Dwight D. Eisenhower

Dwight David "Ike" Eisenhower (phiên âm: Ai-xen-hao; 14 tháng 10 năm 1890 – 28 tháng 3 năm 1969) là một vị Thống tướng Lục quân Hoa Kỳ và là Tổng thống Hoa Kỳ thứ 34 từ năm 1953 đến 1961. Trong thời Chiến tranh thế giới thứ hai, ông phục vụ với tư cách là tư lệnh tối cao các lực lượng đồng minh tại châu Âu, có trách nhiệm lập kế hoạch và giám sát cuộc tiến công xâm chiếm thành công vào nước PhápĐức năm 1944 – 1945 từ mặt trận phía Tây. Năm 1951, ông trở thành tư lệnh tối cao đầu tiên của NATO.

Là một đảng viên Cộng hòa, Eisenhower bước vào cuộc đua tranh cử tổng thống năm 1952 đối đầu với chủ nghĩa cô lập của thượng nghị sĩ Robert A. Taft, và cái mà ông muốn đi đầu để đối phó là "chủ nghĩa cộng sản, Triều Tiên và tham nhũng". Ông thắng lớn, kết thúc hai thập niên kiểm soát Nhà Trắng của nhóm chính trị New Deal. Là tổng thống, Eisenhower đe dọa sử dụng vũ khí hạt nhân để buộc Trung Quốc đồng ý ngưng bắn trong cuộc Chiến tranh Triều Tiên. Ông luôn gây sức ép với Liên Xô trong thời Chiến tranh lạnh, cho phép ưu tiên phát triển các loại vũ khí hạt nhân không tốn nhiều kinh phí và giảm các lực lượng khác để tiết kiệm tiền bạc. Ông đã phải chơi trò đuổi bắt trong cuộc chạy đua không gian sau khi Liên Xô phóng vệ tinh Sputnik năm 1957. Về mặt trận trong nước, ông giúp loại Joe McCarthy khỏi quyền lực nhưng mặc khác bỏ đa số các vấn đề chính trị cho phó tổng thống của mình là Richard Nixon đối phó. Ông từ chối hủy bỏ chương trình New Deal nhưng thay vào đó lại mở rộng chương trình An sinh Xã hội và khởi sự Hệ thống Xa lộ Liên tiểu bang. Ông là tổng thống đầu tiên bị giới hạn nhiệm kỳ theo tu chính án 22, Hiến pháp Hoa Kỳ. Các sử gia thường xếp hạng Eisenhower trong số 10 tổng thống hàng đầu của Hoa Kỳ.

Dwight D. Eisenhower
Dwight D. Eisenhower, official photo portrait, May 29, 1959
Tổng thống thứ 34 của Hoa Kỳ
Nhiệm kỳ
20 tháng 1 năm 1953 – 20 tháng 1 năm 1961
8 năm, 0 ngày
Phó Tổng thốngRichard Nixon
Tiền nhiệmHarry S. Truman
Kế nhiệmJohn F. Kennedy
Tư lệnh Tối cao Lực lượng Đồng Minh Châu Âu
Nhiệm kỳ
2 tháng 4 năm 1951 – 30 tháng 5 năm 1952
1 năm, 58 ngày
Tổng thốngHarry S. Truman
Tiền nhiệmChức vụ thành lập
Kế nhiệmMatthew Ridgway
Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ
Nhiệm kỳ
19 tháng 11 năm 1945 – 6 tháng 2 năm 1948
2 năm, 79 ngày
Tổng thốngHarry S. Truman
Tiền nhiệmGeorge Marshall
Kế nhiệmOmar Bradley
Thống đốc quân sự vùng chiếm đóng của Mỹ tại Đức
Nhiệm kỳ
8 tháng 5 năm 1945 – 10 tháng 11 năm 1945
0 năm, 186 ngày
Tổng thốngHarry S. Truman
Tiền nhiệmChức vụ thành lập
Kế nhiệmJoseph T. McNarney
Chủ tịch thứ 13 của Đại học Columbia
Nhiệm kỳ
1948–1953
Tiền nhiệmFrank D. Fackenthal (Quyền)
Kế nhiệmGrayrson L. Kirk
Thông tin cá nhân
Sinh14 tháng 10, 1890
Denison, Texas, Hoa Kỳ
Mất28 tháng 3, 1969 (78 tuổi)
Washington, D.C., Hoa Kỳ
Nơi an nghỉDwight D. Eisenhower Presidential Library, Museum and Boyhood Home
Đảng chính trịĐảng Cộng hoà
Vợ, chồngMamie Doud (Kết hôn 1916)
Con cáiDoud
John
Alma materHọc viện Quân sự Hoa Kỳ
Tôn giáoCơ đốc giáo (Giáo hội Trưởng Lão từ 1953)[1]
Chữ ký
Dwight D. Eisenhower's signature
Phục vụ trong quân đội
ThuộcHoa Kỳ Hoa Kỳ
Phục vụ Lục quân Hoa Kỳ
Năm tại ngũ1915-1952
Cấp bậcUS-O11 insignia.svg Thống tướng Lục quân
Đơn vịUSA - Army Infantry Insignia.png Bộ binh
Tham chiếnChiến tranh thế giới thứ nhất
Chiến tranh thế giới thứ hai

Thời thơ ấu và gia đình

Eisenhower familyhome
Ngôi nhà gia đình của Eisenhower ở Abilene, Kansas
Eisenhower with Mamie
Eisenhower cùng với vợ đứng trên bậc thềm của trường Đại học St. Mary ở thành phố San Antonio, Texas năm 1916 là nơi Eisenhower có thời gian làm huấn luyện viên môn bóng bầu dục.

Eisenhower có tên khai sinh là David Dwight Eisenhower, sinh ngày 14 tháng 10 năm 1890 tại số 208 Đường Day, khu đông thành phố Denison, Texas,[2] là tổng thống đầu tiên sinh ra tại tiểu bang này. Ông là người con trai thứ ba trong số bảy anh em trai,[3] có cha là David Jacob Eisenhower và mẹ Ida Elizabeth Stover, gốc Đức, AnhThụy Sĩ. Ngôi nhà nơi ông được sinh ra nay được dùng làm nhà lưu niệm lịch sử tiểu bang có tên gọi "Eisenhower Birthplace State Historic Site" do Ủy ban Lịch sử Texas điều hành hoạt động.[4]

Tên ông là David Dwight và mọi người thường gọi ông là Dwight. Ông chọn giữ thứ tự tên gọi của mình là Dwight thay vì là David khi ghi danh vào Học viện Quân sự West Point Hoa Kỳ.[5]

Tổ tiên bên nội của Eisenhower có thể được truy tìm nguồn gốc đến Hans Nicolas Eisenhauer là người có họ Đức với nghĩa là "thợ làm đồ sắt".[6] Hans Eisenhauer và gia đình di cư từ Karlsbrunn (bây giờ là Saarland), Đức đến Lancaster, Pennsylvania năm 1741. Con cháu di chuyển về hướng tây. Gia đình của Eisenhower định cư tại Abilene, Kansas năm 1892. Cha của ông, David Eisenhower, là một kỹ sư có bằng đại học.[7]

Do hoàn cảnh nghèo khó, ngay từ nhỏ cậu bé Eisenhower đã phải cùng với các anh em phụ giúp công việc gia đình, như tham gia trồng rau cải. Lớn lên ông lại phải ra ngoài làm tạp dịch để kiếm sống. Điều này đã hình thành thói quen cần kiệm và ham lao động của vị tướng tương lai.[8] Trong thời gian này có hai sự kiện ảnh hưởng rất lớn đến Eisenhower. Năm 10 tuổi, do tức giận vì không được đi chơi Giáng sinh với một số bạn lớn tuổi hơn, cậu bé Eisenhower đã đấm liên tục vào thân cây cho đến chảy máu tay. Lúc đó mẹ ông đã khuyên rằng: tức giận là vô ích, những người có khả năng khống chế tình cảm của mình còn vĩ đại hơn cả những người khống chế một thành phố. Lời khuyên này đã ảnh hưởng lớn đến tính cách của Eisenhower và giúp ông rất nhiều trong việc tạo lập mối quan hệ tốt với đồng sự và giữ một hình ảnh cá nhân tốt đẹp trong mắt mọi người. Việc thứ hai là khi Eisenhower bị thương ở đầu gối lúc 15 tuổi. Vết thương nhiễm trùng và thầy thuốc đề nghị phải cưa bỏ chân, tuy nhiên Eisenhower thà chết chứ không muốn làm một kẻ tàn phế. Điều kỳ diệu là vết thương của ông phục hồi nhanh chóng sau đó. Ý chí kiên cường và tinh thần dũng cảm của Eisenhower đã bắt đầu bộc lộ trong hoàn cảnh này.[8]

Ông kết hôn với Mamie Geneva Doud (1896–1979), một cư dân của thành phố Boone, Iowa và là con gái của một đại phú thương tại thành Denver, Colorado, vào ngày 1 tháng 7 năm 1916. Chính nhờ cuộc hôn nhân tốt đẹp nên Dwight Eisenhower đã có một hậu phương vững chắc cho đời sống quân sự và chính trị của mình.[9] Hai người có hai người con trai: Doud Dwight và John Sheldon Doud. Doud Dwight sinh ngày 24 tháng 9 năm 1917, và chết vì bệnh sốt đỏ ngày 2 tháng 1 năm 1921 lúc 3 tuổi.[10] Con trai thứ hai của họ, John Sheldon Doud Eisenhower, sinh năm sau đó vào ngày 3 tháng 8 năm 1922; John phục vụ trong Lục quân Hoa Kỳ, về hưu với cấp bậc chuẩn tướng, trở thành nhà văn, và phục vụ trong vai trò đại sứ Mỹ tại Bỉ từ năm 1969 đến 1971. John tốt nghiệp West Point trùng hợp vào ngày D-Day 6 tháng 6 năm 1944 và kết hôn với Barbara Jean Thompson ngày 10 tháng 6 năm 1947. John và Barbara có bốn người con: Dwight David II "David", Barbara Ann, Susan Elaine và Mary Jean. David, tên được đặt cho Trại David, kết hôn với con gái của Tổng thống Richard Nixon là Julie năm 1968.

Giáo dục

Dwight D. Eisenhower học ở trường Trung học Abilene, thành phố Abilene, tiểu bang Kansas và tốt nghiệp năm 1909.[11] Trong trường học, Eisenhower yêu thích nhất là môn lịch sử. Ông rất thích đọc các truyện ký về các vị anh hùng, các danh nhân quân sự thuở xưa; hai người ông hâm mộ nhất là Thống soái Hannibal BarcaTổng thống Hoa Kỳ George Washington. Khi trưởng thành, Eisenhower vẫn còn nhớ rõ các chiến dịch quân sự quan trọng trong lịch sử.[8] Bạn bè ông cho rằng Eisenhower sẽ trở thành giáo sư tại Đại học Yale. Tuy nhiên do gia cảnh khó khăn ông tạm nghỉ học để đi làm giúp người anh thứ hai có tiền học tiếp. Việc giúp đỡ lẫn nhau là một điểm đặc trưng trong gia đình của Eisenhower và đã giúp ích rất nhiều cho ông sau này. Lúc đó ông làm trưởng toán đêm trong hãng làm bơ Belle Springs.[12] Sau khi làm việc hai năm để giúp anh của ông là Edgar học đại học, một người bạn đã hối thúc ông xin vào Học viện Hải quân Hoa Kỳ. Eisenhower dễ dàng vượt qua kỳ thi tuyển vào Học viện Hải quân Hoa KỳIndianapolis. Tuy nhiên, do quá tuổi nên không được nhận vào trường và ông được Thượng nghị sĩ tiểu bang Kansas là Joseph L. Bristow giới thiệu vào Học viện Quân sự Hoa Kỳ tại West Point, New York năm 1911.[13] Những sự trắc trở trên con đường học vấn của Eisenhower vô hình trung đã đem lại cho nước Mỹ một danh tướng lục quân.[9]

Eisenhower ghi danh vào Học viên Quân sự Hoa Kỳ tại West Point tháng 6 năm 1911. Cha mẹ của ông là những người chống chủ nghĩa quân phiệt đã phản đối ông vào học viện West Point vì họ là những người tài trợ giáo dục cho ông. Eisenhower là một vận động viên mạnh mẽ và có được những thành công nổi bật trong các cuộc tranh tài thể thao.

Tại West Point, Eisenhower học lý luận quân sự cùng với các giáo trình chung khác của bậc Đại học. Ông yêu thích nhất môn Toán và môn Sử, đặc biệt ông bộc lộ đầu óc thông minh trong môn Toán khi có những bài giải còn hay hơn cả đáp án trong sách vở. Đồng thời ông cũng rất yêu thích thể thao: Eisenhower là một trung vệ nổi tiếng trong bóng bầu dục ở năm thứ hai Đại học, mặc dù sau đó ông bị chấn thương đầu gối và phải bỏ môn này - một trục trắc khác trên con đường sự nghiệp của Eisenhower đã giúp cho nước Mỹ không bị mất đi một danh tướng lục quân. Tuy nhiên, ít nhất môn thể thao này đã giúp Eisenhower hình thành tinh thần làm việc tập thể - một điều cực kỳ quan trọng đối với binh nghiệp của ông về sau. Nhìn chung, "danh tiếng" của Eisenhower rất cao trong trường West Point thông qua thái độ nhiệt tình, khoan dung và thân thiện của ông. Nhưng cá tính cứng rắn của Eisenhower đã khiến thành tích học tập và hạnh kiểm của ông không tốt lắm: ông tốt nghiệp năm 1915[14] chỉ với hạng 61 trong số 168 học sinh.[9] Năm học 1915 được biết đến như là "năm học sao rơi xuống" vì 59 học viên lần lượt trở thành các sĩ quan cấp tướng.

Nghiệp thể thao

Eisenhower Football
Các thành viên của đội bóng bầu dục West Point năm 1912. Học viên Eisenhower đứng thứ hai từ bên trái; học viên Omar Bradley đứng thứ hai từ bên phải.

Tại West Point, Eisenhower không thành công khi thử thời vận với môn bóng chày. Sau này ông có nói rằng "không thành công với môn bóng chày tại West Point là một trong số những thất vọng lớn của tôi, có lẽ là sự thất vọng lớn nhất."[15] Tuy nhiên, Eisenhower thành công với môn bóng bầu dục.

Năm 1916, trong lúc đóng quân ở đồn Sam Houston, Eisenhower làm huấn luyện viên bóng bầu dục cho trường Đại học St. Louis, bây giờ là viện Đại học St. Mary.[16][17]

Trong cuộc đời sau này, Eisenhower rất mê say môn golf và gia nhập Câu lạc bộ Golf Quốc gia Augusta năm 1948 sau khi được câu lạc bộ này mời tham dự khi ông viếng thăm nơi này lần đầu tiên.[18] Ông chơi golf thường xuyên trong hai nhiệm kỳ tổng thống của mình, và cũng như sau khi về hưu. Ông có một sân chơi golf cơ bản được lập tại Trại David.

Khởi sự binh nghiệp

Sau khi tốt nghiệp Học viện Quân sự Hoa Kỳ vào năm 1915, thiếu úy Eisenhower nhận công tác đầu tiên ở đồn Sam Houston, tiểu bang Texas.[19] Tại đây, ông dùng giờ rảnh chỉ vào hai việc: đi săn và làm huấn luyện viên môn bóng bầu dục. Ông phục vụ ngành bộ binh cho đến năm 1918 ở nhiều trại khác nhau trong tiểu bang TexasGeorgia.

