Giám mục

Giám mục là chức sắc được tấn phong trong một số giáo hội thuộc cộng đồng Kitô giáo, nắm giữ các vị trí quan trọng trong giáo hội.[1] Trong Giáo hội Công giáo Rôma, Giám mục là một trong ba chức thánh cơ bản về phẩm trật: Giám mục, linh mụcphó tế. Theo đó, chức Giám mục là cao nhất và tượng trưng cho các tông đồ, trong đó giáo hoàng là tông đồ trưởng, tượng trưng cho Thánh Phêrô. Giám mục do Giáo hoàng chọn và chỉ định qua sự tư vấn của Thánh bộ Giám mục hoặc Thánh bộ Truyền giáo. Giám mục được các quyền: tấn phong chức Giám mục theo sự bổ nhiệm của Giáo hoàng, truyền chức linh mụcphó tế, chấp nhận lời khấn dòng của các tu sĩ, đồng thời có quyền ban tất cả bí tích cho giáo dân. Các Giám mục cũng là những người trực tiếp cùng với Giáo hoàng chia sẻ quyền lực của giáo hội trên toàn cầu để quản trị Giáo hội Công giáo Rôma.

Từ nguyên

Tương đương của từ "Giám mục" trong các ngôn ngữ Tây phương có nguồn gốc từ episkopos (επισκοπος) của tiếng Hy Lạp, có nghĩa là người cai quản, người chăm sóc, người canh giữ hoặc quản đốc. Trong tiếng Anh, những từ episcopacy, episcopateepiscopal đều bắt nguồn từ episkopos. Trong tiếng Việt, từ Giám mục cũng có nghĩa tương tự: "giám" nghĩa là trông chừng, "mục" nghĩa là chăn dắt.

Giám mục trong Tân Ước

Từ episkopos xuất hiện trong Tân Ước năm lần:

Không thể tìm thấy trong ký thuật của các sách phúc âm sự uỷ nhiệm của Chúa Giê-xu cho các Giám mục (vì thời đó giáo hội còn quá nhỏ, chưa cần thiết lập ra chức vụ này), nhưng chức vụ này được hình thành do nhu cầu của hội thánh đang tăng trưởng mạnh suốt trong thế kỷ thứ nhất và thế kỷ thứ hai. Những phần khác nhau của Tân Ước đề cập đến chức vụ Giám mục (episkopoi) như là sự miêu tả những chuẩn mực dành cho một chức vụ đã có sẵn, có thể thấy những chuẩn mực này (đặc biệt trong Thư của Titus) tương đồng với các tiêu chí dành cho chức vụ trưởng lão (πρεσβυτερος; tiếng Anh: presbyter), hoặc linh mục (priest). Thư gởi Timothy có nhắc đến chức vụ chấp sự (διακονοι; tiếng Anh: deacon) theo gợi ý đó là chức vụ khác với Giám mục và ở vị trí thấp hơn, nhưng cũng phải đáp ứng những chuẩn mực tương tự.

Trong sách Công vụ các Sứ đồ, Giám mục được nhắc đến như là người chăn bầy, hình ảnh này vẫn được sử dụng phổ biến cho đến ngày nay. Những phần khác trong Tân Ước miêu tả Giám mục là người chăm sóc, lãnh đạo hoặc quản trị, và dạy dỗ. 1Timothy đòi hỏi Giám mục phải là "chồng của một vợ", vẫn chưa có sự đồng thuận liệu giáo huấn này cấm chế độ đa thê hay yêu cầu Giám mục phải lập gia đình theo chế độ một chồng một vợ. Tuy nhiên, rõ ràng là Tân Ước không cấm đoán Giám mục kết hôn và có con cái. Hình mẫu nổi tiếng nhất cho trường hợp này là Sứ đồ Peter, ông lập gia đình; cũng không tìm thấy trong Tân Ước tập quán sống độc thân dành cho Giám mục.

Điều đáng lưu ý là Peter (Phêrô) miêu tả Chúa Giê-xu là "Đấng Chăn chiên và mục tử của linh hồn" (τον ποιμενα και επισκοπον των ψυχων υμων).

Mặc dù Giám mục là nhà lãnh đạo tinh thần trong hội thánh, nhưng theo lời dạy của Chúa Giê-xu, người đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo cũng được xem là người phục vụ những người khác: "Kẻ nào muốn làm đầu, thì sẽ làm tôi mọi các ngươi", Phúc âm Matthew 20.27, và "còn ai trong các ngươi muốn làm đầu, thì sẽ làm đày tớ mọi người." Phúc âm Mark 10.44.

Các Giáo phụ

Vào đầu thế kỷ thứ nhất, hội thánh khởi sự kiện toàn hệ thống tổ chức. Theo các tác phẩm của các Giáo phụ, đặc biệt là Ignatius thành Antioch, vai trò của Giám mục ngày càng trở nên quan trọng.

  • "Vì vậy chúng ta phải xem các Giám mục như chính Chúa vậy" – Thư Ignatius gởi tín hữu ở Ephesus 6.1
  • "Do đó, như Chúa đã không làm được gì mà không có Cha Ngài, (vì Ngài với Cha Ngài là một), bởi chính Ngài hoặc bởi các Sứ đồ, chúng ta cũng không làm được gì mà không có Giám mục và các trưởng lão" – Thư Ignatius gởi Magnesians 7.1
  • "Hãy vâng phục Giám mục và vâng phục lẫn nhau, như Chúa Giê-xu Cơ Đốc vâng phục Cha [theo phần xác], như các Sứ đồ vâng phục Chúa Cơ Đốc và Chúa Cha, để chúng ta có thể hiệp nhất cả phần xác và tâm linh." Thư Ignatius gởi Magnesians 13.2

Trong giai đoạn này, tại mỗi trung tâm truyền giáo của hội thánh có một Giám mục lãnh đạo với sự hỗ trợ của một hội đồng trưởng lão (nay đã được xác định ở vị trí thấp hơn) và nhiều chấp sự. Khi hội thánh phát triển càng hơn, những nhà thờ mới tại các thành phố quan trọng bắt đầu có Giám mục cho riêng mình, trong khi những nhà thờ ở vùng phụ cận chỉ có các trưởng lão và các chấp sự được gởi đến từ nhà thờ của Giám mục. Như vậy, dần dà theo thời gian, chức vụ Giám mục thay đổi từ vai trò lãnh đạo một nhà thờ trở nên người lãnh đạo nhiều nhà thờ trong một khu vực địa lý.

Đến cuối thế kỷ thứ 2 và đầu thế kỷ thứ 3, Hippolytus thành La Mã miêu tả những đặc điểm khác của chức Giám mục, đó là "Spiritum primatus sacerdotii habere potestatem dimittere peccata": là chức sắc cao cấp với chức năng hiến tế và quyền tha tội.

Giám mục và Nhà nước

Cơ cấu tổ chức hiệu quả của Đế quốc La Mã là hình mẫu cho giáo hội trong thế kỷ thứ 4, nhất là sau khi ban hành Chiếu chỉ Milano (năm 313, chấm dứt bách hại hội thánh). Khi giáo hội ra khỏi bóng tối và trở nên một thực thể được công nhận thì cần có những tài sản như đất đai và hệ thống chức sắc. Năm 391, Theodius I ra lệnh hoàn trả tất cả đất đai của giáo hội đã bị tịch biên trước đó.

Thẩm quyền và mục vụ Giám mục thường được hành xử trong phạm vi một giáo phận, theo mô hình của Đế quốc La Mã thời trị vì của Diocletian. Khi chính quyền La Mã mất quyền lực ở phần phía Tây của đế quốc, giáo hội nắm bắt cơ hội và bắt đầu hành xử thẩm quyền trong các vấn đề hành chính. Điều này có thể nhận thấy rõ ràng trong thời trị vì của hai Giáo hoàng: Giáo hoàng Leo I trong thế kỷ thứ 5, và Giáo hoàng Gregory I trong thế kỷ thứ 6. Cả hai vị này đều hành xử như những chính khách và nhà lãnh đạo công quyền song hành với các mục vụ Cơ Đốc như mục tử, giảng dạy và cai quản hội thánh. Ở phương Đông, chính quyền không bị sụp đổ như ở phương Tây, vì vậy các Giám mục không có nhiều cơ may để thu đoạt quyền lực thế tục như xảy ra ở phương Tây. Dù vậy, vai trò của các Giám mục phương Tây nắm giữ thẩm quyền dân sự, thường được gọi là Giám mục vương quyền (prince bishop), tiếp tục kéo dài suốt thời kỳ Trung Cổ.

Giám mục Vương quyền

Quan trọng hơn hết trong số các Giám mục vương quyền là Giáo hoàng, trị vì vương triều của Nhà nước Giáo hoàng (Papal States) trong cương vị Giám mục thành Rôma. Quyền cai trị lãnh địa này dựa trên sự ban tặng của Constantine (Donation of Constantine). Vẫn chưa có sự đồng thuận về tính xác thực của văn kiện này, vì văn kiện bị cho là giả mạo, được làm ra trong quãng thời gian 750850. Trong thực tế, thẩm quyền này phát triển dần theo thời gian sau sự sụp đổ của chính quyền La Mã và chính quyền Byzantine. Nhà nước Giáo hoàng bị huỷ bỏ khi vua Victor Emmanuel II của Ý chiếm thành La Mã năm 1870 và hoàn tất công cuộc thống nhất nước Ý. Động thái này trở nên nguyên nhân gây ra tình trạng căng thẳng thường xuyên giữa các Giáo hoàng và chính quyền nước Ý. Năm 1929, Giáo hoàng Pius XI đạt được một thoả thuận với chính quyền Phát-xít của Benito Mussolini để có được lãnh thổ Vatican độc lập, sau khi chấp nhận từ bỏ các lãnh thổ khác của Nhà nước Giáo hoàng. Hoà ước Lateran (năm 1929) công nhận vương quyền độc lập của Giáo hoàng, và thẩm quyền ấy được duy trì cho đến ngày nay.

Có ba Giám mục cao cấp phục vụ trong cương vị Tuyển hầu tước (Elector) trong Thánh chế La Mã. Theo chiếu chỉ của Hoàng đế Karl IV của đế quốc La Mã Thần thánh (Golden Bull năm 1356), các tổng Giám mục Mainz, TrierKöln đương nhiên là các tuyển hầu tước thường trực, có quyền tuyển cử hoàng đế của Thánh chế La Mã.

Trong thời kỳ Trung Cổ, các Giám mục thường phục vụ các vua chúa Âu châu trong cương vị tể tướng, người đứng đầu ngành tư pháp, và tuyên uý trưởng. Hầu như tất cả quan chưởng ấn (Lord Chancellor) của triều đình Anh đều do các Giám mục đảm nhiệm cho đến khi Hồng y Thomas Wolsey bị bãi chức bởi vua Henry VIII của Anh. Tương tự, chức vụ Kanclerz (đồng nghĩa với Chancellor trong tiếng Anh) ở Ba Lan luôn luôn được nắm giữ bởi các Giám mục cho đến thế kỷ 16.

