Gaza

Gaza (tiếng Ả Rập: غزةĠazzah, phát âm tiếng Ả Rập: [ˈɣazːa], tiếng Hebrew: עזהAzza phát âm tiếng Hebrew: [ˈ(ʕ)aza]), cũng được gọi là Thành phố Gaza, là một thành phố của người Palestine ở Dải Gaza, thành phố có khoảng 450.000 người và là thành phố lớn nhất Palestine. Con người đã định cư tại khu vực thành phố ngày nay ít nhất là từ thế kỷ 15 TCN,[4] Trong suốt lịch sử của mình, Gaza từng do một vài nhóm người và đế chế khác nhau thống trị. Philistine từng biến thành phố trở thành một trong pentapolis của mình sau khi những người Ai Cập cổ đại đã thống trị được gần 350 năm. Dưới thời La MãByzantine, Gaza đã trải qua một thời kỳ tương đối hòa bình và cảng của Gaza từng trở nên hưng thịnh. Năm 635 SCN, Gaza trở thành thành phố đầu tiên tại Palestine bị quận Rashidun chiếm đoạt và nhanh chóng phát triển thành một trung tâm của giáo luật Hồi giáo. Tuy nhiên, khi quân Crusades xâm lược, thành phố đã bị phá hủy. Những thế kỷ sau đó, Gaza đã phải trải qua một số thử thách—từ các cuộc tấn công bất ngờ của Đế quốc Mông Cổ cho đến nạn lụt lội và châu chấu, khiến cho thành phố sa sút và chỉ còn là một ngôi làng trong thế kỷ 16 khi nó bị sáp nhập vào Đế chế Ottoman. Trong nửa đầu của thời kỳ Ottoman kiểm soát, triều đại Ridwan đã kiểm soát Gaza và thành phố đã bắt đầu một thời kỳ thương mại và hòa bình phát triển nhất.

Suốt lịch sử của mình, Gaza chưa từng được tự trị hay độc lập. Gaza đã rơi vào tay Quân đội Anh trong Thế chiến I, rồi trở thành một phần của Uỷ trị Palestine thuộc Anh. Sau cuộc chiến Ả Rập-Israel năm 1948], Ai Cập đã cai quản lãnh thổ Dải Gaza và một số cải thiện đã được hứa hẹn. Tuy nhiên, Gaza đã bị Israel chiếm được trong Chiến tranh 6 ngày vào năm 1967, nhưng năm 1993, thành phố đã được trao lại cho Hội đồng Dân tộc Palestine. Sau cuộc bầu cử năm 2006, xung đột vũ trang giữa 2 nhóm Palestine Fatah và Hamas đã dẫn đến việc thành phố bị phong tỏa bới Israel và Ai Cập

Hoạt động kinh tế chính tại Gaza là các ngành công nghiệp nhỏ, nông nghiệp và lao động trí óc. Tuy nhiên, nền kinh tế đã bị tàn phá do lệnh phong tỏa cũng như những vụ xung đột xảy ra thường xuyên. Hầu hết cư dân Gaza theo Hồi giáo và một phần nhỏ theo Thiên Chúa giáo. Gaza có dân số rất trẻ với gần 75% dân số dưới 25 tuổi và thành phố nay là một trong những nơi có mật độ dân số cao nhất trên thế giới

Gaza
—  muna  —
Hình nền trời của Gaza
Gaza coat.png
Vị trí của Gaza
Gaza trên bản đồ Palestine
Gaza
Gaza
Tọa độ: 31°31′B 34°27′Đ / 31,517°B 34,45°Đ
Dân số 449.221[1]
Múi giờUTC+2, UTC+3

Tên gọi

Theo nhà địa lý người Israel Zev Vilnay, tên gọi "Gaza," xuất phát từ tiếng Ả Rập "Ġazza", có nguồn gốc xa hơn từ tiếng Canaanite/Hebrew cổ nghĩa là "kiên cố" (ʿzz), và đã được giới thiệu vào tiếng Ả Rập qua tiếng Do Thái (Hebrew), "ʿazzā", tức là. "pháo đài".[5] Theo Mariam Shahin, người Canaan đã đặt tên cho mình là Gaza, người Ai Cập cổ đại gọi là "Ghazzat" ("thành phố được quý trọng"), và người Ả Rập cổ thường đế cập tới là "Ghazzat Hashim", theo tên Hashim, cụ của đấng tiên tri Muhammad, người đã được chôn cất tại thành phố này, theo như kinh thánh Hồi giáo.[6]

Tham khảo

  1. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên PCBS2
  2. ^ Palestine Facts Timeline Palestinian Academic Society for the Study of International Affairs (PASSIA).
  3. ^ “Gaza City”. Gaza Municipality. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2009.
  4. ^ “Gaza (Gaza Strip)”. International Dictionary of Historic Places 4. Fitzroy Dearborn Publishers. 1996. tr. 287–290.
  5. ^ Zev Vilnay, The Guide to Israel, Jerusalem, Hamakor, 1970, pp.298–299
  6. ^ Shahin, 2005, p. 414.
  7. ^ “Appendix I: Meteorological Data” (PDF) (bằng tiếng Anh). Springer. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2015.

