Giám mục đô thành

Trong một số giáo hội Kitô giáo, giám mục đô thành hay đô thành trưởng (tiếng Latinh: metropolita) là giám mục hoặc tổng giám mục (trường hợp này gọi cụ thể là tổng giám mục đô thành) chính tòa của một đô thành, tức là thành phố chính yếu của một tỉnh của La Mã, giáo tỉnh, hay là thủ phủ của một vùng nào đó.

Trước khi cấp bậc thượng phụ được thiết lập vào năm 325 CN, đô thành trưởng là bậc cao nhất trong thể chế giám mục tại các Giáo hội Đông phương. Đô thành trưởng chủ trì các công nghị giám mục và được trao đặc quyền theo luật giáo hội và thánh truyền.

Cách tổ chức của Kitô giáo sơ khởi thường dựa vào thực hành tại Đế quốc La Mã, theo đó mỗi giám mục coi sóc một thành phố.[1] Giám mục của thành phố thủ phủ là người được hưởng một số quyền nhất định trên các giám mục khác trong tỉnh đó mà sau này gọi là giám mục phụ cận.[1]

Chú thích

  1. ^ a ă Cross, F. L.; Livingstone, E. A. biên tập (2005). “Metropolitan”. The Oxford Dictionary of the Christian Church. New York: Oxford University Press. ISBN 978-0-192-80290-3.
Anphong Nguyễn Hữu Long

Anphong Nguyễn Hữu Long (sinh 1953) là một Giám mục Công giáo Việt Nam. Ông hiện đảm nhận vai trò giám mục chính tòa Giáo phận Vinh. Trước đây, từ năm 2013 đến năm 2018, ông là giám mục phụ tá của Giáo phận Hưng Hóa. Trong Hội đồng Giám mục Việt Nam, ông đảm nhiệm vai trò Chủ tịch Ủy ban Loan báo Tin Mừng nhiệm kì 2013 - 2016 và nhiệm kì 2016 - 2019. Khẩu hiệu Giám mục của ông là "Mang vào mình mùi chiên".

Giám mục Nguyễn Hữu Long quê tại Hà Nội. Sau khi ra đời không lâu, ông theo gia đình di cư vào miền Nam. Sau quá trình tu học dài hạn với nhiều khó khăn, Nguyễn Hữu Long được phong chức linh mục năm 1990. Sau bốn năm làm phó xứ Tam Kỳ, linh mục Long được cử đi du học Pháp và tốt nghiệp với văn bằng Cao học Giáo luật. Trở về nước, ông đảm trách nhiều vai trò khác nhau, đến năm 2003 thì gia nhập Dòng Xuân Bích và năm 2011 trở thành Giám đốc Đại chủng viện Xuân Bích Huế.

Năm 2013, giáo hoàng bổ nhiệm linh mục Nguyễn Hữu Long làm Giám mục phụ tá Hưng Hóa. Trong thời kỳ đảm nhận vai trò này, giám mục Nguyễn Hữu Long, với phong cách được nhận định là bình dị và gần gũi, đã tạo được ấn tượng tốt đẹp trong cộng đồng người Công giáo. Đến cuối năm 2018, Tòa Thánh điều chuyển giám mục Nguyễn Hữu Long làm Giám mục Giáo phận Vinh. Ông đến tân giáo phận của mình vào ngày 20 tháng 1 năm 2019 và chính thức nhận chức vụ Giám mục Giáo phận Vinh vào ngày 12 tháng 2 năm 2019.

Carlos Osoro Sierra

Carlos Osoro Sierra (Sinh 1945) là một Hồng y người Tây Ban Nha của Giáo hội Công giáo Rôma. Ông hiện đảm nhiệm vai trò Tổng giám mục đô thành Tổng giáo phận Madrid, Đại diện các Giáo hội Công giáo Đông phương tại Tây Ban Nha và Hồng y Đẳng linh mục Nhà thờ Maria in Trastevere.Trước khi được bổ nhiệm đến Madrid làm Tổng giám mục vào năm 2014, Hồng y Sierra từng đảm nhận nhiều vai trò khác nhau trong các giáo phận cũng như Hội đồng Giám mục, như: Giám mục Giáo phận Orense (1996-2002), Tổng giám mục đô thành Tổng giáo phận Oviedo, Giám quản Tông Tòa Giáo phận Santander (2006-2007), Giám quản Tông Tòa Oviedo (2009), Tổng giám mục đô thành Tổng giáo phận Valencia (2009-2014). Tại Hội đồng Giám mục Tây Ban Nha, ông cũng từng đảm nhận vai trò Phó Chủ tịch, từ năm 2014 đến năm 2017.

Dinh thự của người Bukovina và Giám mục đô thành Dalmatian

Dinh thự của người Bukovina và Giám mục đô thành Dalmatian ở Chernivtsi, Ukraina được xây dựng từ những năm 1864-1882 theo thiết kế của kiến trúc sư người Séc Josef Hlávka. Hiện nay, dinh thự là một phần của Đại học Chernivtsi, được công nhận là Di sản thế giới của UNESCO vào năm 2011.

