Giáo xứ

Giáo xứ (tiếng Latinh: paroecia hay parochia) là một cộng đoàn và đơn vị địa giới trong một giáo phận. Đây là cách phân chia về mặt mục vụ và quản trị trong một số giáo hội Kitô giáo như Công giáo Rôma, Chính thống giáo, Anh giáo, Lutheran, một số giáo hội Trưởng lão và Giám lý.

Từ nguyên

Parish trong tiếng Anh xuất phát từ từ tiếng Anh gốc Pháp parosse (1075), về sau là paroche (1292), từ tiếng Pháp cổ paroisse, lấy từ tiếng Latinh paroechia, từ tiếng Hy Lạp cổ παροικία paroikia có nghĩa gốc là tạm trú trên đất khách (trong phiên bản viết bằng tiếng Hy Lạp phổ thông của kinh thánh Hê-brơ Septuagint) hoặc cộng đồng người tạm trú, chỉ đến những người Do Thái ở ngoại quốc (vào thế kỷ thứ 1 TCN), về sau chỉ đến một cuộc sống tạm nơi trần thế (thế kỷ thứ nhất Công nguyên, Tân Ước: 1 Peter 1:17, 2:11), từ này có nghĩa chỉ đến cộng đồng Kitô giáo (thế kỷ thứ 3 Công nguyên), giáo phận (diocese) (thế kỷ thứ 3 Công nguyên), và cuối cùng là parish (thế kỷ thứ 4 Công nguyên).

Công giáo Rôma

Trong Giáo hội Công giáo Rôma, chỉ có giám mục giáo phận mới có quyền thành lập, giải tán hoặc điều chỉnh địa giới các giáo xứ. Một khi đã được thành lập hợp lệ, giáo xứ đương nhiên được hưởng tính cách pháp nhân theo luật. Đơn vị địa giới trung gian giữa giáo xứ và giáo phận là giáo hạt. Tại Việt Nam, còn có phân cấp nhỏ hơn của giáo xứ là giáo họ.

Nhà thờ xứ là trung tâm của các hoạt động tôn giáo của tín hữu, là nơi mà họ tham gia cử hành thờ phượng, lãnh nhận các bí tích. Tại các nơi thôn quê đa số là người Công giáo, đây còn là trung tâm của sinh hoạt cộng đồng. Nếu vì lý do địa lý, tình trạng quá tải giáo dân thì có thể xây dựng thêm nhà thờ hoặc nhà nguyện phụ trợ. Ngoài ra, tùy điều kiện mà mỗi giáo xứ có thể có thêm các cơ sở bổ sung như trường học giáo lý, trường học văn hóa, tu viện, nghĩa trang... ngay trong khu đất của nhà thờ hoặc khu đất liền kề với nhà thờ. Mỗi giáo xứ thường có một linh mục coi sóc, gọi là linh mục xứ.

Việc đặt tên và tước hiệu

Mỗi giáo xứ có một tên gọi thông dụng và một tước hiệu. Tước hiệu là tên được chọn khi làm phép cung hiến nhà thờ và xức dầu bàn thờ lần đầu tiên. Nghi thức Cung hiến nhà thờ và xức dầu bàn thờ quy định rằng tên giáo xứ phải được chọn từ một trong các tên sau[1]:

Tước hiệu giáo xứ sẽ không được thay đổi mỗi khi đã xức dầu bàn thờ. Nếu có từ hai giáo xứ được sáp nhập lại, nhà thờ của mỗi giáo xứ được giữ lại tước hiệu của mình, nhưng giáo xứ mới sáp nhập này có thể đặt một tên khác nhau vì những lý do mục vụ.

Chú thích

  1. ^ Congregation for Divine Worship and the Discipline of the Sacraments, translated by International Committee on English in the Liturgy (1978), Rite of Dedication of a Church and an Altar (PDF)

Tham khảo

Aloisiô Nguyễn Hùng Vị

Aloisiô Nguyễn Hùng Vị (sinh ngày 15 tháng 8 năm 1952) là một giám mục của Giáo hội Công giáo Rôma. Ông hiện là Giám mục chính tòa thứ bảy của Giáo phận Kon Tum, lễ tấn phong Giám mục cho ông diễn ra vào ngày 3 tháng 12 năm 2015. Khẩu hiệu Giám mục của ông là: Tình thương trong sự thật.Ông quê ở Hà Nội, là người con trong gia đình có 7 anh chị em. Năm 1954, ông cùng gia đình di cư vào miền Nam. Tuy nhiên, khi vào đến Gò Vấp, thì gia đình ông lại quyết định đi ngược ra miền trung và ở tại Thành phố Nha Trang. Năm 1963 ông bắt đầu tu tập và đến năm 1990 thì lãnh chức linh mục. Ông trải qua một số chức vụ tại Giáo phận Kon Tum rồi đi du học và nhận bằng Cử nhân phụng vụ. Ngày 7 tháng 10 năm 2015, Giáo hoàng Phanxicô bổ nhiệm ông trở thành Giám mục chính tòa Giáo phận Kon Tum – kế vị giám mục Micae Hoàng Đức Oanh đã tại vị từ năm 2003, người đã 77 tuổi, quá tuổi về hưu theo giáo luật.

Anphong Nguyễn Hữu Long

Anphong Nguyễn Hữu Long (sinh 1953) là một Giám mục Công giáo Việt Nam. Ông hiện đảm nhận vai trò giám mục chính tòa Giáo phận Vinh. Trước đây, từ năm 2013 đến năm 2018, ông là giám mục phụ tá của Giáo phận Hưng Hóa. Trong Hội đồng Giám mục Việt Nam, ông đảm nhiệm vai trò Chủ tịch Ủy ban Loan báo Tin Mừng nhiệm kì 2013 - 2016 và nhiệm kì 2016 - 2019. Khẩu hiệu Giám mục của ông là "Mang vào mình mùi chiên".

Giám mục Nguyễn Hữu Long quê tại Hà Nội. Sau khi ra đời không lâu, ông theo gia đình di cư vào miền Nam. Sau quá trình tu học dài hạn với nhiều khó khăn, Nguyễn Hữu Long được phong chức linh mục năm 1990. Sau bốn năm làm phó xứ Tam Kỳ, linh mục Long được cử đi du học Pháp và tốt nghiệp với văn bằng Cao học Giáo luật. Trở về nước, ông đảm trách nhiều vai trò khác nhau, đến năm 2003 thì gia nhập Dòng Xuân Bích và năm 2011 trở thành Giám đốc Đại chủng viện Xuân Bích Huế.