Tại Pháp, trước cuộc Cách mạng Pháp, đại diện của giới tăng lữ - trong thực tế là các Giám mục và viện trưởng các tu viện lớn – là một thành phần trong Thượng viện (First Estate) của Quốc hội Pháp (Estates-General) trong chế độ quân chủ chuyên chế, cho đến khi thể chế này bị huỷ bỏ khi bùng nổ cuộc Cách mạng Pháp.

Trong khi đó, các Giám mục lãnh đạo vẫn tiếp tục duy trì vị trí của mình trong Viện Quý tộc của Quốc hội Anh, đại diện cho giáo hội quốc giáo (established church). Trong quá khứ, Giám mục giáo phận Durham, cũng là một Giám mục vương quyền (prince bishop), hành xử thẩm quyền dân sự ở phía bắc của giáo phận - quyền đúc tiền, thu thuế và thành lập quân đội chống lại người Scotland. Các Giám mục, cũng như giới tăng lữ thuộc Giáo hội Chính thống giáo Đông phương, không được phép nắm giữ các chức vụ công quyền, với một vài ngoại lệ khi xảy ra tình trạng hỗn loạn trong chính trường. Một thí dụ được tìm thấy gần đây là trường hợp Tổng Giám mục Makarios III của Síp đã làm Tổng thống Cộng hoà Síp từ năm 1960 đến 1977.

Giám mục trong Nội chiến Anh

William Laud
William Laud, Đức Tổng Giám mục xứ Canterbury thời vua Charles I.

Trong giai đoạn nội chiến, vai trò của các Giám mục - tham gia tích cực vào các vấn đề chính trị và bảo vệ quốc giáo - trở nên một vấn đề gây tranh cãi gay gắt. John Calvin xây dựng học thuyết Trưởng Lão (Presbyterianism), cho rằng trong Tân Ước chức vụ trưởng lão (presbyter) và Giám mục (episkopos) là một; ông cũng bác bỏ quyền kế thừa tông đồ (apostolic succession). John Knox, một môn đồ của Calvin, truyền bá học thuyết Trưởng Lão đến Scotland khi Giáo hội Scotland được thành lập năm 1560. Học thuyết này dành cho tín hữu, thông qua các uỷ ban trưởng lão, tiếng nói quyết định trong việc điều hành giáo hội, trái với việc tín hữu bị cai trị bởi hệ thống tăng lữ.

Học thuyết Trưởng Lão giới thiệu một nền dân chủ sơ khai vào thể chế của giáo hội cùng lúc với cuộc tranh chấp quyền lực giữa Quốc hội và Vương quyền Anh. Một thành phần trong Giáo hội Anh giáo tìm cách huỷ bỏ thể chế Giám mục và tái cấu trúc giáo hội theo thể chế trưởng lão. Luận văn Martin Marprelate, đả kích các chức sắc cao cấp, bác bỏ và chế giễu chức Giám mục đã khiến Nữ hoàng Elizabeth I của Anh và Tổng Giám mục thành Canterbury John Whitgift tức giận.

Vua James I của Anh phản ứng lại sự lăng mạ của các thần dân Scotland theo Trưởng Lão bằng cách chấp nhận khẩu hiệu "Không có Giám mục, không có Vua"; nhà vua đồng nhất thẩm quyền Giám mục với vương quyền, và xem mọi sự phản bác quyền Giám mục là tấn công vào vương triều. Sự xung đột lên đến đỉnh điểm khi vua Charles I của Anh bổ nhiệm William Laud làm Tổng Giám mục Canterbury; Laud tấn công phong trào Trưởng Lão và tìm cách áp đặt nghi thức Anh giáo trên tất cả giáo hội. Cuối cùng Laud bị luận tội vì cáo buộc phản quốc và bị xử tử. Charles I cũng cố áp đặt thể chế Giám mục trên xứ Scotland nhưng gặp phải sự chống đối của dân bản xứ, dẫn đến cuộc Chiến tranh Giám mục từ năm 1639 đến năm 1640.

Đỉnh cao quyền lực của phong trào Thanh giáo thể hiện trong thời kỳ Cộng hoà (the Commonwealth) dưới sự lãnh đạo của Oliver Cromwell, thể chế Giám mục bị huỷ bỏ trong Giáo hội Anh năm 1649,[7] cho đến khi vương quyền được phục hồi năm 1660 khi Charles II của Anh lên ngôi.[8]

Công giáo, Chính thống giáo và Anh giáo

Trong khi nhiều giáo hội thuộc cộng đồng Kháng Cách bác bỏ vị trí của Giám mục trong cấu trúc lãnh đạo giáo hội, một số giáo hội bắt rễ sâu trong truyền thống vẫn duy trì việc tấn phong Giám mục để lãnh đạo giáo hội. Giám mục thủ giữ vai trò lãnh đạo trong các giáo hội Công giáo Rôma, Chính thống giáo Đông phương, Chính thống giáo Cựu Đông phương, Cảnh giáo, Cộng đồng Anh giáo và các Giáo hội Công giáo Độc lập (trong đó có Công giáo Cổ).

Vai trò truyền thống của Giám mục là người chăn dắt hay mục tử (pastor) cho một giáo phận. Các giáo phận khác nhau đáng kể về diện tích và dân số. Một số giáo phận lâu đời quanh Địa Trung Hải tương đối nhỏ hẹp, trong khi các giáo phận mới phát triển như khu vực Hạ Sahara ở Phi châu, Nam Mỹ và vùng Viễn Đông, rộng lớn và đông giáo dân hơn.

Thượng phụ

Thượng phụ (Patriarch) là người đứng đầu một giáo hội độc lập nhất định nào đó, có thể bao gồm nhiều giáo tỉnh hợp lại. Trong một thời gian dài ban đầu chỉ có 5 Tòa Thượng phụ cổ là: Roma, Constantinopolis, Alexandria, AntiochiaJerusalem. Một số vị Thượng phụ (đặc biệt là trong truyền thống Armenia và Lưỡng Hà - Ba Tư) cũng được gọi là Catholicos (số nhiều: Catholicoi). Thượng phụ Chính thống giáo Copt thành Alexandria, Ai Cập cũng mang tước vị là Papa (nghĩa gốc là "cha").

Giáo trưởng

Giáo trưởng (Primate) thường là Giám mục của giáo phận lâu đời nhất tại một quốc gia. Đôi khi, chức danh này có quyền hạn cao hơn Giám mục đô thành, nhưng thường chỉ là một chức vụ danh dự. Danh hiệu Giám mục chủ tịch (Presiding bishop) dành cho người đứng đầu giáo hội Anh giáo tại một quốc gia nhưng không luôn luôn ràng buộc với một Tòa Giám mục nhất định nào đó như tước vị Giáo trưởng.

Giám mục đô thành

Đô thành trưởng (Metropolitan) hay (Tổng) Giám mục đô thành là Giám mục của một Đô thành (Metropolis) - là thành phố có ý nghĩa quan trọng trong Giáo tỉnh (ecclesiastical province là khu vực bao gồm (tổng) giáo phận đô thành đó và các giáo phận lân cận). Trong Giáo hội Công giáo Rôma, đô thành trưởng luôn là Tổng Giám mục và có một số thẩm quyền nhất định trong việc cai quản giáo tỉnh.

Tổng Giám mục

Tổng Giám mục (Archbishop) là vị Giám mục của một Tổng giáo phận, đây thường là giáo phận có vị trí quan trọng trong lịch sử giáo hội tại địa phương. Tổng Giám mục có thể là chính tòa hoặc hiệu tòa. Trong Giáo hội Công giáo Rôma, cho dù hầu hết các Tổng Giám mục là đô thành trưởng nhưng bản thân chức danh Tổng Giám mục thì thuần túy chỉ có tính danh dự và không mang thêm thẩm quyền hành xử nào khác. Ngược lại, trong Cộng đồng Anh giáo, Tổng Giám mục là một chức vụ có thẩm quyền đặc biệt.

Giám mục chính tòa

Giám mục chính tòa (Diocesan bishop) đảm nhận trách nhiệm chính coi sóc một Giáo hội riêng biệt địa phương, hay Giáo phận.

Giám mục Hiệu toà

Giám mục Hiệu toà (Titular bishop) là Giám mục không có giáo phận. Chính xác hơn, vị Giám mục này đứng đầu một giáo phận chỉ có trên danh nghĩa (titular see), thường là một thành phố cổ đã từng có tòa Giám mục, vì lý do nào đó nay không còn. Giám mục hiệu toà thường thực hiện nhiệm vụ là một Giám mục phụ tá. Trong Công giáo Rôma, Giám mục hiệu tòa nếu không là Giám mục phụ tá thì thường là sứ thần Tòa thánh hoặc người đứng đầu một cơ quan trong Giáo triều. Trong Giáo hội Chính thống Đông phương thuộc quyền Thượng phụ Đại kết Constantinopolis, Giám mục của một giáo phận mới thiết lập thường mang thêm tước vị hiệu tòa bên cạnh tước vị chính của tòa mới đó (ví dụ Tổng Giám mục Thyateira và Anh quốc, trong đó Thyateira là tên tòa thời cổ còn Anh quốc mới là phạm vi thực của giáo phận).

Giám mục Phó

Giám mục Phó (Coadjutor bishop) có quyền kế vị Giám mục chính tòa đương nhiệm nếu vị này mãn nhiệm (về hưu, thuyên chuyển nhiệm vụ hoặc qua đời). Việc bổ nhiệm chức danh này nhằm mục đích bảo đảm sự liên tục trong cơ cấu lãnh đạo giáo hội.

Giám mục Phụ tá

Giám mục Phụ tá (Auxiliary bishop) là người phụ tá cho Giám mục chính tòa của giáo phận, không nhất thiết là sẽ kế vị chức Giám mục chính tòa. Tất cả Giám mục phụ tá đều là Giám mục hiệu toà, thường được bổ nhiệm làm tổng đại diện (vicar general) giáo phận.

Giám mục Phụ cận

Giám mục Phụ cận (Suffragan bishop) trong Giáo hội Công giáo Rôma là Giám mục dưới quyền Tổng Giám mục đô thành trong một vài vấn đề nhất định, chức danh này dành cho tất cả các Giám mục chính tòa, phó và phụ tá trong giáo tỉnh của vị đô thành trưởng đó. Cộng đồng Anh giáo lại có cách sử dụng khác: chức danh này được áp dụng cho những người trợ tá Giám mục chính tòa, ví dụ Giám mục Fulham, Giám mục Edmonton và 3 vị trí Giám mục khác là các Giám mục phụ cận đối với Giám mục (chính tòa) London, thuộc cùng giáo phận London. Giám mục phụ cận của Anh giáo thường được giao nhiệm vụ cai quản một khu vực nào đó trong giáo phận (ví dụ trường hợp Giám mục Edmonton và 3 Giám mục khác đã nhắc tới ở trên) hoặc đóng vai trò trợ tá cho Giám mục chính tòa trên phạm vi toàn địa phận (trường hợp Giám mục Fulham) - trường hợp sau tương tự như chức Giám mục phụ tá trong Công giáo và Chính thống giáo.

