Hạ Ai Cập

Hạ Ai Cập (tiếng Ả Rập: الدلتا‎ al-Diltā) là phần cực bắc nhất của Ai Cập. Nó dùng để chỉ các khu vực màu mỡ của đồng bằng sông Nin, trải dài từ khu vực giữa Thượng Ai CậpĐịa Trung Hải - từ El-Aiyat phía nam của Cairo ngày nay, và Zawyet Dahshur.

Bản đồ của Thượng Ai Cập chỉ ra điểm của Hã Ai Cập nơi đã diễn ra suốt Thời kỳ Ai Cập Protodynastic (nhấp vào bản đồ)

Địa lý

Ngày nay có hai con kênh chính là sông Nile có thông qua đồng bằng sông: một ở phía tây tại Rashid và một ở phía đông tại Damietta.[1]

Trong thời cổ đại Pliny Anh (N.H. 5.11) cho rằng, khi chảy đến đồng bằng sông Nile chia thành bảy nhánh (từ đông sang tây): Pelusiac, Tanitic, Mendesian, Phatnitic, Sebennytic, Bolbitine, và Canopic. Ngày nay, khu vực đồng bằng được tưới nước tốt, với hệ thống kênh chằng chịt. Khí hậu ở Hạ Ai Cập dễ chịu hơn do Thượng Ai Cập chủ yếu để gần với Địa Trung Hải. Nhiệt độ ít cực đoan hơn và lượng mưa phong phú hơn.[2]

Deshret
Deshret, huy hiệu màu đỏ của Hạ Ai Cập

Lịch sử

Lower Egypt Nomes 01
Bản đồ của Hạ Ai Cập với những địa điểm khảo cổ

Hạ Ai Cập được gọi là Ta-Mehu có nghĩa là "đất giấy cói." Nó được chia thành 20 quận, huyện được gọi là nomes, với quận đầu tiên là tại el-Lisht. Bởi vì Hạ Ai Cập chủ yếu là vùng cây bụi chưa phát triển, kém phát triển cho cuộc sống của con người và đầy rẫy các loại thực vật như cỏ và các loại thảo mộc, các tổ chức của nomes trải qua một số thay đổi.[3]

Thủ phủ của Hạ Ai Cập là Memphis. Nữ thần bảo trợ của nó là nữ thần rắn hổ mang Wadjet. Hạ Ai Cập đã được đại diện bởi Deshret, và biểu tượng của nó là giấy cói và ong.[4]

Các vua Hạ Ai Cập

Tên
Hsekiu[5]
Khayu[5]
Tiu[5]
Thesh[5]
Neheb[5]
Wazner[5]
Mekh[5]
(phá hủy)[5]

Danh sách nome

Số thứ tự Tên Ai Cập Thủ đô Thành phố hiện nay Chuyển ngữ
1 Aneb-Hetch Ineb Hedj / Men-nefer / Menfe (Memphis) Mit Rahina White Walls
2 Khensu Khem (Letopolis) Ausim Cow's thigh
3 Ahment Imu (Apis) Kom El Hisn West
4 Sapi-Res Ptkheka Tanta Southern shield
5 Sap-Meh Zau (Sais) Sa El Hagar Northern shield
6 Khaset Khasu (Xois) Sakha Mountain bull
7 A-ment (Hermopolis Parva, Metelis) Damanhur West harpoon
8 A-bt Tjeku / Per-Atum (Heroonpolis, Pithom) Tell El Maskhuta East harpoon
9 Ati Djed (Busiris) Abu Sir Bara Andjeti
10 Ka-khem Hut-hery-ib (Athribis) Banha (Tell Atrib) Black bull
11 Ka-heseb Taremu (Leontopolis) Tell El Urydam Heseb bull
12 Theb-ka Tjebnutjer (Sebennytos) Samanud Calf and Cow
13 Heq-At Iunu (Heliopolis) Materiya (suburb of Cairo) Prospering Sceptre
14 Khent-abt Tjaru (Sile, Tanis) Tell Abu Sefa Eastmost
15 Tehut Ba'h / Weprehwy (Hermopolis Parva) Baqliya Ibis
16 Kha Djedet (Mendes) Tell El Rubˁ Fish
17 Semabehdet Semabehdet (Diospolis Inferior) Tel El Balamun The throne
18 Am-Khent Per-Bastet (Bubastis) Tell Bastah (near Zagazig) Prince of the South
19 Am-Pehu Dja'net (Leontopolis Tanis) Tell Nebesha or San El Hagar Prince of the North
20 Sopdu Per-Sopdu Saft El Hinna Plumed Falcon

