Felipe V của Tây Ban Nha

Felipe V (tiếng Anh: Philip V, tiếng Pháp: Philippe, tiếng Ý: Filippo; 19 tháng 12 năm 16839 tháng 7 năm 1746) là Vua của Tây Ban Nha. Felipe lên ngôi hai lần. Lần thứ nhất từ ngày 1 tháng 11 năm 1700 đến 15 tháng 1 năm 1724 rồi nhường ngôi cho con là Luis I. Khi Luis I mất, Felipe trở lại ngai vàng, trị vì và từ 6 tháng 9 năm 1724 đến khi mất vào ngày 9 tháng 7 năm 1746.

Trước khi lên ngôi, Philippe nắm giữ một vị trí cao trong hoàng tộc Pháp, ông là cháu nội của Đức vua Louis XIV. Phụ thân ông, Louis, Đại Thái tử, là người có tư cách kế vị ngai vàng ở Tây Ban Nha sau khi ngôi vua bỏ trống vào năm 1700. Tuy nhiên, vì Đại thái tử và con trai trưởng của ông, đồng thời là hoàng huynh của Philip, Louis, Công tước Burgundy, không được sự ủng hộ để nắm ngôi vua của cả Pháp và Tây Ban Nha, nên vua Carlos II của Tây Ban Nha đề nghị Philippe là người kế nhiệm trong di chúc của ông ta. Tuy nhiên ý thức được khả năng nối ngôi ở Pháp của Philippe là rất cao, các cường quốc châu Âu đã lo sợ về sự mất cân bằng quyền lực ở châu Âu khi Pháp và Tây Ban Nha hợp nhất, vì thế họ tìm cách ngăn chặn nó bằng cuộc chiến tranh kéo dài 14 năm, tức Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha, kết thúc với Hiệp ước Utrecht nhằm ngăn chặn sự thống nhất của hai ngai vàng.

Felipe là thành viên đầu tiên trong gia tộc Bourbon cai trị Tây Ban Nha. Thời gian cai trị tổng cộng của ông, 45 năm và 21 ngày, là kỉ lục trong lịch sử Tây Ban Nha mấy trăm năm nay.

Philip V
Felipe V de España
Chân dung vẽ bởi Jean Ranc, 1723
Trị vì6 tháng 11 năm 170015 tháng 1 năm 1724
23 năm, 70 ngày
Tiền nhiệmCarlos II
Kế nhiệmLuis I
Trị vì6 tháng 9 năm 17249 tháng 7 năm 1746
21 năm, 306 ngày
Tiền nhiệmLuis I
Kế nhiệmFernando VI
Thông tin chung
Phối ngẫuMaria Luisa xứ Savoy
Elisabeth Farnese
Hậu duệLuis I của Tây Ban Nha
Ferdinand VI của Tây Ban Nha
Carlos III của Tây Ban Nha
Maria Anna Victoria, Hoàng hậu Bồ Đào Nha
Philip, Công tước Parma
Maria Teresa Rafaela, Thái tử phi của Pháp
Luis, Bà tước Chinchón
Maria Antonia Fernanda, Hoàng hậu Sardinia
Thân phụLouis, Thái tử Pháp
Thân mẫuMaria Anna Victoria của Bayern
Sinh19 tháng 12 năm 1683
Cung điện Versailles, Pháp
Mất9 tháng 7 năm 1746 (62 tuổi)
Madrid, Tây Ban Nha
An tángCung điện hoàng gia La Granja de San Ildefonso
Tôn giáoCông giáo
Chữ ký của Philip V

Thời niên thiếu

Philippe chào đời ở Cung điện Versailles[1] tại Pháp. Ông là con trai thứ hai của Louis, Đại Thái tử, người thừa kế ngai vàng Pháp, với Thái tử phi Maria Anna Victoria xứ Bavaria,[2] Dauphine Victoire. Huynh trưởng của ông Louis, Công tước Burgundy, phụ thân nhà vua Louis XV của Pháp. Khi đầy tuổi, Philippe được tấn phong Công tước xứ Anjou, danh hiệu truyền thống dành cho người con thứ trong hoàng gia Pháp. Ông thường được gọi với tên gọi này trước khi trở thành vua Tây Ban Nha. Bởi vì hoàng huynh của ông, Công tước Burgundy, là người đứng thứ hai trong danh sách kế vị ngôi vua ở Pháp sau phụ thân ông, nên rất ít hi vọng để cho cả ông và hoàng đệ, Charles, Công tước Berry, có thể kế vị ở Pháp.

Philip cùng với các anh em của ông được giáo dưỡng bởi gia sư François Fénelon, Đại Giám mục Cambrai. Ba người cũng có một gia sư khác là Paul de Beauvilliers.

Tuyên bố ngôi vua Tây Ban Nha

Philippe de France proclamé roi d'Espagne
Philip V tuyên bố là Vua của Tây Ban Nha tại Cung điện Versailles ngày 16 tháng 11 năm 1700.

Năm 1700, Nhà vua Carlos II của Tây Ban Nha chết không có con cái. Khi đó Philippe không có nhiều cơ hội làm vua Tây Ban Nha, vì bà nội ông, Trưởng Công chúa Tây Ban Nha, con gái vua Felipe IV với người vợ đầu tiên, Isabel de Bourbon, đã từ bỏ quyền kế vị. Marie Elisebeth là chị gái cùng cha khác mẹ của vua Carlos II.[3] Trên thực tế, tổ phụ của ông, vua Louis XIV cùng các quân vương khác ở châu Âu đã đồng ý rằng ngai vàng sẽ thuộc về José Fernando. Hiệp ước đầu tiên phân chia Tây Ban Nha, được ký tại The Hague trong năm 1698 theo đóo José Fernando sẽ là vua của toàn bộ Tây Ban Nhao trừ Guipuzcoa - và Sardinia, Hà Lan thuộc Tây Ban Nha và các lãnh thổ ở Bắc Mĩ. Pháp được trao Guipuzcoa, Naples và Sicily, trong khi Áo sẽ chiếm Milanesado.

Cái chết của José Fernando làm thất bại kế hoạch. Lúc đó ý muốn của nhà vua là truyền ngôi cho Philippe, cháu nội của người chị cùng cha khác mẹ của ông, Maria Theresa của Tây Ban Nha, bà là hoàng hậu thứ nhất của vua Louis XIV.[2] Nếu như ông từ chối, ngai vàng Tây Ban Nha sẽ được trao cho em trai của Felipe, Công tước Berry, và tiếp đó là Đại Công tước Karl của Áo, về sau ông trở thành hoàng đế Karl VI của Đế chế.[2] Felipe có căn cứ tuyên bố chủ quyền đối với ngôi vua Tây Ban Nha tốt hơn đối thủ người Áo, bởi cả tổ mẫutằng tổ mẫu đều lớn tuổi hơn so với Đại Công tước Karl của Áo. Tuy nhiên, phe Áo tuyên bố rằng bà của Felipe đã từ bỏ ngai vàng cho bà và con cháu khi thành hôn với vua Pháp. Phe Pháp phản đối khi tuyên bố rằng của hồi môn của cuộc hôn nhân không bao giờ được trả.[4]