Chiến tranh thế giới thứ nhất

Trong thời Chiến tranh thế giới thứ nhất, Eisenhower là chỉ huy số 3 của binh chủng xe tăng mới thành lập và vươn lên cấp bậc tạm thời trong thời chiến là trung tá trong Lục quân Quốc gia. Điều này khiến ông hết sức phấn khởi, và ông đã dùng khả năng tổ chức của mình để giữ sĩ khí và tinh thần sẵn sàng chiến đấu của binh đoàn ở mức cao. Tuy nhiên, một lần nữa số phận đã khiến ông không được toại nguyện khi vào tháng 9 cùng năm, Eisenhower bị phái đi làm sĩ quan huấn luyện tại một doanh trại huấn luyện dành cho các sĩ quan ở tiểu bang Georgia. Sau đó mấy tháng ông lại được điều đến một doanh trại huấn luyện khác. Việc không được tham chiến đã khiến Eisenhower tiếc nuối rất nhiều, nhưng một lần nữa, chính sự trớ trêu của số phận đã làm lợi cho ông: Eisenhower có thể tránh được mặc cảm bắn giết vô tình trong hồi ức và có một đầu óc tỉnh táo khi bước vào công tác lãnh đạo ở thế chiến thứ hai. Và nhiệm vụ đã khiến ông có cơ hội tham gia xây dựng và quản lý hàng nghìn binh sĩ, tham gia soạn thảo và giám sát kế hoạch huấn luyện; những kinh nghiệm tích lũy được trong thời gian này rất có lợi cho sự nghiệp của ông về sau.[20]

Lại nói về những công tác của ông trong thời kỳ này: do tài tổ chức và khả năng nhận biết, tận dụng nhân tài cùng với thái độ quan tâm chăm sóc đối với các thuộc cấp, Eisenhower đã chiếm được cảm tình của các sĩ quan cấp trên lẫn cấp dưới. Một thời gian ngắn sau, ông được điều đi tổ chức đơn vị tăng thiết giáp đầu tiên của Hoa Kỳ. Đó là một công việc hoàn toàn mới mẻ trong tình hình ở Mỹ chưa có một chiếc xe tăng nào cũng như chưa có tài liệu hướng dẫn nào về huấn luyện binh sĩ xe tăng; tuy nhiên Eisenhower vẫn hoàn thành tốt đẹp nhiệm vụ của mình. Vì vậy năm 1918 ông được thăng lên trung tá và nhận được một tấm huân chương. Ông được đánh giá là người khắc khổ, chịu khó, có khả năng dự kiến, tổ chức và huấn luyện sĩ quan. Đơn vị của ông cũng được khen tặng là một trong những đơn vị ưu tú nhất nước Mỹ.[20]

Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất

Thời gian khó khăn

Trong suốt chiến tranh, ông đào tạo các binh sĩ xe tăng tại Pennsylvania và chưa từng tham gia chiến đấu. Sau chiến tranh, Hoa Kỳ nhanh chóng cắt giảm binh bị và quân hàm tạm thời trong thời chiến của Eisenhower trong Lục quân Quốc gia bị quay trở về cấp bậc thường trực là đại úy trong Lục quân chính quy (vài ngày sau đó được thăng lên thiếu tá) trước khi nhận nhiệm vụ tại Trại Meade, tiểu bang Maryland, nơi ông ở đó cho đến năm 1922. Mặc dù là một quan chức thấp kém vào lúc này nhưng Eisenhower vẫn kiên trì bắt rễ vững chắc trong quân đội. Trong thời gian này ông cũng tích cực nghiên cứu các sách vở, tài liệu quân sự nói về lực lượng tăng thiết giáp. Sở thích của ông về chiến tranh xe tăng được củng cố trong những lần tiếp xúc nói chuyện với George S. Patton và các vị chỉ huy xe tăng cao cấp khác; tuy nhiên ý tưởng của họ về chiến tranh xe tăng không được các cấp chỉ huy cao cấp hơn khuyến khích.[21] Với con mắt nhìn xa trông rộng, ông đã đoán biết được xe tăng và máy bay sẽ là hai lực lượng quan trọng bậc nhất trong chiến tranh sau này. Chính vì vậy ông chủ trương vứt bỏ những loại xe tăng chậm chạm yếu kém, thay vào đó là các loại tăng mạnh, nhanh, hỏa lực tốt.[22]

Tuy nhiên tư tưởng đúng đắn của Eisenhower đã bị viên tư lệnh bộ binh Hoa Kỳ lúc bấy giờ chỉ trích dữ dội, vì ông ta cho rằng thiết giáp là một vật tùy thuộc của bộ binh và không thể tùy tiện thay đổi. Một điều không may khác xảy ra với Eisenhower là người con trai đầu của ông, Doug Dwight bị bệnh sốt phát ban cướp đi sinh mạng vào năm 1921. Hai việc không may này khiến cho Eisenhower cảm thấy hết sức chán nản.[22]

Làm việc dưới trướng Conner

Tuy nhiên vận rủi của Eisenhower không kéo dài lâu. Eisenhower trở thành sĩ quan hành chính cho tướng Fox Conner tại vùng kênh đào Panama nơi ông phục vụ đến năm 1924. Fox Conner là vị tướng có học thức vào hàng bậc nhất trong quân đội Hoa Kỳ và cũng là một trong những người mà Eishenhower cảm kích nhất. Chính Conner đã phát hiện ra tài năng của Eisenhower và dốc tâm bồi dưỡng cho ông. Conner cho rằng một cuộc chiến tranh lớn trong tương lai là điều không tránh khỏi, vì vậy ông cho rằng Eisenhower nên chuyên tâm tìm đọc thật nhiều sách vở quân sự. Đồng thời Conner khuyên Eisenhower nên tìm cách chen chân vào hàng ngũ nhân viên dưới quyền của George Catlett Marshall, lúc này đang là đại tá, vì ông thấy Marshall là người có đảm lược siêu việt. Những lời khuyên của Conner đã giúp ích rất nhiều cho Eisenhower sau này.[23] Dưới sự giám hộ của Conner, ông học lịch sử và học thuyết quân sự (gồm có cuốn sách Vom Kriege của Karl von Clausewitz). Sau này tư tưởng quân sự của ông mang nặng ảnh hưởng của Conner. Năm 1925 – 1926, ông học Đại học Tư lệnh và Tham mưu ở Đồn Leavenworth, Kansas,[24] và rồi phục vụ trong vai trò tư lệnh một tiểu đoàn ở Đồn Benning, tiểu bang Georgia cho đến năm 1927.

Làm việc dưới trướng Douglas MacAthur

Trong suốt cuối thập niên 1920 và đầu thập niên 1930, binh nghiệp của Eisenhower trong Lục quân thời bình dậm chân tại chỗ; nhiều bạn đồng đội của ông phải giải ngũ để tìm việc có lương cao hơn. Ông được thuyên chuyển đến Ủy ban Tượng đài Chiến tranh Mỹ do tướng John J. Pershing điều hành, rồi học Đại học Chiến tranh Lục quân, sau đó phục vụ trong vai trò sĩ quan hành chính cho tướng George V. Mosely, vị trợ tá của Bộ Chiến tranh Hoa Kỳ từ năm 1929 đến 1933. Năm 1930, Eisenhower khởi thảo một kế hoạch động viên cho thời chiến, kế hoạch này được Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ Douglas MacArthur đánh giá rất cao. Chính vì vậy năm 1932, MacArthur - lúc này là Tham mưu trưởng lục quân Mỹ - đã bổ nhiệm Eisenhower làm trợ tá trưởng quân sự cho mình. Eisenhower đã làm việc dưới trướng của MacArthur suốt 7 năm. Trong thời gian này, MacArthur nổi tiếng là một kẻ ngạo mạn và bướng bỉnh, nhưng Eisenhower xem thủ trưởng của mình như một "ông thánh" quả đoán, học cao hiểu rộng. Chính lập trường cứng rắn và tính kiên định của MacArthur đã ảnh hưởng sâu sắc đến Eisenhower. Eisenhower cũng học được nhiều kinh nghiệm đáng quý về quản lý hành chính cùng với nhiều bài học về cách làm việc quá khích của thượng cấp mình. Về phía MacArthur, ông rất quan tâm và trân trọng một sĩ quan tài năng như Eisenhower. Trong một báo cáo giám định MacArthur đã nhận xét Eisenhower là sĩ quan tốt nhất trong quân đội và sẽ là quân nhân có địa vị lãnh đạo trong cuộc chiến tranh tương lai.[25]

Chính vì trân trọng tài năng của Eisenhower, MacArthur đã nằng nặc kéo Eisenhower đi theo mình khi ông nhận lệnh bay sang Phillipines tổ chức lại quân đội vào năm 1936. Người ta cho rằng chính nhờ sự điều động này đã mang lại cho ông sự chuẩn bị quý giá để giao tiếp với những cá nhân có cá tính đầy thử thách như Winston Churchill, George S. PattonBernard Law Montgomery trong suốt Chiến tranh thế giới thứ hai. Eisenhower được thăng cấp thường trực lên trung tá vào năm 1936 sau 16 năm với cấp bậc thiếu tá. Ông cũng học bay mặc dù ông chưa bao giờ được xếp loại là một phi công quân sự. Ông thực hiện một chuyến bay một mình trên Philippines năm 1937. Tuy nhiên, bản thân Eisenhower lại cho rằng trong thời gian tại Phillipines ông chỉ được học lái máy bay, được thăng lên trung tá và có thêm một ít kinh nghiệm về việc tiết giảm dự chi của quốc gia. Thêm vào đó, trong thời gian này mối quan hệ giữa Eisenhower và thủ trưởng MacArthur bắt đầu chuyển biến xấu đi. Chính vì thế, vào tháng 9 năm 1939, đúng lúc Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Eisenhower rời Phillipines trở về nước Mỹ.[25]

Sau khi về nước, Dwight D. Eisenhower giữ nhiều chức vụ tham mưu tại Washington, D.C., CaliforniaTexas. Ông được bổ nhiệm trung đoàn phó trung đoàn 15 thuộc sư đoàn 3. Sau đó ông trở thành tham mưu trưởng của sư đoàn 3 đóng tại Lewisburg. Tháng 3 năm 1941 Eisenhower được thăng lên đại tá. Tháng 6 năm đó ông được bổ nhiệm là tham mưu trưởng tập đoàn quân số 3 do mọi người tán thưởng tầm nhìn xa, tư tưởng tiến bộ và sự túc trí đa mưu của ông. Trong chức vụ mới này ông đã lãnh đạo thành công một cuộc diễn tập lớn của quân đoàn số 2 và số 3 tại Lousiana. Thành tích này đã khiến ông được phong chuẩn tướng và lọt vào mắt xanh của đại tướng bốn sao George Marshall, lúc này đang là Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ.[26] Ông được thăng cấp chuẩn tướng ngày 3 tháng 10 năm 1941.[27] Tuy khả năng hành chính của ông nổi bật nhưng trong đêm trước ngày Hoa Kỳ tham dự vào Chiến tranh thế giới thứ hai ông vẫn chưa từng giữ một bộ tư lệnh tác chiến nào trên cấp tiểu đoàn huống chi việc được xem là một vị tư lệnh tiềm năng của các cuộc hành quân lớn.

Chiến tranh thế giới thứ hai

American World War II senior military officials, 1945.JPEG
Eisenhower (ngồi giữa) với các sĩ quan Lục quân Hoa Kỳ năm 1945. Từ trái sang phải, hàng đầu gồm có Simpson, Patton, Spaatz, Eisenhower, Bradley, Hodges, và Gerow.

Sau khi Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng, Eisenhower được phái đến làm việc ở bộ tổng tham mưu tại Washington nơi ông phục vụ cho đến tháng 6 năm 1942 với trách nhiệm lập kế hoạch tác chiến chính để đánh bại Đức và Nhật Bản. Ông được bổ nhiệm phó tư lệnh đặc trách phòng thủ Thái Bình Dương dưới quyền của tư lệnh Bộ tham mưu Hoạch định Tác chiến (war plans division) là tướng Leonard T. Gerow, và sau đó thay thế Gerow làm tư lệnh Bộ tham mưu Hoạch định Tác chiến. Sau đó ông được bổ nhiệm là trợ tá tham mưu trưởng đặc trách Bộ tham mưu Hành quân dưới quyền của Tham mưu trưởng George C. Marshall là người tìm kiếm tài năng và thăng chức đúng cách.[28]

Năm 1942, Eisenhower được bổ nhiệm tướng tư lệnh Mặt trận Hành quân châu Âu (European Theater of Operations) và đóng quân tại Luân Đôn.[29] Tháng 11, ông cũng được Tổng hành dinh Lực lượng Đồng minh mới bổ nhiệm làm tư lệnh tối cao Lực lượng Viễn chinh Đồng minh cho Mặt trận Hành quân Bắc Phi. Từ "viễn chinh" bị loại bỏ ngay sau khi ông được bổ nhiệm vì các lý do an ninh. Tháng 2 năm 1943, quyền tư lệnh của ông được nới rộng là tư lệnh Tổng hành dinh Lực lượng Đồng minh băng ngang qua vùng lòng chảo Địa Trung Hải bao gồm cả Lục quân 8 của Anh do tướng Bernard Law Montgomery chỉ huy. Lục quân 8 của Hoa Kỳ tiến qua sa mạc phía tây từ phía đông và sẵn sàng mở Chiến dịch Tunisia. Eisenhower lấy được ngôi sao thứ tư của mình (tức là được thăng cấp đại tướng) và bỏ quyền làm tư lệnh Mặt trận Hành quân châu Âu để làm tư lệnh Mặt trận hành quân Bắc Phi. Sau khi các lực lượng phe Trục bị đánh bại tại Bắc Phi, Eisenhower giám sát chiến dịch xâm chiếm Sicilia và đất liền Ý.

Eisenhower d-day
Eisenhower nói chuyện với các binh sĩ Trung đoàn Bộ binh Nhảy dù số 502 thuộc Sư đoàn Dù số 101 vào chiều ngày 5 tháng 6 năm 1944.

Tháng 12 năm 1943, tổng thống Roosevelt quyết định rằng Eisenhower - chứ không phải Marshall - sẽ là Tư lệnh Tối cao Đồng minh châu Âu. Tháng 1 năm 1944, ông nhận lại chức tư lệnh Mặt trận Hành quân châu Âu và tháng tiếp theo ông được chính thức giao trọng trách làm Tư lệnh Tối cao Đồng minh của Lực lượng Viễn chinh Đồng minh, phục vụ một lúc hai chức vụ cho đến khi kết thúc các cuộc kình địch tại châu Âu vào tháng 5 năm 1945. Với hai chức vụ này, ông đảm trách việc lập kế hoạch và tiến hành cuộc tiến công đổ bộ trên duyên hải Normandy vào tháng 6 năm 1944 dưới mật danh Chiến dịch Overlord, giải phóng tây Âu và xâm chiếm Đức. Một tháng sau cuộc đổ bộ D-Day trên duyên hải Normandy ngày 6 tháng 6 năm 1944, cuộc xâm chiếm miền nam nước Pháp bắt đầu và quyền nắm các lực lượng tham chiến trong cuộc xâm chiếm miền nam được chuyển từ Tổng hành dinh Lực lượng Đồng minh sang Tư lệnh Tối cao Đồng minh của Lực lượng Viễn chinh Đồng minh. Từ đó cho đến khi kết thúc chiến tranh tại châu Âu ngày 8 tháng 5 năm 1945, Eisenhower với tư cách là Tư lệnh Tối cao Đồng minh của Lực lượng Viễn chinh Đồng minh đã nắm trong tay bộ tư lệnh tối cao gồm tất cả các lực lượng tác chiến của đồng minh, và với tư cách tư lệnh Mặt trận Hành quân châu Âu (tên gọi riêng cho lực lượng Hoa Kỳ tại Mặt trận phía Tây), ông nắm quyền điều hành tất cả các lực lượng Mỹ trên Mặt trận phía Tây, nằm về phía bắc dãy Alps.[30]

Ngày 20 tháng 12 năm 1944, để công nhận chức vụ cao cấp của ông trong Bộ tư lệnh Đồng minh, ông được thăng chức thống tướng, tương đương với cấp bậc thống chế của phần lớn lục quân châu Âu. Trong chức vụ này và các chức vụ tư lệnh cao trước đây, Eisenhower đã chứng tỏ được tài năng lãnh đạo và ngoại giao rất lớn của mình. Mặc dù ông chưa từng ra chiến trường nhưng ông đã nhận được sự nể trọng của các vị tư lệnh ở tiền tuyến. Ông giao tiếp khéo léo với những thuộc cấp khó khăn như George S. Patton, và các đồng minh như Winston Churchill, Thống chế Bernard Montgomery và Đại tướng Charles de Gaulle. Ông có bất đồng cơ bản với Churchill và Montgomery về các vấn đề chiến lược nhưng những vấn đề này hiếm khi làm phương hại đến mối quan hệ của ông với họ. Ông đã thương thảo với Nguyên soái Zhukov của Liên Xô,[31] và vì thế chiếm được sự tin tưởng mà Tổng thống Franklin D. Roosevelt đã đặt vào ông.

Chiến dịch Overlord chưa bao giờ được nghĩ chắc chắn là sẽ thành công. Sự nghiêm trọng xoay quanh toàn bộ quyết định trong đó có thời điểm và vị trí của cuộc đổ bộ trên Normandy có lẽ đã được tóm tắt trong một bài diễn văn thứ hai ngắn hơn mà Eisenhower đã viết sẵn trong trường hợp ông cần đến nó. Sau cuộc đổ bộ thành công trong ngày D-Day và đài BBC phát thanh bài diễn văn ngắn của Eisenhower có liên quan đến cuộc đổ bộ thì một bài diễn văn thứ hai không bao giờ được dùng đến đã được một trợ tá tìm thấy trong một túi áo. Nó được viết như sau:[32]

Cuộc đổ bộ của chúng ta lên vùng Cherbourg-Havre đã thất bại để giành lấy một vị trí vững chắc vừa ý và tôi đã ra lệnh rút quân. Quyết định tấn công của tôi vào thời điểm và vị trí này là dựa vào những thông tin có sẵn tốt nhất. Các binh sĩ bộ binh, không quân và hải quân đã làm tốt trách nhiệm với lòng can đảm và tận tụy của mình như có thể. Nếu có gì đáng trách hay lỗi lầm gì có liên quan đến cuộc tấn công này thì đó chính là do mình tôi.

Kết cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai

Dwight D. Eisenhower as General of the Army crop
Eisenhower với cấp bậc thống tướng lục quân.
Bundesarchiv Bild 183-14059-0018, Berlin, Oberbefehlshaber der vier Verbündeten
Tư lệnh Tối cao, 5 tháng 6 năm 1945 tại Berlin: Bernard Montgomery, Dwight D. Eisenhower, Georgy ZhukovJean de Lattre de Tassigny.