Thư mục

Liên kết ngoài

Ai Cập cổ đại

Ai Cập cổ đại là một nền văn minh cổ đại nằm ở Đông Bắc châu Phi, tập trung dọc theo hạ lưu của sông Nile thuộc khu vực ngày nay là đất nước Ai Cập. Đây là một trong sáu nền văn minh phát sinh một cách độc lập trên thế giới. Nền văn minh Ai Cập được thống nhất lại vào năm 3150 TCN (theo trình tự thời gian của bảng niên đại Ai Cập) với sự thống nhất chính trị của Thượng và Hạ Ai Cập dưới thời vị pharaon đầu tiên (Narmer, thường được gọi là Menes). Lịch sử của Ai Cập cổ đại đã trải qua một loạt các thời kỳ vương quốc ổn định, và các giai đoạn hỗn loạn giữa chúng được gọi là các giai đoạn chuyển tiếp: Cổ Vương quốc thời kỳ Sơ kỳ Đồ đồng, Trung Vương quốc tương ứng giai đoạn Trung kỳ Đồ Đồng và Tân Vương quốc ứng với Hậu kỳ Đồ đồng.

Ai Cập đạt đến đỉnh cao của quyền lực vào giai đoạn Tân Vương quốc, trong thời kỳ Ramesside, vào thời điểm đó nó sánh ngang với đế quốc Hittite, đế quốc Assyria và đế chế Mitanni, trước khi bước vào giai đoạn dần suy yếu. Ai Cập đã bị xâm chiếm hoặc chinh phục bởi một loạt các cường quốc nước ngoài, chẳng hạn như người Canaan/Hyksos, Lybia, người Nubia, Assyria, Babylon, Ba Tư dưới triều đại Achaemenid, và người Macedonia trong Thời kỳ Chuyển tiếp thứ Ba và cuối thời kỳ Ai Cập cổ đại. Sau khi Alexander Đại Đế qua đời, một trong những tướng lĩnh của ông, Ptolemy I Soter, đã tuyên bố ông là vị vua mới của Ai Cập. Triều đại Ptolemy gốc Hy Lạp này đã cai trị Ai Cập cho đến năm 30 TCN khi nó rơi vào tay đế quốc La Mã và trở thành một tỉnh La Mã.Sự thành công của nền văn minh Ai Cập cổ đại một phần đến từ khả năng thích ứng của nó với các điều kiện của thung lũng sông Nile cho sản xuất nông nghiệp. Từ việc có thể dự đoán trước lũ lụt và việc điều tiết thủy lợi ở khu vực thung lũng màu mỡ đã tạo ra nhiều nông sản dư thừa, giúp nuôi dưỡng một lượng dân số đông hơn, tạo điều kiện phát triển xã hội và văn hóa. Với việc có nhiều nguồn lực dư thừa, nhà nước đã tập trung vào việc khai thác khoáng sản ở các thung lũng và các khu vực sa mạc xung quanh, cũng như việc sớm phát triển một hệ thống chữ viết độc lập, tổ chức xây dựng tập thể và các dự án nông nghiệp, thương mại với khu vực xung quanh, và xây dựng một đội quân nhằm mục đích đánh bại kẻ thù nước ngoài và khẳng định sự thống trị của Ai Cập. Thúc đẩy và tổ chức những hoạt động này là một bộ máy quan lại gồm các ký lục ưu tú, những nhà lãnh đạo tôn giáo, và các quan lại dưới sự kiểm soát của một pharaon, người đảm bảo sự hợp tác và đoàn kết của toàn thể người dân Ai Cập dưới một hệ thống tín điều tôn giáo tinh vi.Những thành tựu của người Ai Cập cổ đại bao gồm khai thác đá, khảo sát và kỹ thuật xây dựng hỗ trợ cho việc xây dựng các công trình kim tự tháp, đền thờ, và cột tháp tưởng niệm; một hệ thống toán học, một hệ thống thực hành y học hiệu quả, hệ thống thủy lợi và kỹ thuật sản xuất nông nghiệp, những tàu thủy đầu tiên được biết đến trên thế giới, công nghệ gốm sứ và thủy tinh của Ai Cập, những thể loại văn học mới, và các hiệp ước hòa bình được biết đến sớm nhất, được ký kết với người Hittite. Ai Cập đã để lại một di sản lâu dài. Nghệ thuật và kiến ​​trúc của nó đã được sao chép rộng rãi, và các cổ vật của nó còn được đưa tới khắp mọi nơi trên thế giới. Những tàn tích hùng vĩ của nó đã truyền cảm hứng cho trí tưởng tượng của du khách và nhà văn trong nhiều thế kỷ. Sự quan tâm mới hình thành dành cho những cổ vật và các cuộc khai quật trong thời kỳ cận đại ở châu Âu và Ai Cập dẫn đến việc khai sinh ra ngành Ai Cập học để nghiên cứu nền văn minh Ai Cập và một sự đánh giá đúng đắn hơn đối với di sản văn hóa của nó.