Hiệp ước phân chia Tây Ban Nha lần thứ hai được ký kết năm 1700, theo đó toàn bộ vương quốc, thuộc Tây Ban Nha, Naples, Sicily và Tuscany sẽ cho Thái tử Pháp, trong khi Hoàng đế Leopold, Công tước xứ Lorraine, nhận Milanesado để đổi lấy việc nhượng Lorraine và Bar để cho Thái tử Pháp. Nhưng nếu cả hai Hà Lan và Anh đã hài lòng với thỏa thuận này, hoàng đế không đồng tình và tuyên bố toàn bộ thừa kế Tây Ban Nha. Carlos quyết định chọn Felipe vì ông cho rằng Louis XIV sẽ có thể giúp vương quốc của ông không bị phân chia sau này

Sau khi Hội đồng Hoàng gia họp ở Pháp mà tại đó Thái tử đã tuyên bố ủng hộ quyền kế vị của con trai mình, và Felipe đã được công nhận là người nối ngôi ở Tây Ban Nha, nhưng phải từ bỏ quyền kế vị ở Pháp cho chính ông và con cháu của ông.[2]

Sau khi Hội đồng Hoàng gia quyết định chấp nhận Felipe là người nối ngôi Carlos ở Tây Ban Nha, đại sứ Tây Ban Nha được triệu đến để gặp vị tân vương của họ. Viên đại sứ, cùng với con trai của Felipe, quỳ trước Felipe và đọc một bài phát biểu dài bằng tiếng Tây Ban Nha mà Philippee không hiểu ông ta nói gì, mặc dù Louis XIV (con trai và chồng của một công chúa Tây Ban Nha) có thể hiểu được. Philippe về sau mới học tiếng Tây Ban Nha.

Ngày 1 tháng 11 năm 1700, Carlos II băng hà ở Marrid.[5][6] Tin tức truyền về Versailles, ngày 16 tháng 11, vua Louis XIV đưa cháu trai của ông đến Tây Ban Nha và tuyên bố: "Thưa các ngài, đây là vua Tây Ban Nha". Sau đó ông nói với Felipe "Hãy cai trị thật tốt xứ Tây Ban Nha, đó là nhiệm vụ đầu tiên của mày, nhưng hãy nhớ rằng mày chào đời ở Pháp, và phải duy trì mối quan hệ giữa hai nước chúng ta, đây là cách để làm cho thần dân hạnh phúc và gìn giữ hòa bình ở châu Âu"

Sau đó, tất cả các nước châu Âu đều công nhận vua Felipe, trừ Hoàng đế nhà Habsburg. Felipe V rời Versailles vào ngày 4 và đặt chân lên Tây Ban Nha ngày 22 tháng 1 năm 1701, ca khải hoàn vào thành Marrid ngày 18 tháng 12.

Hôn nhân thứ nhất

Ngày 2 tháng 11 năm 1701, Felipe thành hôn với công chúa 13 tuổi Maria Luisa xứ Savoy, người được ông nội ông lựa chọn. Bà là con gái của Victor Amadeus II, Công tước Savoy, và dì họ của ông là Anne Marie d'Orléans, họ cũng là cha mẹ của Công nương Burgundy, chị dâu của Felipe. Họ tổ chức lễ kết hôn thông qua đại diện tại Turin, thủ đô của Công quốc Savoy, và một buổi lễ khác ở Versailles ngày 11 tháng 9.

Là Hoàng hậu Tây Ban Nha, Maria Luisa rất được lòng thần dân. Bà làm Nhiếp chính cho chồng nhiều lần.Lần thành công nhất là khi Felipe viễn chinh ở Ý trong 9 tháng năm 1702. Năm 1714, Hoàng hậu qua đời ở tuổi 26 vì bệnh lao, khiến chồng bà suy sụp về tinh thần.

Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha

8 Escudos en or à l'effigie de Philippe V
Felipe V của Tây Ban Nha
Meléndez, Miguel Jacinto - Philip V, king of Spain, in suit of hunt - Google Art Project
Felipe V của Tây Ban Nha trong trang phục thợ săn
Vendome-and-PhilipV
Felipe (bên phải) trong Trận Villaviciosa

Những hành động của Louis XIV gây ra nỗi sợ hãi cho người Anh, người Hà Lan và người Áo. Tháng 2 năm 1701, Louis XIV triệu tập Pháp viện ở Paris để thông cáo một sắc lệnh rằng nếu anh trai của Felipe, Hoàng tôn Louis, chết mà không có con cái, thì Felipe sẽ rời bỏ ngai vàng Tây Ban Nha để kế vị ở Pháp, đảm bảo sự liên tục cho triều đại lớn nhất ở châu Âu lúc đó.

Breech loading firearm belonged to Philip V of Spain by A Tienza Madrid circa 1715
A breech loading miquelet musket with a reusable cartridge, used by Philip V, made by A. Tienza, Madrid, circa 1715

Tuy nhiên, một đạo luật thứ hai của nhà vua Pháp "biện minh một cách giải thích thù địch": theo một hiệp ước với phía Tây Ban Nha, Louis chiếm giữ nhiều vùng trên đất Hà Lan thuộc Tây Ban Nha (nay thuộc BỉNord-Pas-de-Calais). Đó là ngòi kích nổ cho những vấn đề chưa được giải quyết trong Chiến tranh Liên minh Augsburg (1689–97) và sự chấp nhận việc thừa kế ở Tây Ban Nha của Louis cho đứa cháu trai.

Gần như ngay lập tức Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha bùng nổ. Lo lắng việc Pháp-Tây Ban Nha hợp nhất dưới vương triều Bourbon sẽ phá vỡ thế cân bằng quyền lực và một đế quốc rộng lớn sẽ nuốt chửng châu Âu của các cường quốc Anh, Hà LanÁo là nguyên nhân sâu xa của cuộc chiến.[7]

Bên trong Tây Ban Nha, các quý tộc Castile ủng hộ Philip của Pháp. Trái lại, các quý tộc Aragon ủng hộ Karl của Áo, con trai Hoàng đế Leopold I và tuyên bố ngai vàng Tây Ban Nha đáng lý phải truyền cho hậu duệ Công chúa Maria Anna của Tây Ban Nha. Karl được tôn làm Vua của Aragon với vương hiệu Carlos III.

Cuộc chiến tranh diễn ra ở trung tâm và miền tây châu Âu (đặc biệt là Vùng đất thấp), với chiến trường chính là Đức và Ý. Hoàng thân Eugene xứ Savoy và Công tước Marlborough là chỉ huy lực lượng hai phe ở Vùng đất thấp. Tại các thuộc địa Bắc Mỹ, cuộc xung đột chủ yếu là thực dân Anh chiến đấu chống Pháp và Tây Ban Nha trong cuộc chiến gọi là Chiến tranh Nữ hoàng Anne. Trong suốt cuộc chiến, có tới hơn 400,000 người đã thiệt mạng.[8]

Đối mặt với cuộc chiến, từ năm 1707, Felipe ban hành Nghị định Nueva Planta, theo đó tập trung thống trị Tây Ban Nha dưới mô hình chính trị và hành chính xứ Castilia và bãi bỏ điều lệ các vương quốc được tự trị thuộc Tây Ban Nha như Vương quốc Aragon, nơi ủng hộ Karl VI trong cuộc chiến—ngoại trừ Vương quốc Navarre và phần còn lại của xứ Basque, những nơi ủng hộ Felipe là vua của họ trong cuộc chiến tranh, và họ được quyền bán tự trị. Các chính sách này phỏng theo mô hình ở Pháp dưới thời Louis XIV và được ủng hộ bởi các chính trị gia như Joseph de Solís và sự ra đời của Sardinia, triết học chính trị Vicente Bacallar.[9]

Tại một vài thời điểm năm 1712, Felipe được đề nghị từ bỏ ngôi vua Tây Ban Nha để trở thành thái tử Pháp, nhưng ông từ chối.