Hồng y

Hồng y (Cardinal), thường nhưng không nhất thiết phải là Giám mục (ví dụ như hai nhà thần học - linh mục Dòng Tên Henri de Lubac và Avery Dulles), là thành viên của Hồng y đoàn, trong đó những vị dưới 80 tuổi có quyền bầu Giáo hoàng trong Mật nghị Hồng y của Giáo hội Công giáo.

Theo thể chế Giám mục, chỉ có Giám mục mới có quyền tấn phong Giám mục, linh mục hoặc chấp sự (deacon).

Giám mục được tấn phong bởi các Giám mục khác, tuỳ theo mỗi giáo hội, có thể cần có hai hoặc ba Giám mục tham gia lễ tấn phong. Theo giáo lý Công giáo Rôma, mỗi Giám mục đều có quyền tấn phong Giám mục cho linh mục khi được Giáo hoàng cho phép, ngoài ra, bất cứ sự tấn phong Giám mục nào không được Giáo hoàng phê chuần thì cả người được tấn phong và vị Giám mục chủ phong đều bị vạ tuyệt thông tiền kết.

Có những cách khác nhau trong các giáo hội để chọn ứng viên cho chức Giám mục. Trong Giáo hội Công giáo Rôma ngày nay, Bộ Giám mục (Congregation for Bishops) xem xét việc tuyển chọn tân Giám mục để Giáo hoàng phê chuẩn. Trong hầu hết các giáo hội Chính Thống, tín hữu và linh mục được phép có tiếng nói, theo các mức độ khác nhau, về tiến trình tuyển chọn Giám mục.

Giáo hoàng, ngoài chức danh Giám mục Rôma và là lãnh tụ Giáo hội Công giáo Rôma, còn là Thượng phụ Giáo hội Latin. Các Giám mục Giáo hội Latin chỉ chịu trách nhiệm trước Giáo hoàng, không phải với các Giám mục khác ngoại trừ Tổng Giám mục đô thành là cấp trên trực tiếp của họ.

Giám mục Công giáo, Anh giáo và Chính thống giáo tuyên xưng họ là một phần trong chuỗi liên tục các Giám mục được tấn phong kể từ thời kỳ các tông đồ, đó là quyền kế thừa tông đồ (apostolic succession). Chiếu theo chỉ dụ Apostolicae Curae năm 1896 của Giáo hoàng Leo XIII, Giáo hội Công giáo Rôma cho rằng hệ thống chức sắc Anh giáo là không xứng hiệp vì giáo hội này đã thay đổi nghi lễ tấn phong.

Trong những thập niên gần đây, một số giáo phận thuộc Cộng đồng Anh giáo khởi sự tấn phong nữ Giám mục. Nữ Giám mục Anh giáo đầu tiên là Barbara Clementine Harris, được tấn phong năm 1989.

Các giáo hội khác

Một số giáo hội như Lutheran, Giám LýMormon cũng có Giám mục, nhưng vai trò và chức năng của Giám mục trong các giáo hội này khác biệt đáng kể với Công giáo, Chính thống giáo và Anh giáo. Trong một số cộng đồng Kháng Cách, chức vụ tương đương với Giám mục được gọi là mục sư.

Giáo hội Tin Lành Lutheran Mỹ

Trong Giáo hội Tin Lành Lutheran Mỹ (the Evangelical Lutheran Church in America), giáo phái Luther lớn nhất Hoa Kỳ, có nguồn gốc từ các giáo hội quốc giáo ở Bắc Âu (tương tự Giáo hội Anh), Giám mục được tuyển chọn bởi hội đồng giáo hạt (cấu thành bởi đại biểu của tín hữu và mục sư), có nhiệm kỳ 6 năm, có thể được tái bổ nhiệm. Các Giám mục chịu trách nhiệm phong chức mục sư, bổ chức các chức viên chấp sự, phê chuẩn việc chuyển đổi mục sư giữa các giáo đoàn, duy trì việc giảng dạy giáo huấn của Martin Luther và Hiến chương của giáo hội. Giám mục trưởng của giáo hội được tuyển chọn cho nhiệm kỳ duy nhất kéo dài 6 năm, đảm trách việc tấn phong Giám mục, chủ toạ đại hội đồng giáo hội triệu tập mỗi hai năm. Một cấu trúc tương tự cũng được áp dụng cho Giáo hội Luther Tin Lành Canada.

Giáo hội Giám lý Hiệp nhất

Trong Giáo hội Giám lý Hiệp nhất (United Methodist Church), các Giám mục phục vụ như là những viên chức giáo hội để thi hành mục vụ và cai quản hội thánh. Giám mục được tuyển chọn trong số các mục sư, được bầu phiếu bởi đại biểu hội nghị giáo hạt, được tấn phong bởi các Giám mục theo nghi thức đặt tay. Trong Giáo hội Giám Lý Hiệp nhất, chỉ có Giám mục được trao quyền tấn phong Giám mục và mục sư. Trong số các chức năng của Giám mục có tấn phong và cử mục sư đến quản nhiệm tại các nhà thờ địa phương, chủ toạ các buổi họp của các hội đồng thường niên, hội đồng tư pháp và đại hội đồng, cung ứng tiện nghi mục vụ cho các mục sư thuộc quyền cùng bảo vệ giáo lý và kỷ cương của giáo hội. Nhiệm kỳ của Giám mục tại các giáo hạt thuộc Giáo hội Giám Lý Hiệp nhất là bốn năm, có thể kéo dài ba nhiệm kỳ trước khi nghỉ hưu hoặc được bổ nhiệm sang giáo hạt khác. Phụ nữ có thể đảm nhiệm chức vụ này, Mục sư Marjorie Matthews là phụ nữ đầu tiên được tấn phong Giám mục năm 1980. John Wesley đã bổ nhiệm Thomas Coke làm "Tổng Quản nhiệm" và hướng dẫn rằng Francis Asbury nên được bổ nhiệm vào một chức vụ tương tự tại Hoa Kỳ trong năm 1784 sau khi Giáo hội Giám Lý (Methodist Episcopal Church) trở nên giáo phái độc lập với Giáo hội Anh. Sau đó, Coke trở về Anh Quốc, trong khi Asbury trở nên trụ cột cho giáo hội tân lập trên vùng đất mới. Lúc đầu, chính Asbury cũng không muốn nhận mình là Giám mục, nhưng dần dà ông chấp nhận danh hiệu được giáo hội thiết lập.

Trong số những Giám mục được biết đến nhiều nhất trong Giáo hội Giám Lý Hiệp nhất có Thomas Coke, Francis Asbury, Richard Whatcoat, Philip William Otterbein, Martin Boehm, Jacob Albright, John Seybert, Matthew Simpson, John Stamm, William Ragsdale Cannon, Marjorie Matthews, Leontine T. Kelly, William B. Oden, Ntambo Nkulu Ntanda, William Willimon và Thomas Bickerton.

Mặc dù đã thiết lập chức Giám mục ngay từ đầu thế kỷ 19, khi Phong trào Giám Lý chính thức tách khỏi Giáo hội Anh, chức vụ này nay không còn tồn tại trong cộng đồng Giám Lý tại Anh.

Giáo hội Giám nhiệm Giám lý Cơ Đốc

Trong Giáo hội Giám nhiệm Giám lý Cơ Đốc (Christian Methodist Episcopal Church), Giám mục đảm nhiệm công việc cai quản giáo hội, được bầu chọn bởi các đại biểu và được thi hành chức vụ cho đến khi về hưu ở tuổi 74. Giám mục chịu trách nhiệm bổ nhiệm mục sư đến phục vụ tại các giáo đoàn trong cương vị quản nhiệm, cử hành lễ phong chức và bảo vệ giáo lý và kỷ cương của hội thánh. Đại hội đồng, được triệu tập bốn năm một lần, cấu thành bởi con số ngang bằng nhau của đại biểu của giới chức sắc và tín hữu. Nhiệm kỳ của Giám mục kéo dài bốn năm. Phụ nữ có thể được bầu chọn vào chức vụ này.

Khác

Trong một vài giáo phái Ngũ Tuần cũng như trong một số giáo đoàn độc lập, thuật ngữ này áp dụng cho chức danh quản nhiệm (người lãnh đạo các giáo đoàn địa phương, không phân biệt nam nữ). Cách sử dụng này khá phổ biến trong các giáo phái của người Mỹ gốc PhiHoa Kỳ. Trong Giáo hội Scotland, theo thể chế Trưởng Lão, từ "Giám mục" dùng để chỉ mục sư, thường là quản nhiệm giáo sở, coi sóc những người đang được đào tạo cho chức vụ mục sư.

Chú thích

  1. ^ Cf. S. PIUS X, Motu proprio Tampridem, 19 mart. 1914: AAS 6 (1914). pp. 174 ss. – PIUS XII, const. apost. Exsul Familia, 1 aug. 1952: AAS 44 (1952), pp. 652 ss.; Leges Operis Apostolatus Maris, auctoritate Pii XII conditae. 21 nov. 1957: AAS 50 (1958), pp. 375 ss.
  2. ^ "Anh em hãy giữ lấy mình, và luôn cả bầy mà Chúa Thánh Linh đã lập anh em làm người coi sóc (Giám mục), để chăn giữ hội thánh của Thiên Chúa mà Ngài đã mua bằng chính huyết mình". Công vụ 20. 28
  3. ^ "Phao-lô và Timothy, tôi tớ của Chúa Giê-xu Cơ Đốc, gởi cho hết thảy các thánh đồ trong Chúa Giê-xu Cơ Đốc, ở thành Phi-líp, cùng cho các Giám mục và các chấp sự." Philippians 1.1
  4. ^ "Vậy, Giám mục cần phải không chỗ trách được, là chồng chỉ một vợ mà thôi, có tiết độ, có tài trí, xứng đáng, hay tiếp khách và khéo dạy dỗ." 1Timothy 3.2
  5. ^ "Vì Giám mục là người quản lý nhà Thiên Chúa thì phải không chỗ trách được. Chẳng nên kiêu ngạo, giận dữ, ghiền rượu, hung tàn, tham lợi; nhưng phải hay tiếp đãi khách, bạn với người hiền, khôn ngoan, công bình, thánh sạch, tiết độ, hằng giữ đạo thật y như đã nghe dạy, hầu cho có thể theo đạo lành mà khuyên dỗ người khác và bác lại kẻ chống trả." Titus 1.7-9
  6. ^ "Vì anh em vốn giống như chiên đi lạc, mà bây giờ trở về cùng Đấng chăn chiên và Giám mục của linh hồn mình." 1Peter 2. 25
  7. ^ “The Episcopate during the Civil Wars, 1642-1649”. The English Historical Review (Oxford University Press) 83 (328): pp. 523–537. Tháng 7 năm 1968. JSTOR 564164.
  8. ^ Episcopy. British Civil Wars, Commonwealth and Protectorate 1638–60. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2011.