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ Carl Roebuck, The World of Ancient Times (Charles Scribner's Sons: New York, 1966) p. 50-51.
  2. ^ Carl Roebuck, The World of Ancient Times (Charles Scribner's Sons: New York, 1966) p. 52-53.
  3. ^ Carl Roebuck, The World of Ancient Times (Charles Scribner's Sons Publishers: New York, 1966), p. 54
  4. ^ Carl Roebuck, The World of Ancient Times (Charles Scribner's Sons Publishers: New York, 1966), p. 56
  5. ^ a ă â b c d đ e Breasted (1909) p.36
Ai Cập cổ đại

Ai Cập cổ đại là một nền văn minh cổ đại nằm ở Đông Bắc châu Phi, tập trung dọc theo hạ lưu của sông Nile thuộc khu vực ngày nay là đất nước Ai Cập. Đây là một trong sáu nền văn minh phát sinh một cách độc lập trên thế giới. Nền văn minh Ai Cập được thống nhất lại vào năm 3150 TCN (theo trình tự thời gian của bảng niên đại Ai Cập) với sự thống nhất chính trị của Thượng và Hạ Ai Cập dưới thời vị pharaon đầu tiên (Narmer, thường được gọi là Menes). Lịch sử của Ai Cập cổ đại đã trải qua một loạt các thời kỳ vương quốc ổn định, và các giai đoạn hỗn loạn giữa chúng được gọi là các giai đoạn chuyển tiếp: Cổ Vương quốc thời kỳ Sơ kỳ Đồ đồng, Trung Vương quốc tương ứng giai đoạn Trung kỳ Đồ Đồng và Tân Vương quốc ứng với Hậu kỳ Đồ đồng.