Năm 2013, giáo hoàng bổ nhiệm linh mục Nguyễn Hữu Long làm Giám mục phụ tá Hưng Hóa. Trong thời kỳ đảm nhận vai trò này, giám mục Nguyễn Hữu Long, với phong cách được nhận định là bình dị và gần gũi, đã tạo được ấn tượng tốt đẹp trong cộng đồng người Công giáo. Đến cuối năm 2018, Tòa Thánh điều chuyển giám mục Nguyễn Hữu Long làm Giám mục Giáo phận Vinh. Ông đến tân giáo phận của mình vào ngày 20 tháng 1 năm 2019 và chính thức nhận chức vụ Giám mục Giáo phận Vinh vào ngày 12 tháng 2 năm 2019.

Barack Obama

Barack Hussein Obama II (IPA: /bəˈɹɑk oʊˈbɑː.mə/; sinh ngày 4 tháng 8 năm 1961) là tổng thống thứ 44 của Hoa Kỳ từ năm 2009 đến năm 2017. Ông là người Mỹ gốc Phi đầu tiên được bầu vào chức vụ này. Lớn lên ở Honolulu, Hawaii, cá nhân ông thừa hưởng những nền văn hoá Phi-Âu-Á-Mỹ của thế giới từ thuở thiếu thời, Obama tốt nghiệp Viện Đại học Columbia và Trường Luật Viện Đại học Harvard, nơi ông từng là chủ tịch Harvard Law Review. Obama có thiên hướng hoạt động vì cộng đồng từ thời thanh niên và hoạt động cộng đồng tại Chicago trước khi nhận văn bằng luật, rồi làm luật sư về dân quyền và dạy luật hiến pháp tại Trường Luật Viện Đại học Chicago từ năm 1992 đến 2004. Ông phục vụ ba nhiệm kỳ đại diện cho Hạt 13 tại Thượng viện Tiểu bang Illinois từ năm 1997 đến 2004. Năm 2000, ông ứng cử vào Viện Dân biểu Hoa Kỳ nhưng thất bại.

Năm 2004, Obama gây tiếng vang toàn quốc khi đọc bài diễn văn then chốt tại Đại hội Toàn quốc Đảng Dân chủ vào tháng 7, sau đó vào tháng 11, ông đắc cử vào Thượng viện Hoa Kỳ. Trong chiến dịch tranh cử tổng thống khởi đầu từ năm 2007, đến năm 2008, Obama thắng sít sao Hillary Clinton để nhận sự đề cử của Đảng Dân chủ. Ông đánh bại ứng cử viên Cộng hòa John McCain trong cuộc tổng tuyển cử, và tuyên thệ nhậm chức Tổng thống Hoa Kỳ ngày 20 tháng 1 năm 2009. Chín tháng sau, Obama được trao giải Nobel Hòa bình.

Trong nhiệm kỳ đầu, những sáng kiến của Obama nhằm kích thích nền kinh tế dẫn đến việc ban hành Đạo luật Phục hồi và Tái đầu tư (2009), Đạo luật Giảm thuế và Tạo việc làm (2010) hầu có thể ứng phó với cuộc suy thoái tại Mỹ giai đoạn 2007-2009; ông cũng ký ban hành Đạo luật chăm sóc và bảo vệ bệnh nhân hợp túi tiền; Đạo luật bảo vệ người tiêu dùng; Bãi bỏ đạo luật Don’t Ask, Don’t Tell Repeal Act (2010).

Tháng 1 năm 2011, Đảng Cộng hòa giành quyền kiểm soát Viện Dân biểu sau khi Đảng Dân chủ mất 63 ghế, tiếp đó bùng nổ một cuộc tranh luận kéo về chi tiêu liên bang và về quyết định nên hay không nâng cao mức nợ quốc gia, Obama ký ban hành Đạo luật Kiểm soát Ngân sách 2011 và Đạo luật American Taxpayer Relief 2012.

Tháng 11 năm 2012, Obama đánh bại ứng viên Đảng Cộng hòa Mitt Romney và tuyên thệ nhậm chức nhiệm kỳ thứ hai ngày 20 tháng 1 năm 2013. Obama là ứng cử viên Dân chủ đầu tiên kể từ Franklin D. Roosevelt chiến thắng trong hai cuộc bầu cử tổng thống với đa số phiếu phổ thông. Trong nhiệm kỳ này, Obama chú trọng đến các chính sách nội địa như gia tăng biện pháp kiểm soát vũ khí sau khi xảy ra vụ thảm sát Trường tiểu học Sandy Hook, kêu gọi người dân Mỹ có thái độ cởi mở hơn đối với cộng đồng LGBT, hối thúc Tối cao Pháp viện tuyên bố vi hiến những cấm đoán hôn nhân đồng tính tại một số tiểu bang. Về đối ngoại, Obama ra lệnh cho quân đội Hoa Kỳ can thiệp tại Iraq nhằm đối phó với những thắng lợi của ISIS sau khi người Mỹ rút quân khỏi Iraq trong năm 2011,chấm dứt những cuộc hành quân ở Afghanistan, cổ xúy những cuộc thảo luận dẫn đến Hiệp ước Paris 2015 về biến đổi khí hậu toàn cầu, áp đặt lệnh trừng phạt kinh tế đối với Nga sau khi Nga sáp nhập Crimea bất hợp pháp, đàm phán với Iran để ký thỏa ước hạt nhân, và bình thường hóa bang giao với Cuba.

Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng

Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng (1868 - 1949) là Giám mục người Việt Nam đầu tiên của Giáo hội Công giáo Rôma, được cử hành nghi thức tấn phong giám mục vào năm 1933. Ông đảm nhiệm chức vụ Đại diện Tông Tòa Hạt Đại diện Tông Tòa Phát Diệm trong khoảng thời gian 8 năm, từ năm 1935 đến năm 1943.

Giám mục Nguyễn Bá Tòng sinh tại Gò Công. Bắt đầu từ năm 10 tuổi, ông theo học các cấp học tại các chủng viện Công giáo khác nhau và hoàn thành việc tu học, được phong chức linh mục 18 năm sau đó vào năm 1896. Trở thành linh mục, ông đảm nhận các vai trò khác nhau như Thư ký Tòa giám mục, linh mục chính xứ Tân Định và Bà Rịa.