Xem thêm

Tham khảo

Ấn phẩm

  • Ignatius of Antioch, Epistles of to the Ephesians, Magnesians, Trallesians, and Smyrnans, Lightfoot, trans., Harmer, ed. (Kessinger, 1891/2003). ISBN 0-7661-6498-5
  • Mathews, James, Set Apart To Serve: The Role of the Episcopacy in the Wesleyan Tradition (Nashville: Abingdon, 1985).
  • Moede, Gerald, The Office of Bishop in Methodism: Its History and Development (Nashville: Abingdon, 1965).

Liên kết ngoài

Aloisiô Nguyễn Hùng Vị

Aloisiô Nguyễn Hùng Vị (sinh ngày 15 tháng 8 năm 1952) là một giám mục của Giáo hội Công giáo Rôma. Ông hiện là Giám mục chính tòa thứ bảy của Giáo phận Kon Tum, lễ tấn phong Giám mục cho ông diễn ra vào ngày 3 tháng 12 năm 2015. Khẩu hiệu Giám mục của ông là: Tình thương trong sự thật.Ông quê ở Hà Nội, là người con trong gia đình có 7 anh chị em. Năm 1954, ông cùng gia đình di cư vào miền Nam. Tuy nhiên, khi vào đến Gò Vấp, thì gia đình ông lại quyết định đi ngược ra miền trung và ở tại Thành phố Nha Trang. Năm 1963 ông bắt đầu tu tập và đến năm 1990 thì lãnh chức linh mục. Ông trải qua một số chức vụ tại Giáo phận Kon Tum rồi đi du học và nhận bằng Cử nhân phụng vụ. Ngày 7 tháng 10 năm 2015, Giáo hoàng Phanxicô bổ nhiệm ông trở thành Giám mục chính tòa Giáo phận Kon Tum – kế vị giám mục Micae Hoàng Đức Oanh đã tại vị từ năm 2003, người đã 77 tuổi, quá tuổi về hưu theo giáo luật.

Anphong Nguyễn Hữu Long

Anphong Nguyễn Hữu Long (sinh 1953) là một Giám mục Công giáo Việt Nam. Ông hiện đảm nhận vai trò giám mục chính tòa Giáo phận Vinh. Trước đây, từ năm 2013 đến năm 2018, ông là giám mục phụ tá của Giáo phận Hưng Hóa. Trong Hội đồng Giám mục Việt Nam, ông đảm nhiệm vai trò Chủ tịch Ủy ban Loan báo Tin Mừng nhiệm kì 2013 - 2016 và nhiệm kì 2016 - 2019. Khẩu hiệu Giám mục của ông là "Mang vào mình mùi chiên".

Giám mục Nguyễn Hữu Long quê tại Hà Nội. Sau khi ra đời không lâu, ông theo gia đình di cư vào miền Nam. Sau quá trình tu học dài hạn với nhiều khó khăn, Nguyễn Hữu Long được phong chức linh mục năm 1990. Sau bốn năm làm phó xứ Tam Kỳ, linh mục Long được cử đi du học Pháp và tốt nghiệp với văn bằng Cao học Giáo luật. Trở về nước, ông đảm trách nhiều vai trò khác nhau, đến năm 2003 thì gia nhập Dòng Xuân Bích và năm 2011 trở thành Giám đốc Đại chủng viện Xuân Bích Huế.

Năm 2013, giáo hoàng bổ nhiệm linh mục Nguyễn Hữu Long làm Giám mục phụ tá Hưng Hóa. Trong thời kỳ đảm nhận vai trò này, giám mục Nguyễn Hữu Long, với phong cách được nhận định là bình dị và gần gũi, đã tạo được ấn tượng tốt đẹp trong cộng đồng người Công giáo. Đến cuối năm 2018, Tòa Thánh điều chuyển giám mục Nguyễn Hữu Long làm Giám mục Giáo phận Vinh. Ông đến tân giáo phận của mình vào ngày 20 tháng 1 năm 2019 và chính thức nhận chức vụ Giám mục Giáo phận Vinh vào ngày 12 tháng 2 năm 2019.

Gioan Baotixita Bùi Tuần

Gioan Baotixita Bùi Tuần (hay Jean Baptiste Bùi Tuần) sinh ngày 21 tháng 1 năm 1927 tại Cam Lai, Thái Bình) là một Giám mục Công giáo Việt Nam. Ông từng đảm nhiệm chức Giám mục Phó rồi Giám mục chính tòa Giáo phận Long Xuyên từ năm 1975 đến năm 2003.

Năm 1954, ông sang Hồng Kông tu học đến ngày 2 tháng 7 năm 1955 thì chịu chức linh mục. Cuối năm 1955, ông về Việt Nam sau đó tiếp tục sang Rôma, Thụy Sĩ và Đức và nhận được bằng tiến sĩ Triết học. Năm 1964, ông lại trở về Nam Việt Nam làm Giáo sư nhiều chủng viện tại miền này.

Ngày 15 tháng 4 năm 1975, Tòa Thánh chọn linh mục Gioan Baotixita Bùi Tuần làm Giám mục Phó Giáo phận Long Xuyên. Lễ tấn phong diễn ra trưa 30 tháng 4 cùng năm, do Giám mục chính tòa Giáo phận Long Xuyên Micae Nguyễn Khắc Ngữ chủ phong. Ông cũng là vị giám mục Việt Nam duy nhất tấn phong vào ngày lịch sử này. Ông trở thành Giám mục chính tòa của giáo phận Long Xuyên sau khi Giám mục Ngữ nghỉ hưu vào năm 1997, lúc đó Giám mục Tuần đã 69 tuổi. Ông tại vị đến năm 2003 thì về hưu, trao giáo phận lại cho Giám mục Phó Giuse Trần Xuân Tiếu.

Ngoài công việc một Giám mục, ông còn là một người rất yêu thích thơ văn. Giám mục Bùi Tuần thường gặp gỡ các nhà văn, ông đã xuất bản nhiều tựa sách mà nổi bật nhất là bộ "Thao thức" phát hành vào năm 2007. Giám mục Bùi Tuần đã được Nhà nước Việt Nam trao tặng Huân chương Độc lập và Huân chương Đại đoàn kết dân tộc•

Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng

Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng (1868 - 1949) là Giám mục người Việt Nam đầu tiên của Giáo hội Công giáo Rôma, được cử hành nghi thức tấn phong giám mục vào năm 1933. Ông đảm nhiệm chức vụ Đại diện Tông Tòa Hạt Đại diện Tông Tòa Phát Diệm trong khoảng thời gian 8 năm, từ năm 1935 đến năm 1943.

Giám mục Nguyễn Bá Tòng sinh tại Gò Công. Bắt đầu từ năm 10 tuổi, ông theo học các cấp học tại các chủng viện Công giáo khác nhau và hoàn thành việc tu học, được phong chức linh mục 18 năm sau đó vào năm 1896. Trở thành linh mục, ông đảm nhận các vai trò khác nhau như Thư ký Tòa giám mục, linh mục chính xứ Tân Định và Bà Rịa.

Tòa Thánh loan tin bổ nhiệm linh mục Gioan Baotixta Nguyễn Bá Tòng làm giám mục phó đại diện tông tòa địa phận Phát Diệm. Với việc bổ nhiệm này, ông trở thành giám mục Công giáo Việt Nam đầu tiên. Nghi thức tấn phong tổ chức tại Rôma do giáo hoàng Piô XI chủ sự. Ông đảm nhiệm vai trò Đại diện Tông Tòa địa phận từ năm 1935 đến năm 1943 khi hồi hưu. Sau đó, giám mục Tông quản lý địa phận trong cương vị giám quản hơn một năm từ năm 1944 đến năm 1945 khi giám mục kế vị Gioan Maria Phan Đình Phùng đột ngột qua đời.

Nguyễn Bá Tòng được ghi nhận về việc biên soạn tuồng Thương Khó, xây dựng và cơi nới các giáo xứ ông quản nhiệm. Ngoài ra, giám mục Tòng còn nổi tiếng với tài hùng biện bằng tiếng Pháp.

Giuse Maria Trịnh Như Khuê

Giuse Maria Trịnh Như Khuê (1898–1978) là một Hồng y thuộc Giáo hội Công giáo Rôma và là Hồng y tiên khởi của Việt Nam. Khẩu hiệu Giám mục của ông là Hãy theo Thầy.Trịnh Như Khuê sinh tại tỉnh Hà Nam trong một gia đình có thân phụ dạy chữ Hán. Từ nhỏ ông đã có chí hướng tu trì, sau khoảng thời gian dài tu học, năm 1933, ông được phong chức linh mục. Sau khi trở thành linh mục, ông lần lượt giữ nhiều vai trò khác nhau như linh mục phó xứ Khoan Vĩ, Giáo sư Tiểu chủng viện Hoàng Nguyên, phó xứ rồi chính xứ Hàm Long.

Tháng 4 năm 1950, Tòa Thánh Vatican bổ nhiệm linh mục Giuse Maria Trịnh Như Khuê làm Đại diện Tông Tòa Hạt Đại diện Tông Tòa Hà Nội (địa phận Hà Nội). Lễ tấn phong Giám mục cho Tân Giám mục được tổ chức vào ngày 15 tháng 8 cùng năm tại Nhà thờ Lớn Hà Nội. Do có lòng sùng kính đặc biệt Đức Bà Maria, ông ghép thêm tên thánh của mình trở thành Giuse Maria.

Năm 1960, cùng với sự thành lập hàng giáo phẩm Việt Nam, Trịnh Như Khuê trở thành Tổng Giám mục Tiên khởi của Tổng giáo phận Hà Nội. Chưa đầy 3 năm sau, ngày 2 tháng 6 năm 1963, ông bất ngờ phong chức Tổng Giám mục phó với quyền kế vị cho linh mục Giuse Maria Trịnh Văn Căn.

Cuối tháng 4 năm 1976, Giáo hoàng Phaolô VI tuyên bố vinh thăng Tổng Giám mục Trịnh Như Khuê là Hồng y In pectore (tức "trong ngực/trái tim" trong tiếng Latinh) và công bố vào ngày 24 tháng 5 cùng năm. Trịnh Như Khuê là Hồng y người Việt đầu tiên, mang tước vị Hồng y Linh mục nhà thờ San Francesco di Paola ai Monti. Sau khi sang Vatican lần lượt bầu hai tân Giáo hoàng, ngày 27 tháng 11 năm 1978, ông đột ngột qua đời vì nhồi máu cơ tim.

Giuse Maria Trịnh Văn Căn

Giuse Maria Trịnh Văn Căn (19 tháng 3 năm 1921 – 18 tháng 5 năm 1990) là một hồng y và dịch giả Công giáo người Việt Nam. Ông cũng là Tổng giám mục của Tổng giáo phận Hà Nội và Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam. Với vai trò lãnh đạo chính của giáo hội Công giáo miền Bắc Việt Nam sau năm 1975, Trịnh Văn Căn được xem là người đã giúp giáo dân miền Bắc vượt qua những khó khăn trong việc sống đạo giữa những đổi thay của đất nước và khi quan hệ giữa chính quyền Việt Nam và Tòa Thánh Vatican có những biến động lớn.

