Elijah

Elijah (tiếng Do Thái: אֱלִיָּהוּ, Eliyahu, nghĩa là " Chúa là Yahu"[1][2]) hay Elias ( /ɪˈl.əs/; tiếng Hy Lạp: Ηλίας Elías; Xi-ri: ܐܸܠܝܼܵܐ Elyāe;[3] á rập: إلياس hay إليا, Ilyās hay Ilyā) là một nhà tiên tri sống ở phía bắc Vương quốc Israel (Samaria)[4] trong thời đại của Ahab (thế kỷ 9 TCN), theo Sách của các vị Vua. Theo Sách của các vị Vua, Elijah đã bảo vệ sự thờ phụng Yahweh thay vì Canaanite Baal. Theo sách trên, Chúa cũng đã nhiều phép màu qua Elijah, kể cả việc triệu hồi người chết, mang lửa từ trên trời, và đưa cái nhà tiên tri lên thiên đường "bằng một cơn gió lốc".[5] Sách của Malachi tiên đoán Elijah trở về "trước khi ngày vĩ đại và tồi tệ của Chúa sẽ tới",[6] khiến ông trở thành một dấu hiệu của đấng cứu thế và ngày tận thế trong nhiều giáo phái tin vào kinh thánh Hebrew. Các đoạn nhắc đến Elijah xuất hiện trong các kinh sách Tân ước, Talmud, Mishnah, và Qur'an.

Elijah (Elias)
Elijah Icon Sinai c1200
An icon of Elijah from Saint Catherine's Monastery, Mount Sinai.

Tham khảo

  1. ^ New Bible Dictionary. 1982 (second edition).
  2. ^ Wells, John C. (1990). Longman pronunciation dictionary. Harlow, England: Longman. tr. 239. ISBN 0-582-05383-8.
  3. ^ “Word ')ly)'. dukhrana.com.
  4. ^ “Kingdom of Samaria”. Christianbookshelf.org. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2014.
  5. ^ 2 Kings 2:11
  6. ^ Malachi 4:5

Sách tiểu sử

  • Elijah: Prophet of Carmel, by Jane Ackerman, ICS Publications, 2003. ISBN 0-935216-30-8

Lịch sử

  • Miller, J. M. and J. H. Hayes. A History of Ancient Israel and Judah. Louisville, KY: Westminster John Knox Press, 2004. ISBN 0-664-22358-3

Văn hóa và truyền thống

  • Bialik, H. N. and Y. H Ravnitzky. eds. The Book of Legends: Sefer Ha-Aggadah. New York: Schocken Books, 1992. ISBN 0-8052-4113-2
  • Ginzberg, Lewis. Legends of the Bible. Philadelphia: Jewish Publication Society of America, 1956.
  • Schwartz, Howard. Tree of Souls: The Mythology of Judaism. Oxford: Oxford University Press, 2004. ISBN 0-19-508679-1
  • Wolfson, Ron and Joel L. Grishaver. Passover: The family Guide to Spiritual Celebration. Woodstock, VT: Jewish Lights Publishing, 2003. ISBN 1-58023-174-8

Sách thiếu nhi

  • Aronin, Ben and Shay Rieger. The Secret of the Sabbath Fish. Philadelphia: Jewish Publication Society of America, 1978. ISBN 0-8276-0110-7
  • Goldin, Barbara. Journeys with Elijah: Eight Tales of the Prophet. New York: Harcourt Brace, 1999. ISBN 0-15-200445-9
  • Jaffe, Nina. The Mysterious Visitor: Stories of the Prophet Elijah. New York: Scholastic Press, 1997. ISBN 0-590-48422-2
  • Jaffe, Nina. The Way Meat Loves Salt: A Cinderella Tale from the Jewish Tradition. New York: Holt Publishing, 1998. ISBN 0-8050-4384-5
  • Silverman, Erica. Gittel's Hands. Mahwah, NJ: BridgeWater Books, 1996. ISBN 0-8167-3798-3
  • Sydelle, Pearl. Elijah's Tears: Stories for the Jewish Holidays. New York: Holt Publishing, 1996. ISBN 0-8050-4627-5
  • Thaler, Mike. Elijah, Prophet Sharing: and Other Bible Stories to Tickle Your Soul. Colorado Springs, CO: Faith Kids Publishing, 2000. ISBN 0-7814-3512-9
  • Scheck, Joann. The Water That Caught On Fire. St. Louis, Missouri: Concordia Publishing House: ARCH Books, 1969. (59-1159)