Ashkelon

Ashkelon or Ashqelon ( /ˈæʃkəlɒn/; tiếng Hebrew: אַשְׁקְלוֹן, [aʃkeˈlon]), cũng gọi là Ascalon ( /ˈæskəlɒn/; tiếng Hy Lạp: Ἀσκάλων, Askálōn; tiếng Ả Rập: عَسْقَلَان‎, ʿAsqalān), là một thành phố ven biển ở Huyện Nam của Israel trên bờ Địa Trung Hải, 50 km (31 dặm) về phía nam của Tel Aviv. Cảng biển cổ xưa của Ashkelon có từ thời kỳ đồ đá mới. Trong quá trình lịch sử của nó, khu vực này đã từng nằm dứơi sự cai trị của người Canaan, người Philistin, dân Do Thái, người Assyria, người Babylon, người Hy Lạp, người Phoenicia, người La Mã, người Ba Tư, người Ai Cập và quân Thập tự chinh, cho đến khi nó đã bị phá hủy bởi nhà Mamluk vào năm 1270.

Thành phố hiện đại của Ashkelon phát triển từ thị trấn Ả Rập al-Majdal (tiếng Ả Rập: المجدل hoặc tiếng Ả Rập: مجدل عسقلان, tiếng Do Thái: אל - מג 'דל, מגדל), được thành lập vào thế kỷ 16, dưới thời cai trị Đế quốc Ottoman. Sau đó nó được một phần của British mandate và đã bị Israel chiếm trong chiến tranh Ả Rập-Israel năm 1948, vào ngày 05 tháng 11 năm 1948.

Ashkelon có dân số 111.700 người. Thành phố có bãi biển đẹp, là một điểm đến hấp dẫn cho các gia đình trẻ, cũng như cho các cặp vợ chồng về hưu.

Chiến dịch Vành đai Bảo vệ

Chiến dịch Vành đai Bảo vệ là một chiến dịch quân sự do Lực lượng Phòng vệ Israel tiến hành ở Dải Gaza của Palestine, khai hỏa vào ngày 08 tháng 7 năm 2014. Chiến dịch được tiến hành sau một sự leo thang trước đó giữa Israel và Hamas.

Trong quá trình tìm kiếm ba thanh thiếu niên Israel bị bắt cóc và bị sát hại vào tháng 6 năm 2014, quân đội Israel đã giết chết 10 người Palestine, làm bị thương 130 và bố ráp 500-600 cá nhân Hamas liên quan trong một phần của Chiến dịch Người bảo vệ Anh em. Đáp trả lại, Hamas gia tăng các cuộc tấn công rocket vào Israel. Đến ngày 7 tháng 7, 100 quả rocket đã được bắn từ Gaza vào lãnh thổ Israel, hướng tới Beersheba, Ashdod, Ofakim, Ashkelon, và Netivot và Israel đã công kích Dải Gaza.

Trong đêm đó, Israel tấn công 50 mục tiêu ở Dải Gaza, và ngày 8 tháng 7, các chiến binh Palestine ở Gaza đã bắn hơn 140 quả rocket trong vòng 24 giờ vào Israel, xa về phía bắc Hadera, ngoài Tel Aviv.

Hệ thống phòng thủ chống tên lửa Vòm Sắt của Israel đã chặn được 30 quả rocket.

Kể từ khi chiến sự bùng phát tại Dải Gaza, ít nhất đã có 390 người Palestine thiệt mạng và hơn 3.000 người bị thương trong các cuộc tấn công do Israel tiến hành. Phần lớn các nạn nhân là dân thường Palestine.

Chiến tranh Israel–Hamas 2008-2009

Chiến tranh Gaza - gọi là Chiến dịch Chì Đúc (tiếng Hebrew: מבצע עופרת יצוקה‎ Mivtza Oferet Yetzuka) bởi Lực lượng Phòng vệ Israel và còn được gọi với cái tên Thảm sát Gaza (tiếng Ả Rập: مجزرة غزة‎) đối với thế giới Ả Rập, là một xung đột dài ba tuần giữa Israel và Hamas xảy ra tại Dải Gaza và Nam Israel]] trong mùa đông năm 2008-2009. Chiến dịch này nhằm trả đũa việc phe Hamas (Palestine) tấn công vào lãnh thổ Israel bằng rốcket và những vụ đánh bom liều chết. Tính cho tới thời điểm này, đay là chiến dịch gây tổn thất lớn nhất kể từ khi Hamas giành quyền kiểm soát Gaza kể từ năm 2006.