Giuse Maria Trịnh Văn Căn xuất thân trong một gia đình Công giáo tại Hà Nam. Năm 1949, ông được thụ phong linh mục rồi thi hành mục vụ tại Nhà thờ chính tòa Hà Nội với vai trò là linh mục chánh xứ, kiêm đặc trách giáo xứ Thịnh Liệt. Ông được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Tổng giám mục Phó Hà Nội vào năm 1963. Ông cùng thi hành mục vụ với Tổng Giám mục Giuse Maria Trịnh Như Khuê cho đến năm 1978, khi Tổng Giám mục Khuê đột ngột qua đời và ông đương nhiên kế vị trở thành Tổng giám mục của Tổng giáo phận Hà Nội theo Giáo luật. Năm 1979, Giáo hoàng Gioan Phaolô II vinh thăng ông làm hồng y. Ông trở thành vị hồng y thứ hai của Giáo hội Công giáo Việt Nam. Hồng y Trịnh Văn Căn đã đảm nhiệm cương vị này suốt 11 năm cho đến khi ông qua đời.Sau khi Việt Nam thống nhất vào năm 1975, ông cùng các giám mục Việt Nam thành lập Hội đồng Giám mục Việt Nam thống nhất với sự đồng ý của chính phủ Việt Nam. Giám mục Trịnh Văn Căn đã đảm nhiệm cương vị Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam từ năm 1980 đến 1990. Trong thập niên 80 của thế kỷ XX, ông là người đã đóng góp nhiều công sức trong việc xin tuyên thánh cho 117 vị tử đạo Công giáo người Việt, các nỗ lực của ông đã được toại nguyện khi Giáo hoàng Gioan Phaolô II tuyên thánh cho họ vào năm 1988.

Ngoài các công việc mục vụ, Trịnh Văn Căn còn là một dịch giả Công giáo với nhiều bản dịch Kinh Thánh ra tiếng Việt. Ông đã sưu tầm, chỉnh lý, bổ sung, hệ thống hóa lại và phổ biến những bài vãn cổ dâng hoa Công giáo. Giám mục Căn cũng ghi nhạc cho những bài văn quý Công giáo từng bị tản mác, mai một và dịch các bài hát tiếng Latinh sang tiếng Việt.

Ngày 18 tháng 5 năm 1990, ông qua đời vì bệnh huyết áp và nhồi máu cơ tim. Mộ phần của Hồng y Trịnh Văn Căn được chôn cất ở gian trái Nhà thờ chính tòa Hà Nội.

Giuse Nguyễn Chí Linh

Giuse Nguyễn Chí Linh (sinh 22 tháng 11 năm 1949) là một giám mục người Việt Nam của Giáo hội Công giáo Rôma, hiện giữ chức tổng giám mục đô thành Tổng giáo phận Huế và đương kim chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam, nhiệm kỳ 2016 - 2019. Trước khi trở thành Tổng giám mục Huế, ông cũng từng giữ các chức vụ khác như: giám mục chính tòa, Giám quản Tông Tòa Giáo phận Thanh Hóa, Giám quản Tông Tòa Giáo phận Phát Diệm.

Ngoài các công việc mục vụ thuần túy, Giuse Nguyễn Chí Linh cũng thường xuyên cùng đồng hành với các đoàn thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam hỗ trợ, động viên các nạn nhân bão lũ ở nhiều địa bàn khác nhau. Trong thời kỳ cai quản giáo phận Thanh Hóa, ông triển khai các chương trình hướng đến lợi ích cộng đồng như: thành lập Hội Thầy thuốc Samaritano với mục đích hỗ trợ bệnh nhân, người khuyết tật và người đau khổ trong giáo phận; cấp học bổng học sinh khó khăn, một số phòng phát thuốc miễn phí, thành lập dự án hỗ trợ vốn cho phụ nữ nghèo kiếm thu nhập và một vài kế hoạch phát triển nông nghiệp như làm trạm bơm, làm đường bê tông ở các làng quê. Ông cũng thường xuyên kêu gọi mọi người hỗ trợ các nạn nhân bão lũ, những người khó khăn và đến thăm các trại phong, trại khuyết tật trên địa bàn giáo phận Thanh Hóa. Ngoài ra, Nguyễn Chí Linh cũng bày tỏ sự đồng cảm với người nhiễm HIV/AIDS và bày tỏ quan điểm về bảo vệ sự sống bào thai.

Trong Hội đồng Giám mục Việt Nam, trước khi trở thành Chủ tịch trong nhiệm kỳ 2016 – 2019, Nguyễn Chí Linh từng đảm trách một số vai trò như chủ tịch Ủy ban Giáo dân (2004 – 2007), Phó Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam (2010 – 2013), Chủ tịch Ủy ban Mục vụ Di dân trực thuộc Hội đồng Giám mục (2013 – 2016).

Giuse Ngô Quang Kiệt

Giuse Ngô Quang Kiệt (sinh ngày 4 tháng 9 năm 1952) là một Giám mục Công giáo người Việt, từng đảm trách nhiều vai trò quan trọng đối với cộng đồng Công giáo tại Việt Nam. Ngô Quang Kiệt từng đảm nhiệm nhiều vai trò khác nhau trong chức vị giám mục từ năm 1999 đến khi nghỉ hưu năm 2010 như Giám mục chính tòa Giáo phận Lạng Sơn và Cao Bằng, Giám quản Tông Tòa, sau đó trở thành Tổng giám mục Tổng giáo phận Hà Nội. Trong Hội đồng Giám mục Việt Nam, ông cũng từng đảm nhiều nhiều vai trò khác như như phó Tổng thư ký và sau đó là Tổng thư ký của Hội đồng này. Khẩu hiệu giám mục của ông là: Chạnh lòng thương.Giuse Ngô Quang Kiệt có quê gốc ở Lạng Sơn, sau khi sinh ra vài năm thì cùng gia đình di cư vào Nam. Sau quá trình tu tập kéo dài hơn 25 năm từ năm 1964 đến năm 1991, ông được phong chức linh mục, là linh mục thuộc giáo phận Long Xuyên. Linh mục Kiệt sau đó được cho đi du học tại Pháp và sau khi hoàn thành khóa học, trở về Việt Nam được bổ nhiệm giữ chức Chưởng Ấn Tòa giám mục Long Xuyên.

Ngày 3 tháng 6 năm 1999, Tòa Thánh ra tuyên cáo bổ nhiệm linh mục Giuse Ngô Quang Kiệt làm Giám mục chính tòa Giáo phận Lạng Sơn và Cao Bằng. Lễ tấn phong cho tân giám mục diễn ra sau đó vào ngày 29 tháng 6 do Giám mục Gioan Baotixita Bùi Tuần làm chủ phong. Tháng 4 năm 2003, Tòa Thánh bổ nhiệm ông kiêm thêm nhiệm vụ làm Giám quản Tông Tòa Tổng giáo phận Hà Nội, và đến tháng 10 cùng năm lại tiếp tục chọn Giám mục Kiệt kiêm nhiệm thêm chức Giám mục giám quản Giáo phận Thanh Hóa.

Sau khoảng thời gian hai năm tại Tổng giáo phận Hà Nội, tháng 2 năm 2005, Tòa Thánh thông qua ý kiến của chính quyền Việt Nam, ra thông cáo quyết định chọn Giám mục Giám quản Ngô Quang Kiệt làm Tổng giám mục chính tòa Tổng giáo phận Hà Nội. Ngoài chức vụ Tổng giám mục, Tổng giám mục Kiệt còn kiêm nhiệm thêm nhiều chức danh khác như Giám quản Tông Tòa Giáo phận Lạng Sơn từ năm 2005 đến năm 2007, Giám quản Tông Tòa Giáo phận Bắc Ninh từ năm 2006 đến năm 2008. Trong thời gian làm Tổng giám mục ở Hà Nội, ông đã cố gắng bảo vệ các tài sản của Giáo hội và lên tiếng thẳng thắn với chính quyền về các quyền tự do tôn giáo. Năm 2008, ông có câu nói gây tranh cãi: "Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam, đi đâu cũng bị soi xét, chúng tôi buồn lắm chứ ! Chúng tôi mong muốn đất nước mình mạnh lên." Ngày 22 tháng 4 năm 2010, Tòa Thánh chọn Giám mục Phêrô Nguyễn Văn Nhơn làm Tổng giám mục Phó, có quyền kế vị Tổng giám mục Kiệt. Sau đó ít lâu, ngày 13 tháng 5 cùng năm, Toà Thánh thông báo chấp nhận đơn từ chức của ông vì lý do sức khoẻ, chiếu theo khoản số 401 triệt 2 của Bộ Giáo Luật. Việc từ chức này của Tổng giám mục Kiệt được đánh giá có thể do áp lực từ phía chính quyền Việt Nam, và cũng có thể chính từ phía Vatican. Chính quyền Việt Nam đánh giá sự kiện này là một chiến thắng của phía chính quyền.Sau khi từ chức đến nay, nguyên Tổng giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt di chuyển đến sống tại Đan viện Châu Sơn, tỉnh Ninh Bình và thực hiện một vài thánh lễ tại đây hằng năm. Tại đan viện này, ông còn thực hiện nhiều việc khác: cầu nguyện cho Giáo hội, thế giới, đất nước và dân tộc, tĩnh tâm cho sinh viên, các hội đoàn, dòng tu, các Phó tế chuẩn bị được truyền chức linh mục. Ngoài ra, ông còn tham gia các hoạt động khác như viết các bài giảng lễ Chúa Nhật, viết suy niệm và in sách. Ông cũng là người đóng góp ý kiến trong việc thay đổi hạ tầng đan viện Châu Sơn, mà điển hình là công trình "Vườn Fatima", một công trình đang được thi công dựa trên ý tưởng của ông.

Giuse Võ Đức Minh

Giuse Võ Đức Minh (sinh 1944) là một Giám mục của Giáo hội Công giáo tại Việt Nam. Ông hiện đảm trách vai trò Giám mục chính tòa Giáo phận Nha Trang và là giám mục thứ tư đảm trách chức vụ này. Ngoài ra, ông còn là Chủ tịch Ủy ban Kinh Thánh của Hội đồng Giám mục Việt Nam.

Võ Đức Minh sinh năm 1944 tại Quảng Bình trong một gia đình Công giáo. Từ thuở nhỏ, gia đình đã cho ông đi theo con đường tu học. Quá trình tu học kéo dài 15 năm kết thúc bằng việc Phó tế Võ Đức Minh được truyền chức linh mục tại Thụy Sĩ năm 1971. Sau khi trở thành linh mục, giám mục Giáo phận Đà Lạt cho linh mục Minh tiếp tục theo học về Kinh Thánh tại Học viện Kinh Thánh Giáo hoàng tại Rôma và tốt nghiệp tại đây năm 1974. Trong thời gian theo học này, linh mục Minh tham gia hỗ trợ mục vụ, đảm nhiệm nhiều vai trò của các giáo xứ ở Canada, Thụy Sĩ và Đức.