Felipe quyết định từ bỏ quyền kế vị ở Pháp với một điều kiện: sự ra đời của Đạo luật bán-Salic ở Tây Ban Nha. Theo luật này, ngai vàng của Tây Ban Nha chỉ giới hạn trong con cháu dòng nam của ông trước khi nó được trao cho phụ nữ, một điều kiện mà ông đã trình bày trong Hiệp ước Utrecht. Nó không được đồng ý cho đến khi Hiệp ước được ký kết (10 tháng 5 năm 1713) theo đó Tây Ban NhaLiên hiệp Anh thiết lập hòa bình với Hiệp ước Utrecht thứ 2 (thêm Đạo luật mới vào Hiệp ước). Theo các điều khoản của Hiệp ước Utrecht nhằm chấm dứt chiến tranh, Tây Ban Nha buộc phải cắt nhường MinorcaGibraltar cho Liên hiệp Anh; Hà Lan thuộc Tây Ban Nha, Naples, Milan, và Sardinia cho nhà Habsburg; và Sicily và một phần Milan cho Savoy.[10]

Xàtiva. Almodí. Felip V i cadira-2
Portrait of Philip V of Spain exhibited upside down in the es, Xativa, for having burned the city in 1707.

Tây Ban Nha phải hứng chịu những tổn thất rất lớn, làm địa vị của đế quốc này đã suy yếu lại càng suy yếu hơn. Trong suốt thời gian cai trị, Felipe tìm cách giành lại địa vị cho đế quốc Tây Ban Nha. Cố gắng để đảo ngược các điều khoản của Hiệp ước Utrecht, ông tái tuyên bố chủ quyền của người Tây Ban Nha ở Ý, gọi là Chiến tranh Liên minh bốn bên (1718-1720) mà Tây Ban Nha phải chiến đấu với 4 cường quốc. Felipe V phải chấp nhận lập lại hòa bình.

Felipe V hỗ trợ thương mại với tài sản của Tây Ban Nha ở lục địa Mỹ. Vào thời điểm này, những nhân vật quan trọng của lịch sử hải quân Tây Ban Nha xuất hiện, trong số đó có tên cướp biển Amaro Pargo mà nhà vua được hưởng lợi trong các cuộc xâm lược thương mại và cướp biển của mình.[11][12]

Hôn nhân thứ hai

Không lâu sau cái chết của hoàng hậu Maria Luisa năm 1714, Nhà vua quyết định tái hôn. Vợ thứ hai của ông là Elisabeth xứ Parma, con gái Odoardo Farnese, Hoàng thân kế vị Parma, và Dorothea Sophie xứ Palatinate. Ở tuội 21, ngày 24 tháng 12 năm 1714, bà kết hôn thông qua đại diện ở Parma. Chủ hôn là Hồng y Alberoni, với sự đồng ý của Công nương Ursins, Camarera mayor de Palacio ("quản gia") của Nhà vua Tây Ban Nha.

Thoái vị

Ngày 14 tháng 1 năm 1724, Felipe thoái vị và nhường ngôi cho hoàng trưởng tử 17 tuổi là Louis, lý do của hành động này còn đang bị tranh cãi. Một giả thuyết cho rằng Philip V, người đã biểu hiện nhiều yếu tố bất ổn về tinh thần trong suốt triều đại của ông, không muốn cai trị do đầu óc căng thẳng.[13] Giả thuyết thứ hai cho rằng sự thoái vị này đến từ nội bộ gia tộc Bourbon. Các thành viên trong hoàng gia Pháp gần dây tử vong rất nhiều do bệnh tật. Thật vậy, Felipe thoái vị chỉ một tháng sau cái chết của Công tước Orléans, người nhiếp chính cho vua Louis XV. Việc thiếu người thừa kế có thể dẫn đến nguy cơ về cuộc chiến tranh mới trên lục địa. Felipe là một hậu duệ hợp pháp của Louis XIV, nhưng vấn đề trở nên phức tạp bởi Hiệp ước Utrecht, cấm một liên minh cá nhân giữa PhápTây Ban Nha. Giả thuyết giả định rằng Felipe V hy vọng rằng bằng cách thoái vị ở Tây Ban Nha, ông có thể phá vỡ Hiệp ước và được quyền lên ngôi vua ở Pháp..

Tuy nhiên, Louis chết ngày 31 tháng 8 năm 1724Madridbệnh đậu mùa, chỉ trị vì 7 tháng và không có con nối. Felipe buộc phải lên ngôi lần thứ hai vì hoàng tử thứ hai của ông, về sau là vua Ferdinand VI, chưa đến tuổi trưởng thành.

Thời kì cuối

PhilipVGoldCoin
Một nửa đồng xu vàng tin hình Felipe, năm 1743.

Felipe giúp đỡ vương tộc Bourbon của ông mở rộng lãnh thổ trong Chiến tranh Kế vị Ba Lan và Chiến tranh Kế vị Áo bằng cách chinh phục Naples và Sicily từ Áo và Oran từ Đế chế Ottoman. Cuối cùng, vào cuối triều đại của ông quân Tây Ban Nha cũng đã bảo vệ thành công thuộc địa Mĩ sau một cuộc xâm lược lớn của Anh trong Chiến tranh Jenkins' Ear.

Dưới thời Felipe, Tây Ban Nha bắt đầu phục hồi từ sự trì trệ mà nó đã phải gánh chịu trong suốt vương triều Habsburg thống trị. Mặc dù dân số Tây Ban Nha tăng lên, hệ thống tài chính và thuế quá lạc hậu và ngân sách vị thâm hụt. Những người hầu hạ trong cung được trả lương cao không phải vì có công cai trị đất nước, mà là vì chăm sóc hoàng gia. Quân đội và quan liêu không có đủ lương và ngân khố lại dựa vào các lô bạc từ Tân Thế giới. Tây Ban Nha bị đình chỉ thanh toán nợ năm 1739-dâu hiệu của sự vỡ nợ..[14]

Cái chết

FelipVTomba
Mộ phần của Felipe V và Elizabeth Farnese tại Nhà thờ Collegiate thuộc Holy Trinity, trong Cung điện hoàng gia La Granja de San Ildefonso (Segovia).