Tòa Thánh loan tin bổ nhiệm linh mục Gioan Baotixta Nguyễn Bá Tòng làm giám mục phó đại diện tông tòa địa phận Phát Diệm. Với việc bổ nhiệm này, ông trở thành giám mục Công giáo Việt Nam đầu tiên. Nghi thức tấn phong tổ chức tại Rôma do giáo hoàng Piô XI chủ sự. Ông đảm nhiệm vai trò Đại diện Tông Tòa địa phận từ năm 1935 đến năm 1943 khi hồi hưu. Sau đó, giám mục Tông quản lý địa phận trong cương vị giám quản hơn một năm từ năm 1944 đến năm 1945 khi giám mục kế vị Gioan Maria Phan Đình Phùng đột ngột qua đời.

Nguyễn Bá Tòng được ghi nhận về việc biên soạn tuồng Thương Khó, xây dựng và cơi nới các giáo xứ ông quản nhiệm. Ngoài ra, giám mục Tòng còn nổi tiếng với tài hùng biện bằng tiếng Pháp.

Giuse Maria Trịnh Như Khuê

Giuse Maria Trịnh Như Khuê (1898–1978) là một Hồng y thuộc Giáo hội Công giáo Rôma và là Hồng y tiên khởi của Việt Nam. Khẩu hiệu Giám mục của ông là Hãy theo Thầy.Trịnh Như Khuê sinh tại tỉnh Hà Nam trong một gia đình có thân phụ dạy chữ Hán. Từ nhỏ ông đã có chí hướng tu trì, sau khoảng thời gian dài tu học, năm 1933, ông được phong chức linh mục. Sau khi trở thành linh mục, ông lần lượt giữ nhiều vai trò khác nhau như linh mục phó xứ Khoan Vĩ, Giáo sư Tiểu chủng viện Hoàng Nguyên, phó xứ rồi chính xứ Hàm Long.

Tháng 4 năm 1950, Tòa Thánh Vatican bổ nhiệm linh mục Giuse Maria Trịnh Như Khuê làm Đại diện Tông Tòa Hạt Đại diện Tông Tòa Hà Nội (địa phận Hà Nội). Lễ tấn phong Giám mục cho Tân Giám mục được tổ chức vào ngày 15 tháng 8 cùng năm tại Nhà thờ Lớn Hà Nội. Do có lòng sùng kính đặc biệt Đức Bà Maria, ông ghép thêm tên thánh của mình trở thành Giuse Maria.

Năm 1960, cùng với sự thành lập hàng giáo phẩm Việt Nam, Trịnh Như Khuê trở thành Tổng Giám mục Tiên khởi của Tổng giáo phận Hà Nội. Chưa đầy 3 năm sau, ngày 2 tháng 6 năm 1963, ông bất ngờ phong chức Tổng Giám mục phó với quyền kế vị cho linh mục Giuse Maria Trịnh Văn Căn.

Cuối tháng 4 năm 1976, Giáo hoàng Phaolô VI tuyên bố vinh thăng Tổng Giám mục Trịnh Như Khuê là Hồng y In pectore (tức "trong ngực/trái tim" trong tiếng Latinh) và công bố vào ngày 24 tháng 5 cùng năm. Trịnh Như Khuê là Hồng y người Việt đầu tiên, mang tước vị Hồng y Linh mục nhà thờ San Francesco di Paola ai Monti. Sau khi sang Vatican lần lượt bầu hai tân Giáo hoàng, ngày 27 tháng 11 năm 1978, ông đột ngột qua đời vì nhồi máu cơ tim.

Giuse Maria Trịnh Văn Căn

Giuse Maria Trịnh Văn Căn (19 tháng 3 năm 1921 – 18 tháng 5 năm 1990) là một hồng y và dịch giả Công giáo người Việt Nam. Ông cũng là Tổng giám mục của Tổng giáo phận Hà Nội và Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam. Với vai trò lãnh đạo chính của giáo hội Công giáo miền Bắc Việt Nam sau năm 1975, Trịnh Văn Căn được xem là người đã giúp giáo dân miền Bắc vượt qua những khó khăn trong việc sống đạo giữa những đổi thay của đất nước và khi quan hệ giữa chính quyền Việt Nam và Tòa Thánh Vatican có những biến động lớn.

Giuse Maria Trịnh Văn Căn xuất thân trong một gia đình Công giáo tại Hà Nam. Năm 1949, ông được thụ phong linh mục rồi thi hành mục vụ tại Nhà thờ chính tòa Hà Nội với vai trò là linh mục chánh xứ, kiêm đặc trách giáo xứ Thịnh Liệt. Ông được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Tổng giám mục Phó Hà Nội vào năm 1963. Ông cùng thi hành mục vụ với Tổng Giám mục Giuse Maria Trịnh Như Khuê cho đến năm 1978, khi Tổng Giám mục Khuê đột ngột qua đời và ông đương nhiên kế vị trở thành Tổng giám mục của Tổng giáo phận Hà Nội theo Giáo luật. Năm 1979, Giáo hoàng Gioan Phaolô II vinh thăng ông làm hồng y. Ông trở thành vị hồng y thứ hai của Giáo hội Công giáo Việt Nam. Hồng y Trịnh Văn Căn đã đảm nhiệm cương vị này suốt 11 năm cho đến khi ông qua đời.Sau khi Việt Nam thống nhất vào năm 1975, ông cùng các giám mục Việt Nam thành lập Hội đồng Giám mục Việt Nam thống nhất với sự đồng ý của chính phủ Việt Nam. Giám mục Trịnh Văn Căn đã đảm nhiệm cương vị Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam từ năm 1980 đến 1990. Trong thập niên 80 của thế kỷ XX, ông là người đã đóng góp nhiều công sức trong việc xin tuyên thánh cho 117 vị tử đạo Công giáo người Việt, các nỗ lực của ông đã được toại nguyện khi Giáo hoàng Gioan Phaolô II tuyên thánh cho họ vào năm 1988.

Ngoài các công việc mục vụ, Trịnh Văn Căn còn là một dịch giả Công giáo với nhiều bản dịch Kinh Thánh ra tiếng Việt. Ông đã sưu tầm, chỉnh lý, bổ sung, hệ thống hóa lại và phổ biến những bài vãn cổ dâng hoa Công giáo. Giám mục Căn cũng ghi nhạc cho những bài văn quý Công giáo từng bị tản mác, mai một và dịch các bài hát tiếng Latinh sang tiếng Việt.