Ai Cập đạt đến đỉnh cao của quyền lực vào giai đoạn Tân Vương quốc, trong thời kỳ Ramesside, vào thời điểm đó nó sánh ngang với đế quốc Hittite, đế quốc Assyria và đế chế Mitanni, trước khi bước vào giai đoạn dần suy yếu. Ai Cập đã bị xâm chiếm hoặc chinh phục bởi một loạt các cường quốc nước ngoài, chẳng hạn như người Canaan/Hyksos, Lybia, người Nubia, Assyria, Babylon, Ba Tư dưới triều đại Achaemenid, và người Macedonia trong Thời kỳ Chuyển tiếp thứ Ba và cuối thời kỳ Ai Cập cổ đại. Sau khi Alexander Đại Đế qua đời, một trong những tướng lĩnh của ông, Ptolemy I Soter, đã tuyên bố ông là vị vua mới của Ai Cập. Triều đại Ptolemy gốc Hy Lạp này đã cai trị Ai Cập cho đến năm 30 TCN khi nó rơi vào tay đế quốc La Mã và trở thành một tỉnh La Mã.Sự thành công của nền văn minh Ai Cập cổ đại một phần đến từ khả năng thích ứng của nó với các điều kiện của thung lũng sông Nile cho sản xuất nông nghiệp. Từ việc có thể dự đoán trước lũ lụt và việc điều tiết thủy lợi ở khu vực thung lũng màu mỡ đã tạo ra nhiều nông sản dư thừa, giúp nuôi dưỡng một lượng dân số đông hơn, tạo điều kiện phát triển xã hội và văn hóa. Với việc có nhiều nguồn lực dư thừa, nhà nước đã tập trung vào việc khai thác khoáng sản ở các thung lũng và các khu vực sa mạc xung quanh, cũng như việc sớm phát triển một hệ thống chữ viết độc lập, tổ chức xây dựng tập thể và các dự án nông nghiệp, thương mại với khu vực xung quanh, và xây dựng một đội quân nhằm mục đích đánh bại kẻ thù nước ngoài và khẳng định sự thống trị của Ai Cập. Thúc đẩy và tổ chức những hoạt động này là một bộ máy quan lại gồm các ký lục ưu tú, những nhà lãnh đạo tôn giáo, và các quan lại dưới sự kiểm soát của một pharaon, người đảm bảo sự hợp tác và đoàn kết của toàn thể người dân Ai Cập dưới một hệ thống tín điều tôn giáo tinh vi.Những thành tựu của người Ai Cập cổ đại bao gồm khai thác đá, khảo sát và kỹ thuật xây dựng hỗ trợ cho việc xây dựng các công trình kim tự tháp, đền thờ, và cột tháp tưởng niệm; một hệ thống toán học, một hệ thống thực hành y học hiệu quả, hệ thống thủy lợi và kỹ thuật sản xuất nông nghiệp, những tàu thủy đầu tiên được biết đến trên thế giới, công nghệ gốm sứ và thủy tinh của Ai Cập, những thể loại văn học mới, và các hiệp ước hòa bình được biết đến sớm nhất, được ký kết với người Hittite. Ai Cập đã để lại một di sản lâu dài. Nghệ thuật và kiến ​​trúc của nó đã được sao chép rộng rãi, và các cổ vật của nó còn được đưa tới khắp mọi nơi trên thế giới. Những tàn tích hùng vĩ của nó đã truyền cảm hứng cho trí tưởng tượng của du khách và nhà văn trong nhiều thế kỷ. Sự quan tâm mới hình thành dành cho những cổ vật và các cuộc khai quật trong thời kỳ cận đại ở châu Âu và Ai Cập dẫn đến việc khai sinh ra ngành Ai Cập học để nghiên cứu nền văn minh Ai Cập và một sự đánh giá đúng đắn hơn đối với di sản văn hóa của nó.

Andjety

Andjety, còn được biết đến với những cái tên là Anezti hay Anedjti, là một vị thần trong văn hóa Ai Cập cổ đại. Tên gọi của vị thần này mang ý nghĩa "Người của vùng Andjet". Vùng Andjet, hay thành phố cổ Busiris, là nome thứ 9 của Hạ Ai Cập, và cũng là nơi mà thần Andjety được tôn sùng bậc nhất.

Deshret

Deshret, hay Vương miện Đỏ, là chiếc vương miện đội đầu của các pharaon cai trị Hạ Ai Cập. Đây cũng là miện của nữ thần Wadjet và nữ thần Neith, 2 vị thần bảo trợ của Hạ Ai Cập.

Những hình ảnh sớm nhất được biết đến của vương miện Deshret là trên Bảng màu Narmer của pharaon Narmer thuộc Vương triều thứ Nhất.

Djedankhre Montemsaf

Djedankhre Montemsaf là một vị vua người Thebes của vương triều thứ 16 nằm ở Thượng Ai Cập trong Thời kỳ Chuyển tiếp thứ Hai vào khoảng năm 1590 TCN. Như vậy ông sẽ cai trị đồng thời với vương triều thứ 15 mà kiểm soát miền Trung và Hạ Ai Cập.