Giuse Maria Trịnh Như Khuê

Giuse Maria Trịnh Như Khuê (1898–1978) là một Hồng y thuộc Giáo hội Công giáo Rôma và là Hồng y tiên khởi của Việt Nam. Khẩu hiệu Giám mục của ông là Hãy theo Thầy.Trịnh Như Khuê sinh tại tỉnh Hà Nam trong một gia đình có thân phụ dạy chữ Hán. Từ nhỏ ông đã có chí hướng tu trì, sau khoảng thời gian dài tu học, năm 1933, ông được phong chức linh mục. Sau khi trở thành linh mục, ông lần lượt giữ nhiều vai trò khác nhau như linh mục phó xứ Khoan Vĩ, Giáo sư Tiểu chủng viện Hoàng Nguyên, phó xứ rồi chính xứ Hàm Long.

Tháng 4 năm 1950, Tòa Thánh Vatican bổ nhiệm linh mục Giuse Maria Trịnh Như Khuê làm Đại diện Tông Tòa Hạt Đại diện Tông Tòa Hà Nội (địa phận Hà Nội). Lễ tấn phong Giám mục cho Tân Giám mục được tổ chức vào ngày 15 tháng 8 cùng năm tại Nhà thờ Lớn Hà Nội. Do có lòng sùng kính đặc biệt Đức Bà Maria, ông ghép thêm tên thánh của mình trở thành Giuse Maria.

Năm 1960, cùng với sự thành lập hàng giáo phẩm Việt Nam, Trịnh Như Khuê trở thành Tổng Giám mục Tiên khởi của Tổng giáo phận Hà Nội. Chưa đầy 3 năm sau, ngày 2 tháng 6 năm 1963, ông bất ngờ phong chức Tổng Giám mục phó với quyền kế vị cho linh mục Giuse Maria Trịnh Văn Căn.

Cuối tháng 4 năm 1976, Giáo hoàng Phaolô VI tuyên bố vinh thăng Tổng Giám mục Trịnh Như Khuê là Hồng y In pectore (tức "trong ngực/trái tim" trong tiếng Latinh) và công bố vào ngày 24 tháng 5 cùng năm. Trịnh Như Khuê là Hồng y người Việt đầu tiên, mang tước vị Hồng y Linh mục nhà thờ San Francesco di Paola ai Monti. Sau khi sang Vatican lần lượt bầu hai tân Giáo hoàng, ngày 27 tháng 11 năm 1978, ông đột ngột qua đời vì nhồi máu cơ tim.

Giuse Maria Trịnh Văn Căn

Giuse Maria Trịnh Văn Căn (19 tháng 3 năm 1921 – 18 tháng 5 năm 1990) là một hồng y và dịch giả Công giáo người Việt Nam. Ông cũng là Tổng giám mục của Tổng giáo phận Hà Nội và Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam. Với vai trò lãnh đạo chính của giáo hội Công giáo miền Bắc Việt Nam sau năm 1975, Trịnh Văn Căn được xem là người đã giúp giáo dân miền Bắc vượt qua những khó khăn trong việc sống đạo giữa những đổi thay của đất nước và khi quan hệ giữa chính quyền Việt Nam và Tòa Thánh Vatican có những biến động lớn.

Giuse Maria Trịnh Văn Căn xuất thân trong một gia đình Công giáo tại Hà Nam. Năm 1949, ông được thụ phong linh mục rồi thi hành mục vụ tại Nhà thờ chính tòa Hà Nội với vai trò là linh mục chánh xứ, kiêm đặc trách giáo xứ Thịnh Liệt. Ông được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Tổng giám mục Phó Hà Nội vào năm 1963. Ông cùng thi hành mục vụ với Tổng Giám mục Giuse Maria Trịnh Như Khuê cho đến năm 1978, khi Tổng Giám mục Khuê đột ngột qua đời và ông đương nhiên kế vị trở thành Tổng giám mục của Tổng giáo phận Hà Nội theo Giáo luật. Năm 1979, Giáo hoàng Gioan Phaolô II vinh thăng ông làm hồng y. Ông trở thành vị hồng y thứ hai của Giáo hội Công giáo Việt Nam. Hồng y Trịnh Văn Căn đã đảm nhiệm cương vị này suốt 11 năm cho đến khi ông qua đời.Sau khi Việt Nam thống nhất vào năm 1975, ông cùng các giám mục Việt Nam thành lập Hội đồng Giám mục Việt Nam thống nhất với sự đồng ý của chính phủ Việt Nam. Giám mục Trịnh Văn Căn đã đảm nhiệm cương vị Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam từ năm 1980 đến 1990. Trong thập niên 80 của thế kỷ XX, ông là người đã đóng góp nhiều công sức trong việc xin tuyên thánh cho 117 vị tử đạo Công giáo người Việt, các nỗ lực của ông đã được toại nguyện khi Giáo hoàng Gioan Phaolô II tuyên thánh cho họ vào năm 1988.