Chiếm đóng nước Đức

Sau khi Đức đầu hàng vô điều kiện ngày 8 tháng 5 năm 1945, Eisenhower được bổ nhiệm là thống đốc quân sự vùng chiếm đóng của Hoa Kỳ tại Đức với căn cứ đặt tại Frankfurt am Main. Ông không có trách nhiệm đối với ba vùng chiếm đóng khác do Pháp, Anh và Liên Xô kiểm soát. Sau khi phát hiện các trại tử thần của phát xít Đức, ông ra lệnh cho đội quay phim ghi hình để thu thập bằng chứng diệt chủng để sử dụng trong các phiên tòa truy tố các tội phạm chiến tranh. Ông quyết định tái xếp loại tù binh chiến tranh Đức đang bị Hoa Kỳ giam giữ thành "các lực lượng địch bị giải giới". Vì sự tàn phá của nước Đức sau chiến tranh, ông phải đối phó với sự khan hiếm lương thực trầm trọng và một dòng người tỵ nạn khổng lồ bằng việc phân phát đồ tiếp liệu y tế và thực phẩm của Mỹ.[33] Hành động của ông phản ánh thái độ thay đổi của người Mỹ từ thái độ xem nhân dân Đức là những kẻ côn đồ thành những nạn nhân của chủ nghĩa phát xít trong lúc đó ra tay rất mạnh bạo để thanh trừng những người cựu phát xít.[34][35][36] Tháng 11 năm 1945, Eisenhower chấp thuận phân phát 1000 bản miễn phí sách của Henry Morgenthau, Jr. có tựa đề Germany is Our Problem (Nước Đức là vấn đề của chúng ta) để cổ vũ và mô tả chi tiết cho Kế hoạch Morgenthau đến các giới chức quân sự Mỹ tại nước Đức bị chiếm đóng.[37] Stephen Ambrose rút ra kết luận rằng mặc dù sau này Eisenhower tuyên bố rằng hành động này không phải là một sự tán thành kế hoạch Morgenthau nhưng việc Eisenhower chấp thuận kế hoạch và trước đó đã cho Morgenthau ít nhất một số ý tưởng của mình về cách nên xử sự thế nào với nước Đức.[37] Theo Vladimir Petrov, Eisenhower cũng nhập các giới chức ngân khố của Morgenthau vào trong lục quân chiếm đóng. Những giới chức này thường được gọi là "Morgenthau boys" (các bé trai của Morgenthau) vì sự nhiệt thành của họ trong việc diễn giải chỉ thị chiếm đóng JCS 1067 nghiêm ngặt như có thể.[38] Lệnh này bị bãi bỏ vào tháng 7 năm 1947. Phó tướng và sau đó thay thế Eisenhower tại Đức là tướng Lucius D. Clay nhận xét: "Không nghi ngờ rằng chỉ thị JCS 1067 đã dự tính cho "nền hòa bình Carthaginia" (có nghĩa dàn xếp hòa bình một cách vội vã và nhằm thuyết phục những người yếu thế của phe thất trận) mà đã chiếm hết các hoạt động của chúng tôi tại Đức trong suốt những tháng đầu chiếm đóng."[39] Các lực lượng chiếm đóng của Hoa Kỳ và gia đình của họ được lệnh nghiêm ngặc là không được chia sẻ lương thực của họ với dân chúng Đức, lương thực còn dư "phải bị hủy bỏ hoặc là làm sao để khỏi ăn được".[40] Những nỗ lực của các cơ quan cứu trợ nhằm gửi lương thực đến Đức đều bị từ chối theo "đạo luật trao đổi với kẻ thù" nhưng vào tháng 1 năm 1946, sau khi được phép của Tổng thống Truman, Eisenhower cho phép hội hồng thập tự Thụy Điển gửi thực phẩm đến trẻ em Đức.[41]

Tham mưu trưởng

Tháng 11 năm 1945, Eisenhower trở về Washington để thay tướng Marshall làm Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ. Vai trò chính của ông là nhanh chóng tháo gỡ lệnh tổng động viên cho hàng triệu binh sĩ, một công việc chậm chạp vì thiếu tàu vận chuyển. Khi căng thẳng giữa Đông và Tây trên vấn đề nước Đức và Hy Lạp leo thang, Eisenhower tin tưởng mãnh liệt vào năm 1946 rằng Liên Xô không muốn chiến tranh và rằng các mối quan hệ thân thiện có thể được duy trì; ông mạnh mẽ ủng hộ Liên Hiệp Quốc mới. Tuy nhiên, để thảo ra chính sách có liên quan đến bom nguyên tử cũng như về phía Liên Xô, Tổng thống Truman lắng nghe Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ và phớt lờ Eisenhower và toàn bộ Lầu Năm Góc. Giữa năm 1947 Eisenhower quay hướng về chính sách kiềm chế để ngăn chặn sự bành trướng của Liên Xô.[42]

Đại học Columbia và NATO

Năm 1948, Eisenhower trở thành Chủ tịch Đại học Columbia, một đại học tư tại New York; đấy không phải là một chức vụ hợp với ông.[43] Tháng 12 năm 1950, ông rời chức vụ trường đại học khi trở thành Tư lệnh Tối cao của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO), và được giao Bộ tư lệnh các lực lượng NATO tại châu Âu. Eisenhower giải ngũ vào ngày 31 tháng 5 năm 1952, và nhận lại chức vụ chủ tịch đại học mà ông tiếp tục giữ cho đến tháng 1 năm 1953.

Năm 1948 cũng là năm hồi ký của ông "Crusade in Europe" (Cuộc Thập tự chinh ở châu Âu) được phát hành.[44] Theo Tự điển Bách khoa Britannica online, tác phẩm này đã mang đến sự thành công lớn về tài chính cho ông.[45]

Bước vào chính trường

Không lâu sau khi ông trở về năm 1952, một phong trào trong Đảng Cộng hòa Hoa Kỳ có tên là "Draft Eisenhower" (tuyển mộ Eisenhower) đã thuyết phục ông tuyên bố ứng cử trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1952 đối lại với chủ nghĩa không can thiệp của Thượng nghị sĩ Robert Taft (Eisenhower đã từng được cả hai đảng Dân chủ và Cộng hòa ve vãn vào năm 1948 nhưng ông từ chối ra tranh cử vào lúc đó). Eisenhower đánh bại Taft giành quyền đề cử của Đảng Cộng hòa cho cuộc tổng tuyển cử toàn quốc nhưng với một thỏa thuận rằng Thượng nghị sĩ Taft sẽ phải đứng ngoài những vấn đề ngoại vụ trong lúc Eisenhower theo đuổi một chính sách đối nội bảo thủ. Chiến dịch vận động tranh cử của Eisenhower nổi bật với khẩu hiệu đơn giản nhưng hữu hiệu là "I Like Ike" (có nghĩa "tôi thích Ike", Ike biệt danh ngắn gọn của ông) và là một chiến dịch lớn chống các chính sách của Chính phủ Truman liên quan đến "Triều Tiên, chủ nghĩa cộng sản và tham nhũng."[46] Tổng thống Truman, trước đây là 1 người bạn của Eisenhower, sẽ mãi không bao giờ tha thứ cho Eisenhower vì đã không lên tiếng chỉ trích Thượng nghị sĩ Joseph McCarthy trong suốt cuộc vận động tranh cử tổng thống năm 1952.[46] Truman nói rằng ông trước đây đã từng nghĩ Eisenhower sẽ là một tổng thống vĩ đại nhưng "ông ấy đã phản bội gần như mọi thứ mà tôi nghĩ ông ấy từng tranh đấu cho."[46]

Trong suốt chiến dịch vận động tranh cử, Eisenhower hứa tự mình đi Triều Tiên và kết thúc chiến tranh tại đó. Ông cũng hứa duy trì một sự ràng buộc mạnh mẽ của NATO chống lại chủ nghĩa cộng sản và một bộ máy hành chính cần kiệm không tham nhũng tại quốc nội. Ông và người phó đứng chung liên danh tranh cử là Richard Nixon (là người có con gái kết hôn với cháu nội của Eisenhower tên David) đã đánh bại liên danh tranh cử của Đảng Dân chủ Hoa Kỳ là Adlai Stevenson và John Sparkman bằng một chiến thắng lớn lao. Sự kiện này đánh dấu lần đầu tiên Đảng Cộng hòa Hoa Kỳ trở lại nắm Nhà Trắng sau 20 năm,[46] và Eisenhower trở thành vị tổng thống cuối cùng sinh trong thế kỷ 19. Eisenhower, lúc đó 62 tuổi, là người già nhất được bầu làm tổng thống kể từ khi James Buchanan được bầu năm 1856.[47] Eisenhower là vị tướng duy nhất phục vụ trong chức vụ Tổng thống Hoa Kỳ trong thế kỷ 20, và là tổng thống gần đây nhất chưa từng giữ một chức vụ dân cử trước khi làm tổng thống. Các tổng thống khác của Hoa Kỳ chưa từng ra tranh cử một chức vụ dân cử nào trước khi làm tổng thống là Zachary Taylor, Ulysses S. Grant, William Howard Taft, và Herbert Hoover.

Vai trò tổng thống 1953–1961

Dwight Eisenhower Nikita Khrushchev and their wives at state dinner 1959
Từ trái sang phải: Nina Kukharchuk, Mamie Eisenhower, Nikita Khrushchev và Dwight Eisenhower trong một buổi tiệc tối quốc gia năm 1959
Franco eisenhower 1959 madrid
Francisco Franco và Tổng thống Dwight D. Eisenhower tại Madrid năm 1959
VonBraunEisenhower
Wernher von Braun trình bày tóm tắt cho Tổng thống Eisenhower trước một giàn tên lửa vũ trụ Saturn I tại buổi lễ khánh thành Trung tâm Phi hành Không gian Marshall ngày 8 tháng 9 năm 1960.

Suốt thời làm tổng thống, Eisenhower luôn rao giảng một học thuyết về chủ nghĩa bảo thủ năng động.[48] Ông tiếp tục tất cả các chương trình New Deal chính còn dở dang, đặc biệt là chương trình An sinh Xã hội. Ông mở những chương trình của nó và đưa chúng vào một cơ quan mới cấp nội các, đó là Bộ Y tế, Giáo dục và Phúc lợi Hoa Kỳ trong khi đó nới rộng phúc lợi cho thêm 10 triệu công nhân. Nội các của ông gồm có một số giới chức hành chính công ty và một lãnh đạo công đoàn được một nhà báo đặt cho biệt danh là "8 triệu phú và một thợ ống nước."[49]

Eisenhower tái trúng cử tổng thống nhiệm kỳ hai năm 1956, giành 457 trong số 531 phiếu đại cử tri đoàn và 57,6% phiếu phổ thông.

Hệ thống Xa lộ Liên tiểu bang

Một trong những thành tựu dài hạn của Eisenhower là tiên phong cổ vũ và ký đạo luật ra lệnh xây dựng Hệ thống Xa lộ Liên tiểu bang năm 1956.[50] Ông biện minh kế hoạch này là thiết yếu đến an ninh của Hoa Kỳ trong thời Chiến tranh lạnh. Lúc đó người ta tin rằng các thành phố lớn của Hoa Kỳ có thể sẽ là các mục tiêu trong một cuộc chiến tranh có thể xảy ra trong tương lai, và vì vậy hệ thống xa lộ này được thiết kế để di tản họ và giúp quân đội tới được các thành phố.

Mục đích Eisenhower xây các xa lộ cải tiến này bị ảnh hưởng bởi những năm tháng ông phục vụ trong binh đoàn vận tải cơ giới liên lục địa của Lục quân Hoa Kỳ vào năm 1919. Lúc đó ông được điều động làm quan sát viên cho nhiệm vụ mà gồm có việc phái một đoàn xe của Lục quân Hoa Kỳ đi từ duyên hải bên này sang duyên hải phía bên kia nước Mỹ.[51][52] Kinh nghiệm sau đó của ông về hệ thống xa lộ autobahn của Đức trong thời Chiến tranh thế giới thứ hai cũng đã thuyết phục ông về lợi ích của một hệ thống xa lộ liên tiểu bang. Nhận thấy khả năng cải thiện trong việc di chuyển đồ tiếp liệu xuyên suốt đất nước, ông nghĩ rằng một Hệ thống Xa lộ Liên tiểu bang tại Hoa Kỳ không chỉ có lợi cho các hoạt động quân sự mà còn là những nền tảng xây dựng cần cho sự phát triển kinh tế đất nước.[53]

Trung Đông

Ngay sau khi nhậm chức, chính phủ Eisenhower chấp thuận cho phép Cục tình báo trung ương Mỹ lật đổ chính phủ dân cử của Thủ tướng Mohammad Mosaddegh ở Iran. Cuộc đảo chính này được thực hiện xong vào ngày 19 tháng 8 năm 1953.[54] Ngày 15 tháng 12 năm 1954, Eisenhower ký một bản ghi nhớ trao tặng Huân chương An ninh Quốc gia cho nhân viên CIA là Kermit Roosevelt, đây là huân chương cao nhất của Hoa Kỳ dành cho các nhân viên hoạt động trong lĩnh vực an ninh vì vai trò của ông trong cuộc đảo chính,[55] và đến ngày 24 tháng 3 năm 1955, Eisenhower trao cho Kermit Roosevelt, cháu nội của cố Tổng thống Theodore Roosevelt huân chương vừa nói trên trong một buổi lễ đặc biệt tại Nhà Trắng với sự hiện diện của cả hai anh em nhà Dulles (Allen Dulles là giám đốc CIA và John Foster Dulles là Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ vào lúc đó) và Đại sứ Hoa Kỳ tại Iran là Loy Henderson.

Học thuyết Eisenhower

Sau cuộc Khủng hoảng Suez năm 1956, Hoa Kỳ trở thành quốc gia bảo vệ phần lớn những lợi ích của phương Tây tại Trung Đông. Kết quả là, Eisenhower công bố "Học thuyết Eisenhower" vào tháng 1 năm 1957. Để trả đũa Trung Đông, Hoa Kỳ sẽ "chuẩn bị sử dụng lực lượng vũ trang để chống lại sự khiêu khích từ bất cứ quốc gia nào bị chủ nghĩa cộng sản quốc tế kiềm chế." Học thuyết Eisenhower năm 1957 tuyên bố rằng Hoa Kỳ sẽ phân phối viện trợ quân sự và kinh tế và, nếu cần thiết, sẽ sử dụng lực lượng quân sự ngăn chặn sự lan tràn của chủ nghĩa cộng sản tại Trung Đông. Eisenhower thấy khó khăn để thuyết phục các quốc gia Ả Rập hàng đầu hay Israel tán thành mục đích hay sự hữu dụng của học thuyết này. Tuy nhiên, ông đã dùng học thuyết này năm 1957- 1958 bằng cách tung viện trợ kinh tế để củng cố mối quan hệ với Vương quốc Jordan, và bằng cách khuyến khích các quốc gia lân bang của Syria xem xét đến các hoạt động quân sự chống lại Syria. Hơn thế nữa, tháng 7 năm 1958, ông phái khoảng chừng dưới 15.000 thủy quân lục chiến và binh sĩ khác đến Liban như một phần của Chiến dịch Blue Bat, một sứ mệnh gìn giữ hòa bình không tác chiến để củng cố chính phủ thân Tây phương và ngăn chặn một cuộc cách mạng cấp tiến, không cho nó tràn ngập quốc gia Liban. Các binh sĩ này rời khỏi vào tháng 10 năm 1958. Học thuyết này bao gồm một sự ràng buộc lớn của Hoa Kỳ đối với nền an ninh và ổn định của Trung Đông và tỏ dấu hiệu một cấp bậc mới giải quyết vấn đề của Hoa Kỳ nhằm áp đặt ảnh hưởng của mình trong các vấn đề quốc tế. Qua việc công bố học thuyết này, Eisenhower đã làm tăng thêm viễn cảnh rằng Hoa Kỳ sẽ chiến đấu tại Trung Đông và chấp nhận những trách nhiệm trong vùng này mà Hoa Kỳ sẽ duy trì hàng thập niên sắp tới.[56]

Việt Nam

Ngo Dinh Diem at Washington - ARC 542189
Tổng thống Eisenhower bắt tay với Tổng thống Việt Nam Cộng hoà Ngô Đình Diệm tại Phi trường Washington, vào ngày 8 tháng 5 năm 1957

Người Pháp đã yêu cầu Dwight D. Eisenhower giúp đỡ tại Đông Dương thuộc Pháp để chống lại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Trung Quốc viện trợ trong cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất. Năm 1953, Eisenhower phái Trung tướng John W. "Iron Mike" O'Daniel đến Việt Nam để nghiên cứu tình hình và "đánh giá" các lực lượng Pháp ở đó.[57] Tham mưu trưởng Matthew Ridgway đã làm nản lòng Tổng thống bằng việc đệ trình lên ông một bản ước tính chi tiết về một lực lượng quân sự khổng lồ cần phải khai triển cho cuộc chiến. Tuy nhiên sau đó vào năm 1954, Eisenhower đã viện trợ kinh tế và quân sự cho quốc gia Việt Nam Cộng hòa mới được thành lập.[58] Trong những năm theo sau đó, con số các cố vấn quân sự Hoa Kỳ tại Nam Việt Nam gia tăng vì miền Bắc Việt Nam tăng viện cho "các cuộc nổi dậy" ở miền Nam và vì lo sợ rằng Nam Việt Nam sẽ bị sụp đổ.[58]

Khi Chiến tranh lạnh gia tăng, Bộ trưởng Ngoại giao của Eisenhower là John Foster Dulles tìm cách cô lập Liên bang Xô viết bằng cách xây dựng các nhóm đồng minh vùng gồm các quốc gia chống lại Liên Xô. Nỗ lực của ông đôi khi được gọi là "pacto-mania".[59]

Các vấn đề chủng tộc

Tháng 10 năm 1952, chính phủ Eisenhower tuyên bố kỳ thị chủng tộc là một vấn đề an ninh quốc gia, nghĩa là chủ nghĩa cộng sản khắp thế giới đang sử dụng nạn kỳ thị chủng tộc tại Hoa Kỳ làm một điểm tấn công tuyên truyền của họ.[60] Một ngày sau khi Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ ra quyết định của mình trong vụ án Brown đối đầu với Ban Giáo dục thành phố Topeka mà trong vụ án này các trường học tách ly chủng tộc (tách ly nhưng được đối xử công bằng) bị tuyên án là bất hợp hiến, Eisenhower bảo các viên chức Đặc khu Columbia biến thành phố Washington thành một kiểu mẫu cho toàn quốc noi gương bằng cách hội nhập tất cả các trẻ em da trắng và đen ở các trường công lập lại với nhau.[61][62] Ông trình lên Quốc hội Hoa Kỳ Đạo luật Nhân quyền 1957 và Đạo luật Nhân quyền 1960 và ký các đạo luật này thành luật. Mặc dù cả hai đạo luật này yếu kém hơn so với luật nhân quyền sau này nhưng chúng đã tạo ra những đạo luật nhân quyền nổi bật đầu tiên kể từ khi Đạo luật Nhân quyền 1875 được Tổng thống Ulysses S. Grant ký thành luật. Sự kiện "Little Rock Nine" năm 1957 (9 học sinh ở thành phố Little Rock) xảy ra khi tiểu bang Arkansas không tuân theo lệnh tòa án liên bang hội nhập và hòa đồng lại tất cả học sinh của tất cả các chủng tộc tại các trường học. Theo lệnh hành pháp 10730, Eisenhower đặt Vệ binh Quốc gia của tiểu bang Arkansas dưới quyền kiểm soát của liên bang và đưa binh sĩ Lục quân Hoa Kỳ đến để hộ tống 9 học sinh da đen vào trường Trung học Little Rock, một trường công lập toàn da trắng. Việc hội nhập hòa đồng chủng tộc được thực hiện nhưng không phải là không có bạo động. Eisenhower và Thống đốc tiểu bang Arkansas Orval Faubus đã lâm vào những trận tranh cãi dữ dội.