Nhắc tới trong kinh Qu'ran

Liên kết ngoài

Cedar Rapids, Iowa

Cedar Rapids (/ si ː dər ræpɨdz /) là thành phố lớn thứ hai ở bang Iowa và là quận lỵ quận Linn. Thành phố này nằm bên hai bờ sông Cedar, cự ly 20 dặm (32 km) về phía bắc của Iowa City và 100 dặm (160 km) về phía đông của Des Moines, thủ phủ bang và thành phố lớn nhất Iowa. Tòa thị chính và Tòa án quận Linn nằm trên cù lao Mays trên sông Cedar.

Một trung tâm phát triển nghệ thuật và văn hóa ở Đông Iowa, thành phố là nơi có Bảo tàng Nghệ thuật Rapids Cedar, Bảo tàng & Thư viện Séc và Slovakia quốc gia, Nhà hát Paramount, Nhà hát Cedar Rapids, Liên minh hành lang văn hóa Iowa. Cedar Rapids là một trung tâm kinh tế của nhà nước, nằm ở lõi của Interstate 380 Cedar Rapids/Iowa City Technology Corridor của các quận Linn, Benton, Jones, Johnson, và Washington. Dân số ước tính của khu vực thống kê đô thị, trong đó bao gồm các thành phố lân cận của Marion và Hiawatha là 255.452 người trong năm 2008. Theo điều tra dân số Hoa Kỳ năm 2010, dân số thành phố là 126.326 người. Dân số của hành lang Cedar Rapids/Iowa City ước tính 423.353 người năm 2006.

Cedar Rapids đã là nơi sinh sống cho một số nhân vật nổi tiếng với Hoa Kỳ, bao gồm họa sĩ Grant Wood, nhà báo và nhà sử học William L. Shirer, nhà văn và nhiếp ảnh gia Carl Van Vechten, và khí động học tiên phong Tiến sĩ Alexander Lippisch. Trong những năm 1990 và những năm 2000, Hollywood sẽ tính năng một số Rapidians Cedar bao gồm cả diễn viên Bobby Driscoll, Ashton Kutcher, Elijah Wood, Ron Livingston. Khu vực này đã sản sinh một số vận động viên chuyên nghiệp như Ryan Sweeney, Trent Green, và Kurt Warner. Thành phố cũng là các thiết lập cho một trò chơi âm nhạc, Pajama.

Cedar Rapids là biệt danh là "Thành phố của 5 mùa", với "mùa thứ năm", đó là thời gian để tận hưởng bốn 4 mùa kia. Tên gọi "Five Seasons" và đại diện của các tác phẩm điêu khắc xuất hiện trên toàn thành phố bằng nhiều hình thức.

Cher

Cher ( /ˈʃɛər/; tên thật Cherilyn Sarkisian; sinh ngày 20 tháng 5 năm 1946) là nữ ca sĩ và diễn viên người Mỹ. Được mô tả là hiện thân của nữ quyền trong ngành công nghiệp thống trị bởi nam giới, bà nổi tiếng với chất giọng contralto đặc trưng và tính linh hoạt trong nhiều lĩnh vực giải trí, cũng như khả năng áp dụng nhiều diện mạo và phong cách trong sự nghiệp kéo dài 5 thập kỷ, giúp bà được vinh danh là "Nữ thần nhạc Pop."

Cher bắt đầu nổi danh vào năm 1965, lúc còn là thành viên trong nhóm song ca nhạc folk rock Sonny & Cher, sau khi bài hát "I Got You Babe" đạt ngôi quán quân tại các bảng xếp hạng Hoa Kỳ và Anh Quốc. Sau đó, bà bắt đầu sự nghiệp đơn ca và phát hành bài hát ăn khách "Bang Bang (My Baby Shot Me Down)" vào năm 1966. Bà trở nên phổ biến trên truyền hình vào thập niên 1970, với chương trình The Sonny & Cher Comedy Hour, thu hút hơn 30 triệu người xem mỗi tuần trong vòng 3 năm lên sóng; và Cher. Bà theo đuổi hình tượng của một nhà tiên phong trong thời trang, khi diện nhiều bộ trang phục công phu trong các chương trình truyền hình của mình. Đồng thời, bà cũng phát triển sự nghiệp đơn ca với các đĩa đơn dẫn đầu bảng xếp hạng Billboard Hot 100 Hoa Kỳ "Gypsys, Tramps & Thieves", "Half-Breed" và "Dark Lady". Sau khi ly hôn Sonny Bono vào năm 1975, Cher trở lại làng nhạc vào năm 1979 với album mang phong cách disco, Take Me Home và thu về 300.000 đô-la Mỹ mỗi tuần trong chương trình cố định 1980 – 82 tại Las Vegas.