Vào cuối đời, Felipe bị chứng trầm cảm và ngày càng rơi vào trạng thái u uất.[15] Bà vợ thứ hai của ông, Elizabeth Farnese, đã kiểm soát hoàn toàn người chồng thụ động. Bà ta sinh một số hoàng tử nữa, bao gồm người kế vị thứ hai của ông, Carlos III của Tây Ban Nha.[15] Từ tháng 8 năm 1737, bệnh tình của ông dịu đi khi ca sĩ castrato Farinelli, trở thành "Musico de Camara của Đức vua Bệ hạ." Farinelli hát tám đến chín ca khúc cho vua và hoàng hậu mỗi đêm, thường là với 3 nhạc sĩ.[2]

Felipe băng hà ngày 9 tháng 7 năm 1746 tại El Escorial, thuộc Madrid, nhưng ông được an táng ở Cung điện hoàng gia La Granja de San Ildefonso, gần Segovia.[2] Fernando VI của Tây Ban Nha, con trai ông với đệ nhất hoàng hậu Maria Luisa xứ Savoy, lên nối ngôi.

Con cái

Felipe kết hôn hai lần. Cuộc hôn nhân đầu tiên với người em họ Maria Luisa xứ Savoy (17 tháng 9 năm 168814 tháng 2 năm 1714) vào ngày 3 tháng 11 năm 1701[2] và họ có bốn người con:

Ông tái hôn với Elisabeth Farnese (25 tháng 10 năm 169211 tháng 7 năm 1766) ngày 24 tháng 12 năm 1714, Họ có sáu người con[16]

Di sản

Các sử gia đã không đánh giá cao nhà vua. Lynch cho biết chính phủ của Felipe V chỉ nhỉnh hơn người tiền nhiệm của ông, vị vua bất lực Carlos II. Khi có xung đột nảy ra giữa Tây Ban NhaPháp, ông thường ủng hộ Pháp. Tuy nhiên Felipe cũng đã thực hiện một số cải cách trong chính phủ, và củng cố quyền lực của chính quyền trung ương so với địa phương. Dù có một số người thuộc tầng lớp trung lưu có thể vào triều, nhưng hầu hết các vị trí cao cấp vẫn trao cho tầng lớp quý tộc. Nhũng nhiễu và tham nhũng tồn tại dưới Carlos đã gia tăng dưới thời Felipe V. Các cuộc cải cách bắt đầu bởi chính ông tiếp tục phát triển đến đỉnh cao dưới thời Carlos III..[17] Nhìn về tổng thể nền kinh tế, tiến bộ hơn so với nửa thế kỷ trước, với năng suất kinh tế cao hơn, ít đói kém và dịch bệnh.[18]

Retrat de Felip Vé exposat cap per avall al Museu de l'Almodí de Xàtiva per haver incendiat la ciutat el 1707
Tranh biếm họa vua Felipe V của Tây Ban Nha

Để tưởng nhớ về sự sỉ nhục mà nhà vua đã dành cho thành phố Xàtiva; trong một lần quân Tây Ban Nha giành chiến thắng tại trận Almansa trong Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha, Felipe đã hạ lệnh thiêu rụi thành phố và đổi tên nơi đây thành San Felipe; người dân nơi đây đã dựng lên một bức chân dung lộn ngược của nhà vua, hiện nay nó được trưng bày ở bảo tàng L'Almodí.[19]

Tất cả các con cháu hợp pháp còn sống sót của Louis XIV ngày hôm nay đều là hậu duệ của Felipe V.

Ghi chú

  1. ^ The New International Encyclopædia, tr.14. Xuất bản bởi Dodd, Mead and Company, 1903.
  2. ^ a ă â b c d đ Kamen, Henry. "Philip V of Spain: The King who Reigned Twice", Xuất bản bởi Yale University Press, 2001. ISBN 0-300-08718-7
  3. ^ Mẫu thân Carlos II là Hoàng hậu thứ hai của Felipe IV, Marianna của Áo
  4. ^ Durant, Will. "The Age of Louis XIV", p.699. Simon and Schuster, New York, 1963.
  5. ^ Carlos II
  6. ^ Biografía de Carlos II
  7. ^ John B. Wolf, The Emergence of the Great Powers: 1685–1715 (1962)
  8. ^ Matthew White. “Statistics of Wars, Oppressions and Atrocities of the Eighteenth Century”. Users.erols.com. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2012.
  9. ^ Enrico Bogliolo, Tradizione e innovazione nel pensiero politico di Vincenzo Bacallar, Turin, 1987, passim (in Italian).
  10. ^ J. S. Bromley, ed. The New Cambridge Modern History, Vol. 6: The Rise of Great Britain and Russia, 1688-1715/25 (1970) ch 13–14
  11. ^ El corsario de Dios. Documentos sobre Amaro Rodríguez Felipe (1678-1747)
  12. ^ Amaro Pargo: documentos de una vida, I. Héroe y forajido
  13. ^ p358, E.N. Williams, The Penguin Dictionary of English and European History
  14. ^ John Lynch, Bourbon Spain 1700–1808 (1989) pp 109–113
  15. ^ a ă “Joan's Mad Monarchs Series”. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2009.
  16. ^ Kamen, Henry. "Philip V of Spain: The King who Reigned Twice", p.97. Yale University Press, 2001
  17. ^ Lynch (1989) tr 67- 115
  18. ^ Earl J. Hamilton, "Money and Economic Recovery in Spain under the First Bourbon, 1701–1746," Journal of Modern History Vol. 15, No. 3 (Sep., 1943), tr. 192–206 in JSTOR
  19. ^ Harris, Mary N., Sights and insights: interactive images of Europe and the wider world, (Pisa University Press, 1990), 203.[1]
  20. ^ “Fernando VI, Rey de España (1713-1759)”. Ex-Libris Database (bằng tiếng Tây Ban Nha). Royal Library of Spain. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2013.
  21. ^ Avilés, José de Avilés, Marquis of (1780). Ciencia heroyca, reducida a las leyes heráldicas del blasón, Madrid: J. Ibarra, (Madrid: Bitácora, 1992). T. 2, p. 162-166. ISBN 84-465-0006-X.
  22. ^ Rauso, Francesco di. “Le monete delle due Sicilie: Coniate nella zecca di Napoli” [The coin of the Two Sicilies, Mint of Naples coins]. Brigantino - Il Portale del Sud (bằng tiếng Ý). Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2014.
  23. ^ “Filippo V di Borbone, 1700-1713” [Philip V of Bourbon, 1700-1713]. Rhinocoin. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2014.
  24. ^ “Filippo V di Borbone, 1700-1713” [Philip V of Bourbon, 1700-1713]. Rhinocoin. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2014.

Xem thêm

  • Armstrong, Edward (1892). Elizabeth Farnese: "The Termagant of Spain". London: Longmans, Green, and Co.
  • Kamen, Henry (2001). Philip V of Spain: The King Who Reigned Twice. New Haven, Conn.: Yale University Press. ISBN 0-300-08718-7.
  • Lynch, John. Bourbon Spain 1700–1808 (1989)
  • Petrie, Sir Charles (1958). The Spanish Royal House. London: Geoffrey Bles.
Felipe V của Tây Ban Nha
Nhánh thứ của Capetian dynasty
Sinh: 19 tháng 12, 1683 Mất: 9 tháng 7, 1746
Hiệu
Tiền vị
Charles the Bewitched
Vua của Naples và Sardinia;
Công tước Brabant, Limburg,
Lothier, và Milan;
Bá tước Flanders và Hainaut