Bổ nhiệm quan chức tư pháp

Eisenhower đã bổ nhiệm các thẩm phán Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ sau đây:

  • Earl Warren, 1953 (thẩm phán trưởng)
  • John Marshall Harlan II, 1954
  • William J. Brennan, 1956
  • Charles Evans Whittaker, 1957
  • Potter Stewart, 1958

Ngoài ra năm thẩm phán Tối cao Pháp viện, Eisenhower đã bổ nhiệm 45 thẩm phán cho các Tòa án Thượng thẩm Hoa Kỳ và 129 thẩm phán cho các toàn án khu vực của Hoa Kỳ.

Các tiểu bang mới gia nhập liên bang

  • Alaska – ngày 3 tháng 1 năm 1959 tiểu bang thứ 49
  • Hawaii – ngày 21 tháng 8 năm 1959 tiểu bang thứ 50

Các vấn đề sức khỏe

Có lẽ Eisenhower là tổng thống đầu tiên cho phép công bố các vấn đề sức khỏe cá nhân của tổng thống khi đang tại chức.[63] Tháng 9 năm 1955, trong lúc đi nghỉ ở Colorado, ông bị lên cơn đau tim trầm trọng mà cần phải nằm bệnh viện vài tuần. Ông được bác sĩ giải phẫu tim mạch nổi tiếng quốc gia là Paul Dudley White điều trị và thường xuyên được vị bác sĩ này thông báo tiến triển sức khỏe của ông đến giới báo chí. Vì cơn đau tim này mà cơ thể Eisenhower phát triển chứng phình mạch tâm thất trái mà dần dần là nguồn gốc của lần đột quy tháng 11 năm 1957. Tổng thống cũng bị mắc chứng bệnh viêm ruột cần giải phẫu vào tháng 6 năm 1956. May thay, ba năm cuối cùng trong nhiệm kỳ của mình, sức khỏe của Eisenhower tương đối là tốt. Tuy nhiên, sau này khi rời Nhà Trắng, ông bị thêm một vài lần nhồi máu cơ tim và sau cùng thân thể bị liệt vì chúng.[64]

Mãn nhiệm tổng thống

Eisenhower 62-2-1USN
Eisenhower với Tổng thống Kennedy tại khu nghỉ ngơi dành cho tổng thống năm 1962.
Dwight D. Eisenhower, official Presidential portrait
Hình chính thức của Dwight D. Eisenhower tại Nhà Trắng.

Năm 1961, Eisenhower trở thành vị tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên "bị bắt buộc theo hiến pháp" rời khỏi chức tổng thống khi đã phục vụ tối đa hai nhiệm kỳ mà tu chính án 22, Hiến pháp Hoa Kỳ cho phép. Tu chính án này được thông qua năm 1951 trong nhiệm kỳ của Tổng thống Harry S. Truman nhưng quy định của tu chính án không ảnh hưởng đối với Truman vì nó đặc biệt miễn trừ cho tổng thống đương nhiệm vào lúc nó được đề nghị bởi Quốc hội Hoa Kỳ.

Eisenhower cũng là tổng thống mãn nhiệm đầu tiên được bảo vệ theo Đạo luật Cựu Tổng thống; hai cựu tổng thống Hoa Kỳ còn sống vào lúc đó là Herbert HooverHarry S. Truman rời nhiệm sở trước khi đạo luật này được thông qua. Chiếu theo đạo luật này, Eisenhower được hưởng lương hưu bổng suốt đời, có một ban nhân viên do chính phủ cung cấp và được sở mật vụ Hoa Kỳ bảo vệ.[65]

Trong cuộc bầu cử tổng thống để chọn người kế vị ông, Eisenhower ủng hộ phó tổng thống của mình là đảng viên Cộng hòa Richard Nixon đối đầu với đảng viên Dân chủ John F. Kennedy. Ông hết mực ủng hộ Nixon và nói với bạn bè rằng: "tôi sẽ làm gần như mọi cách để tránh đưa cái ghế của tôi và quốc gia này cho Kennedy."[46] Tuy nhiên, ông chỉ tham gia vận động cho Nixon trong những ngày cuối cùng của chiến dịch vận động tranh cử và thậm chí ông đã làm một số điều bất lợi cho Nixon. Thí dụ, khi được phóng viên báo chí hỏi vào lúc cuối cuộc họp báo được truyền hình là ông hãy nêu ra một trong các ý tưởng về chính sách của Nixon mà ông đã chấp nhận thì ông cười đùa như sau: "Nếu ông cho phép tôi một tuần thì tôi có lẽ sẽ nghĩ ra một." Chiến dịch vận động tranh cử của Kennedy đã sử dụng câu nói này để chống lại cuộc vận động tranh cử của Nixon. Nixon thua khít khao trước Kennedy. Eisenhower, người già nhất được bầu làm tổng thống (và là tổng thống già nhất) trong lịch vào lúc đó, như thế đã trao quyền lực cho tổng thống đắc cử trẻ nhất.[46]

Ngày 17 tháng 1 năm 1961, Eisenhower đọc bài diễn văn cuối cùng được truyền hình trên toàn quốc từ văn phòng bầu dục.[66] Trong bài diễn văn từ biệt, Eisenhower nêu lên vấn đề Chiến tranh lạnh và vai trò của các lực lượng vũ trang Hoa Kỳ. Ông diễn tả Chiến tranh lạnh qua lời nói như sau: "Chúng ta đối diện một hệ tư tưởng thù địch, toàn cầu trong phạm vi, vô thần trong bản chất, tàn bạo trong chủ tâm và xảo quyệt trong phương sách..." và cảnh báo về cái mà ông thấy như là những đề nghị chi tiêu không chính đáng của chính phủ và ông tiếp tục với một lời cảnh báo khác là "chúng ta phải phòng ngừa chống lại việc mua ảnh hưởng không chính đáng, cho dù được tìm đến hay không được tìm đến, bởi cái mối liên hệ phức tạp giữa quân sự và công nghiệp quân sự... Tiềm năng trỗi dậy tai hại của thứ quyền lực không đúng chỗ vẫn tồn tại và sẽ dai dẳng... Chỉ có sự cảnh giác và hiểu biết của công chúng mới có thể bắt buộc được một sự hài hoà thích hợp của bộ máy quân sự và công nghiệp quốc phòng khổng lồ theo phương thức và mục tiêu hòa bình của chúng ta để nền tự do và an ninh của chúng ta có thể phồn thịnh cùng với nhau."

Vì vấn đề pháp lý liên quan đến việc giữ một cấp bậc quân sự trong lúc tại chức với một chức vụ dân sự, Eisenhower đã phải từ chức thống tướng lục quân trước khi nhận chức Tổng thống Hoa Kỳ. Sau khi mãn nhiệm tổng thống, sự ủy nhiệm quân sự của ông trên danh sách hồi hưu được tái phục hồi và Eisenhower được ủy nhiệm trở lại là một vị tướng 5-sao trong Lục quân Hoa Kỳ.[67][68]

Sau khi mãn nhiệm tổng thống

Eisenhower trở về sống cuộc đời hồi hưu nơi ông và Mamie đã từng sống trong khoảng thời gian dài sau chiến tranh. Đó là một nông trại nằm gần cạnh bãi chiến trường Gettysburg, Pennsylvania. Năm 1967, gia đình Eisenhower quyên tặng nông trại này cho Sở Công viên Quốc gia Hoa Kỳ và từ năm 1980 nó được mở cửa cho công chúng với tên gọi Khu Lịch sử Quốc gia Eisenhower.[69] Lúc hồi hưu, ông không hoàn toàn rút khỏi cuộc đời chính trị; ông đã diễn thuyết tại Hội nghị Quốc gia Đảng Cộng hòa năm 1964 và xuất hiện cùng với Barry Goldwater trong chương trình quảng cáo thương mại tranh cử của đảng Cộng hòa từ Gettysburg.[70]

Qua đời và tang lễ

Funeral services for Dwight D. Eisenhower, March 1969
Tang lễ Eisenhower

Dwight D. Eisenhower qua đời vì bị suy tim ứ huyết ngày 28 tháng 3 năm 1969 tại Bệnh viện Lục quân Walter Reed ở Washington D.C. Ngày hôm sau, thi thể của ông được đưa đến khu cầu nguyện Bethlehem của Nhà thờ Quốc gia Washington và được đặt ở đó trong 28 tiếng đồng hồ. Ngày 30 tháng 3, thi thể của ông được đưa đến Tòa Quốc hội Hoa Kỳ và được đặt yên tại mái vòm chính của tòa nhà. Ngày 31 tháng 3, thi thể của Eisenhower được đưa trở về Nhà thờ Quốc gia Washington - nơi tiến hành lễ tang cho ông. Chiều hôm đó, thi thể ông được đặt lên một chuyến xe lửa trên đường đến thành phố Abilene, Kansas. Thi thể ông đến đó ngày 2 tháng 4 và được mai táng vào cuối ngày hôm đó trong một nhà thờ nhỏ trên khu đất Thư viện Tổng thống Eisenhower. Eisenhower được chôn gần bên người con trai của ông mất lúc 3 tuổi vào năm 1921, và sau này vợ ông là Mamie cũng được chôn cất gần ông vào năm 1979.[71]

Richard Nixon nói về cái chết của Eisenhower như sau:

Có những người được xem là vĩ đại vì họ chỉ huy những quân đội vĩ đại hay họ lãnh đạo những quốc gia hùng mạnh. Trong 8 năm nay, Dwight Eisenhower không có chỉ huy một quân đội nào và cũng không có lãnh đạo một quốc gia nào; tuy nhiên trong những ngày cuối cùng, ông vẫn là một người được kính trọng và ngưỡng mộ nhất trên thế giới, thật sự là đệ nhất công dân thế giới.

— Richard Nixon[72]

Di sản

Sau khi Eisenhower rời chức vụ tổng thống, thanh danh của ông xuống thấp và người ta nhận thấy ở ông, một vị tổng thống "không có làm gì cả". Một phần là vì sự tương phản giữa Eisenhower và người kế nhiệm trẻ tích cực hoạt động là John F. Kennedy. Mặc dù việc sử dụng (chưa từng có trước đây) các binh sĩ Lục quân để cưỡng bách lệnh liên bang bãi bỏ việc tách ly chủng tộc tại trường Trung học Little Rock, Eisenhower bị chỉ trích vì do dự không ủng hộ phong trào nhân quyền đến cấp độ mà những nhà hoạt động nhân quyền khác mong muốn. Eisenhower cũng bị chỉ trích vì việc xử lý sự kiện U-2 năm 1960 (U-2 bị bắn rơi trên bầu trời Liên Xô) và bị mất mặt với quốc tế,[73][74] việc Liên bang Xô viết dẫn đầu thấy rõ trong cuộc chạy đua không gian, và ông không chống đối chủ nghĩa McCarthy một cách công khai. Đặc biệt, Eisenhower bị chỉ trích vì không bênh vực được cho George Marshall trong những cuộc tấn công từ phía Joseph McCarthy mặc dù cá nhân ông phản đối những tuyên bố và chiến thuật của McCarthy.[75] Những khiếm khuyết này được đưa ra để chống ông trong thời khí thế của chủ nghĩa tự do lên cao trong thập niên 1960 và thập niên 1970. Tuy nhiên từ đó, thanh danh của Eisenhower lên cao trở lại. Trong những cuộc thăm dò vừa qua của các sử gia, Eisenhower thường được xếp hạng trong số 10 vị tổng thống hàng đầu của Hoa Kỳ từ xưa đến nay.

Mặc dù chủ nghĩa bảo thủ đang lên cao trào trong thập niên 1950 và Eisenhower chia sẻ cái cảm giác này nhưng chính phủ của ông đã thực hiện một vai trò rất ôn hòa trong việc làm thay đổi bức tranh chính trị[76]. "Những chiến thắng của Eisenhower", theo Hans Morgenthau, "là không gì khác hơn ngoài những sự cố không để lại hậu quả trong lịch sử của Đảng Cộng hòa."[77]

Eisenhower là tổng thống đầu tiên thuê mướn một "Tham mưu trưởng Nhà Trắng" (từ tiếng Anh "Chief of Staff" thường được gọi trong tiếng Việt là "trưởng hay chánh văn phòng Nhà Trắng") hay "người gác cổng" – một ý nghĩ mà ông đã mượn từ Lục quân Hoa Kỳ là chức vụ Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ. Sau này tất cả các tổng thống Hoa Kỳ từ sau thời Tổng thống Lyndon Johnson đều bắt chước theo. Jimmy Carter ban đầu có ý định không dùng đến một "tham mưu trưởng" nhưng cuối cùng phải từ bỏ ý nghĩ đó và thuê mướn một người.[78]

Dwight D. Eisenhower thành lập tổ chức "People to People International" năm 1956, dựa theo niềm tin của ông là sự tiếp xúc giữa các công dân với nhau sẽ thúc đẩy tiếp xúc văn hóa và hòa bình thế giới. Chương trình này gồm có một bộ phận thành phần đại sứ sinh viên mà sẽ gửi thanh niên Mỹ trong những chuyến đi học tập đến các quốc gia khác.[79]

Eisenhower là tổng thống đầu tiên xuất hiện trên truyền hình màu. Ông được thu hình khi nói chuyện tại buổi lễ ra mắt phòng thu mới của đài truyền hình WRC-TV tại Washington, D.C., vào ngày 22 tháng 5 năm 1958. Băng thu hình được cất giữ và được tin là băng thu hình màu xưa nhất còn tồn tại.[1]

Chỉ trích

Trong cuốn sách Other Losses xuất bản năm 1989, nhà văn Canada James Bacque gây tranh cãi khi cho rằng Eisenhower đã có chủ tâm tạo ra cái chết của 790.000 tù nhân người Đức trong các trại tập trung vì bệnh, đói, và rét từ 1944 đến 1949. Trong các trại tương tự ở Pháp, khoảng thêm 250.000 người được cho rằng đã vùi xác trong các trại. Ủy ban Hồng Thập tự Quốc tế bị từ chối cho vào các trại, Thụy Sĩ bị tước địa vị là quốc gia có "quyền bảo vệ tù nhân" và các tù binh chiến tranh bị tái xếp loại thành "các lực lượng thù địch bị giải giới" để khỏi được công nhận là tù binh chiến tranh theo Công ước Geneva. Bacque cho rằng vụ giết người tập thể vừa nói ở trên là kết quả trực tiếp đến từ các chính sách của đồng minh phương Tây cùng với Liên Xô cai trị nước Đức bị chia cắt từ tháng 5 năm 1945 cho đến năm 1949. Nhà văn này đổ tội lỗi lên tướng Dwight D. Eisenhower khi cho rằng người Đức bị giữ cho chết đói cho dù có đủ thực phẩm trên thế giới để tránh sự khan hiếm thực phẩm đến mức độ chết người tại Đức năm 1945–1946.[80]

Năm 1990, các sử gia được mời gồm có Stephen Ambrose và Günter Bischof tập hợp tại Trung tâm Hoa Kỳ học Eisenhower[81] của Đại học New Orleans tham gia hội nghị hàm lâm để nghiên cứu về những lời cáo buộc mà Bacque đã đưa ra. Hội nghị kết luận rằng có sự ngược đãi tù binh Đức năm 1945 nhưng đấy không phải là do kết quả từ bất cứ lệnh nào của Eisenhower. Các chứng cứ mà Bacque thu thập được bị cho là lạc văn mạch và quá hời hợt bất cẩn. Năm 1992, một cuốn sách với kết quả của cuộc hội nghị đã được Ambrose và Bischof biên tập và xuất bản.[82]

Tưởng niệm

Eisenhower bronze
Tượng đồng Eisenhower đứng trong vòm chính của Tòa Quốc hội Hoa Kỳ. Ông được mô tả đang mặc "áo quân phục kiểu Ike".[83]

xxxxupright|nhỏ|Đài tưởng niệm Eisenhower ở West Point]] Hình của Eisenhower có trên đồng đô la kim loại phát hành năm 1971 đến 1978.[84] Gần 700 triệu tiền kim loại mạ đồng-nickel được đúc để lưu hành, và con số nhỏ hơn không lưu hành được phát hành cho các nhà sưu tầm.[84] Ông tái xuất hiện trên đồng đô la tưởng niệm bằng bạc được phát hành năm 1990, kỷ niệm sinh nhật lần thứ 100 của ông. Đồng bạc này có hai hình ảnh của ông trong hai vai trò, người lính và chính khách.[84] Mặt trái mô tả ngôi nhà của ông tại Gettysburg.[84] Trong chương trình phát hành tiền kim loại $1 kỷ niệm các tổng thống, Eisenhower sẽ có mặt trên một loại tiền kim loại màu vàng mệnh giá $1 vào năm 2015.[85]

Ông được tưởng nhớ vì vai trò của ông trong Chiến tranh thế giới thứ hai, việc xây dựng Hệ thống Xa lộ Liên tiểu bang và kết thúc Chiến tranh Triều Tiên. USS Dwight D. Eisenhower là siêu hàng không mẫu hạm thứ hai thuộc lớp Nimitz được đặt tên để vinh danh ông.