Vào năm 1982, Cher lần đầu xuất hiện trên sân khấu Broadway với vở Come Back to the Five and Dime, Jimmy Dean, Jimmy Dean và tham gia vào phiên bản chuyển thể điện ảnh cùng tên. Trong những năm kế đến, bà góp mặt trong nhiều bộ phim như Silkwood (1983), Mask (1985) và Moonstruck (1987), giúp bà giành giải Oscar cho "Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất". Sau đó, bà hồi sinh sự nghiệp âm nhạc bằng nhiều đĩa thu âm mang hơi hướng rock như Cher (1987), Heart of Stone (1989) và Love Hurts (1991), tất cả đều cho ra mắt nhiều đĩa đơn đạt thành công. Bà vươn đến đỉnh cao thương mại với bài hát "Believe" vào năm 1998, nơi bà sử dụng hiệu ứng Auto-Tune, còn được biết đến như "hiệu ứng Cher". Living Proof: The Farewell Tour 2002 – 05 trở thành một trong những chuyến lưu diễn đạt doanh thu cao nhất mọi thời đại, với 250 triệu đô-la Mỹ. Vào năm 2008, bà ký kết một hợp đồng trị giá 180 triệu đô-la Mỹ cùng the Colosseum at Caesars Palace, Las Vegas trong 3 năm. Sau 7 năm vắng bóng, bà trở lại màn ảnh với bộ phim nhạc kịch Burlesque (2010). Album phòng thu đầu tiên của Cher trong 12 năm, Closer to the Truth (2013) trở thành đĩa nhạc đơn ca đạt hạng cao nhất của bà tại Hoa Kỳ.

Cher là chủ nhân của một giải Oscar, một giải Grammy, một giải Emmy, một giải Thời trang CFDA đặc biệt, 3 giải Quả cầu vàng và một giải Liên hoan phim Cannes, cùng nhiều vinh danh khác. Trong sự nghiệp, bà đã bán hơn 200 triệu đĩa nhạc trên toàn cầu. Bà là nghệ sĩ duy nhất cho đến nay có đĩa đơn quán quân trên bảng xếp hạng Billboard trong 6 thập kỷ, suốt từ thập niên 1960 đến thập niên 2010. Ngoài sự nghiệp âm nhạc và diễn xuất, Cher còn gây chú ý bởi quan điểm chính trị, nỗ lực từ thiện và các hoạt động xã hội của bà, trong đó có đấu tranh cho quyền LGBT và ngăn chặn HIV/AIDS.

Cúp bóng đá châu Phi 1994

Cúp bóng đá châu Phi 1994 là Cúp bóng đá châu Phi lần thứ 19, được tổ chức tại Tunisia, thay cho chủ nhà dự kiến là Zaire. Số đội tham dự giải là 39, nhiều hơn giải trước đó 2 đội. Như giải trước đó, vòng loại chia bảng thi đấu vòng tròn 2 lượt. Vòng chung kết gồm 12 đội chia làm 4 bảng, mỗi bảng 3 đội. Nigeria lần thứ hai giành chức vô địch sau khi thắng Zambia 2–1 trong trận chung kết. Tunisia trở thành đội chủ nhà thứ ba bị loại ngay từ vòng bảng (sau Ethiopia 1976 và Bờ Biển Ngà 1984).

