặt đất liền và đáy biển của Trái Đất được biểu diễn bằng các đường đồng mức, là đường nối các điểm có cùng độ cao xác định, và các đường đồng mức khác nhau thì không giao nhau. Các chi tiết khác thì biểu diễn bằng ký hiệu theo một quy ước nào đó, và ở các nước khác nhau thì thường không hẳn được thống nhất. Thiếu thống nhất cũng xảy ra trong lựa chọn hệ tọa độ địa lý và phương pháp chiếu, tức là cách chuyển tải tọa độ đối tượng trên mặt đất vốn cong lên mặt giấy phẳng.

Bản đồ địa hình thường được công bố như là một loạt tờ bản đồ, có thể gồm nhiều tấm bản đồ ghép lại. Các tấm này được đánh chỉ số (Index) sao cho nó đơn nhất trên toàn thế giới.

Bản đồ địa hình cũng có thể được lập cho các hành tinh và vệ tinh, tùy theo mức độ số liệu thu thấp được.

Hệ tọa độ

Tọa độ là một tập hợp được sắp các con số nhằm xác định vị trí của một vật trong không gian, một phần tử trong hệ thống. Toạ độ được sử dụng vật lý và toán học

Hệ tọa độ xích đạo

Hệ tọa độ xích đạo là hệ tọa độ thiên văn được sử dụng nhiều cho các quan sát bầu trời từ Trái Đất.

Nó là hệ tọa độ gắn bó chặt chẽ với hệ tọa độ địa lý, vì ở đây người ta sử dụng chung một mặt phẳng quy chiếu và chung các cực. Hình chiếu của xích đạo Trái Đất lên thiên cầu được gọi là thiên xích đạo hay xích đạo trời. Tương tự, chiếu các cực địa lý lên thiên cầu ta sẽ có thiên cực bắc và thiên cực nam.

Có hai biến thể:

1. Hệ góc giờ cố định so với Trái Đất giống như hệ tọa độ địa lý. Hai tọa độ trong hệ này là:

xích vĩ (δ)

góc giờ (H)2. Hệ xích kinh cố định so với các sao ở xa (thực ra không hẳn như vậy nếu tính đến các hiện tượng tiến động và chương động). Hai tọa độ trong hệ này là:

xích vĩ (δ)

xích kinh (α)Trong một đêm hoặc vài đêm, khi quan sát từ mặt đất, hệ xích kinh có vẻ xoay trên trời cùng với các sao. Điều này là do hệ xích kinh gần như cố định với nền sao, còn Trái Đất quay dưới bầu trời cố định.

Kinh tuyến

Kinh tuyến là một nửa đường tròn trên bề mặt Trái Đất, nối liền hai Địa cực, có độ dài khoảng 20.000 km, chỉ hướng bắc-nam và cắt thẳng góc với đường xích đạo. Mặt phẳng của kinh tuyến 0° (chạy qua đài quan sát thiên văn tại Greenwich thuộc Luân Đôn) và kinh tuyến 180°, chia Trái Đất ra làm hai bán cầu – Bán cầu đông và Bán cầu tây.

Các kinh tuyến nối liền các cực từ là các kinh tuyến từ, những kinh tuyến nối liền các Địa cực thì gọi là các kinh tuyến địa lý, còn các đường kinh tuyến vẽ trên bản đồ – là các kinh tuyến họa đồ.

Kinh tuyến này còn được gọi là kinh tuyến địa lý, để phân biệt với kinh tuyến địa từ là giao tuyến giữa bề mặt Trái Đất và mặt phẳng đi qua đường thẳng nối các cực địa từ Bắc và Nam.

Trái Đất có tất cả 360 đường kinh tuyến. Kinh tuyến gốc bằng 0 độ, nó đi qua vùng Greenwich ở ngoại ô thủ đô Luân Đôn nước Anh.

Kinh độ

Kinh độ, được ký hiệu bằng chữ cái tiếng Hy Lạp lambda (λ), là giá trị tọa độ địa lý theo hướng đông-tây, được sử dụng phổ biến nhất trong bản đồ học và hoa tiêu toàn cầu. Một đường kinh độ được gọi là kinh tuyến và nó tạo thành một nửa đường tròn lớn. Hiểu theo cách đơn giản là kinh độ là các đường thẳng, thay vì vĩ tuyến và vĩ độ nằm ngang.