Hệ thống Xa lộ Liên tiểu bang được chính thức gọi tên là Hệ thống Xa lộ Quốc phòng và Liên tiểu bang Quốc gia Dwight D. Eisenhower để vinh danh ông. Một số xa lộ cũng được đặt tên ông trong đó có Xa lộ Tốc hành Eisenhower (Xa lộ Liên tiểu bang 290) gần Chicago và Đường hầm Eisenhower trên Xa lộ Liên tiểu bang 70 nằm ở phía tây Denver.

Đầu máy xe lửa hơi nước Vương quốc Anh lớp A4 số 4496 (đổi số thành 60008) Golden Shuttle được đặt tên lại là Dwight D. Eisenhower năm 1946. Nó được bảo tồn tại Bảo tàng Đường sắt Quốc gia ở Green Bay, Wisconsin.

Đại học Eisenhower là một trường đại học nhỏ dạy mỹ thuật tự do ở Seneca Falls, New York năm 1965 có các lớp học bắt đầu năm 1968. Nhiều vấn đề tài chính đã buộc trường nằm dưới quyền điều hành của Viện Kỹ thuật Rochester năm 1979. Lớp học cuối cùng của trường tốt nghiệp vào năm 1983.

Eisenhower Hall là tòa nhà hoạt động của học viên tại West Point, được xây xong năm 1974.[86] Năm 1983, đài tưởng niệm Eisenhower được khánh thành tại West Point.

Trung tâm Y tế Eisenhower ở Rancho Mirage, California được đặt tên ông năm 1971.

Trung tâm Y tế Lục quân Dwight D. Eisenhower nằm ở đồn Gordon gần thành phố Augusta, Georgia được đặt tên ông để vinh danh ông.[87]

Tháng 2 năm 1971, Trường Dwight D. Eisenhower thuộc xã Freehold, New Jersey được chính thức mở cửa.[88]

Năm 1983, Viện Eisenhower được thành lập ở Washington, D.C. trong vai trò một viện chính sách nhằm giới thiệu rộng rãi những di sản lãnh đạo và tài trí của Eisenhower.

Năm 1989, Đại sứ Hoa Kỳ Charles Price và Thủ tướng Anh Margaret Thatcher khánh thành tượng đồng Eisenhower tại Quảng trường Grosvenor, London. Bức tượng được đặt phía trước Đại sứ quán Hoa Kỳ và phía bên kia là cựu trung tâm bộ tư lệnh Lực lượng Viễn chinh Đồng minh trong thời Chiến tranh thế giới thứ hai nơi mà Eisenhower có các văn phòng trong đó thời chiến tranh.[89]

Năm 1999, Quốc hội Hoa Kỳ thành lập Ủy ban Tượng đài Dwight D. Eisenhower để xây dựng một đài tưởng niệm quốc gia tại Washington, D.C. Năm 2009, ủy ban chọn kiến trúc sư Frank Gehry thiết kế đài tưởng niệm.[90][91] Đài tưởng niệm sẽ đứng gần Khu dạo chơi Quốc gia (National Mall) trên Đường Maryland, khu tây nam, bên kia đường là Bảo tàng Hàng không và Không gian Quốc gia (Hoa Kỳ).[92]

Ngày 7 tháng 5 năm 2002, Cựu Tòa Văn phòng Hành chánh được chính thức đặt tên mới là Tòa Văn phòng Hành chánh Eisenhower. Tòa nhà này là một phần của Khu phức hợp Nhà Trắng, ở phía tây của cánh Tây (West Wing) Nhà Trắng. Hiện tại nó có một số văn phòng hành chánh trong đó có văn phòng của phó Tổng thống Hoa Kỳ và phu nhân hay phu quân của mình.[93]

Một công viên quận tại East Meadow, New York (Long Island) được đặt tên ông để vinh danh ông.[94] Ngoài ra, Công viên Tiểu bang Eisenhower trên Hồ Texoma gần nơi ông sinh ra trong thành phố Denison được đặt tên ông; nơi ông được sinh ra hiện nay đang được tiểu bang Texas quản lý như Khu Lịch sử Tiểu bang Nơi sinh của Eisenhower.

Nhiều trường trung học công lập tại Hoa Kỳ được đặt tên Eisenhower.

Có một ngọn núi tên Eisenhower trong dãy núi Tổng thống thuộc nhóm núi White ở tiểu bang New Hampshire.

Một cây nhô ra phía trên lỗ số 17, là lỗ luôn tạo rắc rối cho ông tại Câu lạc bộ Golf Quốc gia Augusta nơi ông là thành viên, được đặt tên "Cây Eisenhower" để vinh danh ông.

Câu lạc bộ Golf Eisenhower ở Học viện Không quân Hoa Kỳ, một sân golf 36-lỗ được xếp hạng một trong số các sân của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, được đặt tên Eisenhower để vinh danh ông.

Lỗ thứ 18 ở Câu lạc bộ Cherry Hills Country gần thành phố Denver được đặt tên ông. Eisenhower là một thành viên lâu năm của câu lạc bộ này, một trong những sân golf mà ông thích.[95]

Huân chương và tưởng thưởng

Tưởng thưởng Hoa Kỳ

Wiki eisenhower
Tem phát hành bở Bưu điện Hoa Kỳ năm 1969 để tưởng nhớ Dwight D. Eisenhower
Eisenhower dollar obverse1
Tiền kim loại mệnh giá 1 đô la được Sở Đúc tiền Hoa Kỳ phát hành từ 1971 đến 1978 để tưởng niệm Eisenhower
Eisenhower Civitan World Citizenship Award
Eisenhower nhận Giải thưởng Công dân Thế giới của hội Civitan International năm 1966

Theo thứ tự cao thấp

  • U.S. Army Distinguished Service Medal ribbon
    Huân chương Phục vụ Xuất sắc Lục quân có bốn chùm lá sồi
  • Navy Distinguished Service Medal ribbon
    Huân chương Phục vụ Xuất sắc Hải quân
  • Legion of Merit ribbon
    Huân chương Chiến công
  • Mexican Border Service Medal ribbon
    Huân chương Phục vụ Biên giới Mexico
  • World War I Victory Medal ribbon
    Huân chương Chiến thắng Chiến tranh thế giới thứ nhất
  • American Defense Service Medal ribbon
    Huân chương Phục vụ Quốc phòng Mỹ
  • European-African-Middle Eastern Campaign ribbon
    Huân chương Chiến dịch châu Âu-châu Phi-Trung Đông với bốn ngôi sao phục vụ màu đồng và một ngôi sao bạc
  • World War II Victory Medal ribbon
    Huân chương Chiến thắng Chiến tranh thế giới thứ hai
  • Army of Occupation ribbon
    Huân chương Lục quân Chiếm đóng
  • National Defense Service Medal ribbon
    Huân chương Phục vụ Quốc phòng Quốc gia (2 lần)
U.S. Army Distinguished Service Medal ribbon
Navy Distinguished Service Medal ribbon
Legion of Merit ribbon
Mexican Border Service Medal ribbon
World War I Victory Medal ribbon
American Defense Service Medal ribbon
European-African-Middle Eastern Campaign ribbon
World War II Victory Medal ribbon
Army of Occupation ribbon
National Defense Service Medal ribbon

Tưởng thưởng quốc tế

Danh sách các huân chương và tưởng thưởng do các quốc gia khác trao tặng.[96]

  • Anh: Huân chương Bath, Đại Thập tự Hiệp sĩ (Knight Grand Cross)
  • Anh: Ngôi sao châu Phi với các mẫu hình số "8" và "1".
  • Argentine: Huân chương Người giải phóng San Martin, Đại Thập tự
  • Bỉ: Huân chương Léopold
  • Bỉ: Thập tự Chiến tranh (Croix de Guerre/Belgisch Oorlogskruis)
  • Brasil Huân chương Chiến dịch
  • Brasil: Huân chương Chiến tranh
  • Brasil: Huân chương Chiến công, Đại Thập tự
  • Brasil: Huân chương Công trạng Hàng không, Đại Thập tự
  • Brasil: Huân chương Quốc gia Nam Thập tự (National Order of the Southern Cross)
  • Chile: Huân chương Chiến công hạng nhất
  • Trung Quốc: Huân chương Yun Hui
  • Trung Quốc: Huân chương Yun Fei
  • Khối Thịnh vượng chung: Huân chương Chiến công
  • Tiệp Khắc: Huân chương Sư tử trắng
  • Tiệp khắc: Ngôi sao vàng Chiến thắng
  • Đan Mạch: Huân chương Voi
  • Ecuador: Ngôi sao Abdon Calderon
  • Ai Cập: Huân chương Ismal
  • Ethiopia: Huân chương Solomon
  • Pháp: Thập tự Chiến tranh
  • Pháp: Bắc đẩu bội tinh, Đại Thập tự.[97]
  • Pháp: Huân chương Giải phóng
  • Pháp: Huân chương Quân sự
  • Hy Lạp: Huân chương George I
  • Guatemala Thập tự Chiến công, hạng nhất
  • Haiti: Huân chương Vinh dự và Chiến công, Đại Thập tự
  • Ý: Huân chương Quân sự, Đại Thập tự Hiệp sĩ
  • Ý: Huân chương Malta
  • Luxembourg Huân chương Chiến công
  • Luxembourg: Thập tự Chiến tranh
  • México: Huân chương Đại bàng Aztec, hạng nhất
  • Mexico: Huân chương Công trạng Dân sự
  • Mexico: Huân chương Chiến công
  • Maroc: Huân chương Ouissam Alaouite
  • Hà Lan: Huân chương Sư tử Hà Lan, Đại Thập tự Hiệp sĩ
  • Na Uy: Huân chương St. Olav
  • Pakistan: Huân chương Pakistan, hạng nhất
  • Panama: Huân chương Vasco Nunez de Balboa, Đại Thập tự
  • Panama: Huân chương Manuel Amador Guerrero
  • Philippines: Ngôi sao Phục vụ Xuất sắc
  • Philippines: Huân chương Vinh dự, Tổng tư lệnh
  • Philippines: Huân chương Sikatuna, hạng nhất
  • Ba Lan: Thập tự Grunwald, hạng nhất
  • Ba Lan: Huân chương Polonia Restituta
  • Ba Lan: Virtuti Militari
  • Liên bang Xô viết: Huân chương Suvorov
  • Liên bang Xô viết: Huân chương Chiến thắng
  • Tunisia Huân chương Nichan Iftikhar.

Vinh dự khác

  • Năm 1966, Eisenhower là người thứ hai được vinh dự nhận giải công dân thế giới của hội Civitan International.[98]
  • Tên của Eisenhower được đặt cho một số con đường tại các thành phố trên thế giới trong đó có Paris, Pháp.
  • Tháng 12 năm 1999, Eisenhower được ghi tên trong danh sách những người được ngưỡng mộ nhiều nhất trong thế kỷ 20 của Gallup.
  • Năm 2009, Eisenhower được ghi tên trong Đại sảnh Danh vọng Golf Thế giới cho thể loại "thành tựu trọn đời" vì những cống hiến của ông cho môn thể thao này.[99]

Trên hết ông là Người Mỹ Trầm Lặng Của Thế giới Vì Hòa Bình.