Khabash

Khabash, còn là Khababash hoặc Khabbash, cai trị tại Sais thuộc nome thứ Năm của Hạ Ai Cập vào thế kỷ thứ IV TCN. Trong giai đoạn chiếm đóng Ai Cập lần thứ Hai của người Ba Tư (343–332 TCN) ông đã lãnh đạo một cuộc nổi dậy chống lại sự cai trị của người Ba Tư cùng với người con trai cả của mình, từ khoảng năm 338 tới năm 335 TCN, chỉ một vài năm trước khi Alexander Đại đế chinh phục Ai Cập.Chúng ta chỉ biết đôi chút về Khabash. Ông được nhắc đến như là "Chúa tể của Hai vùng đất", hay Vua của Thượng và Hạ Ai Cập, và là "Người Con trai của Ra", một tước hiệu pharaon khác, tên ngôi của ông được ghi lại là Senen-setep-en-Ptah trong một sắc lệnh của Ptolemy Lagides, người trở thành vua Ptolemy I Soter vào năm 305 TCN.

Vào khoảng thập niên năm 330 TCN, một vị vua Ai Cập tên là Kambasuten – người được thừa nhận một cách rộng rãi như là Khabash – đã lãnh đạo một cuộc xâm lược nhằm vào vương quốc Kush nhưng đã bị vua Nastasen đánh bại, sự kiện này đã được ghi lại trên một tấm bia đá ngày nay nằm tại bảo tàng Berlin. Một cỗ quan tài bằng đá dành cho con bò thần Apis mà có khắc tên của ông đã được tìm thấy tại Saqqara và có niên đại là vào năm trị vì thứ hai của ông.

Khayu

Khayu được đề cập trên tấm bia đá Palermo như là một vị vua Ai Cập thuộc giai đoạn Tiền vương triều, ông đã trị vì ở Hạ Ai Cập. Vì không có bằng chứng nào khác về vị vua này, ông có thể là một vị vua thần thoại được kể lại bằng truyền thuyết, hoặc có thể hoàn toàn là hư cấu.

Mekh

Mekh được đề cập tới trên tấm bia đá Palermo như là một vị vua Ai Cập thuộc giai đoạn Tiền Vương triều, ông đã trị vì ở Hạ Ai Cập. Vì không có bằng chứng nào khác về vị vua này, cho nên ông có thể là một vị vua thần thoại được kể lại thông qua truyền thuyết, hoặc thậm chí có thể hoàn toàn hư cấu.

Memphis (Ai Cập)

Memphis (tiếng Ả Rập: منف‎; tiếng Hy Lạp: Μέμφις) từng là kinh đô của Aneb-Hetch - vùng đầu tiên của Hạ Ai Cập - từ khi thành lập cho đến khoảng năm 2200 trước Công nguyên.

Tên của thành phố trong tiếng Ai Cập cổ là Ineb Hedj ("Bạch Thành"). "Memphis" (Μέμφις) là tên tiếng Hy Lạp đã được biến đổi từ tên của kim tự tháp của Pepi I, Men-nefer, sau đó trở thành Menfe trong tiếng Copt. Các thành phố và thị xã Mit Rahina, Dahshur, Saqqara, Abusir, Abu Ghurab và Zawyet El Aryan ngày nay nằm trong ranh giới hành chính của thành phố Memphis lịch sử (tọa độ 29°50′58,8″B 31°15′15,4″Đ).

Memphis cũng được biết đến trong thời Ai Cập Cổ đại là Ankh Tawy ("Cái mà nối hai vùng đất"), do đó nhấn mạnh vị trí quan trọng của thành phố giữa Thượng Ai Cập và Hạ Ai Cập.

Menkauhor Kaiu

Menkauhor Kaiu (còn được gọi là Ikauhor, tiếng Hy Lạp cổ là Mencherês, Μεγχερῆς) là một vị pharaon của Ai Cập cổ đại thuộc thời kỳ Cổ vương quốc. Ông là vị vua thứ bảy của Vương triều thứ Năm, triều đại của ông tồn tại vào khoảng cuối thế kỷ 25 hoặc đầu thế kỷ 24 TCN.