Trở về Việt Nam tháng 5 năm 1974, Võ Đức Minh trở thành giáo sư Đại chủng viện, dạy Kinh Thánh và Thần học. Trong suốt thời gian làm linh mục, ông từng đảm nhận các vai trò như Thư ký Tòa giám mục Đà Lạt, chính xứ nhà thờ chính tòa Đà Lạt và Tổng đại diện Giáo phận.

Cuối năm 2005, Tòa Thánh loan tin chọn linh mục Võ Đức Minh làm giám mục Phó Nha Trang. Ông chính thức kế vị trở thành Giám mục chính tòa Nha Trang vào tháng 7 năm 2009.

Trong Hội đồng Giám mục Việt Nam, ông giữ vai trò Chủ tịch Uỷ ban Kinh Thánh trong 4 nhiệm kỳ liên tiếp, từ khi Uỷ ban này thành lập năm 2007 đến nay. Ngoài ra, ông cũng từng đảm nhận vai trò Phó Tổng thư ký nhiệm kỳ 2007 - 2010.

Giuse Vũ Văn Thiên

Giuse Vũ Văn Thiên (sinh ngày 26 tháng 10 năm 1960) là một giám mục Công giáo người Việt. Ông hiện là tổng giám mục của Tổng giáo phận Hà Nội, kiêm giám quản Tông Tòa của Giáo phận Hải Phòng (trước đó, ông là giám mục chính tòa của giáo phận này từ 2003 đến 2018). Trên cương vị tổng giám mục Hà Nội, ông cũng là một tổng giám mục đô thành, trưởng Giáo tỉnh Hà Nội.

Tổng giám mục Vũ Văn Thiên sinh tại Hải Dương, từ nhỏ gia đình đã có ước muốn cho ông theo con đường tu trì. Vì thế, cậu bé Thiên lần lượt được gia đình cho đi làm giúp lễ và sinh sống tại nhà xứ. Trải qua khoảng thời gian dài tu học, năm 1988, Giuse Vũ Văn Thiên được truyền chức linh mục, trở thành thành viên linh mục đoàn Giáo phận Hải Phòng. Trong thời kỳ làm linh mục, ông được cử đi du học, sau đó trở về làm giáo sư Đại chủng viện.

Năm 2002, Tòa Thánh chọn linh mục trẻ tuổi Giuse Vũ Văn Thiên làm Giám mục Hải Phòng, giám mục đầu tiên xuất thân từ giáo phận này. Lễ tấn phong sau đó diễn ra vào ngày 2 tháng 1 năm 2003. Trong thời kỳ đảm nhận vai trò Giám mục Hải Phòng, giám mục Thiên đã có những đóng góp vào quá trình phát triển của Giáo phận, đặc biệt là các công trình tôn giáo.

Năm 2018, Tòa Thánh bổ nhiệm Giám mục Giuse Vũ Văn Thiên làm Tổng giám mục đô thành Hà Nội và Giám quản Tông Tòa Hải Phòng.

Trong Hội đồng Giám mục Việt Nam, ông đang là phó tổng thư ký (nhiệm kỳ 2016 – 2019). Trước đây, ông còn giữ chức chủ tịch Ủy ban Mục vụ Giới trẻ trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam (nhiệm kỳ 2013 – 2016).

Giuse Đinh Đức Đạo

Giuse Đinh Đức Đạo (sinh 1945) là một giám mục Công giáo người Việt, hiện là giám mục chính tòa Giáo phận Xuân Lộc (từ tháng 5 năm 2016). Trước đây, ông từng là giám mục phụ tá (2013-2015) và giám mục phó (2015 - 2016) của giáo phận này. Trong Hội đồng Giám mục Việt Nam, Giám mục Giuse Đinh Đức Đạo hiện là Chủ tịch Ủy ban Giáo dục Công giáo (nhiệm kì 2013-2016, 2016-2019) và viện trưởng Học viện Công giáo Việt Nam.

Giám mục Giuse Đinh Đức Đạo sinh năm 1945 tại Nam Định, từ sớm đã vào Tiểu chủng viện Thánh Phanxicô Xaviê Bùi Chu, sau đó vào Đại Chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn trong vòng một năm thì đi du học tại Rôma. Năm 1971, ông được truyền chức linh mục tại Sài Gòn. Sau khi được truyền chức, linh mục Đạo tiếp tục sang du học Rôma và ở tại đây cho đến năm 2009. Trong gần 50 năm tại Rôma, linh mục Đạo giữ nhiều chức vụ như: phó giám đốc rồi giám đốc Trung tâm Linh hoạt Truyền giáo Quốc tế (C.I.A.M.), giám đốc linh đạo của Foyer Phaolô VI, giám đốc Văn phòng phối kết Tông đồ Mục vụ Việt Nam hải ngoại; tại Bộ Truyền giáo, ông là thành viên tư vấn Hội đồng Tòa Thánh về Đối thoại Liên tôn... Trong thời gian này, ông còn được phong tước Đức Ông. Trở về Việt Nam năm 2009, ông kiêm nhiệm thêm chức Giám đốc Đại chủng viện Thánh Giuse Xuân Lộc.

Ngày 28 tháng 2 năm 2013, Giáo hoàng Biển Đức XVI bổ nhiệm Đức ông Giuse Đinh Đức Đạo làm giám mục phụ tá Giáo phận Xuân Lộc. Lễ tấn phong giám mục cho ông diễn ra ngày 5 tháng 4 năm 2013. Tiếp nối sau đó, tháng 6 năm 2015, Giáo hoàng Phanxicô bổ nhiệm Giám mục Đạo làm giám mục phó giáo phận này, đến tháng 5 năm 2016, ông chính thức trở thành giám mục chính tòa Giáo phận Xuân Lộc khi giáo hoàng chấp thuận đơn từ nhiệm của Giám mục chính tòa Đa Minh Nguyễn Chu Trinh.

Ngày 6 tháng 6 năm 2019, Giáo hoàng Phanxicô bổ nhiệm ông làm thành viên Thánh bộ Giáo dục Công giáo, trực thuộc Giáo triều Rôma.

Nicôla Huỳnh Văn Nghi

Nicôla Huỳnh Văn Nghi (1927 - 2015) là một Giám mục Công giáo người Việt, từng giữ chức Giám mục phụ tá Tổng giáo phận Sài Gòn, rồi Giám mục chính tòa Giáo phận Phan Thiết và Giám quản Tông Tòa Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh. Trong Hội đồng Giám mục Việt Nam, ông đã đảm nhiệm các chức vụ: Phó Tổng thư ký Giáo tỉnh Sài Gòn nhiệm kỳ IV và V (1989 - 1995), Phó Chủ tịch I, nhiệm kỳ VI và VII (1995–2001) và Thủ quỹ, nhiệm kỳ VII (1998–2001).Ông thụ phong linh mục năm 1953 rồi tấn phong giám mục năm 1974 với chức vụ ban đầu là Giám mục phụ tá Tổng giáo phận Sài Gòn. Năm 1975, ông được bổ nhiệm làm Giám mục Giám quản Giáo phận Phan Thiết vừa thành lập để đón Giám mục Tiên khởi Phaolô Nguyễn Văn Hòa. Tuy nhiên, vì một số lý do, Giám mục Hòa không đến được đây và Tòa Thánh bổ nhiệm làm Giám mục chính tòa Giáo phận Nha Trang, Giám mục Huỳnh Văn Nghi làm Giám quản tại đây đến năm 1979 thì được bổ nhiệm chính thức làm Giám mục chính tòa Giáo phận Phan Thiết, do Giám mục Hòa chưa cai quản giáo phận nên có thể coi ông là Giám mục Tiên khởi giáo phận này.

Trong lần gặp gỡ giữa Vatican và chính phủ Việt Nam năm 1992 và 1993, Tòa Thánh ngỏ ý chọn ông làm Tổng giám mục Phó Tổng giám mục Thành phố Hồ Chí Minh nhưng sự việc đi kèm là việc Tổng giám mục Phó Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận ra Hà Nội không được chính phủ đồng ý và việc bổ nhiệm này không được thực hiện. Tuy vậy tháng 8 năm 1993, Tòa Thánh lên tiếng bổ nhiệm Giám mục Huỳnh Văn Nghi làm Giám quản Tông Tòa Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh (tên cũ là Sài Gòn) và chính quyền Việt Nam đã hết sức phản đối việc này, ngăn cản ông thi hành nhiệm vụ tại đây. Tuy vậy, ông vẫn thực hiện nhiệm vụ Giám quản Tổng giáo phận, và kết thúc nhiệm vụ của mình khi đón Tân Tổng giám mục Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn, nguyên là Giám mục Phó Giáo phận Mỹ Tho đến nhậm chức tại Nhà thờ chính tòa Đức Bà Sài Gòn.

Năm 2005, ông chính thức nghỉ hưu và qua đời ngày 6 tháng 5 năm 2015, thọ 88 tuổi.

Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang

Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang (8 tháng 1 năm 1931 – 5 tháng 10 năm 2017) là một giám mục của Giáo hội Công giáo Rôma tại Việt Nam. Ông nguyên là Giám mục chính tòa Giáo phận Thái Bình, đảm nhận chức vụ này trong gần 20 năm, từ năm 1990 đến năm 2009. Khẩu hiệu giám mục của ông là "Chân lý trong tình thương".Ngoài việc quan tâm đến đời sống tôn giáo, giám mục Sang còn viết, xuất bản nhiều đầu sách khác nhau về văn thơ với bút danh Bạch Lạp, Tông Đồ, Người Quan Sát. Ông cũng từng được ngỏ ý mời vào hội nhà văn.

Giám mục Nguyễn Văn Sang quê ở Hoài Đức, ngoại thành Hà Nội, có chí hướng tu trì từ nhỏ. Sau quá trình tu học, năm 1954, chủng sinh Sang cùng với Đại chủng viện di cư vào Nam, sau đó từ bỏ ý định, trở lại Hà Nội tu học và thụ phong linh mục năm 1958. Sau quá trình công tác mục vụ, năm 1979, linh mục Sang được bổ nhiệm làm linh mục chính xứ Nhà thờ Lớn Hà Nội, Tổng quản miền Hà Nội.

Năm 1981, Tòa Thánh chọn linh mục Nguyễn Văn Sang làm Giám mục Phụ tá Hà Nội. Sau cái chết của Hồng y, Tổng giám mục Hà Nội Giuse Maria Trịnh Văn Căn, giám mục Nguyễn Văn Sang được bổ nhiệm làm Giám quản rồi Giám mục chính tòa Giáo phận Thái Bình năm 1990. Giám mục Sang có cách tiếp cận và đề nghị khéo léo với các cấp chính quyền để đề nghị các nhu cầu của Giáo phận. Ngoài công tác mục vụ, ông cũng thường làm các công tác từ thiện. Ông rời khỏi chức vụ giám mục Thái Bình năm 2009.