1700–1714
Kế vị
Charles VI & V
Công tước Luxembourg
Bá tước Namur

1700–1712
Kế vị
Maximilian II Emanuel
Vua của Sicily
1700–1713
Kế vị
Victor Amadeus
Vua của Tây Ban Nha
1700–1724
Kế vị
Luis
Tiền vị
Luis
Vua của Tây Ban Nha
1724–1746
Kế vị
Fernando VI
Danh sách vua và hoàng đế Pháp
Tiền vị
Louis Francois
Công tước Anjou
1683–1700
Kế vị
Louis

Bản mẫu:Công tước Anjou Bản mẫu:Vua Tây Ban Nha Bản mẫu:Vua Luxembourg

La familia de Felipe V (Van Loo)
"Gia đình của Felipe V của Tây Ban Nha năm 1743"; vẽ bởi Louis-Michel van Loo, sơn dầu trên vải, Museo del Prado, Marrid
Alcázar của Sevilla

Alcázar của Sevilla (tiếng Tây Ban Nha: "Alcázares Reales de Sevilla" tức "Alcazars hoàng gia của Sevilla") là một dinh hoàng gia ở thành phố Sevilla, Tây Ban Nha. Dinh này gốc là một lâu pháo đài của người Moors (người Hồi giáo ở bán đảo Iberia xưa) (Alcázar từ tiếng Ả Rập: القصر, al-qasr, nghĩa là "dinh thự"). Triều đại Almohades đã xây lâu pháo đài này đầu tiên, được gọi là Al-Muwarak, tại địa điểm ngày nay là Alcázar. Dinh này là một công trình kiến trúc mudéjar nổi tiếng. Các vua tiếp theo đã xây thêm vào dinh Alcázar. Các tầng trên của dinh Alcázar vẫn được hoàng gia Tây Ban Nha dùng làm nơi cư ngụ chính thức, và do cơ quan Patrimonio Nacional (Di sản quốc gia) quản lý.

Caroline xứ Ansbach

Wilhelmina Charlotte Caroline xứ Brandenburg-Ansbach (1 tháng 3, năm 1683 – 20 tháng 11, năm 1737), thường gọi là Caroline xứ Ansbach, là Vương hậu của Vương quốc Great Britain và Ireland, với tư cách là vợ của Vua George II.

Phụ thân của bà, Bá tước Johnann Frederich xứ Brandenburg-Ansbach, thuộc về nhánh thứ của Nhà Hohenzollern và là nhà cai trị một số vùng lãnh thổ nhỏ ở Đức, Lãnh địa hoàng thân Ansbach. Caroline mồ côi từ tuổi thiếu nhi và chuyển đến triều đình khai sáng của người giám hộ của bà, Vua Friedrich I và Vương hậu Sophie Charlotte của Phổ. Tại vương đình Phổ quốc, nền giáo dục hạn chế dành cho bà đã được mở rộng, và bà tiếp thu xu hướng tự do của Sophie Charlotte, người trở thành bạn thân và có quan điểm ảnh hưởng lớn đến Caroline trong suốt cuộc đời của bà.

Khi là phụ nữ trẻ, Caroline được nhiều người lui đến theo đuổi và cầu hôn. Sau khi từ chối lời cầu hôn của vua Tây Ban Nha trên danh nghĩa, Đại Công tước Karl của Áo, bà kết hôn với Georg August, đứng thứ ba trong danh sách thừa kế ngai vàng Anh và người thừa kế Tuyển đế hầu Hanover. Họ có tám người con, bảy trong số đó sống tới tuổi trưởng thành.

Caroline di chuyển vĩnh viễn tới Anh quốc năm 1714 khi chồng bà trở thành Hoàng tử xứ Wales. Trên cương vị Công nương xứ Wales, bà cùng với chồng tham gia lực lượng chính trị chống đối với phụ thân ông ta, Vua George I. Năm 1717, chồng bà bị đuổi khỏi triều đình sau tranh chấp trong gia đình. Caroline liên kết với Robert Walpole, một chính trị gia đối lập vốn là một bộ trưởng trong Chính phủ cũ. Walpole trở lại chính quyền năm 1720, và phu quân của Caroline và vua George I công khai hòa giải, theo lời khuyên của Walpole. Trong một vài năm tiếp theo, Walpole vươn lên địa vị lãnh đạo chánh phủ.

Caroline trở thành Vương hậu và tuyển đế hầu phu nhân năm 1727, khi chồng bà trở thành vua George II. Con trai trưởng của bà, Frederick, được tấn phong Hoàng tử xứ Wales. Ông là người trọng tâm của phe đối lập, giống như phụ thân trước kia, và quan hệ giữa Caroline với ông trở nên tồi tệ. Là công nương và Vương hậu, Caroline nổi tiếng với những ảnh hưởng chính trị của mình, mà bà thực hiện thông qua Walpole. Bà đã bốn lần làm nhiếp chính khi chồng bà đến Hanover, và có công đối với sự đứng vững của Vương triều Hanover ở Anh trong một thời kì bất ổn về chính trị. Caroline được người ta thương nhớ sâu sắc sau khi qua đời, không chỉ có quần chúng mà còn có cả Nhà vua, ông đã từ chối tái hôn.

Catalunya

Catalunya (tiếng Catalunya: Catalunya, tiếng Occitan: Catalonha, tiếng Tây Ban Nha: Cataluña) là một cộng đồng tự trị của Tây Ban Nha, tọa lạc ở miền đông bắc bán đảo Iberia. Catalunya bao gồm bốn tỉnh: Barcelona, Girona, Lleida, và Tarragona. Thủ phủ và thành phố lớn nhất Catalunya là Barcelona, và cũng là thành phố lớn thứ nhì Tây Ban Nha, sau thủ đô Tây Ban Nha là thành phố Madrid.

Catalunya bao gồm đa phần lãnh thổ trước kia của Thân vương quốc Catalunya (phần Roussillon nay đã thuộc về Pyrénées-Orientales của Pháp). Nó tiếp giáp với Pháp và Andorra về phía bắc, Địa Trung Hải về phía đông, Aragon về phía tây và Valencia về phía nam. Những ngôn ngữ chính thức là tiếng Catalunya, tiếng Tây Ban Nha, và phương ngữ Aran của tiếng Occitan.

Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha

Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha (1701–1714) là một cuộc xung đột chính trị quân sự ở châu Âu đầu thế kỉ XVIII, được kích nổ bởi cái chết của vị vua cuối cùng của vương triều Habsburg ở Tây Ban Nha, một người ốm yếu và không thể có con, Carlos II. Ông đã cai trị một đế quốc rộng khắp toàn cầu, và câu hỏi ai sẽ là người kế vị đã gây ra sự tranh chấp giữa các cường quốc châu Âu. Những nỗ lực để giải quyết vấn đề đi đến thỏa thuận phân chia đế chế giữa ba ứng viên đủ điều kiện kế vị đến từ nước Pháp (Bourbon), Áo (Habsburg), và Bavaria (Wittelsbach) nhưng cuối cùng thất bại, trên giường bệnh Carlos II trao quyền kế vị vương quốc của ông cho Philippe, Công tước xứ Anjou, cháu trai thứ hai của đức vua Louis XIV của Pháp. Nếu như Philippe chiếm được Tây Ban Nha, Louis XIV sẽ kiểm soát một vùng đất rất rộng lớn và chiếm nhiều ưu thế ở châu Âu, nhưng một số chính trị gia coi việc thống trị của dòng họ Bourbon là mối đe dọa cho thế cân bằng quyền lực.