Ngoài các công việc mục vụ, Trịnh Văn Căn còn là một dịch giả Công giáo với nhiều bản dịch Kinh Thánh ra tiếng Việt. Ông đã sưu tầm, chỉnh lý, bổ sung, hệ thống hóa lại và phổ biến những bài vãn cổ dâng hoa Công giáo. Giám mục Căn cũng ghi nhạc cho những bài văn quý Công giáo từng bị tản mác, mai một và dịch các bài hát tiếng Latinh sang tiếng Việt.

Ngày 18 tháng 5 năm 1990, ông qua đời vì bệnh huyết áp và nhồi máu cơ tim. Mộ phần của Hồng y Trịnh Văn Căn được chôn cất ở gian trái Nhà thờ chính tòa Hà Nội.

Giuse Nguyễn Chí Linh

Giuse Nguyễn Chí Linh (sinh 22 tháng 11 năm 1949) là một giám mục người Việt Nam của Giáo hội Công giáo Rôma, hiện giữ chức tổng giám mục đô thành Tổng giáo phận Huế và đương kim chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam, nhiệm kỳ 2016 - 2019. Trước khi trở thành Tổng giám mục Huế, ông cũng từng giữ các chức vụ khác như: giám mục chính tòa, Giám quản Tông Tòa Giáo phận Thanh Hóa, Giám quản Tông Tòa Giáo phận Phát Diệm.

Ngoài các công việc mục vụ thuần túy, Giuse Nguyễn Chí Linh cũng thường xuyên cùng đồng hành với các đoàn thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam hỗ trợ, động viên các nạn nhân bão lũ ở nhiều địa bàn khác nhau. Trong thời kỳ cai quản giáo phận Thanh Hóa, ông triển khai các chương trình hướng đến lợi ích cộng đồng như: thành lập Hội Thầy thuốc Samaritano với mục đích hỗ trợ bệnh nhân, người khuyết tật và người đau khổ trong giáo phận; cấp học bổng học sinh khó khăn, một số phòng phát thuốc miễn phí, thành lập dự án hỗ trợ vốn cho phụ nữ nghèo kiếm thu nhập và một vài kế hoạch phát triển nông nghiệp như làm trạm bơm, làm đường bê tông ở các làng quê. Ông cũng thường xuyên kêu gọi mọi người hỗ trợ các nạn nhân bão lũ, những người khó khăn và đến thăm các trại phong, trại khuyết tật trên địa bàn giáo phận Thanh Hóa. Ngoài ra, Nguyễn Chí Linh cũng bày tỏ sự đồng cảm với người nhiễm HIV/AIDS và bày tỏ quan điểm về bảo vệ sự sống bào thai.

Trong Hội đồng Giám mục Việt Nam, trước khi trở thành Chủ tịch trong nhiệm kỳ 2016 – 2019, Nguyễn Chí Linh từng đảm trách một số vai trò như chủ tịch Ủy ban Giáo dân (2004 – 2007), Phó Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam (2010 – 2013), Chủ tịch Ủy ban Mục vụ Di dân trực thuộc Hội đồng Giám mục (2013 – 2016).

Giuse Vũ Văn Thiên

Giuse Vũ Văn Thiên (sinh ngày 26 tháng 10 năm 1960) là một giám mục Công giáo người Việt. Ông hiện là tổng giám mục của Tổng giáo phận Hà Nội, kiêm giám quản Tông Tòa của Giáo phận Hải Phòng (trước đó, ông là giám mục chính tòa của giáo phận này từ 2003 đến 2018). Trên cương vị tổng giám mục Hà Nội, ông cũng là một tổng giám mục đô thành, trưởng Giáo tỉnh Hà Nội.

Tổng giám mục Vũ Văn Thiên sinh tại Hải Dương, từ nhỏ gia đình đã có ước muốn cho ông theo con đường tu trì. Vì thế, cậu bé Thiên lần lượt được gia đình cho đi làm giúp lễ và sinh sống tại nhà xứ. Trải qua khoảng thời gian dài tu học, năm 1988, Giuse Vũ Văn Thiên được truyền chức linh mục, trở thành thành viên linh mục đoàn Giáo phận Hải Phòng. Trong thời kỳ làm linh mục, ông được cử đi du học, sau đó trở về làm giáo sư Đại chủng viện.

Năm 2002, Tòa Thánh chọn linh mục trẻ tuổi Giuse Vũ Văn Thiên làm Giám mục Hải Phòng, giám mục đầu tiên xuất thân từ giáo phận này. Lễ tấn phong sau đó diễn ra vào ngày 2 tháng 1 năm 2003. Trong thời kỳ đảm nhận vai trò Giám mục Hải Phòng, giám mục Thiên đã có những đóng góp vào quá trình phát triển của Giáo phận, đặc biệt là các công trình tôn giáo.

Năm 2018, Tòa Thánh bổ nhiệm Giám mục Giuse Vũ Văn Thiên làm Tổng giám mục đô thành Hà Nội và Giám quản Tông Tòa Hải Phòng.

Trong Hội đồng Giám mục Việt Nam, ông đang là phó tổng thư ký (nhiệm kỳ 2016 – 2019). Trước đây, ông còn giữ chức chủ tịch Ủy ban Mục vụ Giới trẻ trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam (nhiệm kỳ 2013 – 2016).