Ngày 18 tháng 5 năm 1990, ông qua đời vì bệnh huyết áp và nhồi máu cơ tim. Mộ phần của Hồng y Trịnh Văn Căn được chôn cất ở gian trái Nhà thờ chính tòa Hà Nội.

Giuse Nguyễn Chí Linh

Giuse Nguyễn Chí Linh (sinh 22 tháng 11 năm 1949) là một giám mục người Việt Nam của Giáo hội Công giáo Rôma, hiện giữ chức tổng giám mục Tổng giáo phận Huế và đương kim chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam, nhiệm kỳ 2016 - 2019. Trước khi trở thành Tổng giám mục Huế, ông cũng từng giữ các chức vụ khác như: giám mục chính tòa, Giám quản Tông Tòa Giáo phận Thanh Hóa, Giám quản Tông Tòa Giáo phận Phát Diệm.

Ngoài các công việc mục vụ thuần túy, Giuse Nguyễn Chí Linh cũng thường xuyên cùng đồng hành với các đoàn thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam hỗ trợ, động viên các nạn nhân bão lũ ở nhiều địa bàn khác nhau. Trong thời kỳ cai quản giáo phận Thanh Hóa, ông triển khai các chương trình hướng đến lợi ích cộng đồng như: thành lập Hội Thầy thuốc Samaritano với mục đích hỗ trợ bệnh nhân, người khuyết tật và người đau khổ trong giáo phận; cấp học bổng học sinh khó khăn, một số phòng phát thuốc miễn phí, thành lập dự án hỗ trợ vốn cho phụ nữ nghèo kiếm thu nhập và một vài kế hoạch phát triển nông nghiệp như làm trạm bơm, làm đường bê tông ở các làng quê. Ông cũng thường xuyên kêu gọi mọi người hỗ trợ các nạn nhân bão lũ, những người khó khăn và đến thăm các trại phong, trại khuyết tật trên địa bàn giáo phận Thanh Hóa. Ngoài ra, Nguyễn Chí Linh cũng bày tỏ sự đồng cảm với người nhiễm HIV/AIDS và bày tỏ quan điểm về bảo vệ sự sống bào thai.

Trong Hội đồng Giám mục Việt Nam, trước khi trở thành Chủ tịch trong nhiệm kỳ 2016 – 2019, Nguyễn Chí Linh từng đảm trách một số vai trò như chủ tịch Ủy ban Giáo dân (2004 – 2007), Phó Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam (2010 – 2013), Chủ tịch Ủy ban Mục vụ Di dân trực thuộc Hội đồng Giám mục (2013 – 2016).

Giuse Nguyễn Thiện Khuyến

Giuse Nguyễn Thiện Khuyến (1900 - 1981) là một giám mục của Giáo hội Công giáo tại Việt Nam. Ông từng đảm nhận vai trò Giám mục phó Giáo phận Phát Diệm trong 5 năm, từ năm 1976 đến năm 1981. Khẩu hiệu Giám mục của ông là Xin vâng.Giám mục Nguyễn Thiện Khuyến sinh tại Thanh Hóa, từ năm 12 tuổi đã đi theo con đường tu trì. Sau quá trình học kéo dài 18 năm, ông được truyền chức linh mục tháng 4 năm 1930. Trong thời kỳ linh mục, ông chỉ quản nhiệm các giáo xứ trong thời gian ngắn ngủi và bị điều chuyển đến giáo xứ khác liên tục. Vì tình trạng di cư năm 1954 dẫn đến thiếu linh mục, ông lần lượt kiêm nhiệm nhiều giáo xứ, nhiều nhất là 7 giáo xứ.

Tòa Thánh chọn linh mục Nguyễn Thiện Khuyến làm giám mục phó Phát Diệm khi ông đã 76 tuổi. Lên chức giám mục, ông vẫn kiêm nhiệm và cử hành công việc mục vụ cho 9 giáo xứ. Ông được ghi nhận là một người giản dị vì từ chối sử dụng các phẩm phục giám mục sau lễ tấn phong, ngoại trừ mũ sọ nhỏ.

Giuse Nguyễn Đức Cường

Giuse Nguyễn Đức Cường (sinh ngày 14 tháng 10 năm 1953) là một giám mục người Việt, hiện đảm trách vai trò giám mục chính tòa Giáo phận Thanh Hóa. Trước khi được bổ nhiệm làm giám mục, ông là một linh mục thuộc Giáo phận Đà Lạt.

Giám mục Nguyễn Đức Cường sinh tại Thanh Hóa, sau đó gia đình di cư vào Nam đến vùng đất thuộc Giáo phận Đà Lạt. Quá trình tu học của ông kéo dài 23 năm, qua các giai đoạn Tiểu chủng viện Simon Hòa Đà Lạt, Đại Chủng viện Minh Hòa Đà Lạt, Đại học Công giáo Đà Lạt và Đại Chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn. Năm 1992, ông được thụ phong linh mục bởi Tổng giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình.

Quay trở về Đà Lạt, ông trải qua nhiều chức vụ khác nhau cho đến khi trờ thành linh mục Giáo hạt Madagui. Ở phương diện quốc gia, ông đảm nhiệm nhiều trọng trách: Phó Trưởng Ban Giáo lý Giáo tỉnh Sài Gòn, Thành viên Ủy ban Giáo lý Đức tin thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam, Trưởng Ban Giáo lý Giáo tỉnh Sài Gòn, Phó Ban Giáo lý toàn quốc.

Ngày 25 tháng 4 năm 2018, Tòa Thánh công bố quyết định chọn linh mục Nguyễn Đức Cường làm Giám mục chính tòa Giáo phận Thanh Hóa. Lễ tấn phong cho Tân giám mục đã được tổ chức vào ngày 27 tháng 6 năm 2018 lúc 7 giờ sáng, tại Nhà thờ chính tòa Thanh Hóa và được trực tiếp trên website Giáo phận.