Louis XIV có mọi điều kiện tốt để chấp nhận cháu trai của ông lên ngôi vua Tây Ban Nha, nhưng sau đó ông đã có những hành động bất ngờ và gây tranh cãi: ông gửi quân đến Hà Lan thuộc Tây Ban Nha (là vùng đệm giữa Pháp với Cộng hòa Hà Lan); ông tìm cách thống trị thương mại ở các thuộc địa của Tây Ban Nha ở châu Mỹ cạnh tranh với các thương nhân Anh và Hà Lan, ông từ chối loại bỏ Philip khỏi danh sách kế vị ở Pháp, gây ra nguy cơ về sự hợp nhất hai vương quốc Pháp-Tây Ban Nha dưới một vương triều quyền lực duy nhất trong tương lai gần. Để chống lại âm mưu của Louis XIV, Anh, Cộng hòa Hà Lan, và Áo – cùng với các đồng minh của họ trong Thánh chế La Mã đã tái lập Đại Liên minh (1701) và ủng hộ quyền kế vị Leopold I trên vương miện Tây Ban Nha sẽ chuyển cho hoàng tử thứ hai của ông, Đại Công tước Karl. Bằng cách ủng hộ ứng viên nhà Habsburg (những người ủng hộ gọi ông ta là vua Carlos III của Tây Ban Nha), mỗi thành viên trong liên minh đều hi vọng làm giảm thế lực của Pháp, bảo đảm an toàn và lãnh thổ và vương triều của mình, và khôi phục cũng như cải thiện những lợi ích thương mại mà họ có được như thời Carlos II.

Phía Áo, cùng đồng minh là Hà Lan và Anh bắt đầu tuyên chiến tháng 5 năm 1702. Năm 1708, Công tước Marlborough và Hoàng thân Eugene xứ Savoy đã giành chiến thắng trong cuộc chiến tại Hà Lan thuộc Tây Ban Nha và Ý, sau đó tấn công đồng minh của Louis XIV tại Bavaria. Pháp đối mặt với cuộc xâm lược, nhưng liên minh khi đó bắt đầu rạn nứt. Với việc Đại Liên minh tấn công Tây Ban Nha, những thương vong và chiến phí ngày càng tăng do nó gây ra là tiền đề cho sự chia sẻ. Đảng Bảo thủ lên nắm quyền ở Liên hiệp Anh từ 1710 và tìm cách chấm dứt cuộc chiến. Các quan đầu triều ở Anh và Pháp chuẩn bị cho một hội nghị hòa bình năm 1712 và Anh ngừng các hoạt động quân sự. Hà Lan, Áo và các vương hầu người Đức vẫn chiến đấu để chiếm ưu thế trên bàn đàm phán, nhưng họ bị đánh bại bởi Nguyên soái Villars và bị buộc phải chấp nhận hòa giải giữa Anh và Pháp. Với Hiệp ước Utrecht (1713) và Hiệp ước Rastatt (1714), Đế quốc Tây Ban Nha được phân chia giữa các nước lớn và nước nhỏ. Người Áo nhận nhiều lãnh địa của Tây Ban Nha ở châu Âu, nhưng Công tước xứ Anjou vẫn thống trị bán đảo Tây Ban Nha và các thuộc địa ở châu Mỹ, sau khi từ bỏ quyền kế vị ngôi vua ở Pháp, ông cai trị Tây Ban Nha với vương hiệu Felipe V (Felipe V). Thế cân bằng quyền lực ở châu Âu vẫn được đảm bảo.

Chiến tranh Kế vị Áo

Chiến tranh Kế vị Áo (1740-1748) - còn được gọi là chiến tranh của vua George ở Bắc Mỹ . Cuộc chiến bắt đầu với lý do rằng Maria Theresa của Áo đã không đủ điều kiện để thành công để ngồi lên ngai vàng Habsburg của người cha, Charles VI, vì luật Salic cấm việc trao quyền thừa kế hoàng gia cho phụ nữ, mặc dù trong thực tế đây là một lý do thuận tiện đưa ra bởi Phổ và Pháp, thách thức quyền lực Habsburg.

Áo đã được sự hỗ trợ của Vương quốc Anh và Cộng hòa Hà Lan, những kẻ thù truyền kiếp của Pháp, cũng như Vương quốc Sardinia và Saxony. Pháp và Phổ đã liên minh với Lãnh địa tuyển hầu tước Bayern. Chiến tranh kết thúc với Hiệp ước Aix-la-Chapelle trong năm 1748. Lợi ích lâu dài nhất lịch sử quân sự và tầm quan trọng của cuộc chiến nằm trong cuộc đấu tranh của Phổ và quốc vương Habsburg đã nhượng cho họ vùng đất Silesia trù phú. Nó cũng tái lập ảnh hưởng ở miền bắc Tây Ban Nha và Ý, tiếp tục đi ngược lại một sự thống trị của Áo trên bán đảo Ý.

John Churchill, Công tước Marlborough thứ nhất

John Churchill, Công tước Marlborough thứ nhất (26 tháng 5 năm 1650 – 16 tháng 6 năm 1722) là một lãnh đạo quân sự và chính khách Anh mà sự nghiệp trải qua năm triều đại. Xuất thân từ người hầu trong cung đình Nhà Stuart, ông phục vụ James, Công tước xứ York trong thập niên 1670 và đầu những năm 1680, nhanh chóng thăng tiến trong cả quân đội lẫn chính trường nhờ lòng quả cảm và năng lực ngoại giao. Vai trò của Churchill trong việc đánh bại cuộc Khởi nghĩa Monmouth năm 1685 đã giúp đảm bảo ngai vàng cho James, nhưng chỉ 3 năm sau ông từ bỏ nhà bảo trợ theo Công giáo này để theo một người Kháng Cách Hà Lan, William xứ Orange. Được tưởng thưởng vì giúp William đăng quang bằng danh hiệu bá tước vùng Marlborough, ông phục vụ với thành tích xuất sắc những năm đầu Chiến tranh Chín năm, nhưng những cáo buộc ông theo phái Jacobite đã khiến ông mất chức và bị tống giam tạm thời tại Tháp Luân Đôn. Chỉ đến khi Nữ hoàng Anne lên ngôi năm 1702, Marlborough mới trở lại đỉnh cao quyền lực và đảm bảo được danh vị và tài sản.

Hôn nhân của ông với Sarah Jennings, một người phụ nữ nóng nảy và bạn thân của Anne, đem lại nhiều lợi ích cho Marlborough, đầu tiên là chức Tổng tư lệnh Quân đội Anh, sau đó là danh hiệu công tước. Trở thành tổng chỉ huy trên thực tế của quân đội Liên minh trong Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha, những chiến thắng của ông tại một loạt các trận quan trọng đưa ông trở thành một trong những vị tướng vĩ đại nhất của lịch sử châu Âu. Nhưng quan hệ sóng gió giữa vợ ông với Nữ hoàng, khiến bà này bị đuổi khỏi cung đình, một lần nữa khiến sự nghiệp của ông vào chỗ suy vong. Bị Anne thất sủng và mắc kẹt giữa các đảng Tory và Whig, Marlborough bị cách chức và buộc phải tự lưu đày. Cuối đời, ông trở lại nước Anh và lấy lại ảnh hưởng khi Nhà Hanover nắm quyền ở Anh với vua George I lên ngôi năm 1714.