Giám mục chính tòa

Giám mục chính tòa, trong một số nhánh Kitô giáo, là chức giám mục (hoặc tổng giám mục) lãnh đạo mục vụ của một giáo phận (hoặc tổng giáo phận) với những quyền và nghĩa vụ cụ thể và thực tế với "tòa" của mình. Thuật ngữ "giám mục chính tòa" nhằm phân biệt với "giám mục hiệu tòa", là những giám mục chỉ có "tòa" tượng trưng. Trong mối liên hệ với các giám mục khác, giám mục chính tòa có thể đảm nhận chức giám mục đô thành hoặc trưởng giáo tỉnh (nếu ông là một tổng giám mục), và cũng có thể giữ nhiều vị trí khác nhau như hồng y hoặc thượng phụ (dành cho các giáo phận đặc biệt).

Giáo tỉnh

Giáo tỉnh (tiếng Latinh: provincia ecclesiastica) là một cấp bậc quản trị trong một số giáo hội Kitô giáo, bao gồm các giáo phận, tổng giáo phận liền kề có mối quan hệ gần gũi về địa lý, lịch sử và văn hóa. Cấu trúc giáo tỉnh ban đầu được định hình tại miền Đông Đế quốc La Mã. Các thành phố trọng yếu của mỗi khu vực (như Antiochia tại Syria, Ephesus tại Tiểu Á, Alexandria tại Ai Cập, Roma tại Italia v.v) là những nơi đầu tiên được truyền giảng Phúc Âm và từ các trung tâm này mà các cộng đoàn Kitô giáo khác được thành lập quanh đó.Vào thời sơ khởi và trong các Giáo hội ngày nay như Công giáo Rôma, Chính thống giáo Đông phương và Anh giáo, giáo tỉnh nhìn chung được đứng đầu bởi một giám mục đô thành, mặc dù quyền hạn của họ có khác biệt tùy từng truyền thống.

Justin Francis Rigali

Justin Francis Rigali (sinh 1935) là một Hồng y người Hoa Kỳ của Giáo hội Công giáo Rôma. Ông hiện đảm nhiệm vai trò Hồng y Đẳng Linh mục Nhà thờ S. Prisca. Ông từng đảm nhận vai trò Tổng giám mục đô thành Tổng giáo phận Philadelphia từ năm 2003 cho đến khi hồi hưu tám năm sau đó, năm 2011.Vốn xuất thân từ Giáo triều Rôma, ông từng đảm nhận nhiều vai trò và chức vụ khác nhau trước khi trở về đảm nhiệm các giáo phận tại Hoa Kỳ. Cụ thể, ông từng đảm nhận các chức danh: Chủ tịch Giáo hoàng Học viện về Nghệ thuật (1985 - 1989), Tổng Thư ký Thánh bộ Giám mục (1989 - 1994), Tổng Thư ký Hồng y Đoàn (1990 - 1994). Sau đó, ông trở về quê hương Hoa Kỳ và đảm nhiệm các chức danh: Tổng giám mục đô thành Tổng giáo phận Saint Louis (1994 - 2003), Tổng giám mục đô thành Tổng giáo phận Philadelphia (2003 - 2011) và Giám quản Tông Tòa Giáo phận Scranton (2009 - 2010). Ông được vinh thăng Hồng y năm 2003 bởi Giáo hoàng Gioan Phaolô II.

Lluís Martínez Sistach

Lluís Martínez Sistach (Sinh 1937) là một Hồng y người Tây Ban Nha của Giáo hội Công giáo Rôma. Ông hiện đảm nhận vai trò Hồng y Đẳng Linh mục Nhà thờ S. Sebastiano alle Catacombe. Ông từng đảm nhận vai trò Tổng giám mục đô thành Tổng giáo phận Barcelona trong suốt 11 năm, từ năm 2004 đến khi hồi hưu năm 2015.Với vai trò là lãnh đạo giáo hội địa phương, ông từng đảm trách nhiều vai trò tại Tây Ban Nha trước khi trở thành Tổng giám mục đô thành Barcelona như: Giám mục Phụ tá Tổng giáo phận Barcelona (1987 - 1991), Giám mục chính tòa Giáo phận Tortosa (1991 - 1997), Tổng giám mục đô thành Tổng giáo phận Tarragona (1997 - 2004). Ông được vinh thăng Hồng y ngày 24 tháng 11 năm 2007, bởi Giáo hoàng Biển Đức XVI.

Lôrensô Chu Văn Minh

Lôrensô Chu Văn Minh (sinh 27 tháng 12 năm 1943) là một giám mục của Giáo hội Công giáo Rôma. Ông từng đảm nhiệm vai trò giám mục phụ tá của Tổng giáo phận Hà Nội (2008 - 2019) và Giám đốc Đại chủng viện Thánh Giuse Hà Nội (2005 - 2019).