Giuse Ngô Quang Kiệt

Giuse Ngô Quang Kiệt (sinh ngày 4 tháng 9 năm 1952) là một Giám mục Công giáo người Việt, từng đảm trách nhiều vai trò quan trọng đối với cộng đồng Công giáo tại Việt Nam. Ngô Quang Kiệt từng đảm nhiệm nhiều vai trò khác nhau trong chức vị giám mục từ năm 1999 đến khi nghỉ hưu năm 2010 như Giám mục chính tòa Giáo phận Lạng Sơn và Cao Bằng, Giám quản Tông Tòa, sau đó trở thành Tổng giám mục Tổng giáo phận Hà Nội. Trong Hội đồng Giám mục Việt Nam, ông cũng từng đảm nhiều nhiều vai trò khác như như phó Tổng thư ký và sau đó là Tổng thư ký của Hội đồng này. Khẩu hiệu giám mục của ông là: Chạnh lòng thương.Giuse Ngô Quang Kiệt có quê gốc ở Lạng Sơn, sau khi sinh ra vài năm thì cùng gia đình di cư vào Nam. Sau quá trình tu tập kéo dài hơn 25 năm từ năm 1964 đến năm 1991, ông được phong chức linh mục, là linh mục thuộc giáo phận Long Xuyên. Linh mục Kiệt sau đó được cho đi du học tại Pháp và sau khi hoàn thành khóa học, trở về Việt Nam được bổ nhiệm giữ chức Chưởng Ấn Tòa giám mục Long Xuyên.

Ngày 3 tháng 6 năm 1999, Tòa Thánh ra tuyên cáo bổ nhiệm linh mục Giuse Ngô Quang Kiệt làm Giám mục chính tòa Giáo phận Lạng Sơn và Cao Bằng. Lễ tấn phong cho tân giám mục diễn ra sau đó vào ngày 29 tháng 6 do Giám mục Gioan Baotixita Bùi Tuần làm chủ phong. Tháng 4 năm 2003, Tòa Thánh bổ nhiệm ông kiêm thêm nhiệm vụ làm Giám quản Tông Tòa Tổng giáo phận Hà Nội, và đến tháng 10 cùng năm lại tiếp tục chọn Giám mục Kiệt kiêm nhiệm thêm chức Giám mục giám quản Giáo phận Thanh Hóa.

Sau khoảng thời gian hai năm tại Tổng giáo phận Hà Nội, tháng 2 năm 2005, Tòa Thánh thông qua ý kiến của chính quyền Việt Nam, ra thông cáo quyết định chọn Giám mục Giám quản Ngô Quang Kiệt làm Tổng giám mục chính tòa Tổng giáo phận Hà Nội. Ngoài chức vụ Tổng giám mục, Tổng giám mục Kiệt còn kiêm nhiệm thêm nhiều chức danh khác như Giám quản Tông Tòa Giáo phận Lạng Sơn từ năm 2005 đến năm 2007, Giám quản Tông Tòa Giáo phận Bắc Ninh từ năm 2006 đến năm 2008. Trong thời gian làm Tổng giám mục ở Hà Nội, ông đã cố gắng bảo vệ các tài sản của Giáo hội và lên tiếng thẳng thắn với chính quyền về các quyền tự do tôn giáo. Năm 2008, ông có câu nói gây tranh cãi: "Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam, đi đâu cũng bị soi xét, chúng tôi buồn lắm chứ ! Chúng tôi mong muốn đất nước mình mạnh lên." Ngày 22 tháng 4 năm 2010, Tòa Thánh chọn Giám mục Phêrô Nguyễn Văn Nhơn làm Tổng giám mục Phó, có quyền kế vị Tổng giám mục Kiệt. Sau đó ít lâu, ngày 13 tháng 5 cùng năm, Toà Thánh thông báo chấp nhận đơn từ chức của ông vì lý do sức khoẻ, chiếu theo khoản số 401 triệt 2 của Bộ Giáo Luật. Việc từ chức này của Tổng giám mục Kiệt được đánh giá có thể do áp lực từ phía chính quyền Việt Nam, và cũng có thể chính từ phía Vatican. Chính quyền Việt Nam đánh giá sự kiện này là một chiến thắng của phía chính quyền.Sau khi từ chức đến nay, nguyên Tổng giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt di chuyển đến sống tại Đan viện Châu Sơn, tỉnh Ninh Bình và thực hiện một vài thánh lễ tại đây hằng năm. Tại đan viện này, ông còn thực hiện nhiều việc khác: cầu nguyện cho Giáo hội, thế giới, đất nước và dân tộc, tĩnh tâm cho sinh viên, các hội đoàn, dòng tu, các Phó tế chuẩn bị được truyền chức linh mục. Ngoài ra, ông còn tham gia các hoạt động khác như viết các bài giảng lễ Chúa Nhật, viết suy niệm và in sách. Ông cũng là người đóng góp ý kiến trong việc thay đổi hạ tầng đan viện Châu Sơn, mà điển hình là công trình "Vườn Fatima", một công trình đang được thi công dựa trên ý tưởng của ông.

Giuse Võ Đức Minh

Giuse Võ Đức Minh (sinh 1944) là một Giám mục của Giáo hội Công giáo tại Việt Nam. Ông hiện đảm trách vai trò Giám mục chính tòa Giáo phận Nha Trang và là giám mục thứ tư đảm trách chức vụ này. Ngoài ra, ông còn là Chủ tịch Ủy ban Kinh Thánh của Hội đồng Giám mục Việt Nam.

Võ Đức Minh sinh năm 1944 tại Quảng Bình trong một gia đình Công giáo. Từ thuở nhỏ, gia đình đã cho ông đi theo con đường tu học. Quá trình tu học kéo dài 15 năm kết thúc bằng việc Phó tế Võ Đức Minh được truyền chức linh mục tại Thụy Sĩ năm 1971. Sau khi trở thành linh mục, giám mục Giáo phận Đà Lạt cho linh mục Minh tiếp tục theo học về Kinh Thánh tại Học viện Kinh Thánh Giáo hoàng tại Rôma và tốt nghiệp tại đây năm 1974. Trong thời gian theo học này, linh mục Minh tham gia hỗ trợ mục vụ, đảm nhiệm nhiều vai trò của các giáo xứ ở Canada, Thụy Sĩ và Đức.

Trở về Việt Nam tháng 5 năm 1974, Võ Đức Minh trở thành giáo sư Đại chủng viện, dạy Kinh Thánh và Thần học. Trong suốt thời gian làm linh mục, ông từng đảm nhận các vai trò như Thư ký Tòa giám mục Đà Lạt, chính xứ nhà thờ chính tòa Đà Lạt và Tổng đại diện Giáo phận.