Máy do thám

Máy do thám hay Radiosonde là một thiết bị điều khiển từ xa bằng pin và thường được gắn vào bóng thám không để đo các thông số và truyền tải về đài quan sát. Máy do thám hiện đại có thể đo và tính toán các thông số như: độ cao, áp suất, nhiệt độ, độ ẩm tương đối, gió (bao gồm tốc độ gió và hướng gió), tia vũ trụ trong điều kiện khắc nhiệt hoặc một hệ tọa độ địa lý nhất định. Máy do thám có thể đo độ đặc của Ôzôn được gọi là ozonesondes.Máy do thám hoạt động ở tần số vô tuyến khoảng 403 MHz hoặc 1680 MHz. Máy do thám dùng để đo hướng và tốc độ của gió được gọi là rawinsonde ("radar wind -sonde"). Hầu như toàn bộ các máy do thám đều có radar và được coi là rawinsondes. Máy do thám được thả bởi các máy bay được gọi là dropsonde. Máy do thám cung cấp các dữ liệu cần thiết cho khí tượng học, và đã có hàng trăm số lượng máy do thám được sử dụng trên thế giới mỗi ngày.

Nhà thờ Hồi giáo Shah Faisal

Nhà thờ Hồi giáo Shah Faisal là một nhà thờ Hồi giáo tại Islamabad, Pakistan. Đây là nhà thờ Hồi giáo lớn nhất Nam Á và là một trong những nhà thờ Hồi giáo lớn nhất thế giới, công trình tương tự xếp thứ nhì là Nhà thờ Hồi giáo Hassan II ở Casablanca, Maroc.

Nhà thờ Hồi giáo Faisal là nhà thờ Hồi giáo quốc gia của Pakistan. Công trình này được đặt tên theo vua quá cố Faisal bin Abdul-Aziz của Ả Rập Xê Út, người đã cấp tài chính cho dự án.

Nhà thờ chính tòa Almudena

Nhà thờ chính tòa Almudena (tước hiệu: Nhà thờ chính tòa Thánh Maria của Hoàng gia Almudena, tiếng Tây Ban Nha: Santa María la Real de La Almudena) là nhà thờ chính tòa của Tổng giáo phận Madrid, thuộc Giáo hội Công giáo Rôma. Nhà thờ được Giáo hoàng Gioan Phaolô II cung hiến vào năm 1993.Khi thủ đô Tây Ban Nha chuyển từ Toledo đến Madrid vào năm 1561, tòa giám mục của Tây Ban Nha vẫn ở Toledo và thủ đô mới chưa có nhà thờ chính tòa. Các kế hoạch vạch ra việc xây dựng nhà thờ ở Madrid để cung hiến cho Đức Mẹ Almudena được thảo luận vào đầu thế kỷ 16 ngay cả khi ở Tây Ban Nha có hơn 40 thành phố ở thế giới mới trong suốt thế kỷ và nhiều nhà thờ chính tòa, chi phí mở rộng và duy trì Đế chế được ưu tiên và việc xây dựng nhà thờ bị hoãn lại. Xây dựng một nhà thờ lớn nhất trên thế giới được xem là một ưu tiên, tất cả các thành phố Tây Ban Nha khác có các nhà thờ chính tòa lâu đời, Madrid cũng có các nhà thờ cũ nhưng việc xây dựng Almudena chỉ bắt đầu từ năm 1879.

Nhà thờ chính tòa Lugo

Nhà thờ chính tòa Thánh Mary (tiếng Galicia: Catedral de Santa María), hay biết đến với tên là Nhà thờ chính tòa Lugo, là một nhà thờ chính tòa Công giáo Roma và basilica ở Lugo, Galicia (Tây Ban Nha), tây bắc Tây Ban Nha, được xây dựng từ thế kỷ 12. Bắt đầu với phong cách kiến trúc Roman, trong quá trình xây dựng nhà thờ được thêm vào một số yếu tố của các kiến trúc Gothic, kiến trúc Baroque và Tân cổ điển.