Chú thích

  1. ^ Stephen J. Whitfield (1996). The Culture of the Cold War. Johns Hopkins U.P. p. 88.
  2. ^ “Dwight and Mamie Eisenhower”. Eisenhower Presidential Center. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2008.
  3. ^ “Biography of Dwight D. Eisenhower”. whitehouse.gov. The White House. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2008.
  4. ^ Eisenhower Birthplace State Historic Site
  5. ^ Eisenhower, David (tháng 5 năm 2007). “World War II and Its Meaning for Americans”. www.pfri.org. Foreign Policy Research Institute. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2008.
  6. ^ “EISENHOWER – Name Meaning & Origin”. The New York Times Company. genealogy.about.com. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2008.
  7. ^ Ambrose 1983, tr. 13–14
  8. ^ a ă â Cố Vân Thâm, 10 Đại tướng soái thế giới, trang 266-268
  9. ^ a ă â Cố Vân Thâm, 10 Đại tướng soái thế giới, trang 268-270
  10. ^ Berger-Knorr, Lawrence. The Pennsylvania Relations of Dwight D. Eisenhower. tr. 8.
  11. ^ “Public School Products”. Time. 14 tháng 9 năm 1959. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2008.
  12. ^ “Eisenhower: Soldier of Peace”. TIME. 4 tháng 4 năm 1969. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2008.
  13. ^ “Biography: Dwight David Eisenhower”. Eisenhower Foundation. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2008.
  14. ^ “Dwight David Eisenhower”. Internet Public Library. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2008.
  15. ^ “President Dwight D. Eisenhower Baseball Related Quotations”. Baseball Almanac. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2008.
  16. ^ “Eisenhower BOQ 1915”. Fort Sam Houston. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2008.
  17. ^ “Lt Eisenhower and Football Team”. Fort Sam Houston. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2008.
  18. ^ The Making of the Masters: Clifford Roberts, Augusta National, and Golf's Most Prestigious Tournament, by David Owen, Simon and Schuster, 1999, ISBN 0-684-85729-4
  19. ^ Biography: Dwight David Eisenhower
  20. ^ a ă Cố Vân Thâm, 10 Đại tướng soái thế giới, trang 270-271
  21. ^ Sixsmith 1973, tr. 6
  22. ^ a ă Cố Vân Thâm, 10 Đại tướng soái thế giới, trang 271-272
  23. ^ Cố Vân Thâm, 10 Đại tướng soái thế giới, trang 272-273
  24. ^ Bender, Mark C. (1990). “Watershed at Leavenworth”. U.S. Army Command and General Staff College. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2008.
  25. ^ a ă Cố Vân Thâm, 10 Đại tướng soái thế giới, trang 273-274
  26. ^ Cố Vân Thâm, 10 Đại tướng soái thế giới, trang 274
  27. ^ “The Eisenhowers: The General”. Dwightdeisenhower.com. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2010.
  28. ^ Stephen E. Ambrose, Eisenhower: Soldier, General of the Army, President-Elect, 1890–1952 (1983)
  29. ^ Eisenhower lived in 'Telegraph Cottage', Warren Road, Coombe, Kingston Upon Thames from 1942 to 1944. A plaque commemorating this, placed there in 1995 by the Royal Borough of Kingston Upon Thames, can be seen at the north end of Warren Road.
  30. ^ US Army in World War II, European Theater of Operations:...The U.S. Chiefs of Staff on 25 June strengthened their build-up efforts in the United Kingdom by establishing a Headquarters, European Theater of Operations. General Eisenhower was appointed theater commander]
  31. ^ Memoir of Eisenhower's translator for the Potsdam Conference meetings with Zhukov Paul P. Roudakoff (22 tháng 7 năm 1955). “Ike and Zhukov”. Collier's Magazine.
  32. ^ Wilmont, The Longest Day
  33. ^ Harold Zink, The United States in Germany, 1944-1955 (1957)
  34. ^ Petra Goedde, "From villains to victims: Fraternization and the Feminization of Germany, 1945-1947," Diplomatic History, Winter 1999, Vol. 23 Issue 1, pp1-19
  35. ^ James F. Tent, Mission on the Rhine: Reeducation and Denazification in American-Occupied Germany (1982).
  36. ^ Ambrose, Eisenhower (1983) pp 421-25
  37. ^ a ă Ambrose, Stephen (1983). Eisenhower: Soldier, General of the Army, President-Elect (1893–1952). New York: Simon & Schuster. tr. 422.
  38. ^ Petrov, Vladimir (1967). Money and conquest; allied occupation currencies in World War II. Baltimore: Johns Hopkins University Press. tr. 228–229.
  39. ^ Lucius D. Clay, Decision in Germany, Westport, CT, 1950, p. 19
  40. ^ Eugene Davidson The Death and Life of Germany p.85 University of Missouri Press, 1999 ISBN 0-8262-1249-2
  41. ^ Eugene Davidson The Death and Life of Germany p.136 University of Missouri Press, 1999 ISBN 0-8262-1249-2
  42. ^ Ambrose, Eisenhower (1983) pp 432, 441, 443, 446, 450, 452
  43. ^ Ambrose, Eisenhower (1983), ch. 24
  44. ^ Crusade in Europe, Doubleday; 1st edition (1948), 559 pages, ISBN 1-125-30091-4
  45. ^ His book Crusade in Europe, published that fall, made him a wealthy man.
  46. ^ a ă â b c d Gibbs, Nancy (10 tháng 11 năm 2008). “When New President Meets Old, It's Not Always Pretty”. TIME.
  47. ^ Frum, David (2000). How We Got Here: The '70s. New York, New York: Basic Books. tr. 7. ISBN 0465041957.
  48. ^ The Eleanor Roosevelt Papers."Dwight Eisenhower." Teaching Eleanor Roosevelt, ed. by Allida Black, June Hopkins, et. al. (Hyde Park, New York: Eleanor Roosevelt National Historic Site, 2003). http://www.nps.gov/archive/elro/glossary/eisenhower-dwight.htm [Truy cập 21 tháng 7 năm 2009].
  49. ^ “The Flavor of the New”. Time. 24 tháng 1 năm 1969. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2008.
  50. ^ “The cracks are showing”. The Economist. 26 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2008.
  51. ^ “The Last Week – The Road to War”. USS Washington (BB-56). Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2008.
  52. ^ “About the Author”. USS Washington (BB-56). Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2008.
  53. ^ "Interstate Highway System". Eisenhower Presidential Center. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2008.
  54. ^ Eisenhower gave verbal approval to Secretary of State John Foster Dulles and to Director of Central Intelligence Allen Dulles to proceed with the coup; Ambrose, Eisenhower, vol.2, The President p. 111; Ambrose, Eisenhower: Soldier and President(New York: Simon and Schuster, 1990), p. 333.
  55. ^ Prados, John, Presidents' Secret Wars: CIA and Pentagon Covert Operations from World War II Through the Persian Gulf. Chicago, IL: William Morrow, 1986. pp 91-98
  56. ^ Peter L. Hahn, "Securing the Middle East: The Eisenhower Doctrine of 1957," Presidential Studies Quarterly, tháng 3 năm 2006, Vol. 36 Issue 1, pp 38-47
  57. ^ James Dunnigan and Albert Nofi, Dirty Little Secrets of the Vietnam War. St. Martins Press, 1999. ISBN 0-312-19857-4. p 85.
  58. ^ a ă James Dunnigan and Albert Nofi, Dirty Little Secrets of the Vietnam War. p 257.
  59. ^ Cornelia Navari, Internationalism and the State in the Twentieth Century. Routledge, 2000. ISBN 978-0-415-09747-5. p. 316.
  60. ^ Mary L. Dudziak, Cold War Civil Rights: Race and the Image of American Democracy (2002)
  61. ^ Eisenhower 1963, tr. 230
  62. ^ Parmet 1972, tr. 438–439
  63. ^ Ferrell RH: Ill-Advised: Presidential Health & Public Trust, University of Missouri Press, Columbia, MO, 1992; pp. 53–150.
  64. ^ “President Dwight Eisenhower: Health & Medical History”. doctorzebra.com. Truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2009.
  65. ^ “Former Presidents Act”. National Archives and Records Administration. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2008.
  66. ^ “Dwight D. Eisenhower Farewell Address”. USA Presidents. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2008.
  67. ^ Eisenhower Archives. Post Presidential Years. Quote: "President Kennedy reactivated his commission as a five star general in the United States Army. With the exception of George Washington, Eisenhower is the only United States President with military service to reenter the Armed Forces after leaving the office of President."
  68. ^ “John F. Kennedy Presidential Library & Museum, A Chronology from The New York Times, tháng 3 năm 1961”. 23 tháng 3 năm 1961. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2009. Mr. Kennedy signed into law the act of Congress restoring the five-star rank of General of the Army to his predecessor, Dwight D. Eisenhower. (15:5)
  69. ^ “Eisenhower National Historic Site (U.S. National Park Service)”. Nps.gov. 23 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2010.
  70. ^ “Johnson vs. Goldwater”. The Living Room Candidate. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2008.
  71. ^ “Dwight D. Eisenhower”. Eisenhower Presidential Center. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2008.
  72. ^ "1969 Year in Review”. Upi.com. 25 tháng 10 năm 2005. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2010.
  73. ^ Frum, David (2000). How We Got Here: The '70s. New York, New York: Basic Books. tr. 27. ISBN 0465041957.
  74. ^ Walsh, Kenneth T. (6 tháng 6 năm 2008). “Presidential Lies and Deceptions”. US News and World Report.
  75. ^ “Presidential Politics”. Public Broadcasting Service. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2008.
  76. ^ Dwight Eisenhower: Post-presidency
  77. ^ Hans J. Morgenthau: "Goldwater – The Romantic Regression", in Commentary, tháng 9 năm 1964.
  78. ^ White House Chief of Staff: History: The position, which is filled at the discretion of the president, was first established by President Dwight D. Eisenhower. Presidents John F. Kennedy, Lyndon B. Johnson and, for a time, Jimmy Carter opted not to have a chief of staff
  79. ^ “Our Heritage”. peopletopeople.com. People to People. Truy cập 29 tháng 9 năm 2009.
  80. ^ Bacque, James. Other Losses, Toronto, Canada: Stoddart, 1989. ISBN 0-7737-2269-6. Controversial book on the treatment of WWII prisoners.
  81. ^ The Eisenhower Center for American Studies, University of New Orleans, Louisiana, USA.
  82. ^ Ambrose, Stephen E.; Bischof, Günter, (editors), Eisenhower and the German POWs: facts against falsehood, Eisenhower Center studies on war and peace, Baton Rouge: Louisiana State University Press, 1992.
  83. ^ “Dwight D. Eisenhower”. www.aoc.gov. Architect of the Capitol. Truy cập 29 tháng 11 năm 2008.
  84. ^ a ă â b Yeoman, R.S. (2007). Kenneth Bressett, biên tập. 2008 Guide Book of United States Coins (ấn bản 61). Atlanta: Whitman Publishing. tr. 218, 294. ISBN 0794822673.
  85. ^ “Presidential Dollar Coin Release Schedule”. United States Mint. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2008.
  86. ^ Agnew, James B. (1979). Eggnog Riot. San Rafael, CA: Presidio Press. p. 197.
  87. ^ “History of Eisenhower Army Medical Center”. Dwight D. Eisenhower Army Medical Center. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2008.
  88. ^ “Eisenhower Middle School History”. Freehold Township Elementary and Middle Schools. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2008.
  89. ^ “Statue of President Eisenhower in Grosvenor Square”. www.usembassy.org.uk. US Embassy. Truy cập 2 tháng 3 năm 2009.
  90. ^ “Frank Gehry to design Eisenhower Memorial”. bizjournals.com. American City Business Journals. 1 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2009.
  91. ^ Trescott, Jacqueline (2 tháng 4 năm 2009). “Architect Gehry Gets Design Gig For Ike Memorial”. The Washington Post. The Washington Post Company.
  92. ^ Plumb, Tiereny (22 tháng 1 năm 2010). “Gilbane to manage design and construction of Eisenhower Memorial”. Washington Business Journal. American City Business Journals, Inc.
  93. ^ “The White House. Eisenhower Executive Office Building. ''Construction Chronology & Historical Events for the Eisenhower Executive Office Building''”. Whitehouse.gov. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2010.
  94. ^ “Eisenhower Park”. Nassau County, New York. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2008.
  95. ^ The World Atlas of Golf, second edition, 1988, Mitchell and Beazely publishers, London.
  96. ^ “Eisenhower Decorations and Awards”. Eisenhower Presidential Center. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2008.
  97. ^ Eisenhower, John S. D. Allies.
  98. ^ Armbrester, Margaret E. (1992). The Civitan Story. Birmingham, AL: Ebsco Media. tr. 97.
  99. ^ “President Eisenhower named to World Golf Hall of Fame”. Pgatour.com. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2010.

Tham khảo

Binh nghiệp của Eisenhower

  • Ambrose, Stephen E. Eisenhower: Soldier, General of the Army, President-Elect, 1890–1952 (1983);'
  • Ambrose, Stephen E. The Victors: Eisenhower and his Boys: The Men of World War II, New York: Simon & Schuster, 1998. ISBN 0-684-85628-X
  • Eisenhower, David. Eisenhower at War 1943–1945 (1986), New York: Random House. ISBN 978-0-394-41237-5. A detailed study by his grandson.
  • Irish, Kerry E. "Apt Pupil: Dwight Eisenhower and the 1930 Industrial Mobilization Plan", The Journal of Military History 70.1 (2006) 31–61 online in Project Muse.
  • Pogue, Forrest C. The Supreme Command, Washington, D.C.: Office of the Chief of Military History, Dept. of the Army, 1954. The official Army history of SHAEF.
  • Weigley, Russell. Eisenhower's Lieutenants. Đại học Indiana Press, 1981. Ike's dealings with his key generals in WW2
  • Cố Vân Thâm (chủ biên); Dịch giả: Phong Đảo (2003). Thập đại tùng thư: 10 Đại tướng soái thế giới. Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin.

Eisenhower khi là người thường

  • Albertson, Dean, ed. Eisenhower as President (1963).
  • Alexander, Charles C. Holding the Line: The Eisenhower Era, 1952–1961 (1975).
  • Ambrose, Stephen E. Eisenhower: Soldier, General of the Army, President-Elect, 1890–1952 (1983); Eisenhower. The President (1984); one volume edition mang tên Eisenhower: Soldier and President (2003). Standard biography.
  • Bowie, Robert R. and Richard H. Immerman; Waging Peace: How Eisenhower Shaped an Enduring Cold War Strategy, Oxford University Press, 1998.
  • Burk, Robert. "Eisenhower Revisionism Revisited: Reflections on Eisenhower Scholarship," Historian, Spring 1988, Vol. 50 Issue 2, pp 196–209
  • Damms, Richard V. The Eisenhower Presidency, 1953–1961 (2002).
  • David Paul T. (ed.), Presidential Nominating Politics in 1952. 5 vols., Johns Hopkins Press, 1954.
  • Divine, Robert A. Eisenhower and the Cold War (1981).
  • Greenstein, Fred I. The Hidden-Hand Presidency: Eisenhower as Leader (1991).
  • Harris, Douglas B. "Dwight Eisenhower and the New Deal: The Politics of Preemption" Presidential Studies Quarterly, Vol. 27, 1997.
  • Harris, Seymour E. The Economics of the Political Parties, with Special Attention to Presidents Eisenhower and Kennedy (1962).
  • Krieg, Joann P. ed. Dwight D. Eisenhower, Soldier, President, Statesman (1987). 24 essays by scholars.
  • McAuliffe, Mary S. "Eisenhower, the President", Journal of American History 68 (1981), pp. 625–632.
  • Medhurst, Martin J. Dwight D. Eisenhower: Strategic Communicator Greenwood Press, 1993.
  • Pach, Chester J. and Elmo Richardson. Presidency of Dwight D. Eisenhower (1991). Standard scholarly survey.

Nguồn sơ cấp

  • Boyle, Peter G., ed. The Churchill-Eisenhower Correspondence, 1953–1955 University of North Carolina Press, 1990.
  • Eisenhower, Dwight D. Crusade in Europe (1948), his war memoirs.
  • Eisenhower, Dwight D. The White House Years: Waging Peace 1956–1961, Doubleday and Co., 1965.
  • Eisenhower Papers 21 volume scholarly edition; complete for 1940–1961.
  • Summersby, Kay. Eisenhower was my boss (1948) New York: Prentice Hall; (1949) Dell paperback.
21 tháng 8

Ngày 21 tháng 8 là ngày thứ 233 (234 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 132 ngày trong năm.

Charlie Brotman

Charles J. "Charlie" Brotman sinh 30 tháng 12 năm 1928 là một xướng ngôn viên chuyên nghiệp trong các lễ nhậm chức tổng thống Hoa Kỳ. Ông là người luôn được chọn để đứng trước micro trong các cuộc diễu hành nhậm chức tổng thống Hoa Kỳ tại Washington, DC. Charlie Brotman bắt đầu công việc đặc biệt này từ năm 1957, trong lễ nhậm chức nhiệm kỳ thứ hai của tổng thống Dwight D. Eisenhower. Lễ nhậm chức nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống Barack Obama vào năm 2013 là buổi lễ thứ 15 liên tiếp mà Charlie Brotman làm xướng ngôn viên, tính theo từng đời tổng thống. Trong suốt 6 thập kỷ qua, tổng cộng Charlie Brotman đã có 16 lần liên tiếp giữ vai trò là xướng ngôn viên tại các lễ nhậm chức của Tổng thống Hoa Kỳ.

Chiến tranh Triều Tiên

Chiến tranh Triều Tiên (ở Hàn Quốc Hangul: 한국전쟁; Hanja: 韓國戰爭; Romaja: Hanguk Jeonjaeng, "Korean War"; ở CHDCND Triều Tiên Chosŏn'gŭl: 조국해방전쟁; Hancha: 祖國解放戰爭; MR: Choguk haebang chǒnjaeng là cuộc chiến xảy ra và kéo dài từ giữa năm 1950 đến năm 1953 trên bán đảo Triều Tiên bị chia cắt vì sự chiếm đóng tạm thời của Liên Xô và Hoa Kỳ. Chiến sự được châm ngòi vào ngày 25 tháng 6 năm 1950 khi Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (Bắc Triều Tiên) tấn công Đại Hàn Dân quốc (Nam Triều Tiên). Từ một cuộc chiến quy mô nhỏ giữa hai lực lượng đối nghịch trên bán đảo Triều Tiên, quy mô cuộc chiến đã trở nên lớn khi lực lượng của Liên hiệp quốc được Hoa Kỳ lãnh đạo và sau đó là Chí nguyện quân của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa can thiệp.

Lực lượng hỗ trợ chính cho miền Bắc là Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa với sự tiếp ứng hạn chế của Liên Xô trong hình thức các cố vấn quân sự, phi công quân sự và vũ khí. Đại Hàn Dân quốc được lực lượng Liên Hiệp Quốc, chủ yếu là quân đội Hoa Kỳ, hỗ trợ. Trước cuộc xung đột, CHDCND Triều Tiên và Đại Hàn Dân quốc tồn tại như hai chính phủ lâm thời đang tranh giành ảnh hưởng kiểm soát toàn bộ Bán đảo Triều Tiên.

Sau ba năm, chiến cuộc tạm ngưng khi hai miền đạt được một thỏa hiệp ngừng bắn vào ngày 27 tháng 7 năm 1953, và vì không có hiệp định hòa bình nên trên thực tế, cuộc chiến này vẫn chưa kết thúc cho đến tận nay. Xung đột quy mô nhỏ vẫn diễn ra, hai bên tiếp tục ở trong tình trạng chiến tranh và có thể phát động tấn công bất ngờ mà không cần tuyên chiến. Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (Bắc Triều Tiên) vẫn tiếp tục đầu tư rất lớn cho quân đội và coi việc thống nhất đất nước Triều Tiên là mục tiêu cao nhất của họ. Trong khi đó, Mỹ vẫn duy trì 28.000 quân tại Hàn Quốc để ngăn chặn việc Bắc Triều Tiên tấn công Hàn Quốc một lần nữa. Hiện nay, lập trường của hai bên là đối nghịch nhau khi họ đều cho rằng chính phủ mình mới là hợp pháp và chính danh trong việc tấn công đối phương nhằm thống nhất đất nước Triều Tiên.

Cơ quan Chỉ đạo các Dự án Nghiên cứu Quốc phòng Tiên tiến

Cơ quan Chỉ đạo các Dự án Nghiên cứu Quốc phòng Tiên tiến, tiếng Anh: Defense Advanced Research Projects Agency - DARPA, là một cơ quan của Bộ Quốc phòng Mỹ, chịu trách nhiệm phát triển các công nghệ tiên tiến mới dùng cho quân đội. Mục tiêu của DARPA là đảm bảo sự vượt trội về công nghệ quân sự của Quân đội Mỹ, phòng ngừa sự xuất hiện bất ngờ các phương tiện kỹ thuật vũ khí mới và hỗ trợ các nghiên cứu đột phá để thu hẹp khoảng cách giữa nghiên cứu cơ bản và ứng dụng của họ trong lĩnh vực quân sự.

Tổ chức tiền thân của DARPA là Cơ quan Chỉ đạo các Dự án Nghiên cứu Tiên tiến (the Advanced Research Projects Agency (ARPA)), được Tổng thống Dwight D. Eisenhower thành lập vào năm 1958, là phản ứng của Mỹ đối với vụ phóng vệ tinh Sputnik thành công của Liên Xô năm 1957. Ngay từ khi thành lập, nhiệm vụ của Cơ quan này là đảm bảo cho Mỹ tránh được sự bất ngờ về công nghệ trong tương lai. Bằng cách cộng tác giữa nghiên cứu hàn lâm, sản xuất công nghiệp và các đối tác của chính phủ, DARPA đã xây dựng và tổ chức thực hiện các dự án nghiên cứu và phát triển để mở rộng các giới hạn về khoa học và công nghệ, thường ngoài phạm vi các yêu cầu quân sự của Mỹ.

Danh sách Tổng thống Hoa Kỳ

Theo Hiến pháp Hoa Kỳ, Tổng thống Hoa Kỳ là người đứng đầu nhà nước và đứng đầu chính phủ Hoa Kỳ. Là người đứng đầu hành pháp và người đứng đầu chính phủ liên bang toàn thể, tổng thống là chức vụ chính trị cao nhất tại Hoa Kỳ. Tổng thống cũng là Tổng tư lệnh của các lực lượng vũ trang Hoa Kỳ. Kể từ khi phê chuẩn từ chính Hai mươi thứ hai của Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1951, không ai có thể được bầu làm Tổng thống quá hai nhiệm kỳ. Nếu một Tổng thống đương nhiệm qua đời, từ chức hay bị bãi nhiệm, Phó Tổng thống sẽ thay thế. Tổng thống phải ít nhất 35 tuổi, đã từng sống ở Hoa Kỳ trong 14 năm, phải sinh ra ở Hoa Kỳ và là công dân Hoa Kỳ.