Lệnh ngưng bắn giữa Hamas và Israel kết thúc từ ngày 19 tháng 12 năm 2008. Hamas đổ lỗi cho Israel về việc lệnh ngưng bắn, tuyên bố Israel không tôn trọng các điều khoản của cuộc ngưng bắn, bao gồm việc dỡ bỏ phong tỏa dải Gaza. Israel tuyên bố Hamas đã bắn hàng trăm đạn cối, rốc-két và tên lửa vào Israel ngay cả khi lệnh ngưng bắn còn có hiệu lực, và tăng cường bắn phá kể từ sau lệnh ngưng bắn hết hạn. Chiến dịch này theo phía Israel là để triệt tiêu khả năng của Hamas tấn công Israel từ dải Gaza.Trong ngày đầu tiên của chiến dịch, không quân Israel ném bom khoảng 100 mục tiêu trong vòng bốn phút đầu tiên, bao gồm các căn cứ của Hamas, trại huấn luyện, sở chỉ huy và văn phòng trên toàn bộ các thị trấn chính tại dải Gaza, bao gồm Gaza, Beit Hanoun, Khan Younis, và Rafah. Không quân Israel cũng bắn phá một số mục tiêu dân sự như đền thờ Hồi giáo, trường học và nhà cửa, vì cho biết Hamas giấu người và vũ khí của mình trong đó, chứ họ không chủ trương tấn công dân thường. Hải quân Israel cũng pháo kích một số mục tiêu và tiến hành phong tỏa bờ biển Gaza

Hamas tăng cường bắn phá Israel trong suốt cuộc xung đột, bắn vào các thành phố Beersheba và Ashdod. Tầm bắn của tên lửa do Hamas phóng đi tăng từ 16 km lên 40 km kể từ đầu năm 2008. Các cuộc bắn phá này gây ra nhiều thiệt hại về người và của cho Israel.Từ ngày 3 tháng 1 năm 2009, bộ binh Israel bắt đầu tiến công, với bộ binh cơ giới, xe bọc thép, pháo binh và trực thăng vũ trang yểm trợ. Bộ trưởng quốc phòng Israel Ehud Barak tuyên bố "chiến tranh sẽ kéo dài đến cùng," còn Hamas tuyên bố "sẽ chiến đấu đến hơi thở cuối cùng."Tới thứ bảy, ngày 17 tháng 1, Israel tuyên bố đơn phương ngừng bắn, trong khi Hamas "thề tiếp tục chiến đấu." Tuy nhiên, mặc dù có lệnh ngưng bắn, Israel tuyên bố sẽ tiếp tục duy trì sự hiện diện của mình tại Gaza cho tới khi được đảm bảo rằng Hamas sẽ ngưng việc bắn tên lửa vào lãnh thổ Israel.

Chính quyền Dân tộc Palestine

Chính quyền Dân tộc Palestine (PNA hay PA; tiếng Ả Rập: السلطة الوطنية الفلسطينية‎ Al-Sulṭa Al-Waṭaniyyah Al-Filasṭīniyyah) là tổ chức hành chính được lập ra để cai quản các vùng của lãnh thổ Palestine gồm Bờ Tây và Dải Gaza.

Chính quyền Dân tộc Palestine được thành lập năm 1994, theo Hiệp định Oslo giữa Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO) và chính phủ Israel, như một cơ cấu tạm thời có thời hạn 5 năm trong đó các cuộc đàm phán về vị thế cuối cùng giữa hai bên dự định sẽ diễn ra nhưng chưa từng có trong thực tế. Theo Hiệp định Oslo, Chính quyền Palestine được trao quyền kiểm soát về cả các vấn đề liên quan tới an ninh và dân sự tại các khu vực đô thị Palestine (được gọi là "Khu vực A"), và chỉ được quyền quản lý dân sự tại các khu vực nông thôn Palestine ("Khu vực B"). Các lãnh thổ còn lại, gồm cả các khu định cư Israel, vùng Thung lũng Jordan, và những con đường nối giữa các cộng đồng Palestine, vẫn nằm hoàn toàn dưới quyền kiểm soát của Israel ("Khu vực C"). Đông Jerusalem không được đề cập trong Hiệp định.

Chính sách thị thực của Palestine

Chính sách thị thực của Palestine đề cập đến những điều kiện nhập cảnh các lãnh thổ của Palestine. Không có điều kiện nào khác với chính sách thị thực của Israel. Việc tiếp cận Jerusalem và Bờ Tây được quản lý bởi Chính phủ Israel và tiếp cận Gaza được quản lý bởi Hamas. Du khách đến qua biên giới Cầu Allenby-Vua Hussein mà đến Bờ Tây hoặc dự định đến Bờ Tây có thể được cấp dấu nhập cảnh cho phép du hành tại những vùng chính quyền Palestine quản lý của Bờ Tây. Không được phép rời Gaza qua Erez để đến Israel. Xuất cảnh qua biên giớiRafah để đến Ai Cập không chắc chắn và cần chính phủ Ai Cập cấp phép từ trước. Việc biên giới đóng thường bị kéo dài nên du khách thường không rời Dải Gaza bằng cách này được. Du khách gốc Palestine cần có hộ chiếu hoặc giấy tờ du hành của Palestine chỉ có thể nhập cảnh qua biên giới Allenby.