Nhà thờ chính tòa Ourense

Nhà thờ chính tòa Ourense (Catedral de Ourense hoặc Catedral do San Martiño) nằm ở Ourense phía tây bắc Tây Ban Nha. Để cung hiến Martin of Tours, nhà thờ được thành lập năm 550. Kiến trúc đầu tiên được khôi phục bởi Alonso el Casto. Kiến trúc hiện nay chủ yếu là kiến trúc Gothic với sự khuyên góp của Giám mục Lorenzo năm 1220.

Nhà thờ chính tòa Santiago de Compostela

Nhà thờ chính tòa Santiago de Compostela (tiếng Galicia: Catedral de Santiago de Compostela) là nhà thờ chính tòa của Tổng giáo phận Santiago de Compostela, và cũng là một di sản thế giới ở Santiago de Compostela, Galicia, Tây Ban Nha. Nhà thờ này là nơi chôn cất Thánh Giacôbê Tông đồ (tiếng Tây Ban Nha: Santiago), một người thuộc nhóm mười hai tông đồ của Chúa Giêsu. Trong lịch sử, nhà thờ chính tòa này là nơi hành hương quan trọng trên đường hành hương Santiago de Compostela, từ sơ kỳ Trung Cổ. Nhà thờ mang nét kiến trúc Roman, sau đó thêm vào các kiến trúc Gothic và kiến trúc Baroque.

Nhà thờ chính tòa Valladolid

Nhà thờ chính tòa Đức Mẹ Đồng Trinh (tiếng Tây Ban Nha: Catedral de Nuestra Señora de la Asunción), biết đến với tên Nhà thờ chính tòa Valladolid, là một nhà thờ chính tòa giáo hội Công giáo Rôma ở Valladolid, Tây Ban Nha. Nhà thờ được thiết kế bởi Juan de Herrera. Ngày nay, kiến trúc nhà thờ đã thay đổi 40-45% so với trước kia.

Thánh đường Las Lajas

Las Lajas Sanctuary (tiếng Tây Ban Nha: Santuario de Las Lajas) là một tiểu vương cung thánh đường ở thành phố tự trị Ipiales thuộc tỉnh Nariño, trong hẻm núi của sông Guáitara, miền nam Colombia, cách biên giới với Ecuador khoảng 10km.

Nơi này là một địa điểm hành hương nổi tiếng kể từ khi có tường thuật về cuộc hiện ra của Đức Mẹ Maria trong khoảng năm 1754. Các hình ảnh trên đá vẫn còn được nhìn thấy ngày hôm nay.

Ngôi đền thờ đầu tiên được xây dựng tại đây vào giữa thế kỷ 18 (khoảng giữa những năm 1756 và 1764) từ rơm rạ và gỗ, và đã được thay thế bằng ngôi đền lớn hơn trong năm 1802, được mở rộng và kết nối với phía đối diện của hẻm núi với một cây cầu.

Nhà thờ hiện nay được xây theo phong cách Gothic Revival (Gothic Phục hưng) từ năm 1916 đến năm 1949. Tên gọi Laja bắt nguồn từ một loại đá trầm tích giống với đá phiến sét.

Tu viện Thánh Antôn Cả

Tu viện Thánh Antôn Cả là một tu viện thuộc Giáo hội Chính thống giáo Copt trong một ốc đảo trong sa mạc phía Đông của Ai Cập (thuộc sa mạc Sahara), ở phần phía nam của tỉnh Suwais (Suez Governorate), bên Cao nguyên đá Galala cao 1464 m. Ẩn sâu trong núi ở Hồng Hải, tu viện nằm cách 334 km (208 dặm) về phía đông nam Cairo.

Được xây dựng giữa những năm 361 và 363, đây là một trong những tu viện lâu đời nhất trên thế giới. Tu viện Thánh Antôn Cả được thành lập bởi những môn đệ của Thánh Antôn Cả, người được xem là một trong các tu sĩ Kitô giáo đầu tiên.

Tu viện Thánh Antôn Cả là một trong những tu viện nổi tiếng nhất ở Ai Cập và đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự hình thành của một số tổ chức Giáo hội Chính thống giáo Copt, và đã thúc đẩy cách tu tập của các đan sĩ nói chung. Một số thượng phụ đã xuất thân từ tu viện này và hàng trăm người hành hương đến viếng tu viện mỗi ngày.