Tại Hội đồng Giám mục Việt Nam, Nguyễn Văn Sang từng giữ nhiều chức vụ quan trọng khác nhau: Tổng Thư ký (1983 – 1989), Phó Chủ tịch (1989 – 1995), Chủ tịch Uỷ ban Giáo dân (1995 – 2004).Năm 2004, Chủ tịch nước trao tặng Giám mục Nguyễn Văn Sang Huân chương Đại đoàn kết dân tộc. Sau khi nghỉ hưu, Nguyễn Văn Sang được mời trở thành thành viên Mặt trận Tổ Quốc, Quốc hội nhưng ông quyết định từ chối.

Phaolô Bùi Chu Tạo

Phaolô Bùi Chu Tạo (1909 - 2001) là một Giám mục Công giáo người Việt Nam, từng đảm nhận vai trò Giám mục chính tòa tiên khởi của giáo phận Phát Diệm trong suốt gần 40 năm, từ năm 1960 đến năm 1998. Trước đó, ông là linh mục Giám quản Tông Tòa trong 3 năm trước khi được chọn làm Giám mục, đảm nhận vị trí Giám quản Tông Tòa của Hạt Đại diện Tông Tòa Phát Diệm. Ông được tấn phong Giám mục năm 1959 với khẩu hiệu: "Yêu thương chân thành không giả dối".Bùi Chu Tạo sinh năm 1909 tại Ninh Bình với tên thật là Bùi Tạo trong một gia đình nông dân. Có mong muốn tu trì từ nhỏ, cậu bé Tạo được gia đình đồng ý cho theo con đường này. Trải qua thời gian dài tu học tại các chủng viện khác nhau, Bùi Chu Tạo được phong chức linh mục năm 1937.

Sau khi được truyền chức linh mục, Bùi Chu Tạo đảm nhận vai trò Giáo sư chủng viện, sau đó dưỡng bệnh từ năm 1951 đến năm 1954. Sau 1954, giáo dân cũng như linh mục suy giảm đáng kể do di cư vào Nam, kể cả Đại diện Tông Tòa Bùi Chu là giám mục Tađêô Lê Hữu Từ cũng theo giáo dân di cư. Vì vậy, Tòa Thánh chọn linh mục Bùi Chu Tạo làm Giám quản Tông Tòa Hạt Đại diện Tông Tòa Phát Diệm vào cuối năm 1956.

Ba năm sau khi đảm nhận vai trò giám quản, Tòa Thánh bổ nhiệm Bùi Chu Tạo làm Đại diện Tông Tòa Phát Diệm, danh hiệu giám mục Hiệu tòa Numida vào đầu năm 1959. Lễ truyền chức cử hành vào tháng 4 cùng năm. Cùng với việc thiết lập Hàng giáo phẩm Công giáo Việt Nam, ngày 24 tháng 11 năm 1960, ông được nâng thành Giám mục chính tòa Tiên khởi Giáo phận Phát Diệm.

Trong thời kỳ khó khăn của giáo phận, Bùi Chu Tạo gửi nhiều Thư Chung đến với các giáo dân, cổ võ học hỏi kinh bổn, trùng tu các công trình tôn giáo. Ông được đánh giá là người điền đạm, bao dung, ăn nói nhỏ nhẹ với cung giọng trầm, thâm thúy và hóm hỉnh. Ông cũng được ghi nhớ bởi cách sống giản dị của mình.

Phaolô Bùi Văn Đọc

Phaolô Bùi Văn Đọc (11 tháng 11 năm 1944 - 7 tháng 3 năm 2018) là một giám mục Giáo hội Công giáo Roma người Việt Nam. Ông nguyên là Tổng giám mục của Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh từ 2014 đến 2018, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam nhiệm kỳ 2013 - 2016 cũng là nguyên Chủ tịch Ủy ban Giáo lý Đức tin thuộc Hội đồng giám mục Việt Nam trong 5 nhiệm kỳ 2001 - 2018 (trừ giai đoạn 2013 - 2016 làm Chủ tịch Hội đồng). Khẩu hiệu giám mục của ông là "Chúa là nguồn vui của con."

Ông sinh tại Đà Lạt. Trong quá trình tu tập, từ năm 1956, ông học tại nhiều nơi: Tiểu chủng viện Sài Gòn, Đại Chủng viện Thánh Giuse Sài Gòn và tại Đại học Truyền giáo Urbaniana, Rôma. Ông nghiên cứu, tìm hiểu và giảng dạy một trong những đề tài được đánh giá là hóc búa nhất của thần học, đó là về Chúa Ba Ngôi. Năm 1970, ông trở về Việt Nam và được thụ phong linh mục ngày 17 tháng 12. Sau khi thụ phong linh mục, ông lần lượt được bổ nhiệm làm giáo sư Tiểu chủng viện Simon Hòa, Đại chủng viện Minh Hòa và Viện Đại học Đà Lạt. Năm 1975, ông được bổ nhiệm làm Giám đốc Đại chủng viện Minh Hòa. Giai đoạn sau đó, ông được mời làm giáo sư Thần học tín lý tại Giáo hoàng Học viện Thánh Piô X Đà Lạt, và các Đại chủng viện Sài Gòn, Huế và Hà Nội. Từ năm 1995, ông kiêm thêm nhiệm vụ Tổng đại diện Giáo phận Đà Lạt.Ngày 26 tháng 3 năm 1999, ông được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Giám mục chính tòa Giáo phận Mỹ Tho. Lễ tấn phong giám mục của ông diễn ra tại nhà thờ chính tòa Đà Lạt ngày 20 tháng 5 cùng năm do Tổng giám mục Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn làm chủ phong.Ngày 28 tháng 9 năm 2013, ông được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Tổng giám mục phó của Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh với quyền kế vị. Cùng với bổ nhiệm trên đây, Tân Tổng giám mục Phó Bùi Văn Ðọc cũng được bổ nhiệm làm Giám quản Tông Tòa giáo phận Mỹ Tho. Tại kỳ họp thứ 12 của Hội đồng Giám mục Việt Nam tại Trung tâm Mục vụ Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh, ông đã được các giám mục bầu làm Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam nhiệm kỳ 2013 - 2016. Ngày 19 tháng 10 năm 2013, Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh cử hành lễ bế mạc Năm Đức Tin, nhân dịp này giới thiệu Tân Tổng giám mục Phó Bùi Văn Đọc đến giáo dân.Ngày 22 tháng 3 năm 2014, Giáo hoàng Phanxicô đã chấp thuận đơn từ nhiệm chức Tổng giám mục của Hồng y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn, Tổng giám mục phó Phaolô Bùi Văn Đọc đương nhiên kế vị chức tổng giám mục theo Giáo luật. Sáng ngày 24 tháng 4 năm 2014, Tân Tổng giám mục chính tòa Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh Phaolô Bùi Văn Đọc chủ sự lễ nhận chức vụ. Ngày 29 tháng 6 năm 2014, Tổng giám mục Phaolô Bùi Văn Đọc nhận dây pallium do Giáo hoàng Phanxicô trao. Ngày 13 tháng 9 cùng năm, Giáo hoàng bổ nhiệm ông làm thành viên Bộ truyền giáo.Tổng giám mục Bùi Văn Đọc qua đời cách đột ngột tại Rôma, khi đang tham dự chuyến hành trình Ad Limina cùng với Hội đồng Giám mục Việt Nam vào sáng ngày 7 tháng 3, theo giờ Việt Nam. Cái chết đột ngột của ông tạo ra những biến cố lần đầu tiên: giám mục Việt Nam đương nhiệm đầu tiên qua đời tại giáo đô Rôma, giám mục Việt Nam đầu tiên qua đời trong chuyến Ad Limina, được giáo hoàng dâng lễ cầu nguyện và Hồng y Quốc vụ khanh chủ sự lễ đưa chân. Thi hài cố Tổng giám mục về đến Việt Nam tối ngày 15 cùng tháng sau nhiều thủ tục phức tạp. Tang lễ cho cố Tổng giám mục do Tổng giám mục Giuse Nguyễn Chí Linh chủ tế vào 8 giờ sáng ngày 17 tháng 3.

Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng

Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng (1919 – 2009) là một hồng y Công giáo người Việt Nam. Ông là vị hồng y thứ ba của Việt Nam, được vinh thăng sau hai vị Hồng y đầu tiên là Giuse Maria Trịnh Như Khuê và thứ hai là Giuse Maria Trịnh Văn Căn. Ông cũng từng là Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam hai khoá liên tiếp từ năm 1995 đến năm 2001. Hồng y Tụng là người nhận chức vụ Tổng giám mục cao tuổi nhất trong lịch sử giáo hội Công giáo tại Việt Nam khi đã 75 - 76 tuổi.Phạm Đình Tụng trong một gia đình Công giáo làm nghề nông tại Ninh Bình. Bắt đầu con đường tu học từ năm 1925, trải qua nhiều giai đoạn khó khăn do chiến sự và tu học tại nhiều nơi, cuối cùng, phó tế Phạm Đình Tụng được thụ phong chức Linh mục tại Nhà thờ chính tòa Hà Nội tháng 6 năm 1949. Sau khi được truyền chức linh mục, linh mục Tụng được bổ nhiệm làm phó xứ rồi nhanh chóng trở thành chính xứ giáo xứ Hàm Long, Hà Nội.

Tháng 4 năm 1963, Tòa Thánh bổ nhiệm linh mục Phạm Đình Tụng làm Giám mục chính tòa Giáo phận Bắc Ninh. Tân giám mục được tấn phong Giám mục sau đó ngày 15 tháng 8 bởi chủ phong là Tổng giám mục Tổng giáo phận Hà Nội Giuse Maria Trịnh Như Khuê. Khẩu hiệu Giám mục của ông là Tôi tin vào tình yêu Thiên Chúa.

Tháng 7 năm 1990, giám mục Phạm Đình Tụng được Tòa Thánh bổ nhiệm làm giám quản Tông tòa Giáo phận Hà Nội, kiêm chức Giám đốc Đại Chủng viện Hà Nội. Ngày 13 tháng 4 năm 1994, ông chính thức được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Tổng Giám mục Hà Nội. Tháng 11 năm 1994, Tổng giám mục Tụng được Giáo hoàng Gioan Phaolô II phong làm Hồng y linh mục nhà thờ Santa Maria "Regina Pacis" in Ostia mare.

Đầu tháng 5 năm 2003, Hồng y Phạm Đình Tụng trao quyền cai quản Tổng giáo phận Hà Nội cho Giám quản Tông Tòa Giuse Ngô Quang Kiệt. Ngày 19 tháng 2 năm 2005, Toà Thánh chính thức cho phép ông về hưu theo Giáo luật khi bổ nhiệm Tổng giám mục kế vị chính là giám mục giám quản Ngô Quang Kiệt.