Cuối năm 2005, Tòa Thánh loan tin chọn linh mục Võ Đức Minh làm giám mục Phó Nha Trang. Ông chính thức kế vị trở thành Giám mục chính tòa Nha Trang vào tháng 7 năm 2009.

Trong Hội đồng Giám mục Việt Nam, ông giữ vai trò Chủ tịch Uỷ ban Kinh Thánh trong 4 nhiệm kỳ liên tiếp, từ khi Uỷ ban này thành lập năm 2007 đến nay. Ngoài ra, ông cũng từng đảm nhận vai trò Phó Tổng thư ký nhiệm kỳ 2007 - 2010.

Giuse Vũ Văn Thiên

Giuse Vũ Văn Thiên (sinh ngày 26 tháng 10 năm 1960) là một giám mục Công giáo người Việt. Ông hiện là tổng giám mục của Tổng giáo phận Hà Nội, kiêm giám quản Tông Tòa của Giáo phận Hải Phòng (trước đó, ông là giám mục chính tòa của giáo phận này từ 2003 đến 2018). Trên cương vị tổng giám mục Hà Nội, ông cũng là một tổng giám mục đô thành, trưởng Giáo tỉnh Hà Nội.

Tổng giám mục Vũ Văn Thiên sinh tại Hải Dương, từ nhỏ gia đình đã có ước muốn cho ông theo con đường tu trì. Vì thế, cậu bé Thiên lần lượt được gia đình cho đi làm giúp lễ và sinh sống tại nhà xứ. Trải qua khoảng thời gian dài tu học, năm 1988, Giuse Vũ Văn Thiên được truyền chức linh mục, trở thành thành viên linh mục đoàn Giáo phận Hải Phòng. Trong thời kỳ làm linh mục, ông được cử đi du học, sau đó trở về làm giáo sư Đại chủng viện.

Năm 2002, Tòa Thánh chọn linh mục trẻ tuổi Giuse Vũ Văn Thiên làm Giám mục Hải Phòng, giám mục đầu tiên xuất thân từ giáo phận này. Lễ tấn phong sau đó diễn ra vào ngày 2 tháng 1 năm 2003. Trong thời kỳ đảm nhận vai trò Giám mục Hải Phòng, giám mục Thiên đã có những đóng góp vào quá trình phát triển của Giáo phận, đặc biệt là các công trình tôn giáo.

Năm 2018, Tòa Thánh bổ nhiệm Giám mục Giuse Vũ Văn Thiên làm Tổng giám mục đô thành Hà Nội và Giám quản Tông Tòa Hải Phòng.

Trong Hội đồng Giám mục Việt Nam, ông đang là phó tổng thư ký (nhiệm kỳ 2016 – 2019). Trước đây, ông còn giữ chức chủ tịch Ủy ban Mục vụ Giới trẻ trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam (nhiệm kỳ 2013 – 2016).

Giáo phận Vinh

Giáo phận Vinh (tiếng Latin: Dioecesis Vinhensis) là một giáo phận Công giáo Rôma tại miền Bắc Trung Bộ Việt Nam.

Theo các số liệu mới nhất, đến cuối năm 2018, địa bàn giáo phận Vinh tương ứng với tỉnh Nghệ An, tổng cộng 16.499km2; với số giáo dân là 286.401 trên tổng số 3.104.270 dân cư trên địa bàn, chiếm tỷ lệ 9,23%. Giáo phận gồm 13 giáo hạt, 108 giáo xứ, 377 giáo họ, với 179 linh mục đã bao gồm 11 linh mục dòng, 1.414 tu sĩ nam nữ, 142 chủng sinh, 40 tiền chủng sinh..

Cai quản giáo phận do Giám mục chính tòa Anphong Nguyễn Hữu Long, (từ 2018) và Giám mục phụ tá Phêrô Nguyễn Văn Viên (từ 2013).

Magdeburg

Magdeburg là thủ phủ của tiểu bang Sachsen-Anhalt (Đức) và là thành phố có diện tích lớn nhất của tiểu bang. Magdeburg là trụ sở của cả giáo xứ Tin Lành lẫn giáo xứ Công giáo và cũng là trụ sở của hai trường đại học: Đại học Otto von Guericke (Otto-von-Guericke-Universität) và Đại học thực hành Magdeburg-Stendal (Hochschule Magdeburg-Stendal (FH)). Magdeburg kỷ niệm 1.200 năm thành lập vào năm 2005.

Paris

Paris là thủ đô của nước Pháp, cũng là một trong ba thành phố phát triển kinh tế nhanh nhất thế giới cùng Luân Đôn và New York và cũng là một trung tâm hành chính của vùng Île-de-France. Nằm ở phía bắc nước Pháp, khu vực trung tâm của châu Âu, Paris được xây dựng hai bên bờ sông Seine với tâm là đảo Île de la Cité. Đây cũng là nơi hợp lưu của sông Seine và sông Marne.

Paris nằm ở điểm gặp nhau của các hành trình thương mại đường bộ và đường sông, và là trung tâm của một vùng nông nghiệp giàu có. Vào thế kỷ 10, Paris đã là một trong những thành phố chính của Pháp cùng các cung điện hoàng gia, các tu viện và nhà thờ. Từ thế kỷ 12, Paris trở thành một trong những trung tâm của châu Âu về giáo dục và nghệ thuật. Thế kỷ 14, Paris là thành phố quan trọng bậc nhất của Cơ Đốc giáo và trong các thế kỷ 16, 17, đây là nơi diễn ra Cách mạng Pháp cùng nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của Pháp và châu Âu. Đến thế kỷ 19 và 20, thành phố trở thành một trong những trung tâm văn hóa của thế giới, thủ đô của nghệ thuật và giải trí.

Năm 2018, nội ô Paris có dân số là 2.206.488 người, mật độ 21.000 người/km², thuộc hàng cao nhất trong các thủ đô châu Âu. Nếu tính toàn bộ vùng đô thị Paris, vào năm 2013, dân số Paris là 12,405,426 người. Là thành phố thủ đô, Paris tập trung các hoạt động văn hóa, tài chính, thương mại... của toàn nước Pháp. Năm 2016, GDP của Paris cùng với toàn vùng Île-de-France đạt 681 tỷ euro, tương đương với nước Hà Lan.