Tham vọng không ngừng gia tăng của Marlborough khiến ông trở thành người giàu nhất trong số các thần dân dưới triều Anne. Những mối quan hệ gia đình khiến ông can dự vào chính trường châu Âu (chị gái ông, Arabella trở thành tình nhân của James II và con của họ, Công tước Berwick, trở thành Nguyên soái của Louis XIV). Trong khi đó, việc ông lãnh đạo thành công quân đội Liên minh đã đánh dấu sự trỗi dậy của nước Anh với tư cách một cường quốc hàng đầu. Đồng thời với việc duy trì sự thống nhất giữa các đồng minh hiềm khích với nhau, ông cũng tổ chức quân đội Anh tới một mức độ kỷ luật chưa từng thấy từ thời Trung Cổ.

Louis XV của Pháp

Louis XV (15 tháng 2 năm 1710 – 10 tháng 5 năm 1774), biệt danh Louis đáng yêu, là quân vương nhà Bourbon, giữ tước hiệu Vua của Pháp từ 1 tháng 9 năm 1715 cho đến khi qua đời năm 1774. Ông kế vị tằng tổ phụ là Louis XIV vào lúc 5 tuổi. Trước khi ông trưởng thành (1723), Philippe II, Quận công xứ Orléans, nắm quyền nhiếp chính cai quản vương quốc. Hồng y Fleury làm Thừa tướng từ 1726 đến khi qua đời năm 1743, đến lúc này vị vua trẻ mới có thể đích thân chấp chính.

Thời gian cai trị của ông kéo dài 58 năm, đứng thứ hai trong lịch sử của Pháp chỉ sau người tiền nhiệm là tằng tổ phụ, Louis XIV. Năm 1745, ông thân chinh và giành chiến thắng tại Trận Fontenoy chiếm được Nam Hà Lan từ tay Đế quốc Áo nhưng sau đó trả lại cho người Áo năm 1748. Năm 1763, ông cắt đất Tân Pháp ở Bắc Mỹ cho Tây Ban Nha và Anh sau thất bại trong Chiến tranh Bảy năm. Ngoài ra ông còn sáp nhập lãnh địa của Công quốc Lorraine và Cộng hòa Corse vào Vương quốc Pháp. Louis XV qua đời năm 1774 và người kế nhiệm là đích tôn của ông, Louis XVI, người bị lật đổ trong Cách mạng Pháp. Hai người cháu khác của ông, Louis XVIII và Charles X, lần lượt giữ ngôi vua sau thất bại của Napoleon Bonapate. Các sử gia đánh giá triều đại của ông là giai đoạn tồi tệ, với liên tiếp các cuộc chiến tranh nổ ra làm hao mòn tiền bạc trong phủ khố rồi dẫn đến sự suy vong của triều đình và cuộc Cách mạng Pháp vào những năm 1780.

Louise của Orléans (1812-1850)

Louise của Orléans (3 tháng 4 năm 1812 – 11 tháng 10 năm 1850), tên đầy đủ là Louise Marie Thérèse Charlotte Isabelle, là Công chúa của Orléans và là Hoàng hậu của Bỉ. Bà là tổ tiên của Vua Philippe – vị vua đương nhiệm của Vương quốc Bỉ, Hoàng tử xứ Napoli của Ý, Đại Công tước của Luxembourg và Hoàng tử Napoléon của Pháp.

Luis I của Tây Ban Nha

Luis I (tiếng Tây Ban Nha: Luis Felipe; 25 tháng 8 năm 1707 – 31 tháng 8 năm 1724) là vua Tây Ban Nha tại vị từ ngày 15 tháng 1 năm 1724 cho đến khi qua đời vào tháng 8 cùng năm. Triều đại của cậu là một trong những triều vua ngắn nhất trong lịch sử, kéo dài chỉ hơn bảy tháng.

Marie Henriette của Áo

Công chúa Marie Henriette của Áo (23 tháng 8 năm 1836 – 19 tháng 9 năm 1902), tên đầy đủ là Marie Henriette Anne, là vợ của vua Léopold II của Bỉ. Bà là Hoàng hậu Bỉ trong vòng 37 năm, từ năm 1865 đến năm 1902.

Nhà Bourbon

Nhà Bourbon (tiếng Anh /ˈbʊərbən/; phát âm tiếng Pháp: [buʁ.bɔ̃]; phiên âm tiếng Việt: Buốc-bông) là một hoàng tộc châu Âu có nguồn gốc từ Pháp, và là một nhánh của Triều đại Capet. Khởi thủy, Nhà Bourbon cai trị Navarre, rồi cả Navarre và nước Pháp kể từ thế kỷ XVI. Trong thế kỷ XVIII, những thành viên của Nhà Bourbon cũng cầm quyền tại Tây Ban Nha, Napoli, Sicily, và Parma. Hiện nay, các quân vương của Tây Ban Nha và Luxembourg đều thuộc Nhà Bourbon.

Từ năm 1555, vua chúa nhà Bourbon cai trị Navarre, tới năm 1589 thêm nước Pháp cho đến lúc bị lật đổ khi bùng nổ cuộc Cách mạng Pháp trong năm 1792. Sau đó vương quyền được phục hồi một thời gian ngắn trong năm 1814 rồi được củng cố trong năm 1815 sau khi Đế chế thứ nhất bị sụp đổ. Cuộc Cách mạng tháng Bảy năm 1983 lại phế truất nhánh trưởng của nhà Bourbon. Nhánh thứ, gọi là Nhà Orléans, cai trị trong 18 năm (1830 – 1848) rồi bị lật đổ.

Philip V là quân vương đầu tiên thuộc nhà Bourbon cai trị Tây Ban Nha. Nhà Bourbon Tây Ban Nha (Borbón theo tiếng Tây Ban Nha) bị lật đổ rồi lại được phục hồi nhiều lần, cai trị đất nước này trong những giai đoạn sau: 1700 – 1808, 1813 -1868, 1875 – 1931, và từ 1975 đến nay. Xuất phát từ dòng Tây Ban Nha là hoàng gia Vương quốc Hai Sicily (1734 – 1806 và 1815 – 1860, chỉ một Sicily từ 1806 – 1816), cũng phải kể đến những nhà cầm quyền Công quốc Parma.

Hoàng thân Felix, một người Bourbon thuộc nhánh Parma kết hôn với Nữ Đại công tước Charlotte của Luxembourg, và khi bà thoái vị năm 1964 nhường ngôi cho con trai của bà với Felix, Jean, trở thành Đại Công tước Luxembourg.

Kể từ thời Hugh Capet đến Charles X (987 – 1830), chỉ có nhánh trưởng của dòng họ Capet làm vua nước Pháp. Nhưng đến năm 1589 khi Nhà Valois không có nam giới kế vị, người đứng đầu Nhà Bourbon, Henri IV của Pháp, trở thành nhánh trưởng. Như vậy, tất cả thành viên Nhà Bourbon cùng những nhánh thứ vẫn còn sống ngày nay đều là hậu duệ của Henri IV.