Cuộc oanh kích Giáo đường Maqadna năm 2009

Cuộc oanh kích Giáo đường Maqadna năm 2009 xảy ra vào ngày 3 tháng 1 năm 2009 là một phần trong Xung đột Gaza-Israel (2008–2009) khi máy bay chiến đấu Israel oanh tạc giáo đường Ibrahim al-Maqadna tại Bait Lahiya trong lúc có khoảng 200 tín đồ Hồi giáo đang cầu nguyện vào ban đêm. Giáo đường bị phá hủy nổi tiếng là một cứ điểm của Hamas, và Israel cho là nó được sử dụng để chứa vũ khí và phá hủy nhà cửa của hơn một chục thành viên Hamas. Tuy nhiên, dưới áp lực của quốc tế, chính phủ đã cho phép hàng trăm người Palestine có sổ thông hành ngoại quốc được rời khỏi Gaza đang bị vây hãm. Ít nhất 13 người Palestine chết, trong số có 1 thiếu niên và hơn 30 người bị thương.. Không rõ các nạn nhân trong vụ oanh tạc này có phải là chiến binh Hamas hay không.

Gaza (chi ốc biển)

Gaza là một chi ốc biển, là động vật thân mềm chân bụng sống ở biển trong họ Trochidae, họ ốc đụn.

Gaza (định hướng)

Gaza có thể là

Gaza, thành phố Gaza trong khu tự trị người Palestine

Dải Gaza, một dải đất hẹp ven biển dọc theo Địa Trung Hải, ở Trung Đông trong khu tự trị người Palestine

Gaza (đơn vị hành chính), một đơn vị hành chính tại Dải Gaza

Gaza (giáo phận), một giáo phận tại Gaza của Giáo hội Công giáo Rôma

Gaza (Iowa), huyện Gaza tại tiểu bang Iowa, Hoa Kỳ

Gaza, New Hampshire, một làng trong thành phố Sanbornton, New Hampshire

Gaza (tỉnh), tỉnh Gaza tại Mozambique

Gaza (vương quốc), một vương quốc trong thế kỷ 19, nay thuộc về Mozambique

Gaza (Sogdien), thành phố cổ tại Sogdiana, khoảng 20 km hướng Tây Nam từ Khujand tại Tajikistan

Gaza (quận), một quận tại Portmore, Jamaica (tên không chính thức), người dân tại đó thường tự gọi là vùng "Gaza"

Little Gaza, một khu vực người Mỹ gốc Ả Rập tại Anaheim, CaliforniaGaza cũng là họ tên người

Hilarion hay là Hilarion của Gaza (291–371), ẩn sĩ khổ hạnh và thánh Kitô giáo

Porphyry của Gaza (347–420), giám mục tại Gaza 395 - 420

Prokopios của Gaza (465–528), nhà tâm lý học và hùng biện

Choricius của Gaza (khoảng 491-518), nhà tâm lý học và hùng biện Hy Lạp

Theodorus Gaza (khoảng 1400–1475), nhà nhân văn học Hy Lạp

Bernhard von Gaza (1881–1917), tay đua người Đức

Ida Jarcsek-Gaza (* 1947), diễn viên và giáo sư Rumani

Gaza (nghệ sĩ), nghệ danh của nghệ sĩ dance Vybz Kartel

Gaza (ban nhạc), một ban nhạc MỹKhácGaza (nhân vật hoạt hình): Một nhân vật hoạt hình của Marvel.

Gaza cubana

Gaza cubana là một loài ốc biển, là động vật thân mềm chân bụng sống ở biển thuộc họ Trochidae, họ ốc đụn.

Gaza fischeri

Gaza fischeri là một loài ốc biển, là động vật thân mềm chân bụng sống ở biển thuộc họ Trochidae, họ ốc đụn.