Menkauhor có thể đã trị vì tám hoặc chín năm, ông đã kế vị vua Nyuserre Ini, và sau này được Djedkare Isesi kế vị. Mặc dù Menkauhor đã được chứng thực thông qua các ghi chép lịch sử, chỉ còn sót lại rất ít các hiện vật có niên đại thuộc về vương triều của ông cho đến ngày nay. Bởi vậy, mối quan hệ huyết thống của ông với vị vua tiền nhiệm và vị vua kế nhiệm hiện vẫn chưa rõ ràng, và cũng chưa có bất cứ người con nào của ông được biết đến. Khentkaus III có thể là thân mẫu của Menkauhor, theo như những bằng chứng được phát hiện trong ngôi mộ của bà vào năm 2015.

Ngoài việc xây dựng các công trình kiến trúc, chúng ta chỉ biết được duy nhất một hoạt động đã diễn ra dưới vương triều của Menkauhor đó là một cuộc viễn chinh đến các mỏ đồng và ngọc lam ở Sinai. Menkauhor đã ra lệnh xây dựng một ngôi đền mặt trời, được gọi là "Akhet-Ra" nghĩa là "Chân Trời của Ra". Đây là ngôi đền mặt trời cuối cùng được xây dựng, tuy nhiên ngôi đền này chỉ được nhắc đến thông qua các dòng chữ khắc được tìm thấy trong những ngôi mộ thuộc về các vị tư tế của nó, vị trí của nó cũng chưa được xác định. Menkauhor đã được chôn cất trong một kim tự tháp nhỏ ở Saqqara, nó được người Ai Cập cổ đại gọi tên là Netjer-Ipet Menkauhor, "Ngôi nhà thiêng liêng của Menkauhor". Ngày nay, nó được biết đến với tên gọi là Kim tự tháp không đầu, tàn tích của nó đã bị cát vùi lấp cho đến khi được phát hiện lại vào năm 2008.

Menkauhor còn là hình tượng trung tâm của một sự thờ cúng tang lễ tồn tại lâu dài cho đến tận giai đoạn cuối thời kỳ Cổ vương quốc, với ít nhất bảy điền trang nông nghiệp sản xuất các hàng hoá cho các nghi lễ hiến tế cần thiết. Menkauhor được thờ cúng như một vị thần, được biết đến với danh hiệu "Vị Thần hùng mạnh của Hai vùng đất, Menkauhor Công Bằng" đã lặp lại trong suốt thời kỳ Tân Vương quốc (khoảng 1550 - 1077 TCN), và kéo dài ít nhất là cho đến vương triều thứ Mười Chín (khoảng năm 1292 - khoảng năm 1077 TCN), khoảng 1200 năm sau khi ông qua đời.

Neheb

Neheb được đề cập tới trên tấm bia đá Palermo như là một vị vua Ai Cập thuộc giai đoạn Tiền Vương triều, ông trị vì ở Hạ Ai Cập. Vì không có bằng chứng nào khác về vị vua này, cho nên ông có thể là một vị vua thần thoại được kể lại thông qua truyền thuyết, hoặc thậm chí có thể hoàn toàn hư cấu.

Neith

Neith (còn viết là Nit, Net, Neit) là một nữ thần của Ai Cập cổ đại. Bà là nữ thần bảo trợ của vùng Hạ Ai Cập, đặc biệt là Sais. Theo thuyết vũ trụ của Iunyt (Esna), Neith là người khai sinh ra thế giới và là mẹ của thần mặt trời Ra. Bà cũng được cho là mẹ của thấn cá sấu Sobek và con rắn Apep - kẻ thù của Ra. Đôi khi bà được miêu tả là đội vương miện của Hạ Ai Cập.

Senakhtenre Ahmose

Senakhtenre Ahmose là vị vua thứ bảy thuộc Vương triều thứ 17 trong Thời kỳ Chuyển tiếp thứ Hai của Ai Cập. Ông cai trị Thebes của Thượng Ai Cập trong một thời gian ngắn (có lẽ vài tháng đến 1 năm) khi người Hyksos chiếm đóng Hạ Ai Cập. Senakhtenre có thể mất vào năm 1558 TCN hoặc 1560 TCN.