Sinh trưởng trong một gia đình có thân phụ làm lương y nổi tiếng tại Nam Định, giám mục Chu Văn Minh theo theo học tại Tiểu chủng viện từ nhỏ, tuy ban đầu không có ý định tu học. Theo tu học cách âm thầm trong năm tháng chiến tranh song song bằng kiếm sống bằng nghề cắt tóc trong hơn 20 năm, chủng sinh Minh quyết không từ bỏ con đường tu trì.

Năm 1992, chính sách tôn giáo của Việt Nam trở nên thông thoáng hơn, chủng sinh Minh, vốn đã hoàn thành chương trình tu học năm 1967, được đưa về Đại chủng viện Hà Nội học tập thêm 2 năm trước khi được truyền chức linh mục bởi Tổng giám mục đô thành Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng vào năm 1994. Linh mục Minh du học Rôma trong 5 năm và đâu văn bằng Tiến sĩ thần học do Đại học Giáo hoàng Urbaniana, Rôma (Italia) cấp. Về nước, ông tham gia chủng viện, thăng tiến dần lên chức Phó Giám đốc năm 2003 rồi Giám đốc năm 2005.

Dưới thời kỳ Tổng giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt, linh mục Chu Văn Minh được bổ nhiệm làm Giám mục Phụ tá Hà Nội, vào ngày 15 tháng 10 năm 2008. Lễ tấn phong cho Tân giám mục được cử hành sau đó vào ngày 5 tháng 12 cùng năm.

Nicôla Huỳnh Văn Nghi

Nicôla Huỳnh Văn Nghi (1927 - 2015) là một Giám mục Công giáo người Việt, từng giữ chức Giám mục phụ tá Tổng giáo phận Sài Gòn, rồi Giám mục chính tòa Giáo phận Phan Thiết và Giám quản Tông Tòa Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh. Trong Hội đồng Giám mục Việt Nam, ông đã đảm nhiệm các chức vụ: Phó Tổng thư ký Giáo tỉnh Sài Gòn nhiệm kỳ IV và V (1989 - 1995), Phó Chủ tịch I, nhiệm kỳ VI và VII (1995–2001) và Thủ quỹ, nhiệm kỳ VII (1998–2001).Ông thụ phong linh mục năm 1953 rồi tấn phong giám mục năm 1974 với chức vụ ban đầu là Giám mục phụ tá Tổng giáo phận Sài Gòn. Năm 1975, ông được bổ nhiệm làm Giám mục Giám quản Giáo phận Phan Thiết vừa thành lập để đón Giám mục Tiên khởi Phaolô Nguyễn Văn Hòa. Tuy nhiên, vì một số lý do, Giám mục Hòa không đến được đây và Tòa Thánh bổ nhiệm làm Giám mục chính tòa Giáo phận Nha Trang, Giám mục Huỳnh Văn Nghi làm Giám quản tại đây đến năm 1979 thì được bổ nhiệm chính thức làm Giám mục chính tòa Giáo phận Phan Thiết, do Giám mục Hòa chưa cai quản giáo phận nên có thể coi ông là Giám mục Tiên khởi giáo phận này.

Trong lần gặp gỡ giữa Vatican và chính phủ Việt Nam năm 1992 và 1993, Tòa Thánh ngỏ ý chọn ông làm Tổng giám mục Phó Tổng giám mục Thành phố Hồ Chí Minh nhưng sự việc đi kèm là việc Tổng giám mục Phó Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận ra Hà Nội không được chính phủ đồng ý và việc bổ nhiệm này không được thực hiện. Tuy vậy tháng 8 năm 1993, Tòa Thánh lên tiếng bổ nhiệm Giám mục Huỳnh Văn Nghi làm Giám quản Tông Tòa Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh (tên cũ là Sài Gòn) và chính quyền Việt Nam đã hết sức phản đối việc này, ngăn cản ông thi hành nhiệm vụ tại đây. Tuy vậy, ông vẫn thực hiện nhiệm vụ Giám quản Tổng giáo phận, và kết thúc nhiệm vụ của mình khi đón Tân Tổng giám mục Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn, nguyên là Giám mục Phó Giáo phận Mỹ Tho đến nhậm chức tại Nhà thờ chính tòa Đức Bà Sài Gòn.

Năm 2005, ông chính thức nghỉ hưu và qua đời ngày 6 tháng 5 năm 2015, thọ 88 tuổi.

Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang

Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang (8 tháng 1 năm 1931 – 5 tháng 10 năm 2017) là một giám mục của Giáo hội Công giáo Rôma tại Việt Nam. Ông nguyên là Giám mục chính tòa Giáo phận Thái Bình, đảm nhận chức vụ này trong gần 20 năm, từ năm 1990 đến năm 2009. Khẩu hiệu giám mục của ông là "Chân lý trong tình thương".Ngoài việc quan tâm đến đời sống tôn giáo, giám mục Sang còn viết, xuất bản nhiều đầu sách khác nhau về văn thơ với bút danh Bạch Lạp, Tông Đồ, Người Quan Sát. Ông cũng từng được ngỏ ý mời vào hội nhà văn.