Israel

Israel (phiên âm tiếng Việt: I-xra-en; tiếng Hebrew: יִשְׂרָאֵל‎ Yisrā'el; tiếng Ả Rập: إِسْرَائِيل‎ Isrāʼīl), tên chính thức là Nhà nước Israel (tiếng Hebrew: מְדִינַת יִשְׂרָאֵל‎ Medīnat Yisrā'el [mediˈnat jisʁaˈʔel]; tiếng Ả Rập: دولة إِسْرَائِيل‎ Dawlat Isrāʼīl [dawlat ʔisraːˈʔiːl]), là một quốc gia tại Trung Đông, trên bờ đông nam của Địa Trung Hải và bờ bắc của Biển Đỏ. Israel có biên giới trên bộ với Liban về phía bắc, với Syria về phía đông bắc, với Jordan về phía đông, và lần lượt giáp với các lãnh thổ Bờ Tây và Dải Gaza của Palestine về phía đông và tây, và với Ai Cập về phía tây nam. Quốc gia này có diện tích tương đối nhỏ, song lại có đặc điểm địa lý đa dạng. Trung tâm tài chính và công nghệ của Israel là Tel Aviv và Jerusalem được tuyên bố là thủ đô vào năm 1980 , song chủ quyền của Israel đối với Đông Jerusalem không được quốc tế công nhận.Ngày 29 tháng 11 năm 1947, Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua một phương án phân chia cho Lãnh thổ ủy trị Palestine. Phương án này phân chia lãnh thổ ủy trị Palestine thành 2 nhà nước, một của người Ả Rập và một của người Do Thái, trong khi khu vực Jerusalem nằm dưới quyền quản lý của Liên Hiệp Quốc dưới một chính thể quốc tế. Thời điểm kết thúc quyền quản lý ủy trị của Anh đối với Palestine được định vào nửa đêm ngày 14 tháng 5 năm 1948. Đến ngày đó, một thủ lĩnh Do Thái là David Ben-Gurion tuyên bố "thành lập một nhà nước Do Thái tại Eretz Israel, được biết đến với tên gọi Nhà nước Israel", thể chế sẽ bắt đầu hoạt động khi kết thúc sự quản lý ủy trị. Biên giới của nhà nước mới không được xác định trong tuyên bố. Quân đội các quốc gia Ả Rập lân cận xâm chiếm cựu lãnh thổ do Anh quản lý ủy trị vào ngày sau đó và chiến đấu với lực lượng Israel. Kể từ đó, Israel chiến đấu trong một số cuộc chiến với các quốc gia Ả Rập lân cận, trong quá trình đó Israel chiếm đóng Bờ Tây, bán đảo Sinai (1956–57, 1967–82), bộ phận của miền nam Liban (1982–2000), Dải Gaza (1967–2005; vẫn bị xem là chiếm đóng sau 2005) và Cao nguyên Golan. Israel mở rộng pháp luật của mình đến Cao nguyên Golan và Đông Jerusalem, song không đến Bờ Tây. Các nỗ lực nhằm giải quyết xung đột Israel–Palestine không đạt được kết quả là hòa bình. Tuy nhiên, các hiệp ước hòa bình giữa Israel với Ai Cập và Jordan được ký kết thành công. Sự chiếm đóng của Israel tại Dải Gaza, Bờ Tây và Đông Jerusalem là hành động chiếm đóng quân sự dài nhất trong lịch sử hiện đại.Theo xác định của Cục Thống kê Trung ương Israel, dân số Israel vào năm 2017 ước đạt 8.747.080 người. Đây là quốc gia duy nhất trên thế giới mà người Do Thái chiếm đa số, với 6.388.800 hay 74,8% công dân được chỉ định là người Do Thái. Nhóm công dân lớn thứ nhì trong nước là người Ả Rập, có số lượng là 1.775.400 người (bao gồm người Druze và hầu hết người Ả Rập Đông Jerusalem). Đại đa số người Ả Rập Israel theo phái Hồi giáo Sunni, bao gồm một lượng đáng kể người Negev Bedouin bán du cư; còn lại là các tín đồ Cơ Đốc giáo và Druze cùng các nhóm khác. Israel còn có một lượng cư dân đáng kể là các công nhân ngoại quốc, và những người tị nạn từ châu Phi và châu Á không có quyền công dân, trong đó có những người nhập cư bất hợp pháp từ châu Phi.

Theo Luật Cơ bản, Israel tự xác định là một nhà nước Do Thái và dân chủ. Israel có thể chế dân chủ đại nghị có một hệ thống nghị viện, đại diện tỷ lệ và phổ thông đầu phiếu. Thủ tướng là người đứng đầu chính phủ và Knesset đóng vai trò cơ quan lập pháp. Israel là một quốc gia phát triển và là một thành viên của OECD, có nền kinh tế lớn thứ 34 thế giới theo GDP danh nghĩa tính đến năm 2016. Quốc gia này hưởng lợi từ lực lượng lao động có kỹ năng cao, và nằm trong số các quốc gia có giáo dục nhất trên thế giới với tỷ lệ công dân có bằng bậc đại học vào hàng đầu. Israel có tiêu chuẩn sinh hoạt cao nhất tại Trung Đông, và đứng thứ tư tại châu Á, và nằm trong các quốc gia có tuổi thọ dự tính cao nhất thế giới.

Mairead Corrigan

Mairead Corrigan (sinh ngày 27.01.1944), cũng gọi là Máiread Corrigan-Maguire hoặc Mairead Maguire, là nhà hoạt động hòa bình người Ireland. Bà là người đồng sáng lập – cùng với Betty Williams – "Cộng đồng người hòa bình" (Community of Peace People), một tổ chức nhằm cổ vũ giải pháp hòa bình cho cuộc Xung đột vũ trang tại Bắc Ireland. Hai người phụ nữ này đã được trao Giải Nobel Hòa bình năm 1976. Ngoài giải Nobel Hòa bình nói trên, Corrigan cũng đã được trao nhiều giải thưởng khác.

Trong những năm gần đây, bà là người tích cực chỉ trích chính sách của chính phủ Israel đối với nhà nước và nhân dân Palestine. Để lôi kéo sự chú ý vào đường lối được cho là bất bạo động và hòa bình cho chính sách này - đặc biệt vào việc phong tỏa đường bộ và đường biển tới Dải Gaza – tháng 6 năm 2010 Corrigan đã có mặt trên "tàu cứu trợ" MV Rachel Corrie. Tàu này là một thành viên còn lại của một đội tàu quốc tế đi về hướng bờ biển Gaza, nhưng cuối cùng đã không được phép tới đó.