Danh sách này chỉ tính những nhiệm kỳ liên tục của một tổng thống, những người đã tuyên thệ nhậm chức tổng thống sau khi Hiến pháp Hoa Kỳ phê chuẩn, có hiệu lực từ ngày 04 tháng 3 năm 1789. Các nhà lãnh đạo Mỹ trước khi cuộc phê chuẩn này, như Chủ tịch Quốc hội Lục địa sẽ không có trong danh sách. Danh sách này không bao gồm bất kỳ quyền tổng thống nào theo Tu chính án Hai mươi lăm của Hiến pháp Hoa Kỳ.

Đã có 44 người tuyên thệ nhậm chức tổng thống, và 45 tổng thống, vì Grover Cleveland phục vụ hai nhiệm kỳ không liên tiếp và được tính theo thứ tự là tổng thống thứ 22 và 24 của Hoa Kỳ, bởi vậy, danh sách dưới đây bao hàm 45 đời tổng thống nhưng thực chất chỉ là 44 người. Trong số các cá nhân được bầu làm tổng thống, có bốn người qua đời trong nhiệm kỳ vì bệnh (William Henry Harrison, Zachary Taylor, Warren G. Harding , và Franklin D. Roosevelt), bốn người bị ám sát (Abraham Lincoln, James A. Garfield William McKinley, và John F. Kennedy) và một từ chức (Richard Nixon).

George Washington, tổng thống đầu tiên, đã được bầu làm Tổng thống vào năm 1789 sau một cuộc bỏ phiếu nhất trí của các đại cử tri đoàn. William Henry Harrison là tổng thống tại nhiệm ngắn nhất với 32 ngày trong năm 1841. Franklin D. Roosevelt có thời gian làm tổng thống dài nhất với hơn mười hai năm, nhưng đã qua đời ngay vào nhiệm kỳ thứ tư trong năm 1945; ông là tổng thống duy nhất đã phục vụ hơn hai nhiệm kỳ. Một sửa đổi hiến pháp, ảnh hưởng đến những Tổng thống sau Harry Truman, đã được thông qua để hạn chế số nhiệm kỳ một người có thể được bầu làm tổng thống. Andrew Jackson Tổng thống thứ bảy, là người đầu tiên được bầu bởi những tất cả những tầng lớp nam giới người da trắng vào năm 1828, sau khi hầu hết các luật cấm ngoài luật chủ sở hữu đất có quyền biểu quyết được xóa bỏ. Warren Harding là người đầu tiên được bầu sau khi phụ nữ được quyền bỏ phiếu vào năm 1920. Năm Tổng thống - John Q. Adams, Rutherford B. Hayes, Benjamin Harrison, George W. Bush và Donald Trump - không đủ phiếu phổ thông khi bầu cử nhưng vẫn thắng cử. Bush sau đó đã tái đắc cử với đa số phiếu phổ thông. John F. Kennedy là tổng thống duy nhất là tín hữu Công giáo La Mã, và Barack Obama là tổng thống gốc Phi đầu tiên.

Douglas MacArthur

Thống tướng Douglas MacArthur (26 tháng 1 năm 1880 - 5 tháng 4 năm 1964) là một danh tướng của Hoa Kỳ và là Thống tướng Quân đội Philippines (Field Marshal of the Philippines Army). Ông là Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ trong suốt thập niên 1930 và sau đó đã đóng một vai trò quan trọng trên mặt trận Thái Bình Dương trong Chiến tranh thế giới thứ hai. MacArthur đã nhận được Huân chương Danh dự. Ông được bổ nhiệm chỉ huy cuộc xâm chiếm Nhật Bản mà đã được hoạch định tiến hành vào tháng 11 năm 1945. Nhưng khi thấy không còn cần thiết nữa, MacArthur chính thức chấp nhận sự đầu hàng của Nhật ngày 2 tháng 9 năm 1945.

MacArthur giám sát cuộc chiếm đóng Nhật Bản từ 1945 đến 1951 và được công nhận vì những đóng góp cho những thay đổi dân chủ sâu rộng của đất nước này. Ông chỉ huy Tổng lực lượng quân sự do Liên hiệp quốc lãnh đạo để bảo vệ Nam Triều Tiên trước sự tấn công của Bắc Triều Tiên từ 1950-1951. MacArthur bị Tổng thống Harry Truman cách chức tư lệnh vào tháng 4 năm 1951 vì không nghe lời thượng cấp, liên quan đến việc ông không tuân theo các chỉ thị của tổng thống.

Ông được biết đến với câu nói quân sự nổi tiếng: "In war, there is no substitute for victory" (Trong chiến tranh, không có gì thay thế được chiến thắng). MacArthur đã chiến đấu trong 3 cuộc chiến lớn (Chiến tranh thế giới thứ nhất, Chiến tranh thế giới thứ hai và Chiến tranh Triều Tiên) và là một trong 5 người được phong quân hàm Thống tướng (General of the Army).

Georgi Konstantinovich Zhukov

Georgi Konstantinovich Zhukov (tiếng Nga: Георгий Константинович Жуков, đọc là Ghê-oóc-ghi Can-xtan-chi-nô-vích Giu-cốp; 1 tháng 12 năm 1896 – 18 tháng 6 năm 1974) là danh tướng trong quân đội Liên Xô. Trong rất nhiều tướng lĩnh nổi danh thế giới trong Chiến tranh thế giới thứ hai, G.K. Zhukov được xếp đầu bảng về số lượng trận thắng nhiều và quy mô lớn, được nhiều người công nhận về tài năng chỉ đạo chiến dịch và chiến lược. Những chiến tích của ông đã trở thành những đóng góp rất lớn vào kho tàng di sản kiến thức quân sự nhân loại. Nó không những có ảnh hưởng lớn về lý luận quân sự của Liên Xô mà cũng có ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển của lý luận quân sự thế giới.Theo nhận định của Nguyên soái A. M. Vasilevsky, G. K. Zhukov là một trong những nhà cầm quân lỗi lạc của nền quân sự Xô Viết. Trong cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại của Liên bang Xô viết, ông đã giữ các chức vụ Tư lệnh Phương diện quân Dự bị, Tư lệnh Phương diện quân Tây, Tư lệnh Phương diện quân Beloussia 1, Tổng tham mưu trưởng quân đội Liên Xô, Thứ trưởng Bộ dân ủy Quốc phòng kiêm Phó Tổng tư lệnh tối cao quân đội Liên Xô, Ủy viên Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Hầu hết các nhà lãnh đạo quân sự nổi tiếng thế giới cùng thời với ông như Thống chế Anh Sir Bernard Law Montgomery, Thống tướng Hoa Kỳ Dwight David Eisenhower, Thống chế Pháp Jean de Lattre de Tassigny đều công nhận tên tuổi của ông đã gắn liền với hầu hết các chiến thắng lớn trong cuộc chiến như Trận Moskva (1941), Trận Stalingrad, Trận Kursk, Chiến dịch Bagration, Chiến dịch Visla-Oder và Chiến dịch Berlin. Trong giai đoạn sau chiến tranh, ông giữ các chức vụ Tổng tư lệnh quân đội Liên Xô tại nước Đức, tư lệnh các quân khu Odessa và Ural. Sau khi lãnh tụ tối cao I. V. Stalin qua đời, ông được gọi về Moskva và được bổ nhiệm chức vụ Thứ trưởng thứ nhất Bộ Quốc phòng Liên Xô. Trong thời gian từ năm 1955 đến năm 1957, ông giữ chức vụ Ủy viên trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Liên Xô. Năm 1957, trong thời gian đang đi thăm Nam Tư, ông bị đưa ra khỏi Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Năm 1958, ông bị miễn nhiệm tất cả các chức vụ trong quân đội.

Giải Nguyên tử vì Hòa bình

Giải Nguyên tử vì Hòa bình là một giải thưởng của Hoa Kỳ được thành lập từ năm 1955 để đáp ứng bài diễn văn "Nguyên tử vì Hòa bình" của tổng thống Dwight D. Eisenhower đọc trước Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc. Quỹ tiền thưởng ban đầu của giải là số tiền 1.000.000 dollar Mỹ do Công ty Ford tài trợ. Một hội phi lợi nhuận độc lập được thành lập để quản lý quỹ vốn. Tính đến năm 1969 đã có 22 người được trao giải này.

Harry S. Truman

Harry S. Truman (8 tháng 5 năm 1884 – 26 tháng 12 năm 1972) là Tổng thống thứ 33 của Hoa Kỳ (1945–1953), người kế nhiệm Nhà Trắng theo Thứ tự kế vị Tổng thống Hoa Kỳ sau cái chết của Franklin D. Roosevelt khi đó ông là Phó Tổng thống thứ 34 (1945) mới 3 tháng của Hoa Kỳ.

Trong đối nội Truman đối phó với một giai đoạn hỗn loạn của nền kinh tế, được đánh dấu với nhiều thiếu hụt nghiêm trọng, hàng loạt vụ đình công và sự thông qua đạo luật Taft-Hartley vượt qua sự phủ quyết (veto) của ông. Ông tái đắc cử vào năm 1948 nhưng không kiểm soát được Quốc hội và không thể thông qua một chương trình Thỏa thuận Công bằng (Fair Deal) của ông. Ông đã sử dụng quyền hành pháp của mình để bắt đầu sự xóa bỏ nạn phân biệt chủng tộc trong quân đội Hoa Kỳ và bắt đầu cuộc "báo động đỏ" thứ hai để loại bỏ hàng ngàn người thân với cộng sản trong các cơ quan nhà nước. Hàng trăm người được ông bổ nhiệm bị buộc phải từ chức trong hàng loạt các vụ bê bối về tài chính.

Nhiệm kì tổng thống của Truman có nhiều sự kiện xảy ra trong đối ngoại, bắt đầu với chiến thắng Đức quốc xã, vụ thả bom nguyên tử ở Hiroshima và Nagasaki, sự đầu hàng của phát xít Nhật và sự kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai, sự thành lập của Liên Hiệp Quốc, kế hoạch Marshall để tái thiết lại châu Âu, học thuyết Truman để kiểm soát chủ nghĩa cộng sản, sự bắt đầu của Chiến tranh Lạnh, sự thành lập của khối NATO và Chiến tranh Triều Tiên. Sự kiện cuối cùng làm hao tổn 44.000 lính Hoa Kỳ, hy sinh hay mất tích, và làm cho Truman không được tái đắc cử nhiệm kì thứ 3. Vận động chống lại sự thất bại của Truman ("Triều Tiên! Cộng sản! Tham nhũng!"), ứng viên Cộng hòa Dwight D. Eisenhower đã kết thúc 20 năm thống trị của Đảng Dân chủ vào năm 1952.

Ông cũng được xem là tổng thống nghèo nhất trong lịch sử Hoa Kỳ . Từ khi thất bại với việc kinh doanh một mỏ kẽm lúc còn trẻ, sau đó ông phải lao động tay chân. Khi hãng quần áo của ông (chung vốn với 1 người bạn) bị phá sản, Truman còn nợ 30.000 đô la (một tài sản lớn thời đấy). Sau khi mãn nhiệm tổng thống, ông và vợ nghèo đến nỗi cũng phải là hai người đầu tiên nhận trợ cấp Medicare sau khi Tổng thống Lyndon Johnson ký thành luật .

Hệ thống Xa lộ Liên tiểu bang

Hệ thống Xa lộ Liên tiểu bang (tên tiếng Anh đầy đủ và chính thức là Dwight D. Eisenhower National System of Interstate and Defense Highways, tạm dịch "Hệ thống Xa lộ Quốc phòng và Liên tiểu bang Quốc gia Dwight D. Eisenhower") là một hệ thống đường cao tốc hợp thành một phần của Hệ thống Quốc lộ Hoa Kỳ. Hệ thống xa lộ này được đặt tên của tổng thống Dwight D. Eisenhower là người tiên phong thúc đẩy việc xây dựng nó để nối liền 209 trong số 237 thành phố có dân số từ 50.000 người trở lên. Công việc xây dựng hệ thống xa lộ này được Đạo luật Liên bang Tài trợ Xa lộ năm 1956 cho phép thực hiện, và phần kế hoạch ban đầu của hệ thống được hoàn thành 35 năm sau đó. Hệ thống này kể từ đó được mở rộng và cho đến năm 2006 có tổng chiều dài là 46.876 dặm (75.440 km). Khoảng một phần ba tổng số dặm đường được lái trên toàn Hoa Kỳ là trên hệ thống xa lộ liên tiểu bang (số thống kê năm 2003).

John Foster Dulles

John Foster Dulles ( /ˈdʌləs/; ngày 25 tháng 2 năm 1888 - ngày 24 tháng 5 năm 1959) là một nhà ngoại giao Mỹ. Là một đảng viên đảng Cộng hòa Hoa Kỳ, ông từng là Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống Dwight D. Eisenhower từ năm 1953 đến năm 1959. Ông là một nhân vật quan trọng trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh sớm, ủng hộ một lập trường hung hăng chống chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới.

Sinh ra ở Washington, D.C., Dulles gia nhập công ty luật thành phố New York Sullivan & Cromwell sau khi tốt nghiệp Trường luật Đại học George Washington. John Foster Dulles đã từng phục vụ trong vai trò Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ, trong khi anh trai, Allen Dulles, từng là Giám đốc Cục tình báo Trung tâm từ năm 1953 đến năm 1961. John Foster Dulles phục vụ trong Ban Công nghiệp Chiến tranh Ban trong thế chiến I và ông là một luật sư Hoa Kỳ tại Hội nghị Hoà bình Paris 1919. Ông đã trở thành một thành viên của Liên hiệp Các Hiệp hội các quốc gia Tự do, hỗ trợ thành viên Mỹ trong Liên đoàn các quốc gia. Dulles cũng đã giúp thiết kế Kế hoạch Dawes, nhằm tìm cách ổn định châu Âu bằng cách giảm các bồi thường chiến tranh của Đức.

Sau khi Eisenhower đắc cử trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1952, ông đã chọn Dulles làm Ngoại trưởng. Là Ngoại trưởng, Dulles đã tập trung xây dựng và tăng cường các liên minh Chiến tranh Lạnh, đặc biệt là Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương. Ông là kiến ​​trúc sư của Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á, một liên minh phòng thủ chống lại Cộng sản giữa Hoa Kỳ và một số quốc gia ở và gần Đông Nam Á. Ông cũng đã giúp kích động cuộc đảo chính Iran năm 1953 và cuộc đảo chính Guatemala năm 1954. Ông ủng hộ một chiến lược trả đũa lớn để đáp lại sự xâm lược của Liên Xô. Ông ủng hộ ủng hộ của Pháp trong cuộc chiến chống lại Việt Minh ở Đông Dương nhưng đã bác bỏ Hiệp định Giơ-ne-vơ rằng Pháp và cộng sản đã đồng ý, và thay vào đó hỗ trợ Nam Việt Nam sau Hội nghị Genève năm 1954. Bị bệnh vì ung thư ruột kết, Dulles từ chức 1959 và chết vào cuối năm đó.

Khủng hoảng Sputnik

Khủng hoảng Spunik là những phản ứng của Hoa Kỳ trước thành công của chương trình Sputnik. Đây là một sự kiện quan trọng trong Chiến tranh Lạnh bắt đầu từ ngày 4 tháng 10 năm 1957 khi Liên Xô phóng thành công Sputnik 1, vệ tinh nhân tạo đầu tiên của Trái Đất.

Vụ phóng Sputnik I của Liên Xô và hai thử nghiệm dự án Vanguard thất bại của Mỹ đã gây xôn xao công chúng Hoa Kỳ, Tổng thống Dwight D. Eisenhower đã gọi đây là "Khủng hoảng Sputnik". Mặc dù bản thân Sputnik là vô hại, việc phóng nó đã nêu bật mối đe dọa liên tục mà Hoa Kỳ đã nhận thấy từ Liên Xô kể từ khi chiến tranh Lạnh nổ ra sau thế chiến thứ hai. Tên lửa đã đẩy Sputnik cũng có thể đưa một đầu đạn hạt nhân đến bất cứ đâu trên thế giới chỉ trong vài phút, chọc thủng chiến hào đại dương, thứ đã bảo vệ thành công Hoa Kỳ lục địa khỏi bị tấn công trong cả hai cuộc thế chiến. Trước đó, người Liên Xô đã chứng minh khả năng này vào ngày 21 tháng 8 bằng một chuyến bay thử nghiệm 6.000 km thành công của Tên lửa R-7; Cục Điện báo Liên Xô đã thông báo về vụ thử nghiệm 5 ngày sau đó và sự kiện này được truyền thông rộng rãi trên Aviation Week và các báo đài khác.

Chưa đầy một năm sau sự kiện phóng Sputnik, Quốc hội Mỹ đã thông qua Đạo luật Giáo dục Quốc phòng (NDEA). Luật này là một chương trình 4 năm tiêu tốn hàng tỷ đô la vào hệ thống giáo dục Hoa Kỳ.

Sau cú sốc dư luận ban đầu, cuộc chạy đua vào không gian bắt đầu, dẫn đến sự kiện con người lần đầu bay vào không gian, chương trình Apollo và những người đầu tiên đặt chân lên Mặt Trăng năm 1969.

Mamie Eisenhower

Mamie Geneva Doud Eisenhower(14/11/1896 - 1/11/1979) là phu nhân của Tổng thống Hoa Kỳ Dwight D. Eisenhower và Đệ Nhất Phu nhân Hoa Kỳ từ năm 1953 đến năm 1961.

Mamie kết hôn với Dwight Eisenhower ở tuổi 19 vào năm 1916. Đôi vợ chồng trẻ di chuyển thường xuyên giữa các khu quân sự trong nhiều bài đăng, từ Panama đến Philippines. Là Đệ Nhất Phu nhân, cô đã hài lòng với rất nhiều nhân vật ngoại quốc hay những người có phản ứng tốt với phong cách tự tin và trang phục lộng lẫy của bà.