Giám mục Nguyễn Văn Sang quê ở Hoài Đức, ngoại thành Hà Nội, có chí hướng tu trì từ nhỏ. Sau quá trình tu học, năm 1954, chủng sinh Sang cùng với Đại chủng viện di cư vào Nam, sau đó từ bỏ ý định, trở lại Hà Nội tu học và thụ phong linh mục năm 1958. Sau quá trình công tác mục vụ, năm 1979, linh mục Sang được bổ nhiệm làm linh mục chính xứ Nhà thờ Lớn Hà Nội, Tổng quản miền Hà Nội.

Năm 1981, Tòa Thánh chọn linh mục Nguyễn Văn Sang làm Giám mục Phụ tá Hà Nội. Sau cái chết của Hồng y, Tổng giám mục Hà Nội Giuse Maria Trịnh Văn Căn, giám mục Nguyễn Văn Sang được bổ nhiệm làm Giám quản rồi Giám mục chính tòa Giáo phận Thái Bình năm 1990. Giám mục Sang có cách tiếp cận và đề nghị khéo léo với các cấp chính quyền để đề nghị các nhu cầu của Giáo phận. Ngoài công tác mục vụ, ông cũng thường làm các công tác từ thiện. Ông rời khỏi chức vụ giám mục Thái Bình năm 2009.

Tại Hội đồng Giám mục Việt Nam, Nguyễn Văn Sang từng giữ nhiều chức vụ quan trọng khác nhau: Tổng Thư ký (1983 – 1989), Phó Chủ tịch (1989 – 1995), Chủ tịch Uỷ ban Giáo dân (1995 – 2004).Năm 2004, Chủ tịch nước trao tặng Giám mục Nguyễn Văn Sang Huân chương Đại đoàn kết dân tộc. Sau khi nghỉ hưu, Nguyễn Văn Sang được mời trở thành thành viên Mặt trận Tổ Quốc, Quốc hội nhưng ông quyết định từ chối.

Philípphê Nguyễn Kim Điền

Philipphê Nguyễn Kim Điền (1921 - 1988) là một Giám mục của Giáo hội Công giáo Rôma tại Việt Nam. Ông nguyên là Giám mục chính tòa Tiên khởi Giáo phận Cần Thơ và nguyên Tổng giám mục đô thành Tổng Giáo phận Huế. Khẩu hiệu Giám mục của ông là "Nên mọi sự cho mọi người".Tổng giám mục Nguyễn Kim Điền sinh tại Trà Vinh và lớn lên tại Sài Gòn. Sau khi trở thành linh mục một khoảng thời gian ngắn, ông trở thành giám đốc chủng viện tại Sài Gòn nhưng quyết định từ bỏ để gia nhập dòng Tiểu Đệ, lấy đời sống khó nghèo làm mục tiêu. Trong thời gian là linh mục dòng Tiểu Đệ, ông lao động, mưu sinh bằng các công việc như khuân vác, đạp xích lô đồng thời thực hiện công việc truyền giáo. Năm 1960, linh mục Điền được chọn làm Giám mục Cần Thơ rồi thăng Tổng giám mục, Giám quản Tông Tòa Tổng giáo phận Huế vào năm 1964 trước khi chính thức trở thành Tổng giám mục đô thành Huế bốn năm sau đó.

Tổng giám mục Điền có cách xử lí tế nhị với chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, ông quyết định phân tách Giáo hội khỏi sự ảnh hưởng của chính quyền. Sau chiến tranh Việt Nam, ông nhiều lần lên tiếng bàn luận về các quyền tự do, không những trong tôn giáo và còn về nhiều vấn đề khác. Chính quyền mới đánh giá tổng giám mục Điền là gián điệp của thế lực ngoại bang cài cắm tại Việt Nam, phần tử chống Cộng quyết liệt. Phía Công giáo, giáo hoàng Gioan Phaolô II gọi ông là vị tổng giám mục anh dũng, báo chí Tây phương gọi ông là giám mục kiên cường.Nguyễn Kim Điền qua đời ngày 8 tháng 6 năm 1988 tại bệnh viện Chợ Rẫy, Thành phố Hồ Chí Minh. Cái chết đột ngột của giám mục Điền khiến nhiều nguồn tin cho rằng ông đã bị đầu độc. Hiện nay, hàng ngày vẫn có giáo dân đến viếng, cầu nguyện trước mộ phần cố tổng giám mục Điền. Đối với đa số giáo dân Huế, ông là một vị thánh tử đạo.Tổng giám mục Nguyễn Kim Điền cũng chính là tác giả lời dịch tiếng Việt của Kinh Hòa Bình, sau này được linh mục nhạc sĩ Kim Long phổ nhạc năm 1960. Ngoài việc quản lý các giáo phận, ông từng đảm trách Caritas Việt Nam (1968 - 1972) và Tổng thư ký Hội đồng Giám mục Miền Nam Việt Nam. Sau khi Việt Nam thống nhất, ông đảm nhận vai trò phó chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam trong 3 nhiệm kỳ đầu tiên, từ năm 1980 đến năm 1989.