Napoléon Bonaparte

Napoléon Bonaparte (phiên âm: Na-pô-lê-ông Bôn-na-pác; tiếng Pháp: Napoléon Bonaparte [napoleɔ̃ bɔnɑpaʁt], tiếng Ý: Napoleone Buonaparte; một số sách Việt còn ghi tên ông là Nã Phá Luân (拿破侖); 15 tháng 8 năm 1769 – 5 tháng 5 năm 1821) là một nhà quân sự và nhà chính trị tiêu biểu của Pháp trong và sau cuộc cách mạng Pháp cũng như các cuộc chiến tranh liên quan ở châu Âu.

Với đế hiệu Napoléon I, ông là Hoàng đế của người Pháp từ năm 1804 đến năm 1815. Cuộc cải cách pháp luật của ông, Bộ luật Napoléon, đã có những ảnh hưởng lớn lên nhiều bộ luật dân sự trên toàn thế giới, nhưng ông được nhớ đến nhất bởi vai trò của mình trong các cuộc chiến tranh mà Pháp phải đương đầu với hàng loạt liên minh, được gọi là các cuộc chiến tranh Napoléon. Ông đã thiết lập quyền bá chủ trên phần lớn lục địa châu Âu và tìm cách truyền bá những lý tưởng của cách mạng Pháp, đồng thời củng cố nền đế chế làm phục hồi những nét của chế độ cũ Pháp (Ancien Régime). Nhờ thắng lợi trong những cuộc chiến này, thường là chống lại đối phương có ưu thế về quân số, ông được coi là một trong những nhà chỉ huy quân sự tài ba nhất mọi thời đại, và các chiến dịch của Napoléon

được nghiên cứu tại các học viện quân sự trên khắp thế giới.

Napoléon được sinh ra ở Ajaccio thuộc Corse, trong một gia đình thuộc dòng dõi quý tộc Genova (Ý). Ông được đào tạo thành một sĩ quan pháo binh ở Pháp. Bonaparte trở nên nổi tiếng dưới thời Đệ Nhất Cộng hòa Pháp khi chỉ huy thành công nhiều chiến dịch chống lại Liên minh thứ nhất và thứ hai chống Pháp. Ông cũng tiến hành cuộc chinh phạt bán đảo Ý.

Năm 1799, ông đã tổ chức một cuộc đảo chính và tự đưa mình trở thành vị Tổng tài thứ nhất; năm năm sau đó Thượng viện Pháp tuyên xưng ông là Hoàng đế Pháp. Trong thập niên đầu tiên của thế kỷ XIX, Đệ Nhất Đế chế Pháp dưới quyền Napoléon đã tham gia vào một loạt xung đột — những cuộc chiến tranh Napoléon — lôi kéo mọi cường quốc chính ở châu Âu tham gia. Sau một loạt thắng lợi, Pháp đạt được vị trí thống trị ở lục địa châu Âu, và Napoléon duy trì phạm vi ảnh hưởng của Pháp thông qua việc thành lập của những mối đồng minh rộng lớn và bổ nhiệm bạn bè và người thân cai trị các quốc gia châu Âu khác như những chư hầu của Pháp.

Cuộc chiến kéo dài ở bán đảo Iberia và cuộc xâm lược nước Nga năm 1812 đánh dấu bước ngoặt trong cơ đồ của Napoléon. Quân đội chủ lực của Pháp, Grande Armée, bị tổn thất nặng nề trong chiến dịch và không bao giờ có thể khôi phục lại hoàn toàn. Năm 1813, Liên minh thứ sáu đã đánh bại quân đội của ông tại Leipzig, năm sau đó Liên minh xâm lược Pháp, buộc Napoléon phải thoái vị và đày ông đến đảo Elba. Chưa đầy một năm sau, ông thoát khỏi Elba và trở lại nắm quyền, nhưng đã bị đánh bại trong trận Waterloo vào tháng 6 năm 1815. Napoléon trải qua sáu năm cuối cùng của cuộc đời trong sự giam cầm của người Anh trên đảo Saint Helena. Cái chết của ông gây ra nhiều tranh cãi về sau, chẳng hạn một số học giả cho rằng ông là nạn nhân của một vụ đầu độc bằng arsen.

Ảnh hưởng của Napoléon đối với thế giới hiện đại là đã mang lại những cải cách tự do cho nhiều vùng lãnh thổ mà ông đã chinh phục và kiểm soát, chẳng hạn như Hà Lan, Thụy Sĩ và một phần lớn của nước Ý và Đức hiện đại. Ông đã thực hiện các chính sách tự do cơ bản ở Pháp và khắp Tây Âu. Bộ luật Napoleon của ông đã ảnh hưởng đến hệ thống pháp luật của hơn 70 quốc gia trên thế giới. Nhà sử học Anh, Andrew Roberts bình luận: "Những ý tưởng củng cố thế giới hiện đại của chúng ta — công lý, chế độ nhân tài (chính quyền do những người thực sự có tài năng nắm giữ), bình đẳng trước pháp luật, quyền sở hữu, sự khoan dung tôn giáo, giáo dục thế tục hiện đại, tài chính ổn định, và nhiều thứ khác... — đã được bảo vệ, củng cố, chỉnh lý và mở rộng về mặt địa lý bởi Napoleon. Ông còn bổ sung theo đó là một chính quyền địa phương hợp lý và có năng lực, chấm dứt nạn cướp bóc ở nông thôn, khuyến khích khoa học và nghệ thuật, việc bãi bỏ chế độ phong kiến và sự lập pháp lớn nhất kể từ khi Đế quốc La Mã sụp đổ".