Vòng Bắc Cực

Vòng Bắc Cực là một trong 5 vĩ tuyến chủ yếu được thể hiện trên bản đồ Trái Đất. Đó là vĩ tuyến 66° 33′ 39″ (hoặc 66,56083°) ở phía bắc đường xích đạo. Khu vực ở phía bắc của vòng này gọi là vùng Bắc Cực và khu vực ở ngay phía nam của vòng này gọi là vùng ôn đới bắc. Vĩ tuyến tương đương ở Nam bán cầu gọi là vòng Nam Cực.

Vòng Bắc Cực đánh dấu điểm cực nam của ngày vùng cực (ngày có mặt trời suốt 24 giờ, thường gọi là mặt trời nửa đêm) và đêm vùng cực (ngày không có mặt trời suốt 24 giờ). Vùng Bắc Cực và vòng Nam Cực, nơi Mặt Trời - ít nhất mỗi năm một lần - ở trên đường chân trời suốt 24 giờ và ở dưới đường chân trời 24 giờ liên tục. Trên nguyên tắc, ở vòng Bắc Cực việc này diễn ra chính xác mỗi năm 1 lần vào ngày hạ chí trong tháng 6 và ngày đông chí trong tháng 12.

Trên thực tế, vì sự khúc xạ khí quyển và vì Mặt Trời hiện ra như một cái đĩa chứ không như một điểm, nên một phần của Mặt Trời nửa đêm trong đêm hạ chí có thể nhìn thấy ở khoảng 50 ′ (~90 km) ở phía nam của vòng Bắc Cực. Cũng vậy, vào ngày đông chí một phần Mặt Trời có thể nhìn thấy ở khoảng 50′(~90 km) tại phía bắc vòng Bắc Cực.

Vị trí của vòng Bắc Cực không cố định, mà thay đổi phức tạp theo thời gian (xem thông tin các vĩ tuyến).

Vĩ tuyến

Trên Trái Đất hay các hành tinh hoặc thiên thể hình cầu, vĩ tuyến là một vòng tròn tưởng tượng nối tất cả các điểm có cùng vĩ độ. Trên Trái Đất, vòng tròn này có hướng từ đông sang tây. Vị trí trên vĩ tuyến được xác định bằng kinh độ. Một vĩ tuyến luôn vuông góc với một kinh tuyến tại giao điểm giữa chúng. Các vĩ tuyến ở gần cực Trái Đất có đường kính nhỏ hơn.

Có 5 vĩ tuyến đặc biệt trên Trái Đất. Bốn vĩ tuyến được định nghĩa dựa vào mối liên hệ giữa góc nghiêng của Trái Đất so với mặt phẳng quỹ đạo của nó quanh Mặt Trời. Vĩ tuyến thứ năm, xích đạo, nằm giữa hai cực. Chúng là:

Vòng Bắc cực (66° 33' 38" vĩ bắc)

Hạ chí tuyến (23° 26' 22" vĩ bắc)

Xích đạo (0° vĩ bắc)

Đông chí tuyến (23° 26' 22" vĩ nam)

Vòng Nam Cực (66° 33' 38" vĩ nam)Hạ chí tuyến và đông chí tuyến là các ranh giới phía bắc và phía nam của vùng đất trên Trái Đất có thể thấy được Mặt Trời đi qua đỉnh đầu trong ít nhất một thời điểm trong năm. Vòng cực bắc và vòng cực nam là ranh giới của vùng xung quanh cực Trái Đất, nơi có thể nhìn thấy Mặt Trời trong suốt ít nhất một ngày giữa mùa hè trong năm.

Các vĩ tuyến là các đường tà hành, nhưng ngoại trừ xích đạo, chúng không phải là vòng tròn lớn, và do đó không chứa các cung là quãng đường ngắn nhất giữa các điểm, ngược với những gì nhìn thấy trên một số bản đồ nơi chúng được vẽ bằng các đường thẳng. Các chuyến bay trên bắc bán cầu giữa các điểm có cùng vĩ độ sẽ đi theo đường ngắn nhất trông giống một đường cong lệch về phía bắc trên các bản đồ như trên.