Phêrô Nguyễn Văn Nhơn

Phêrô Nguyễn Văn Nhơn (sinh ngày 1 tháng 4 năm 1938) là một Hồng y, giám mục Công giáo người Việt. Ông từng đảm nhiệm vai trò Tổng giám mục Tổng Giáo phận Hà Nội, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam. Khẩu hiệu giám mục là: "Ngài phải lớn lên" (Ga 3,30). Ông có thể nói được các thứ tiếng như: tiếng Anh, tiếng Pháp và Latinh bên cạnh tiếng mẹ đẻ là tiếng Việt.Hồng y Nhơn sinh ngày 1 tháng 4 năm 1938 tại Đà Lạt trong một gia đình có truyền thống Công giáo lâu đời. Lần lượt, cậu bé Nhơn đi theo con đường tu trì trong suốt khoảng gần 20 năm, từ năm 1949 với việc gia nhập tiểu chủng viện đến khi tốt nghiệp Giáo hoàng Học viện Đà Lạt năm 1968.

Ngày 21 tháng 12 năm 1967, Phó tế Nhơn được thụ phong linh mục tại Đà Lạt. Ông lần lượt giữ các chức vụ Giám đốc Ðại chủng viện Minh Hòa Đà Lạt, linh mục Chánh xứ Nhà thờ chính tòa Đà Lạt rồi trở thành linh mục Tổng Đại diện giáo phận này.

Ngày 11 tháng 10 năm 1991, ông được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Giám mục phó Giáo phận Đà Lạt, được tấn phong ngày 3 tháng 12 cùng năm. Từ đó đến năm 1994, ông đảm nhiệm vai trò Giám mục phó Giáo phận Đà Lạt, trước khi kế nhiệm chức giám mục chính tòa Giáo phận Đà Lạt từ 23 tháng 3 năm 1994.

Ngày 22 tháng 4 năm 2010, Tòa Thánh bổ nhiệm Giám mục Nguyễn Văn Nhơn làm Tổng giám mục Phó Tổng giáo phận Hà Nội với quyền kế vị làm giáo dân có nhiều bất mãn khi giáo phận này đang có sự căng thẳng kể từ cuối năm 2007 với một chuỗi sự kiện do Tổng giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt có liên quan. Chỉ ít lâu sau đó, ngày 7 tháng 5, ông chính thức nhậm chức Tổng giám mục Phó Hà Nội với một buỗi lễ mà giáo dân ủng hộ Tổng giám mục Kiệt gây náo động bên ngoài nhà thờ. Một tuần sau đó ngày 13 tháng 5, Toà Thánh bất ngờ loan tin chấp thuận đơn từ chức của Tổng giám mục Kiệt với lý do sức khoẻ, ông đương nhiên lên kế vị, trở thành Tổng giám mục chính tòa Hà Nội, với thời gian làm Tổng giám mục Phó ngắn ngủi ba tuần, thực tế chỉ kéo dài chưa đầy một tuần lễ (7 tháng 5 đến ngày 13 tháng 5).

Ngày 4 tháng 1 năm 2015, Tổng giám mục Nguyễn Văn Nhơn được Giáo hoàng Phanxicô loan báo vinh thăng tước vị Hồng y, các nghi thức nhận tước vị được cử hành cách chính thức sau đó vào ngày 14 tháng 2. Sau đó, ngày 13 tháng 4 cùng năm, tân hồng y được bổ nhiệm làm thành viên của Bộ Truyền giáo và Hội đồng Toà thánh Công lý - Hòa Bình.

Ngày 1 tháng 4 năm 2018, Hồng y Nhơn tròn 80 tuổi, qua đó mất đi quyền bầu chọn giáo hoàng trong Mật nghị Hồng y. Ngày 17 tháng 11 năm 2018, Tòa Thánh chấp thuận đơn xin từ nhiệm của ông vì lý do tuổi tác, đồng thời chọn Giám mục Giáo phận Hải Phòng Giuse Vũ Văn Thiên làm Tổng giám mục Hà Nội.

Tổng giám mục

Tổng giám mục (tiếng Hy Lạp ἀρχι - tổng, và ἐπίσκοπος - Giám mục) là một giám mục có danh hiệu và vị thế cao hơn xét về mặt tổ chức, nhưng họ không cao hơn các giám mục khác xét về phẩm trật tấn phong. Tổng giám mục thường là những giám mục chính tòa của một tổng giáo phận có vị thế quan trọng trong lịch sử giáo hội địa phương.

Trong Giáo hội Công giáo Rôma, chức danh tổng giám mục chỉ có tính danh dự và không hành xử thẩm quyền đặc biệt nào trên các giám mục khác, mặc dù hầu hết các tổng giám mục là giám mục miền hoặc giám mục giáo đô (metropolitan bishop); ngoài ra, danh hiệu tổng giám mục còn dành cho những giám mục giữ chức vụ ngoại giao cho Vatican như sứ thần Tòa Thánh hoặc khâm sứ Tòa Thánh. Nếu tổng giám mục là vị trưởng giáo tỉnh (giám mục đô thành) thì được thêm đặc quyền đeo dây pallium.

Ngược lại, trong Cộng đồng Anh giáo, tổng giám mục là một chức vụ có thẩm quyền.