Deloitte

Deloitte Touche Tohmatsu Limited /dəˈlɔɪt ˈtuːʃ toʊˈmɑːtsuː/,, thường được gọi là Deloitte, là một mạng lưới dịch vụ chuyên nghiệp đa quốc gia được thành lập ở Anh.Deloitte là một trong những tổ chức "Big Four" (Bốn ông lớn) kế toán và mạng lưới dịch vụ chuyên nghiệp lớn nhất trên thế giới theo doanh thu và số lượng chuyên gia. Deloitte cung cấp các dịch vụ tư vấn về kiểm toán, thuế, tư vấn, doanh nghiệp và dịch vụ tư vấn tài chính với hơn 263.900 chuyên gia trên toàn cầu. Trong năm 2017, mạng lưới thu được doanh thu tổng cộng đạt kỷ lục 38,8 tỷ USD. [5] Vào năm 2016, Deloitte là tổ chức tư nhân lớn thứ 6 tại Hoa Kỳ.Theo báo cáo vào năm 2012, Deloitte có số lượng khách hàng lớn nhất trong số 250 công ty FTSE tại Anh và vào năm 2015, Deloitte hiện có thị phần cao nhất trong việc kiểm toán trong số 500 công ty hàng đầu ở Ấn Độ. Deloitte đã được xếp hạng số một về thị phần trong tư vấn của Gartner, và năm thứ tư liên tiếp, Kennedy Consulting Research and Advisory xếp hạng Deloitte số một trong cả tư vấn toàn cầu và tư vấn quản lý dựa trên tổng doanh thu.

Elijah (oratorio)

Elijah, Op. 71, MWV 25A (tiếng Đức: Elias) là bản oratorio của nhà soạn nhạc nổi tiếng Felix Mendelssohn. Tác phẩm được trình diễn lần đầu tiên vào năm 1846 tại thành phố Birmingham trong một buổi lễ hội. Tiếp theo, tác phẩm được trình diễn cũng tại Birmingham, phục vụ cho Nữ hoàng Victoria và Hoàng tử Albert.

Elijah Allsopp

Elijah Allsopp (1877 - 1958) là một cầu thủ bóng đá thi đấu ở Football League cho Notts County. He cũng thi đấu cho Bury.

Elijah Dart

Elijah Dart (12 tháng 3 năm 1880 – 1954) là một cầu thủ bóng đá người Anh thi đấu ở vị trí wing half.

Elijah Muhammad

Elijah Muhammad (tên khai sinh Elijah Robert Poole; 7 tháng 10 năm 1897 - 25 tháng 2 năm 1975) là một nhà lãnh đạo tôn giáo, người lãnh đạo Quốc gia Hồi giáo (NOI) từ năm 1934 cho đến khi ông qua đời năm 1975. Ông là cố vấn cho Malcolm X, Louis Farrakhan và Muhammad Ali, cũng như con trai của ông, Warith Deen Mohammed.

Eternal Sunshine of the Spotless Mind

Eternal Sunshine of the Spotless Mind là phim điện ảnh khoa học viễn tưởng hài lãng mạn của Mỹ năm 2004 do Michel Gondry đạo diễn và Charlie Kaufman viết kịch bản với dàn diễn viên chính gồm Jim Carrey, Kate Winslet, Kirsten Dunst, Mark Ruffalo, Elijah Wood và Tom Wilkinson. Eternal Sunshine nói về câu chuyện của đôi tình nhân Joel Barish (Carrey) và Clementine Kruczynski (Winslet), gặp nhiều bất đồng trong cuộc sống, họ quyết định tới công ty Lacuna Inc. xóa bỏ ký ức về người kia để rồi lại thấy không thể sống thiếu nhau và phải tìm mọi cách để giữ lại hình ảnh của người mình yêu trong trí nhớ. Sau khi ra mắt khán giả Eternal Sunshine đã nhận được nhiều lời khen ngợi, đặc biệt là về kịch bản sáng tạo của Kaufman cùng diễn xuất của hai ngôi sao Jim Carrey và Kate Winslet. Với tác phẩm này, Kaufman đã được trao Giải Oscar cho kịch bản gốc hay nhất còn Kate Winslet trở thành nữ diễn viên trẻ nhất có được 4 đề cử Oscar cho hạng mục diễn xuất.