Nổi tiếng với tên gọi Kinh đô ánh sáng, Paris là một trung tâm văn hóa lớn của thế giới và cũng là một trong những thành phố du lịch thu hút nhất. Sự nhộn nhịp, các công trình kiến trúc và không khí nghệ sĩ đã giúp Paris mỗi năm có đến 30 triệu khách nước ngoài. Thành phố còn được xem như kinh đô của thời trang cao cấp với nhiều khu phố xa xỉ cùng các trung tâm thương mại lớn. Là nơi đặt trụ sở chính của các tổ chức quốc tế như OECD, UNESCO... cộng với những hoạt động đa dạng về tài chính, kinh doanh, chính trị và du lịch đã khiến Paris trở thành một trong những trung tâm trung chuyển lớn nhất trên thế giới và được coi như một trong bốn "thành phố toàn cầu" cùng với New York, Luân Đôn và Tokyo.

Phaolô Bùi Chu Tạo

Phaolô Bùi Chu Tạo (1909 - 2001) là một Giám mục Công giáo người Việt Nam, từng đảm nhận vai trò Giám mục chính tòa tiên khởi của giáo phận Phát Diệm trong suốt gần 40 năm, từ năm 1960 đến năm 1998. Trước đó, ông là linh mục Giám quản Tông Tòa trong 3 năm trước khi được chọn làm Giám mục, đảm nhận vị trí Giám quản Tông Tòa của Hạt Đại diện Tông Tòa Phát Diệm. Ông được tấn phong Giám mục năm 1959 với khẩu hiệu: "Yêu thương chân thành không giả dối".Bùi Chu Tạo sinh năm 1909 tại Ninh Bình với tên thật là Bùi Tạo trong một gia đình nông dân. Có mong muốn tu trì từ nhỏ, cậu bé Tạo được gia đình đồng ý cho theo con đường này. Trải qua thời gian dài tu học tại các chủng viện khác nhau, Bùi Chu Tạo được phong chức linh mục năm 1937.

Sau khi được truyền chức linh mục, Bùi Chu Tạo đảm nhận vai trò Giáo sư chủng viện, sau đó dưỡng bệnh từ năm 1951 đến năm 1954. Sau 1954, giáo dân cũng như linh mục suy giảm đáng kể do di cư vào Nam, kể cả Đại diện Tông Tòa Bùi Chu là giám mục Tađêô Lê Hữu Từ cũng theo giáo dân di cư. Vì vậy, Tòa Thánh chọn linh mục Bùi Chu Tạo làm Giám quản Tông Tòa Hạt Đại diện Tông Tòa Phát Diệm vào cuối năm 1956.

Ba năm sau khi đảm nhận vai trò giám quản, Tòa Thánh bổ nhiệm Bùi Chu Tạo làm Đại diện Tông Tòa Phát Diệm, danh hiệu giám mục Hiệu tòa Numida vào đầu năm 1959. Lễ truyền chức cử hành vào tháng 4 cùng năm. Cùng với việc thiết lập Hàng giáo phẩm Công giáo Việt Nam, ngày 24 tháng 11 năm 1960, ông được nâng thành Giám mục chính tòa Tiên khởi Giáo phận Phát Diệm.

Trong thời kỳ khó khăn của giáo phận, Bùi Chu Tạo gửi nhiều Thư Chung đến với các giáo dân, cổ võ học hỏi kinh bổn, trùng tu các công trình tôn giáo. Ông được đánh giá là người điền đạm, bao dung, ăn nói nhỏ nhẹ với cung giọng trầm, thâm thúy và hóm hỉnh. Ông cũng được ghi nhớ bởi cách sống giản dị của mình.

Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng

Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng (1919 – 2009) là một hồng y người Việt Nam của Giáo hội Công giáo Rôma . Ông là vị hồng y thứ ba của Việt Nam, được vinh thăng sau hai vị Hồng y đầu tiên là Giuse Maria Trịnh Như Khuê và thứ hai là Giuse Maria Trịnh Văn Căn. Ông cũng từng là Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam hai khoá liên tiếp từ năm 1995 đến năm 2001. Hồng y Tụng là người nhận chức vụ Tổng giám mục cao tuổi nhất trong lịch sử giáo hội Công giáo tại Việt Nam khi đã 75 - 76 tuổi.Phạm Đình Tụng trong một gia đình Công giáo làm nghề nông tại Ninh Bình. Bắt đầu con đường tu học từ năm 1925, trải qua nhiều giai đoạn khó khăn do chiến sự và tu học tại nhiều nơi, cuối cùng, phó tế Phạm Đình Tụng được thụ phong chức linh mục tại Nhà thờ chính tòa Hà Nội tháng 6 năm 1949. Sau khi được truyền chức linh mục, linh mục Tụng được bổ nhiệm làm phó xứ rồi nhanh chóng trở thành chính xứ giáo xứ Hàm Long, Hà Nội.

Tháng 4 năm 1963, Tòa Thánh bổ nhiệm linh mục Phạm Đình Tụng làm Giám mục chính tòa Giáo phận Bắc Ninh. Tân giám mục được cử hành nghi thức truyền chức sau đó ngày 15 tháng 8 bởi chủ phong là Tổng giám mục Tổng giáo phận Hà Nội Giuse Maria Trịnh Như Khuê. Khẩu hiệu Giám mục của ông là Tôi tin vào tình yêu Thiên Chúa.

Tháng 7 năm 1990, giám mục Phạm Đình Tụng được Tòa Thánh bổ nhiệm làm giám quản Tông tòa Giáo phận Hà Nội, kiêm chức Giám đốc Đại Chủng viện Hà Nội. Ngày 13 tháng 4 năm 1994, ông chính thức được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Tổng Giám mục Hà Nội. Tháng 11 năm 1994, Tổng giám mục Tụng được Giáo hoàng Gioan Phaolô II thăng tước Hồng y linh mục nhà thờ Santa Maria "Regina Pacis" in Ostia mare.

Đầu tháng 5 năm 2003, Hồng y Phạm Đình Tụng trao quyền cai quản Tổng giáo phận Hà Nội cho Giám quản Tông Tòa Giuse Ngô Quang Kiệt. Ngày 19 tháng 2 năm 2005, Toà Thánh chính thức cho phép ông về hưu theo Giáo luật khi bổ nhiệm Tổng giám mục kế vị chính là giám mục giám quản Ngô Quang Kiệt.