Đế quốc Đông La Mã

Đế quốc Đông La Mã (tiếng Hy Lạp cổ đại: Βασιλεία Ῥωμαίων, phiên âm: Basileia Rhōmaiōn, tiếng Latinh: Imperium Romanum tạm dịch là "Đế quốc La Mã") còn được gọi Đế quốc Byzantium, Đế quốc Byzantine, Đế quốc Byzance hay Đế quốc Hy Lạp là một đế quốc tồn tại từ năm 330 đến năm 1453, đóng đô ở Constantinopolis. Trước khi thành lập, phạm vi của Đế quốc Đông La Mã trước đây nằm trong lãnh thổ của Đế quốc La Mã. Năm 330, khi Constantinus I, con của hoàng đế Constantius, nắm quyền trị vì và dời đô từ thành La Mã về Constantinopolis, được xem là thời điểm thành lập đế quốc Đông La Mã. Khi ông qua đời, đế quốc bị các con trai ông phân chia thành Đông và Tây. Sau khi vị hoàng đế cuối cùng của đế quốc phía tây là Romulus Augustus bị một thủ lĩnh người Giéc-man hạ bệ, đế quốc Tây La Mã sụp đổ. Nhưng đế quốc phía đông vẫn tiếp tục phát triển, trở thành một cường quốc có vai trò quan trọng ở châu Âu và được xem là một trong những trung tâm đạo Ki-tô lúc bấy giờ.

Không thấy một tư liệu chính xác nào về sự khởi đầu của đế quốc Đông La Mã. Một vài ý kiến cho rằng đế quốc này được thành lập dưới thời cai trị của Hoàng đế Diocletianus (284–305), người đã chia đế quốc La Mã thành hai nửa đông và tây. Một vài người lại nói rằng đế quốc bắt đầu vào thời của Constantinus I, vị hoàng đế đầu tiên đóng đô tại Constantinopolis. Những ý kiến khẳng định vào thời trị vì của Hoàng đế Theodosius I (379–395) hoặc theo sau cái chết của ông vào năm 395. Một vài người cho vào thời điểm xa hơn vào năm 476 khi đế quốc phía tây sụp đổ. Nhưng hiện nay tư liệu khá chính xác là vào năm 330, khi Constantinus I thành lập tân đô Constantinopolis dưới sự phát triển vượt bậc của văn hóa Ki-tô giáo và thời kỳ văn hóa chịu ảnh hưởng Hy Lạp (quá trình Hy Lạp hóa văn hóa). Đế quốc Đông La Mã đã tồn tại hơn một ngàn năm, từ thế kỷ thứ IV cho đến năm 1453. Trong thời gian tồn tại của nó, Đông La Mã vẫn là một trong những cường quốc kinh tế, văn hóa, và quân sự lớn mạnh nhất ở châu Âu, bất chấp những thất bại và mất mát lãnh thổ, đặc biệt là trong cuộc Chiến tranh La Mã-Ba Tư và Chiến tranh Ả Rập-Đông La Mã. Đế quốc sau đó đã phục hưng dưới triều đại Macedonia, một lần nữa Đông La Mã vươn lên thành liệt cường hàng đầu của vùng Đông Địa Trung Hải vào cuối thế kỷ thứ X, đối địch với Nhà Fatima của người Hồi giáo.Tuy nhiên, sau năm 1071, nhiều lãnh đổ ở Tiểu Á - trung tâm của đế quốc, bị người Thổ Nhĩ Kỳ Seljuk chiếm đoạt. Mặc dù Vương triều nhà Komnenos đã giành lại một số đất đai và hưng thịnh lại Đế quốc trong một thời gian ngắn trong thế kỷ thứ XII, sau khi Hoàng đế Andronikos I Komnenos qua đời và Vương triều Komnennos cáo chung ở cuối thế kỷ thứ XII, một lần nữa Đế quốc lâm vào suy vong. Đế quốc Đông La Mã bị cuộc Thập tự chinh lần thứ tư giáng một đòn chí mạng vào năm 1204, khiến Đế quốc bị giải thể và các lãnh thổ La Tinh và Hy Lạp thuộc Đông La Mã bị chia cắt.

Vào năm 1261, kinh đô Constantinopolis được giải phóng và Đế quốc Đông La Mã trung hưng, thế nhưng dưới triều các hoàng đế nhà Palaiologos, Đông La Mã chỉ còn là một trong nhiều quốc gia nhỏ đối địch nhau ở khu vực, trong suốt 200 năm tồn tại cuối cùng của nó. Tuy nhiên, trong giai đoạn này, nền văn hóa của Đế quốc sinh sôi nảy nở. Các cuộc biến loạn cung đình xảy ra liên tiếp trong thế kỷ XIV tiếp tục hủy hoại sự thịnh vượng của Đế quốc Đông La Mã, trong khi các lãnh thổ còn lại của Đông La Mã lần lượt bị lấy mất trong cuộc Chiến tranh Đông La Mã-Ottoman, mà đỉnh điểm là sự thất thủ của Constantinopolis và các vùng lãnh thổ còn lại bị Đế quốc Ottoman chinh phục vào thế kỷ thứ XV.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.