Felix Mendelssohn

Jakob Ludwig Felix Mendelssohn Bartholdy (3 tháng 2 năm 1809 - 4 tháng 11 năm 1847), sinh ra và được biết đến rộng rãi với tên Felix Mendelssohn, là một nhà soạn nhạc, nghệ sĩ dương cầm, nghệ sĩ đại phong cầm và chỉ huy dàn nhạc người Đức thuộc giai đoạn đầu thời kỳ âm nhạc Lãng mạn. Tác phẩm của ông trải dài trên nhiều thể loại như giao hưởng, concerto, các tiểu phẩm piano cũng như các tác phẩm thính phòng. Một số những sáng tác nổi tiếng nhất của Mendelssohn có thể kể đến như khúc dạo đầu Giấc mộng đêm hè, phỏng theo tác phẩm cùng tên của Shakepeare, giao hưởng Nước Ý, giao hưởng Scotland, khúc oratorio Elijah, khúc dạo đầu The Hebride, bản Concerto cho violin nổi tiếng cùng một số những Bát tấu bộ dây.

Là cháu của triết gia Moses Mendelssohn, Mendelssohn sinh ra trong một gia đình Do Thái khá giả. Đến năm 7 tuổi, ông được làm lễ báp-têm và thành tín đồ của thần đạo Calvin. Mendelssohn sớm được biết đến như một thần đồng âm nhạc, tuy nhiên, bố mẹ nhà soạn nhạc khá dè dặt và không chú tâm phát triển mảng tài năng này của ông.

Mendelssohn sớm gặt hái được thành công ở Đức. Nhà soạn nhạc đã mang các tác phẩm của Johann Sebastian Bach trở lại với công chúng, nổi bật nhất là phần biểu diễn của ông với bản Bài thương khó Thánh Matthew. Trong vai trò là nhà soạn nhạc, chỉ huy và nghệ sĩ độc tấu, ông lưu diễn và gặt hái thành công trên khắp châu Âu; đặt biệt, ông đã đến nước Anh mười lần và cũng ra mắt nhiều tác phẩm tại đây. Những chuyến đi này đóng vai trò rất lớn trong sự nghiệp sau này của Mendelssohn. Tuy vậy, thị hiếu âm nhạc về cơ bản là bảo thủ của ông khiến ông tách biệt ra khỏi những nhạc sĩ đương thời mạo hiểm hơn như Hector Berlioz, Franz Liszt và Richard Wagner. Nhạc viện Leipzig[n 3][n 3][n 3] (ngày nay là Đại học Âm nhạc và Sân khấu Leipzig), do ông sáng lập, trở thành pháo đài chống lại ảnh hưởng của thể loại nhạc cấp tiến này. Sau một thời gian dài bị đánh giá thấp do khẩu vị âm nhạc thay đổi kết hợp với chủ nghĩa bài Do Thái vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, tính độc đáo sáng tạo trong các nhạc phẩm của Mendelssohn giờ đã được thừa nhận và đánh giá lại. Ngày nay, Mendelssohn là một trong những nhà soạn nhạc lừng danh nhất của thời kỳ âm nhạc Lãng mạn.

Giải Sao Thổ cho diễn viên trẻ xuất sắc nhất

Giải Sao Thổ cho diễn viên trẻ xuất sắc nhất là một trong các giải Sao Thổ dành cho diễn viên trẻ trong một phim, được bầu chọn là xuất sắc nhất. Giải này được lập từ năm 1984.

Hairspray (phim 2007)

Hairspray là bộ phim hài nhạc kịch năm 2007 do hãng Zadan/Neil Productions sản xuất và được phát hành bởi hãng phim New Line Cinema. Bộ phim được chuyển thể từ vở nhạc kịch Broadway năm 2002 cùng tên, và là bộ phim làm lại của bộ phim hài cùng tên năm 1988 của John Waters. Lấy bối cảnh năm 1962 ở Baltimore, Maryland, bộ phim nói về một cô gái trẻ tên Tracy Turnblad theo đuổi giấc mơ được trở thành ngôi sao nhảy trên một show trên TV và chống lại sự phân biệt chủng tộc.

Được dựa trên cả kịch bản của Waters năm 1988 and và vở nhạc kịch cùng tên của Thomas Meehan và Mark O'Donnell, bản làm lại của Hairspray năm 2007 được chỉ đạo và biên tập múa bởi Adam Shankman. Hairspray có các diễn viên chính là John Travolta, Michelle Pfeiffer, Christopher Walken, Amanda Bynes, James Marsden, Queen Latifah, Brittany Snow, Zac Efron, Elijah Kelley, Allison Janney, và diễn viên mới là Nikki Blonsky trong vai Tracy Turnblad. Hairspray cũng gồm các bài hát từ bở nhạc kịch gốc ở Broadway được viết bởi Marc Shaiman và Scott Wittman cùng 4 nhạc sĩ mới khác.