Pedro I của Brasil

Dom Pedro I (tiếng Việt:Phêrô I; 12 tháng 10 năm 1798 – 24 tháng 9 năm 1834), biệt danh "Người Giải phóng", là người thành lập và nhà cai trị đầu tiên của Đế quốc Brasil. Với vương hiệu Dom Pedro IV, ông cai trị một thời gian ngắn tại Bồ Đào Nha, ở đây ông được xưng tụng là "Người Giải phóng" hay "Vị vua Chiến sĩ". Chào đời tại Lisbon, Pedro I là con thứ tư của Vua Dom João VI của Bồ Đào Nha và Hoàng hậu Carlota Joaquina, và do đó trở thành thành viên của Nhà Bragança. Khi đất nước bị người Pháp xâm lăng năm 1807, ông cùng gia đình đào thoát đến nơi thuộc địa rộng lớn và giàu có nhất của Bồ Đào Nha, Brasil.

Sau khi Cách mạng Giải phóng 1820 ở Lisbon bùng nổ, phụ thân của Pedro I được đưa về Bồ Đào Nha vào tháng 4 năm 1821, để lại ông ở Brasil làm nhiếp chính vương. Ông phải đối phó với đe dọa từ quân cách mạng và sự bất phục tùng của quân đội Bồ Đào Nha, và cố gắng xoa dịu cả hai phía. Chính phủ Bồ đe dọa thu hồi quyền tự trị được ban cho Brasil từ năm 1808, khiến người Brasil phẫn nộ. Pedro I chọn cách đứng về phía Brasil và tuyên bố độc lập khỏi Bồ Đào Nha vào ngày 7 tháng 9 năm 1822. Ngày 12 tháng 10, ông được tôn làm Hoàng đế Brasil và đến tháng 3 năm 1824 ông đánh bại toàn bộ lực lượng trung thành với chính phủ Bồ. Vài tháng sau, Pedro I đàn áp Liên minh Equator, một nỗ lực li khai bất thành của quân nổi dậy ở miền đông bắc Brasil.

Cuộc nổi dậy đòi li khai diễn ra ở tỉnh Cisplatina thuộc miền nam đầu 1825, tiếp đó là ý định sáp nhập nó của Các tỉnh liên hiệp Río de la Plata, đưa Đế quốc vào Chiến tranh Cisplatina. Tháng 3 năm 1826, Pedro I trở thành Vua Bồ Đào Nha một thời gian ngắn trước khi thoái vị nhường ngôi cho trưởng nữ, Dona Maria II. Tình hình trở nên tồi tệ vào năm 1828 khi chiến tranh ở phía nam dẫn đến hậu quả Brasil mất Cisplatina. Trong cùng năm ở Lisbon, ngai vàng của Maria II bị người chú là Hoàng tử Dom Miguel, em trai của Pedro I chiếm đoạt. Mối quan hệ ngoài hôn nhân và bê bối tình ái với một người thị nữ đã làm tổn hại nghiêm trọng danh dự của ông. Một vấn đề khác nảy ra trong Nghị viện Brasil, nơi diễn ra tranh chấp rằng liệu chính phủ sẽ do vua bổ nhiệm hay do cơ quan lập pháp đề cử; cuộc tranh luận kéo dài từ 1826 đến 1831. Không thể đối phó với vấn đề từ cả Brasil và Bồ Đào Nha cùng một lúc, ngày 7 tháng 4 năm 1831 Pedro I thoái vị nhường ngôi cho con trai là Pedro II, và giong buồm trở về châu Âu.

Pedro I dẫn quân tiến về Bồ Đào Nha vào tháng 7 năm 1832. Ban đầu là đối mặt với cuộc nội chiến, ông nhanh chóng bị cuốn vào cuộc xung đột rộng lớn bao trùm Bán đảo Iberia giữ phe Tự do và những thành phần muốn trở lại nền chuyên chế. Pedro I chết vì bệnh lao phổi ngày 24 tháng 9 năm 1834, chỉ mấy tháng sau chiến thắng của ông và phe Tự do. Ông được người đương thời ca ngợi như một nhân vật chủ chốt truyền bá tư tưởng tự do cho phép chính phủ Bồ Đào Nha và Brasil chuyển từ chế độ chuyên chế sang lập hiến.

Vinh Sơn Phạm Hiếu Liêm

Vinh Sơn Phạm Hiếu Liêm (còn được gọi là Vinh Sơn Lê Quang Liêm, Vinh Sơn Hòa Bình, Vicente de la Paz 1732 – 1773) là một linh mục Dòng Đa Minh và là một vị thánh tử đạo Việt Nam.

Huy hiệu của vua Felipe V của Tây Ban Nha
Royal Greater Coat of Arms of Spain (1700-1761) Version with Golden Fleece and Holy Spirit Collars
Full Ornamented Royal Coat of Arms of Spain (1700-1761)
Huy hiệu vua của Tây Ban Nha
(Common Version)[20]
Ornamented Version[21]
Coat of Arms of Philip V of Spain as Monarch of Naples
Coat of Arms of Philip IV of Sicily
Coat of Arms of the King of Spain as Monarch of Milan (1700-1714)
Huy hiệu Vua của Naples
(1700-1713)[22]
Huy hiệu vua của Sicily
(1700-1713)[23]
Huy hiệu Công tước Milan
(1700-1706)[24]
Tổ tiên của Felipe V của Tây Ban Nha
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
16. Henry IV của Pháp (=22, 30)
 
 
 
 
 
 
 
8. Louis XIII của Pháp
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
17. Marie de' Medici (=23, 31)
 
 
 
 
 
 
 
4. Louis XIV của Pháp
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
20. Felipe III của Tây Ban Nha (=18)
 
 
 
 
 
 
 
9. Anne của Áo
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
19. Margaret của Áo (=21)
 
 
 
 
 
 
 
2. Louis, Đại Thái tử
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
20. Felipe III của Tây Ban Nha (=18)
 
 
 
 
 
 
 
10. Felipe IV của Tây Ban Nha
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
21. Margaret của Áo (=19)
 
 
 
 
 
 
 
5. Maria Theresa của Tây Ban Nha
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
22. Henry IV của Pháp (=16, 30)
 
 
 
 
 
 
 
11. Elisabeth de France
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
23. Marie de' Medici (=17, 31)
 
 
 
 
 
 
 
1. Felipe V của Tây Ban Nha
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
24. William V, Công tước Bavaria
 
 
 
 
 
 
 
12. Maximilian I, Tuyển hầu tước Bavaria
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
25. Renata của Lorraine
 
 
 
 
 
 
 
6. Ferdinand Maria, Tuyển hầu tước Bavaria
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
26. Ferdinand II, Hoàng đế La Mã Thần thánh
 
 
 
 
 
 
 
13. Maria Anna của Áo
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
27. Công nương Maria Anna xứ Bavaria
 
 
 
 
 
 
 
3. Công nương Maria Anna của Bavaria
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
28. Charles Emmanuel I, Công tước Savoy
 
 
 
 
 
 
 
14. Victor Amadeus I, Công tước Savoy
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
29. Catherine Michelle của Tây Ban Nha
 
 
 
 
 
 
 
7. Henriette Adelaide xứ Savoy
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
30. Henry IV của Pháp (=16, 22)
 
 
 
 
 
 
 
15. Christine Marie của Pháp
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
31. Marie de' Medici (=17, 23)
 
 
 
 
 
 

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.