Smendes

Hedjkheperre Setepenre Smendes là vị vua sáng lập Vương triều thứ 21 của Ai Cập và đã lên ngôi sau khi an táng vua Ramesses XI ở Hạ Ai Cập - vùng lãnh thổ mà ông kiểm soát. Tên gọi ban đầu của ông khi sinh ra là Nesbanebdjed có nghĩa "Ngài thuộc chòm sao Bạch Dương, Chúa tể của Mendes" nhưng đã được dịch sang tiếng Hy Lạp là Smendes bởi các tác giả cổ đại sau này như Josephus và Sextus Africanus. Trong khi nguồn gốc chính xác của Smendes vẫn là một bí ẩn, ông được cho là đã được một thống đốc đầy quyền lực ở Hạ Ai Cập trong kỷ nguyên phục hưng của Ramesses XI và trung tâm quyền lực của ông đặt tại Tanis.

Thượng Ai Cập

Thượng Ai Cập (tiếng Ả Rập: صعيد مصر‎ Sa'id Misr) là dải đất liền, trên cả hai mặt của thung lũng sông Nile, kéo dài từ Nubia, và ở phía hạ lưu (phía bắc) Hạ Ai Cập.

Thượng và Hạ Ai Cập

Thượng và Hạ Ai Cập cũng được gọi là Hai Vùng Đất là tên của hai vùng đất sử dụng cho Ai Cập Cổ đại. Các khái niệm xuất hiện trong danh hiệu của Ai Cập, như Vua và Hoàng hậu và xuất hiện trong những cảnh trong ngôi đền, ngôi mộ và các kim tự tháp. Khái niệm cũng đề cập đến sự phân chia của hai vùng dất riêng ở Ai Cập cổ đại.Biểu hiện của Thượng và Hạ Ai Cập là sema-tawy thường được dịch là "Tên hiệu của Hai Vùng Đất" và đã được mô tả như một khí quản con người gắn liền với giấy cói và cây lily.

Thời kỳ Sơ triều đại của Ai Cập

Thời kỳ vương triều Cổ xưa hoặc Sơ kỳ vương triều của Ai Cập hay Thời kỳ Tảo Vương quốc bắt đầu ngay sau khi diễn ra sự thống nhất Hạ và Thượng Ai Cập vào khoảng năm 3100 TCN. Nó thường được ghi chép lại là gồm Vương triều thứ Nhất và Vương triều thứ Hai kéo dài từ thời kỳ Tiền Vương triều của Ai Cập cho đến khoảng năm 2686 TCN, hay thời điểm khởi đầu của Cổ vương quốc. Dưới vương triều thứ nhất, kinh đô được chuyển từ Thinis tới Memphis với một nhà nước Ai Cập thống nhất được cai trị bởi một vị thần-vua. Abydos vẫn giữ vai trò là vùng đất thánh quan trọng ở miền nam. Và những tiêu chuẩn của nền văn minh Ai Cập cổ đại, chẳng hạn như nghệ thuật, kiến ​​trúc và nhiều khía cạnh của tôn giáo, đã được hình thành trong giai đoạn Sơ kỳ vương triều.

Trong giai đoạn Sơ kỳ vương triều, và trong phần lớn lịch sử Ai Cập sau đó, đất nước Ai Cập được biết đến với tên gọi hai vùng đất. Các vị vua đã thiết lập nên một bộ máy chính quyền trung ương và bổ nhiệm các thống đốc hoàng gia. Những công trình kiến trúc của nhà nước thường là những ngôi đền bằng gỗ hoặc bằng đá sa thạch. Những chữ tượng hình đầu tiên đã xuất hiện ngay trước khi giai đoạn này bắt đầu, mặc dù có ít đều được biết đến về các ngôn ngữ nói mà chúng đại diện.