Bộ phim đã mang lại thành công lớn và được giới điện ảnh đánh giá cao, đạt kỷ lục cho bộ phim nhạc kịch có thu nhập lớn nhất vào cuối tuần. Hairspray trở thành bộ phim thứ 3 có thu nhập lớn nhất lịch sử điện ảnh Mỹ.

Jeffrey Wright

Jeffrey Wright (sinh ngày 7 tháng 12 năm 1965) là một diễn viên người Mỹ. Ông được biết đến với các vai diễn như Belize trong Angels in America (đài HBO), Jean-Michel Basquiat trong Basquiat, Felix Leiter trong hai phim về James Bond là Sòng bạc Hoàng gia và Định mức khuây khỏa, Valentin Narcisse trong Đế chế ngầm (đài HBO) và Beetee trong The Hunger Games. Jeffrey hiện đang góp mặt trong sê-ri viễn tưởng Westworld.

Maarat Saidnaya

Maarat Saidnaya, hoặc Maaret Saidnaya (tiếng Ả Rập: معرة صيدنايا‎) là một ngôi làng miền núi thuộc quận Al-Tall của thành phố Damascus Dimashq, thủ đô của Syria. Nó nằm trên vùng đồng bằng của dãy núi Qalamun bị thành phố Saidnaya gần đó bỏ qua ở độ cao 1.200 mét (3.937,00 feet) so với mực nước biển, 28 kilômét (17 mi) phía bắc thành phố Damascus. Theo Cục Thống kê Trung ương Syria (CBS), Maarat Saidnaya có dân số 3.084 trong cuộc điều tra dân số năm 2004. Cư dân của nó chủ yếu là người Công giáo Melkite.Nằm trên sườn núi ở vùng ngoại ô của thị trấn, Đền thờ Mar Elias Al-Hai (Đền thờ Thánh Elijah sống; Tiếng Ả Rập: مقام مار الياس الحي; phát âm: "Deir hoặc Makam Mar Elias Al-Hai"), là một những điểm thu hút nổi tiếng nhất của nó. Nhiều người đến hàng năm để đến thăm Nhà thờ Công giáo Hy Lạp Melkite này đặc biệt là để kỷ niệm ngày Thánh Elijah ngày 20 tháng Sáu.

Đáng chú ý là, Tu viện Mor Ephrem, được thánh hiến vào năm 1996, là nơi cư trú mùa hè của Tổ phụ của Giáo hội Chính thống Syriac, cùng với chủng viện nhà thờ và Đại học Antioch Syria mới thành lập.

Núi Carmel

Núi Carmel (tiếng Hebrew הַר הַכַּרְמֶל), Har HaKarmel, phiên âm tiếng Việt: Các-men, Ca-mê-lô, Cạc-mên, Cát Minh, nghĩa đen: vườn nho của Chúa); tiếng Hy Lạp: Κάρμηλος, Kármēlos; tiếng Ả Rập: الكرمل‎, Kurmul) là một dãy núi ven bờ biển ở miền bắc Israel, trải dài từ Địa Trung Hải về phía đông nam. Các nhà khảo cổ học đã phát hiện rượu nho cổ và các dụng cụ ép dầu ở nhiều địa điểm trên núi Carmel. Dãy núi này là khu dự trữ sinh quyển thế giới của UNESCO và một số thành phố nằm ở đây, đáng kể nhất là thành phố Haifa – thành phố lớn thứ ba của Israel - nằm ở sườn dốc phía bắc.

Quốc gia Islam

Quốc gia Islam là một tổ chức chính trị-tôn giáo Mỹ, khởi nguyên từ cuộc vận động Hồi giáo của người Mỹ gốc Phi. Quốc gia Islam (NoI) không công bố số liệu thống kê, ước tính số lượng thành viên rất bất đồng, nhưng vào năm 2003, căn cứ theo lời thuyết pháp của Hakeem Lumumba, nó nằm trong khoảng từ 20 000 đến 40 000 người.