Philípphê Nguyễn Kim Điền

Philipphê Nguyễn Kim Điền (1921 - 1988) là một Giám mục của Giáo hội Công giáo Rôma tại Việt Nam. Ông nguyên là Giám mục chính tòa Tiên khởi Giáo phận Cần Thơ và nguyên Tổng giám mục đô thành Tổng Giáo phận Huế. Khẩu hiệu Giám mục của ông là "Nên mọi sự cho mọi người".Tổng giám mục Nguyễn Kim Điền sinh tại Trà Vinh và lớn lên tại Sài Gòn. Sau khi trở thành linh mục một khoảng thời gian ngắn, ông trở thành giám đốc chủng viện tại Sài Gòn nhưng quyết định từ bỏ để gia nhập dòng Tiểu Đệ, lấy đời sống khó nghèo làm mục tiêu. Trong thời gian là linh mục dòng Tiểu Đệ, ông lao động, mưu sinh bằng các công việc như khuân vác, đạp xích lô đồng thời thực hiện công việc truyền giáo. Năm 1960, linh mục Điền được chọn làm Giám mục Cần Thơ rồi thăng Tổng giám mục, Giám quản Tông Tòa Tổng giáo phận Huế vào năm 1964 trước khi chính thức trở thành Tổng giám mục đô thành Huế bốn năm sau đó.

Tổng giám mục Điền có cách xử lí tế nhị với chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, ông quyết định phân tách Giáo hội khỏi sự ảnh hưởng của chính quyền. Sau chiến tranh Việt Nam, ông nhiều lần lên tiếng bàn luận về các quyền tự do, không những trong tôn giáo và còn về nhiều vấn đề khác. Chính quyền mới đánh giá tổng giám mục Điền là gián điệp của thế lực ngoại bang cài cắm tại Việt Nam, phần tử chống Cộng quyết liệt. Phía Công giáo, giáo hoàng Gioan Phaolô II gọi ông là vị tổng giám mục anh dũng, báo chí Tây phương gọi ông là giám mục kiên cường.Nguyễn Kim Điền qua đời ngày 8 tháng 6 năm 1988 tại bệnh viện Chợ Rẫy, Thành phố Hồ Chí Minh. Cái chết đột ngột của giám mục Điền khiến nhiều nguồn tin cho rằng ông đã bị đầu độc. Hiện nay, hàng ngày vẫn có giáo dân đến viếng, cầu nguyện trước mộ phần cố tổng giám mục Điền. Đối với đa số giáo dân Huế, ông là một vị thánh tử đạo.Tổng giám mục Nguyễn Kim Điền cũng chính là tác giả lời dịch tiếng Việt của Kinh Hòa Bình, sau này được linh mục nhạc sĩ Kim Long phổ nhạc năm 1960. Ngoài việc quản lý các giáo phận, ông từng đảm trách Caritas Việt Nam (1968 - 1972) và Tổng thư ký Hội đồng Giám mục Miền Nam Việt Nam. Sau khi Việt Nam thống nhất, ông đảm nhận vai trò phó chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam trong 3 nhiệm kỳ đầu tiên, từ năm 1980 đến năm 1989.

Phêrô Nguyễn Văn Nhơn

Phêrô Nguyễn Văn Nhơn (sinh ngày 1 tháng 4 năm 1938) là một Hồng y, giám mục Công giáo người Việt. Ông từng đảm nhiệm vai trò Tổng giám mục Tổng Giáo phận Hà Nội, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam. Khẩu hiệu giám mục là: "Ngài phải lớn lên" (Ga 3,30). Ông có thể nói được các thứ tiếng như: tiếng Anh, tiếng Pháp và Latinh bên cạnh tiếng mẹ đẻ là tiếng Việt.Hồng y Nhơn sinh ngày 1 tháng 4 năm 1938 tại Đà Lạt trong một gia đình có truyền thống Công giáo lâu đời. Lần lượt, cậu bé Nhơn đi theo con đường tu trì trong suốt khoảng gần 20 năm, từ năm 1949 với việc gia nhập tiểu chủng viện đến khi tốt nghiệp Giáo hoàng Học viện Đà Lạt năm 1968.

Ngày 21 tháng 12 năm 1967, Phó tế Nhơn được thụ phong linh mục tại Đà Lạt. Ông lần lượt giữ các chức vụ Giám đốc Ðại chủng viện Minh Hòa Đà Lạt, linh mục Chánh xứ Nhà thờ chính tòa Đà Lạt rồi trở thành linh mục Tổng Đại diện giáo phận này.

Ngày 11 tháng 10 năm 1991, ông được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Giám mục phó Giáo phận Đà Lạt, được tấn phong ngày 3 tháng 12 cùng năm. Từ đó đến năm 1994, ông đảm nhiệm vai trò Giám mục phó Giáo phận Đà Lạt, trước khi kế nhiệm chức giám mục chính tòa Giáo phận Đà Lạt từ 23 tháng 3 năm 1994.

Ngày 22 tháng 4 năm 2010, Tòa Thánh bổ nhiệm Giám mục Nguyễn Văn Nhơn làm Tổng giám mục Phó Tổng giáo phận Hà Nội với quyền kế vị làm giáo dân có nhiều bất mãn khi giáo phận này đang có sự căng thẳng kể từ cuối năm 2007 với một chuỗi sự kiện do Tổng giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt có liên quan. Chỉ ít lâu sau đó, ngày 7 tháng 5, ông chính thức nhậm chức Tổng giám mục Phó Hà Nội với một buỗi lễ mà giáo dân ủng hộ Tổng giám mục Kiệt gây náo động bên ngoài nhà thờ. Một tuần sau đó ngày 13 tháng 5, Toà Thánh bất ngờ loan tin chấp thuận đơn từ chức của Tổng giám mục Kiệt với lý do sức khoẻ, ông đương nhiên lên kế vị, trở thành Tổng giám mục chính tòa Hà Nội, với thời gian làm Tổng giám mục Phó ngắn ngủi ba tuần, thực tế chỉ kéo dài chưa đầy một tuần lễ (7 tháng 5 đến ngày 13 tháng 5).

Ngày 4 tháng 1 năm 2015, Tổng giám mục Nguyễn Văn Nhơn được Giáo hoàng Phanxicô loan báo vinh thăng tước vị Hồng y, các nghi thức nhận tước vị được cử hành cách chính thức sau đó vào ngày 14 tháng 2. Sau đó, ngày 13 tháng 4 cùng năm, tân hồng y được bổ nhiệm làm thành viên của Bộ Truyền giáo và Hội đồng Toà thánh Công lý - Hòa Bình.

Ngày 1 tháng 4 năm 2018, Hồng y Nhơn tròn 80 tuổi, qua đó mất đi quyền bầu chọn giáo hoàng trong Mật nghị Hồng y. Ngày 17 tháng 11 năm 2018, Tòa Thánh chấp thuận đơn xin từ nhiệm của ông vì lý do tuổi tác, đồng thời chọn Giám mục Giáo phận Hải Phòng Giuse Vũ Văn Thiên làm Tổng giám mục Hà Nội.

Stêphanô Tri Bửu Thiên

Stêphanô Tri Bửu Thiên (sinh 1950) là một Giám mục của Giáo hội Công giáo tại Việt Nam. Ông hiện là Giám mục chính tòa của Giáo phận Cần Thơ và đảm nhiệm vai trò này từ năm 2010. Khẩu hiệu Giám mục của ông là "Ðến với muôn dân". Trong Hội đồng Giám mục Việt Nam, giám mục Tri Bửu Thiên giữ chức Chủ tịch Uỷ ban Thánh Nhạc trong hai nhiệm kỳ liên tiếp, từ năm 2004 đến năm 2010. Hiện nay, ông phụ trách Uỷ ban Đối thoại Liên tôn trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam.Giám mục Tri Bửu Thiên sinh ra tại Sóc Trăng, từ thuở thiếu thời đã đi theo con đường tu học trong các Chủng viện Công giáo. Sau khoảng thời gian dài tu học cũng như gián đoạn, năm 1987, ông được truyền chức linh mục. Sau khi lần lượt đảm nhận nhiều chức vụ khác nhau như quản giáo họ Xuân Hòa, giáo sư Chủng viện, ông được cử đi du học Rôma và tốt nghiệp Tiến sĩ Thần học Luân Lý. Trở về Việt Nam, ông tiếp tục công việc giảng dạy tại Đại chủng viện.

Tháng 11 năm 2002, Tòa Thánh bổ nhiệm linh mục Stêphanô Tri Bửu Thiên làm giám mục phó Cần Thơ. Lễ tấn phong diễn ra sau đó vào tháng 2 năm 2003. Ông kế vị chức giám mục Cần Thơ vào tháng 10 năm 2010, sau khi giám mục Lê Phong Thuận từ trần. Giám mục Tri Bửu Thiên được ghi nhận về phong cách sống cũng như hành xử bình dân đối với mọi người. Trăn trở của ông trong vai trò giám mục là loan truyền Kinh Thánh trong đời sống giáo dân và đào tạo hàng giáo sĩ. Ông cũng tích cực tham gia các hoạt động liên quan đến vấn đề đối thoại liên tôn.

Tôma Nguyễn Văn Tân

Tôma Nguyễn Văn Tân (1940 – 2013) là một Giám mục người Việt Nam của Giáo hội Công giáo Rôma. Ông từng đảm trách vai trò Giám mục chính tòa Giáo phận Vĩnh Long từ năm 2001 đến khi qua đời. Trước đó, ông đảm nhận vai trò giám mục phó giáo phận Vĩnh Long từ năm 2000. Khẩu hiệu Giám mục của Tôma Nguyễn Văn Tân là Hành trình trong Đức Ái.

Nguyễn Văn Tân sinh ra ở Trà Vinh trong một gia đình nông dân. Con đường tu trì bắt đầu từ năm 13 tuổi, khi cậu bé Tân vào Tiểu chủng viện Vĩnh Long, sau đó học tại Giáo hoàng học viện Thánh Piô Đà Lạt và được thụ phong linh mục năm 1969. Sau khi được truyền chức, Nguyễn Văn Tân làm Giáo sư Tiểu Chủng viện Vĩnh Long trong thời gian ngắn và đến Rôma tu học tốt nghiệp Tiến sĩ Thần học và trở về nước năm 1974. Trong thời gian tại Việt Nam, ông lần lượt thực hiện việc mục vụ trong giáo phận Vĩnh Long: giáo sư môn Thần học Luân lý, phụ trách nhà thờ chủng viện, phụ trách các lớp Tiền Chủng viện của giáo phận Vĩnh Long.

Năm 2000, giáo hoàng Gioan Phaolô II bổ nhiệm linh mục Tôma Nguyễn Văn Tân làm giám mục phó giáo phận Vĩnh Long, thay thế giám mục phó Raphael Nguyễn Văn Diệp về hưu. Tháng 7 năm 2001, giám mục chính tòa Nguyễn Văn Mầu từ chức, giám mục Tân kế vị chức giám mục chính tòa giáo phận Vĩnh Long.

Ngày 17 tháng 8 năm 2013, giám mục Tôma Nguyễn Văn Tân qua đời sau một cơn đột quỵ, vì chưa có giám mục phó nên giáo phận Vĩnh Long trống tòa. Hội đồng linh mục bầu linh mục Phêrô Dương Văn Thạnh làm giám quản. Tháng 10 năm 2015, giáo hoàng Phanxicô bổ nhiệm linh mục Phêrô Huỳnh Văn Hai làm tân giám mục Vĩnh Long.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.