Trung Ai Cập

Trung Ai Cập (tiếng Ả Rập: مصر الوسطى‎ Misr al-Wista) là một phần đất giữa Hạ Ai Cập (châu thổ sông Nin) và Thượng Ai Cập, kéo dài từ thượng nguồn sông Nin phía bắc thành phố Cairo đến phía nam của Memphis, Ai Cập. Vào lúc đó, Ai Cập cổ đại chỉ chia thành hai vùng đất là Hạ và Thượng Ai Cập, vì Trung Ai Cập được cho là một tiểu khu của Thượng Ai Cập. Nó đã không được công nhận cho đến thế kỷ 19, khi các nhà khảo cổ cảm thấy cần phải chia Thượng Ai Cập lại thành hai vùng. Kết quả là họ đặt ra thuật ngữ "Trung Ai cập" cho vùng giữa sông Nin, Cairo và Khúc cong Qena.

Viện bảo tàng Louvre

Viện bảo tàng Louvre (tiếng Pháp: Musée du Louvre, phát âm: [myze dy luvʁ]) là một viện bảo tàng nghệ thuật và lịch sử nằm tại Quận 1, thành phố Paris, nước Pháp. Có vị trí ở trung tâm lịch sử thành phố, bên bờ sông Seine, Viện bảo tàng Louvre vốn là một pháo đài được vua Philippe Auguste cho xây dựng vào năm 1190. Cuối thế kỷ XIV, dưới thời Charles V, Viện bảo tàng Louvre trở thành cung điện hoàng gia và sau đó tiếp tục được mở rộng qua các triều đại. Từ năm 1672, khi triều đình Pháp chuyển về lâu đài Versailles, bộ sưu tập hoàng gia được lưu trữ tại Louvre. Thời kỳ Cách mạng Pháp, cung điện trở thành bảo tàng, mở cửa vào ngày 10 tháng 8 năm 1793.

Những hiện vật ban đầu của Louvre chủ yếu từ bộ sưu tập hoàng gia và tài sản của giáo hội bị tịch thu trong thời kỳ cách mạng. Dưới thời Đệ Nhất Đế chế Pháp, nhờ những cuộc chinh phạt của Napoléon, nhiều tác phẩm nghệ thuật và hiện vật khảo cổ giá trị được chuyển về Louvre. Nhưng sau thất bại của quân đội Pháp trong trận Waterloo, phần lớn các hiện vật này đã trở về với những quốc gia chủ nhân cũ. Bộ sưu tập của Louvre tăng trở lại dưới thời Bourbon phục hoàng và kể từ Đệ Tam cộng hoà, bên cạnh những hiện vật mua lại, bảo tàng còn liên tục nhận được các di vật và tặng phẩm cá nhân.

Ngày nay, Louvre là một trong những viện bảo tàng nổi tiếng nhất thế giới, nơi trưng bày các hiện vật về những nền văn minh cổ, nghệ thuật Hồi giáo và nghệ thuật châu Âu từ thế kỷ XIII cho tới giữa thế kỷ XIX. Với diện tích 210 ngàn mét vuông, Louvre trưng bày 35.000 trên tổng số 380.000 hiện vật. Trong bộ sưu tập của bảo tàng Louvre hiện nay có những tác phẩm nổi tiếng bậc nhất của lịch sử nghệ thuật, như Tượng thần Vệ Nữ, Tượng thần chiến thắng Samothrace, Mona Lisa, Nữ thần Tự do dẫn dắt nhân dân, cùng các hiện vật giá trị về những nền văn minh cổ, như phiến đá ghi bộ luật Hammurabi, tấm bia Mesha. Năm 2008, Louvre đón 8,5 triệu lượt khách, giữ vị trí địa điểm thu phí được viếng thăm nhiều nhất Paris, đồng thời cũng là bảo tàng thu hút nhất trên thế giới.

Đôi Chim Ưng

Double Falcon (cũng có thể là Dju và Nebwy) là một vị vua của Hạ Ai Cập từ Naqada III. Ông có thể cai trị vào thế kỷ 32 TCN. Độ dài chiều đại của ông chưa được biết rõ.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.