Quốc gia Islam thành lập tại Detroit, miền bắc Hoa Kỳ, vào năm 1930 bởi Wallace Fard Muhammad, được Quốc gia Hồi giáo thừa nhận là "Messiah-Đấng Cứu thế" (hay "mahdi" - dẫn đạo giả) mà người Hồi giáo mong đợi, và thậm chí là Thiên Chúa (Chân Chủ) hóa thân. hình thái ý thức được phát triển bởi tổ chức này là sự hỗn hợp giữa Chủ nghĩa dân tộc người Mỹ góc Phi và tôn giáo. Sau này lấy linh cảm từ Islam, nhưng là tà giáo. Do đó, NoI được coi là một giáo phái như đa số các tổ chức Islam giáo.

Nếu Wallace Fard Muhammad là người tạo ra tổ chức, thì người kế nhiệm là Elijah Muhammad, năm 1934 đến 1975, đã giúp định hướng, tổ chức và tăng lực lượng cho giáo phái. Malcolm X là một trong những nhân vật kiệt xuất nhất trong tổ chức cho đến khi anh ta đả phá nó, khiển trách nó phân biệt chủng tộc sau khi trở về từ một chuyến hành hương đến Mecca năm 1964.

Quốc gia Islam đã chính thức chuyển hóa sang phái vận động Islam Sunni không lâu sau cái chết của Elijah Muhammad, vào năm 1975. Một nhóm các phần tử cự tuyệt phương châm này rời khỏi tổ chức vào năm 1978, và lấy lại danh nghĩa Quốc gia Islam, vừa bị thượng cấp bỏ rơi. Trung thành với hình thái ý thức khởi nguyên, mặc dù có những diễn biến nhất định, tân NoI vẫn quá nguyên thủy kể từ khi Louis Farrakhan phân liệt tổ chức vào năm 1978. Đây là sự khởi đầu của một thế hệ lãnh đạo trung thực vào thế kỉ XXI trong quan điểm của cộng đồng người Mỹ gốc Phi. Bài diễn thuyết cường điệu của ông, nhấn mạnh sự cần thiết phải học tập của người da đen, phát triển địa vị kinh tế xã hội và đả kích tính tất yếu phạm tội, có ảnh hưởng vượt xa giới tôn giáo của NOI. Trong bài phát ngôn mơ hồ đó, có ít nhiều sự thù địch sung mãn với người da trắng và người Do Thái. Tuy nhiên, đã gây ra nhiều tranh luận.

USS Hall (DD-583)

USS Hall (DD-583) là một tàu khu trục lớp Fletcher được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nó là chiếc tàu chiến duy nhất của Hải quân Mỹ được đặt theo tên Đại úy Hải quân Elijah Hall (1742-1830), người phục vụ trong Hải quân Lục địa cùng Thiếu tướng Hải quân John Paul Jones. Nó hoạt động cho đến hết Thế Chiến II, được cho xuất biên chế năm 1946, rồi được chuyển cho Hy Lạp năm 1960 và hoạt động như là chiếc Lonchi (D56) cho đến năm 1990; cuối cùng nó bị tháo dỡ vào năm 1997. Hall được tặng thưởng tám Ngôi sao Chiến trận do thành tích phục vụ trong Thế Chiến II.

Warith Deen Muhammad

Warith Deen Mohammed (30 tháng 10 năm 1933 - 9 tháng 9 2008) là một nhà lãnh tụ hoạt động hoạt động người Mỹ có ảnh hưởng theo phương diện chủ nghĩa chủng tộc da đen kỳ thị người da trắng và là nhi tử của Elijah Muhammad Phụ thân ông đã lãnh đạo khai thác một cộng đồng giáo đồ Islam da đen được gọi là Quốc gia Islam.

Năm 1993 thời Bill Clinton chấp chính, những đại biểu tham nghị viện Hoa Kỳ tham dự lễ khai mạc với một lời cầu nguyện và ông cũng tham gia với tư cách là nhà lãnh đạo giáo đồ Islam người Mỹ tối sơ. Ông mất vào ngày 9 tháng 9 năm 2008, ngày 9 tháng Ramadan. Lễ tang cử hành tại Công viên biệt thự của ông ở Illinois.

Đội tuyển bóng đá quốc gia Saint Lucia

Đội tuyển bóng đá quốc gia Saint Lucia là đội tuyển cấp quốc gia của Saint Lucia do Hiệp hội bóng đá Saint Lucia quản lý.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.