Các cung trên vĩ tuyến trên Trái Đất đôi khi được dùng làm biên giới giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ. Một vài vĩ tuyến được dùng như biên giới:

Biên giới giữa Canada và Hoa Kỳ hầu như hoàn toàn nằm trên vĩ tuyến 49° bắc, ngoại trừ phần giữa Québec và Vermont nằm trên vĩ tuyến 45° bắc.

Vĩ tuyến 38° bắc được dùng để phân chia Triều Tiên và Hàn Quốc.

Vĩ tuyến 17° bắc được dùng để phân chia Việt Nam theo hiệp ước Genève.

Vĩ tuyến 60° nam được dùng để phân định biên giới cho châu Nam CựcTrái Đất hiện tại có 181 đường vĩ tuyến (tính cả xích đạo là vĩ tuyến đặc biệt).

Vĩ tuyến 80 Bắc

Vĩ tuyến 80 Bắc là một vĩ tuyến có vĩ độ bằng 82 độ tại phía Bắc mặt phẳng xích đạo của Trái Đất, thuộc vùng Bắc cực. Vĩ tuyến này đi qua Đại Tây Dương, Châu Âu, Châu Á, Bắc Băng Dương và Bắc Mỹ.

Vĩ độ

Vĩ độ, thường được ký hiệu bằng chữ cái phi () trong bảng chữ cái Hy Lạp, là giá trị xác định vị trí của một điểm trên bề mặt Trái Đất (hay các hành tinh khác) ở phía bắc hay phía nam của xích đạo. Vĩ tuyến là các đường nằm ngang được chỉ ra trên các bản đồ chạy theo hướng đông-tây. Về mặt toán học, vĩ độ là giá trị góc tính bằng độ (ký hiệu °) và/hoặc các đơn vị nhỏ hơn (như phút, giây v.v) nằm trong khoảng từ 0° ở xích đạo tới 90° ở hai cực (90° vĩ bắc đối với Bắc cực hay 90° vĩ nam cho Nam cực của Trái Đất). Góc phụ nhau của vĩ độ gọi là độ dư vĩ. Có thể hiểu đơn giản là đường thẳng nằm ngang cách bề mặt so với trục trái đất về phía Bắc và Nam áp chí tuyến

Địa vật lý

Địa vật lý là một ngành của khoa học Trái Đất nghiên cứu về các quá trình vật lý, tính chất vật lý của Trái Đất và môi trường xung quanh nó. Phạm trù địa vật lý đôi khi chỉ đề cập đến các ứng dụng của nó: hình dạng Trái đất, trường từ và trường trọng lực của quả đất, thành phần và cấu trúc bên trong của nó, các quá trình động lực học và biểu hiện trên bề mặt của chúng trong kiến tạo mảng, sự hình thành của magma, núi lửa và các thành tạo đá. Tuy nhiên, các tổ chức địa vật lý hiện đại sử dụng một định nghĩa rộng hơn bao gồm chu kỳ tuần hoàn của nước (xét đến cả băng và tuyết), các quá trình động lực của chất lỏng trong đại dương và khí quyển, điện tích và từ tính trong quyển ion, quyển từ của Trái đất, và các vấn đề khác thường liên quan đến Mặt trăng và các hành tinh khác.Khảo sát địa vật lý nghiên cứu một loạt các hiện tượng tự nhiên, bao gồm cả hình dạng, sự vận động trong lòng Trái Đất, và các quá trình trong thạch quyển, thủy quyển và khí quyển.

Địa vật lý có hai hướng nghiên cứu là Vật lý Địa cầu nghiên cứu cơ bản về Trái Đất và môi trường xung quanh, và Địa vật lý Thăm dò. Địa vật lý thăm dò bao gồm việc ứng dụng lý thuyết địa vật lý và thiết bị vào mục đích tìm kiếm thăm dò tài nguyên hay khảo sát môi trường trong phạm vi lớp vỏ ngoài Trái Đất.

Bên cạnh đó, các phương pháp nghiên cứu của địa vật lý cũng được ứng dụng vào nghiên cứu các thiên thể trong vũ trụ.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.