Philípphê Nguyễn Kim Điền

Philipphê Nguyễn Kim Điền (1921 - 1988) là một Giám mục của Giáo hội Công giáo Rôma tại Việt Nam. Ông nguyên là Giám mục chính tòa Tiên khởi Giáo phận Cần Thơ và nguyên Tổng giám mục đô thành Tổng Giáo phận Huế. Khẩu hiệu Giám mục của ông là "Nên mọi sự cho mọi người".Tổng giám mục Nguyễn Kim Điền sinh tại Trà Vinh và lớn lên tại Sài Gòn. Sau khi trở thành linh mục một khoảng thời gian ngắn, ông trở thành giám đốc chủng viện tại Sài Gòn nhưng quyết định từ bỏ để gia nhập dòng Tiểu Đệ, lấy đời sống khó nghèo làm mục tiêu. Trong thời gian là linh mục dòng Tiểu Đệ, ông lao động, mưu sinh bằng các công việc như khuân vác, đạp xích lô đồng thời thực hiện công việc truyền giáo. Năm 1960, linh mục Điền được chọn làm Giám mục Cần Thơ rồi thăng Tổng giám mục, Giám quản Tông Tòa Tổng giáo phận Huế vào năm 1964 trước khi chính thức trở thành Tổng giám mục đô thành Huế bốn năm sau đó.

Tổng giám mục Điền có cách xử lí tế nhị với chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, ông quyết định phân tách Giáo hội khỏi sự ảnh hưởng của chính quyền. Sau chiến tranh Việt Nam, ông nhiều lần lên tiếng bàn luận về các quyền tự do, không những trong tôn giáo và còn về nhiều vấn đề khác. Chính quyền mới đánh giá tổng giám mục Điền là gián điệp của thế lực ngoại bang cài cắm tại Việt Nam, phần tử chống Cộng quyết liệt. Phía Công giáo, giáo hoàng Gioan Phaolô II gọi ông là vị tổng giám mục anh dũng, báo chí Tây phương gọi ông là giám mục kiên cường.Nguyễn Kim Điền qua đời ngày 8 tháng 6 năm 1988 tại bệnh viện Chợ Rẫy, Thành phố Hồ Chí Minh. Cái chết đột ngột của giám mục Điền khiến nhiều nguồn tin cho rằng ông đã bị đầu độc. Hiện nay, hàng ngày vẫn có giáo dân đến viếng, cầu nguyện trước mộ phần cố tổng giám mục Điền. Đối với đa số giáo dân Huế, ông là một vị thánh tử đạo.Tổng giám mục Nguyễn Kim Điền cũng chính là tác giả lời dịch tiếng Việt của Kinh Hòa Bình, sau này được linh mục nhạc sĩ Kim Long phổ nhạc năm 1960. Ngoài việc quản lý các giáo phận, ông từng đảm trách Caritas Việt Nam (1968 - 1972) và Tổng thư ký Hội đồng Giám mục Miền Nam Việt Nam. Sau khi Việt Nam thống nhất, ông đảm nhận vai trò phó chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam trong 3 nhiệm kỳ đầu tiên, từ năm 1980 đến năm 1989.

Thánh Giuse

Thánh Giuse (hay Yuse từ tiếng Ý Giuseppe, từ tiếng Do Thái: יוֹסֵף "Yosef"; tiếng Hy Lạp: Ἰωσήφ; từ tiếng Anh: Joseph,đôi khi cũng được gọi là Thánh Giuse Thợ, hoặc Thánh Cả Giuse, Giuse thành Nazareth hoặc Giô-sép) là một vị thánh của Kitô giáo. Những ghi chép về Giuse xuất hiện đầu tiên trong các bản Phúc Âm Luca và Matthew (còn những văn bản ra đời sớm của Phúc Âm như các thư Sứ đồ Phaolô hay Phúc Âm Máccô không đề cập đến người chồng của Maria). Tuy các thông tin đề cập trong hai sách trên không hoàn toàn thống nhất với nhau nhưng chúng cùng mô tả Giuse là chồng của Maria và cha về mặt pháp lý của Giêsu. Theo Phúc Âm Luca, Giuse là người thuộc chi họ Giuđa, hậu duệ đời thứ 40 của vua David, sinh trú tại Bêlem. Ông thuộc tầng lớp gia đình bình dân của xã hội thời đó. Ông đính hôn với Maria - một thiếu nữ quê ở Nazareth, cũng thuộc chi họ Giuđa.Tất cả các sách Tân Ước đều không thuật lại một lời nói nào của Giuse mà chỉ nhắc đến những hành động được cho là thi hành lời của Thiên Chúa phán qua sứ thần. Đứng trước sự việc Maria mang thai không phải bởi mình, Giuse đã không từ bỏ Maria và cái thai trong bụng bà mà ông muốn họ có một tư cách pháp lý theo luật Do Thái: "là con cháu vua David đúng như lời Thiên Chúa đã hứa từ thời Cựu Ước". Ông Giuse cũng nhận lời phán truyền của Thiên Chúa qua lời thiên sứ để đưa Maria và Jesus rời xứ Judea sang Ai Cập nhằm tránh cuộc thảm sát của vua Herode Đại đế. Sau đó cũng chính ông nghe lời của thiên sứ truyền báo để đưa gia đình trở về quê hương sau khi Hêrôđê chết. Các sách Phúc Âm không cho biết Giuse qua đời vào thời điểm nào. Lần cuối cùng các văn bản này nhắc đến Giuse là khi ông tìm được trẻ Giêsu tại đền thờ Jerusalem, lúc đó Giêsu đang luận bàn giáo lý với các nhà thông học Do Thái giáo. Những chứng cứ gián tiếp cho thấy nhiều khả năng ông mất trước giai đoạn Giêsu hoạt động công khai.

Tên Giuse ít được nhắc đến trong Kitô giáo thời sơ khai. Tuy vậy, vai trò của ông về sau ngày càng được đề cao. Ngày nay, tất cả các nhánh của Kitô giáo, bao gồm Công giáo Rôma, Chính Thống giáo Đông phương và Anh giáo đều tôn kính Giuse. Ông là Thánh bổn mạng của nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ, dòng tu, nam giáo dân. Cùng với sự lớn mạnh của ngành thần học nghiên cứu về Đức Mẹ Maria (Thánh Mẫu học), ngành thần học nghiên cứu về Thánh Giuse (tiếng Anh: Josephology) cũng đã xuất hiện. Từ những năm 1950, có nhiều trung tâm nghiên cứu về ngành này đã được thành lập và phát triển.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.