Nhà nước Palestine

Nhà nước Palestine (tiếng Ả Rập: دولة فلسطين‎ Dawlat Filasṭīn ), gọi tắt là Palestine (phiên âm tiếng Việt : Pa-le-xtin), là một quốc gia có chủ quyền về pháp lý tại Trung Đông, được đa số thành viên Liên Hiệp Quốc công nhận và kể từ năm 2012 có vị thế nhà nước quan sát viên phi thành viên tại Liên Hiệp Quốc. Nhà nước Palestine yêu sách chủ quyền đối với Bờ Tây (giáp Israel và Jordan) và Dải Gaza (giáp Israel và Ai Cập) cùng Đông Jerusalem là thủ đô được chỉ định. Hầu hết các khu vực mà Nhà nước Palestine yêu sách chủ quyền bị Israel chiếm đóng từ năm 1967 sau Chiến tranh Sáu ngày. Nền độc lập của Nhà nước Palestine được Tổ chức Giải phóng Palestine tuyên bố vào ngày 15 tháng 11 năm 1988 tại Algiers với vị thế là chính phủ lưu vong.

Palestine (định hướng)

Palestine có thể có một trong các nghĩa sau:

Palestine, một trong những tên gọi lịch sử dành cho vùng nằm giữa Địa Trung Hải và bờ sông Jordan cộng với những vùng đất kế giáp phía đông và nam

Các lãnh thổ Palestine, quốc gia của người Palestine bao gồm Dải Gaza và Bờ Tây sông Jordan

Chính quyền Dân tộc Palestine

Nhà nước Palestine

Palestine, Texas, một thành phố nằm ở bang Texas, Hoa Kỳ.

The Lancet

The Lancet là một tuần san y khoa tổng quan đánh giá đối chiếu hàng tuần. Nó là một trong những tập san y khoa tổng quan và lâu đời nhất được biết đến là tốt nhất thế giới, và được coi là một trong những tập san y khoa có uy tín nhất trên thế giới.The Lancet được bác sĩ phẫu thuật người Anh Thomas Wakley (1795-1862) lập ra vào năm 1823. Ông đặt tên như vậy sau khi ngó đến một dụng cụ phẫu thuật được gọi là "lancet" (dao chích), cũng như lúc đó kiểu kiến trúc đang thịnh hành là "lancet arch" (mũi thương) gồm một cửa sổ với một vòm nhọn, với hàm ý chỉ ra "ánh sáng của trí tuệ" hay "đưa ra ánh sáng".The Lancet xuất bản các bài nghiên cứu gốc, các bài tổng quan ("hội thảo" và "đánh giá"), bài xã luận, đánh giá sách, thư từ, cũng như các tin tức và các báo cáo trường hợp điển hình (case history).

The Lancet thuộc sở hữu của Elsevier từ năm 1991. Từ năm 2015 chủ bút tập san là Richard Horton. Tập san có tòa soạn đặt ở London, New York, và Bắc Kinh.

Tỉnh của Palestine

Các tỉnh của Chính quyền Dân tộc Palestine là đơn vị hành chính tại các vùng lãnh thổ Palestine. Sau khi ký kết Hiệp ước hòa bình Oslo, Bờ Tây và Dải Gaza do Israel chiếm đóng được phân chia thành ba khu vực (Khu vực A, Khu vực B, Khu vực C) và 16 tỉnh nằm dưới thẩm quyền của Chính quyền Dân tộc Palestine. Kể từ năm 2007, có hai chính phủ yêu sách là chính phủ hợp pháp của Chính quyền Dân tộc Palestine, một có căn cứ tại Bờ Tây và một có căn cứ tại Dải Gaza.

Bờ Tây

Dải Gaza

Dữ liệu khí hậu của Gaza
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Trung bình cao °C (°F) 18.3 18.9 21.1 24.4 27.2 29.4 30.6 31.7 30.6 28.9 25.0 20.6 25,6
Trung bình thấp, °C (°F) 9.4 10.0 11.6 13.8 16.4 19.5 21.4 22.2 20.5 17.7 14.5 11.6 15,7
Giáng thủy mm (inch) 104
(4.09)
76
(2.99)
30
(1.18)
13
(0.51)
3
(0.12)
1
(0.04)
0
(0)
1
(0.04)
3
(0.12)
18
(0.71)
64
(2.52)
81
(3.19)
390
(15,35)
độ ẩm 85 84 83 82 84 87 86 87 86 74 78 81 83
Số giờ nắng trung bình hàng tháng 204.6 192.1 241.8 264.0 331.7 339.0 353.4 337.9 306.0 275.9 237.0 204.6 3.288,0
Số giờ nắng trung bình ngày 6.6 6.8 7.8 8.8 10.7 11.3 11.4 10.9 10.2 8.9 7.9 6.6 9,1
Nguồn: Arab Meteorology Book[7]

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.