Mamie Eisenhower nghỉ hưu và sống góa bụa tại trang trại gia đình ở Gettysburg, Pennsylvania.

Nelson Rockefeller

Nelson Aldrich Rockefeller (8 tháng 7 năm 1908 - 26 tháng 1 năm 1979) là doanh nhân người Mỹ, người làm từ thiện, công chức và chính trị gia. Ông là Phó Tổng thống thứ 41 của Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống Gerald Ford từ năm 1974 đến năm 1977, trước đó ông là Thống đốc thứ 49 của New York. Ông cũng làm việc dưới chính quyền Tổng thống Franklin D. Roosevelt, Harry S. Truman và Dwight D. Eisenhower. Là một thành viên trong gia tộc giàu có Rockefeller, ông là nhà sưu tập nghệ thuật, cũng như quản lý Trung tâm Rockefeller.

Pat Nixon

Thelma Catherine "Pat" Ryan Nixon (16 tháng 3 năm 1912 - 22 tháng 6 năm 1993) là vợ của Richard Nixon, tổng thống thứ 37 của Hoa Kỳ và trở thành Đệ Nhất Phu nhân của nước Mỹ từ 1969 đến 1974. Bà thường được biết đến với cái tên ngắn gọn Pat Nixon.

Sinh ra tại Nevada nhưng lớn lên tại Los Angeles, California. Bà tốt nghiệp trung học năm 1929 và theo học trường cao đẳng Fullerton, sau đó là Đại học Nam California. Để trả tiền học phí bà đã phải làm rất nhiều việc, bao gồm dược sĩ, người đánh máy thuê và nhân viên X quang. Năm 1940, bà kết hôn với luật sư Richard Nixon, họ có hai người con. Bà cùng chồng tham gia 2 chiến dịch thành công của quốc hội năm 1946 và 1948. Richard Nixon sau đó trở thành phó tổng thống dưới thời Dwight D. Eisenhower, bà cùng với chồng thực hiện nhiều nhiệm vụ giành được thiện cảm của giới truyền thông. Bà đã trợ giúp cho chồng trong cả hai chiến dịch tranh cử không thành công năm 1960 lẫn chiến dịch tranh cử thành công năm 1968.

Với tư cách là Đệ Nhất Phu nhân đầu tiên của Hoa Kỳ, Pat Nixon khuyến khích nâng cao các hoạt động từ thiện, bao gồm hoạt động tình nguyện. Pat là Đệ Nhất Phu nhân có nhiều chuyến đi nước ngoài nhất, bà đã thăm 80 quốc gia và cũng là Đệ Nhất Phu nhân đầu tiên tới thăm một chiến trường. Những chuyến đi này đã giúp bà giành được tình cảm của giới truyền thông cũng như những nước chủ nhà. Sau khi tái đắc cử tổng thống năm 1972, tổng thống Nixon từ chức 2 năm sau đó do vụ bê bối Watergate và Pat Nixon cũng thôi nhiệm vụ chính trị từ thời điểm đó.

Sau này bà ít xuất hiện trước công chúng hơn. Bà và chồng trở về California và sau đó chuyển tới New Jersey. Pat trải qua 2 cơn tai biến mạch máu não - một lần năm 1976 và một lần năm 1983 - bà bị phát hiện ung thư phổi đầu thập niên 1990. Pat Nixon qua đời năm 1993 ở tuổi 81.

Richard Nixon

Richard Milhous Nixon (phiên âm tiếng Việt: Ri-chớt Min-hau Ních-xơn) (9 tháng 1 năm 1913 – 22 tháng 4 năm 1994) là tổng thống thứ 37 của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Nhiệm kỳ tổng thống của ông bắt đầu từ năm 1969, kết thúc khi ông từ chức vào năm 1974, khiến ông là tổng thống duy nhất từ chức trong lịch sử Hoa Kỳ. Trước đó, Nixon từng phục vụ trong vai trò là một nghị sĩ của Đảng Cộng hòa tại Hạ viện và Thượng viện liên bang, đại diện cho California; và từng đảm nhiệm chức vụ Phó Tổng thống thứ 36 của Hoa Kỳ từ năm 1953 đến năm 1961.

Nixon sinh tại Yorba Linda, California; ông tốt nghiệp Học viện Whittier vào năm 1934 và Trường Luật Đại học Duke vào năm 1937, rồi quay về California hành nghề luật. Đến năm 1942, ông cùng phu nhân là Pat Nixon chuyển đến Washington, D.C. để làm việc cho chính phủ liên bang. Sau đó, ông phục vụ cho Hải quân Hoa Kỳ trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Đến năm 1946, Nixon được cử tri tại California bầu vào Hạ nghị viện liên bang, ông tái cử vào năm 1948, và được bầu vào Thượng nghị viện liên bang vào năm 1950. Hành động theo đuổi vụ án Alger Hiss đem lại Nixon danh tiếng là một nhân vật chống Cộng hàng đầu, khiến ông trở nên nổi bật trên toàn quốc. Ông là nhân vật đồng tranh cử với Dwight D. Eisenhower trong bầu cử tổng thống năm 1952, sau đó ông phục vụ tám năm trong cương vị phó tổng thống. Ông tiến hành một chiến dịch tranh cử tổng thống không thành công vào năm 1960, thất bại sít sao trước John F. Kennedy, và thất bại khi tranh cử Thống đốc California vào năm 1962. Năm 1968, ông lại tiến hành chiến dịch tranh cử tổng thống và đắc cử.

Nixon ban đầu gia tăng sự tham dự của Hoa Kỳ trong Chiến tranh Việt Nam, song đến năm 1972 thì ông chấm dứt sự tham dự này. Chuyến công du của Nixon đến Trung Quốc vào năm 1972 mở ra những giao thiệp giữa hai quốc gia và cuối cùng dẫn đến bình thường hóa quan hệ ngoại giao. Ông đề xướng chính sách hòa hoãn và ký Hiệp ước Chống tên lửa đạn đạo với Liên Xô trong cùng năm. Về đối nội, chính phủ của ông thường đi theo các chính sách nhằm chuyển giao quyền lực từ trung ương cho các bang. Trong các vấn đề khác, ông đưa ra các sáng kiến nhằm chống ung thư và ma túy bất hợp pháp, áp đặt kiểm soát lương và giá, thúc đẩy cấm chỉ kỳ thị chủng tộc trong các trường học miền Nam, thi hành các cải cách môi trường, và ban hành các điều luật nhằm cải cách y tế và phúc lợi. Ông chỉ huy các cuộc đổ bộ mặt Trăng bằng Apollo 11, thay thế thăm dò không gian có người lái bằng các sứ mệnh con thoi. Ông tái đắc cử vào năm 1972 với chênh lệch phiếu lớn.

Trong thời gian nhiệm kỳ thứ nhì của Nixon, tại Trung Đông xảy ra một cuộc khủng hoảng, dẫn đến một lệnh cấm vận dầu mỏ và tái khởi động tiến trình hòa bình Trung Đông. Cùng với đó là một loạt tiết lộ liên tục về bê bối Watergate, Nixon mất đi phần lớn ủng hộ chính trị của mình khi bê bối leo thang, và đến ngày 9 tháng 8 năm 1974 thì ông từ chức khi phải đối diện với tình hình gần như chắc chắn bị luận tội và bãi chức. Sau khi từ chức, Nixon được người kế nhiệm là Gerald Ford ân xá. Khi về hưu, công việc của Nixon giống như của một nguyên lão, ông là tác giả của chín cuốn sách và thực hiện nhiều chuyến đi ra ngoại quốc, giúp khôi phục hình ảnh công chúng của mình. Ông suy nhược do đột quỵ vào ngày 18 tháng 4 năm 1994, và từ trần 4 ngày sau đó.

Sân bay quốc tế Washington Dulles

Sân bay quốc tế Washington Dulles (tiếng Anh: Washington Dulles International Airport) (IATA: IAD, ICAO: KIAD) phục vụ cho Đại đô thị Washington, D.C. (Vùng đô thị Baltimore-Washington). Tên sân bay này được đặt theo John Foster Dulles - ngoại trưởng Hoa Kỳ dưới thời tổng thống Dwight D. Eisenhower. Đây là sân bay trung tâm của hãng United Airlines và là một thành phố trọng tâm (focus city) của hàng JetBlue Airways.

Sự khởi đầu của hãng Hàng không giá rẻ (low-cost carrier) Independence Air năm 2004 đã khiến Sân bay quốc tế này xếp từ vị trí sân bay bận rộn thứ 24 lên vị trí thứ năm và trở thành một trong 10 Sân bay bận rộn nhất thế giới. Vào những ngày cao điểm nhất, sân bay này phục vụ 600 chuyến bay giá rẻ/ngày. Hãng Independence, kết hợp dịch vụ của các hãng hàng không JetBlue và AirTran, đã khiến cho Dulles trở thành trung tâm của các hãng hàng không giá rẻ lớn nhất Hoa Kỳ. Hiện tại, trong một ngày điển hình, sân bay Dulles phục vụ 1800 đến 2000 chuyến bay – so với 1000 đến 1200 chuyến/ngày năm 2003. Đây là sân bay cửa ngõ cho các chuyến bay xuyên Đại Tây Dương ở bờ đông Hoa Kỳ. Gần đây, với sự nhượng lại của hãng Independence Air, JetBlue đã dần dần mở rộng hoạt động focus city tại sân bay Dulles bằng 6 chuyến bay thẳng hàng ngày đến Boston và Thành phố New York. Hãng này cũng phục vụ các chuyến bay thẳng đến Long Beach, Oakland, Ft. Lauderdale, Las Vegas, West Palm Beach và San Diego, khiến cho JetBlue trở thành hãng lớn thứ 2 tại sân bay Dulles xét về các điểm đến trực tiếp. Diện tích của sân bay là 13.000 mẫu Anh (52,6 km²) đất, cách trung tâm thủ đô Washington 26 dặm (41,6 km), nằm giữa biên giới 2 hạt (county – tương đương cấp tỉnh) Hạt Fairfax và Hạt Loudoun, tiểu bang Virginia. Sân bay này tọa lạc một phần ở Chantilly và một phần ở Dulles (Virginia), phía tây Herndon và tây nam Sterling. Năm 1958, làng Willard đã được giải toả để xây sân bay này. Sân bay quốc tế Washington Dulles do Cơ quan quản lý sân bay vùng đô thị Washington (Metropolitan Washington Airports Authority) (MWAA) vận hành và quản lý. Năm 2005, sân bay này phục vụ 25 triệu khách. Vào một ngày điển hình, hơn 60.000 hành khách đi qua Washington Dulles đến và từ hơn 125 điểm đến trên khắp thế giới.

Trại David

Cơ sở Hỗ trợ Hải quân Thurmont (Naval Support Facility Thurmont), thường được biết đến với cái tên Trại David, là một trại quân sự trên núi ở Quận Frederick, tiểu bang Maryland. Trại được sử dụng làm một nơi nghỉ ngơi miền quê của Tổng thống Hoa Kỳ và những khách mời của mình.

Ban đầu mang tên Hi-Catoctin, Trại David được xây dựng làm doanh trại cho các viên chức liên bang và gia đình của họ. Nó bắt đầu được xây dựng vào năm 1935 và mở cửa vào năm 1938. Năm 1942 nó được sửa sang thành một nơi nghỉ ngơi của tổng thống Franklin D. Roosevelt và được đổi tên thành U.S.S. Shangri-La. Trại David có được cái tên hiện nay là do Tổng thống Dwight D. Eisenhower đặt theo tên cháu nội của ông là David Eisenhower.

Đế quốc Anh

Đế quốc Anh (tiếng Anh: British Empire) bao gồm các quốc gia tự trị, các thuộc địa, các lãnh thổ bảo hộ, các lãnh thổ ủy thác và các lãnh thổ khác do Anh cai trị và quản lý. Đế quốc Anh khởi nguồn với các thuộc địa và trạm mậu dịch hải ngoại do Anh thiết lập từ cuối thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XVIII. Vào giai đoạn đỉnh cao của nó, đây là đế quốc hùng mạnh nhất trong lịch sử và là thế lực đứng đầu toàn cầu trong hơn một thế kỷ. Đến năm 1913, Đế quốc Anh cai trị khoảng 412,2 triệu người, chiếm 23% dân số thế giới lúc đó và bao phủ diện tích hơn 35.500.000 km², gần một phần tư tổng diện tích toàn cầu. Do vậy, những di sản về văn hóa, ngôn ngữ, luật pháp của Đế quốc Anh được truyền bá rộng rãi. Vào thời điểm nó đạt tới đỉnh cao của quyền lực, Đế quốc Anh thường được ví với câu nói "đế quốc có mặt trời không bao giờ lặn" bởi vì sự mở rộng cương thổ ra toàn địa cầu đồng nghĩa với việc mặt trời luôn chiếu sáng trên ít nhất một trong những vùng lãnh thổ của nó.

Trong suốt Thời đại Khám phá vào thế kỷ XV và XVI, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha là hai quốc gia châu Âu đi tiên phong trong phong trào thám hiểm thế giới và trong quá trình đó họ đã thiết lập các đế quốc hải ngoại lớn. Đố kỵ với sự thịnh vượng vô cùng lớn mà hai đế quốc thực dân này giành được, các nước Anh, Pháp và Hà Lan bắt đầu thiết lập các thuộc địa và các mạng lưới mậu dịch của họ tại châu Mỹ và châu Á. Một loạt cuộc chiến với Pháp và Hà Lan trong thế kỷ XVII và XVIII đã giúp Anh trở thành một cường quốc chi phối thống trị tại Bắc Mỹ và Ấn Độ. Nhưng đồng thời, uy thế của nước Anh (và cả Pháp) bị hạn chế tại châu Âu sau năm 1763, trước sự phát triển lớn mạnh của các cường quốc phía Đông như Phổ, Áo và Nga.Sự kiện Mười ba thuộc địa tại Bắc Mỹ giành được độc lập vào năm 1783 sau cuộc Chiến tranh Cách mạng Mỹ khiến cho nước Anh mất đi một số thuộc địa lâu đời nhất và đông dân nhất của mình. Ngay sau đó nước Anh nhanh chóng chuyển sự quan tâm sang châu Phi, châu Á và Thái Bình Dương. Sau thất bại của nước Pháp trong cuộc chiến tranh Cách mạng Pháp và chiến tranh Napoléon (1792-1815), nước Anh tận hưởng một thế kỷ thống trị hầu như không có đối thủ, và mở rộng phạm vi trên khắp toàn cầu. Địa vị thống trị của Anh sau này được ca ngợi như là Pax Britannica (Thái bình Anh Quốc), một giai đoạn mà châu Âu và thế giới tương đối thái bình (1815–1914), đây là thời điểm mà nước Anh nắm quyền bá chủ toàn cầu và trở thành người canh giữ cho hoà bình thế giới. Vào đầu thể kỷ 19, cuộc Cách mạng công nghiệp bắt đẩu biến đổi nước Anh; tại thời điểm diễn ra cuộc "Đại Triển Lãm" vào năm 1851, nước Anh được ca ngợi như là "công xưởng của thế giới". Đế quốc Anh còn bành trướng đến Ấn Độ, phần lớn Châu Phi và nhiều khu vực khác trên thế giới. Cùng với sự kiểm soát chính thức của nước Anh đối với các thuộc địa riêng của mình, nó còn thống trị gần như toàn bộ nền thương mại của thế giới đồng nghĩa với việc là nó kiểm soát nền kinh tế của nhiều khu vực khác như châu Á và Mỹ Latinh.Tại nước Anh, những quan điểm chính trị đã thay đổi theo hướng ủng hộ chính sách tự do thương mại cùng chính sách tự do và phổ cập hoá đặc quyền bầu cử. Vào thế kỷ XIX, dân số của nước Anh đã gia tăng một cách mạnh mẽ, cùng với đó quá trình đô thị hoá nhanh chóng mà gây nên những căng thẳng nghiêm trọng về cả kinh tế cũng như xã hội. Để tìm kiếm các thị trường và các nguồn tài nguyên mới, Đảng Bảo thủ dưới thời Benjamin Disraeli đã khởi động một kỷ nguyên mới của chủ nghĩa bành trướng đế quốc tại Ai Cập, Nam Phi và nhiều nơi khác. Nhiều thuộc địa như Canada, Úc và New Zealand được trao quyền tự trị, một vài trong số đó được tái phân loại là quốc gia tự trị.Đến đầu thế kỷ XX, sự phát triển lớn mạnh của Đức và Hoa Kỳ làm xói mòi phần nào vị thế dẫn đầu về kinh tế của nước Anh. Chính sách đối ngoại của Anh quốc tập trung vào mối quan hệ hợp tác chặt chẽ và hữu nghị với Hoa Kỳ, nhưng những căng thẳng về vấn đề ngoại giao và quân sự khiến quan hệ với nước Đức ngày càng trở nên xấu đi và là nguyên nhân chính dẫn đến cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Trong thời kỳ diễn ra cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất, nước Anh đã phải dựa nhiều vào đế quốc của mình về mặt nhân sự cũng như lương thực. Cuộc chiến này đã tạo ra một gánh nặng to lớn cả về mặt quân sự, tài chính và nguồn nhân lực cho nước Anh. Mặc dù sau cuộc chiến này, cương thổ của Đế quốc Anh đã được mở rộng lên tới cực điểm, bản thân nó đã không còn giữ được vị thế như là một cường quốc vô song về quân sự và công nghiệp được nữa. Trong Chiến tranh thế giới lần hai, các thuộc địa của Anh tại Đông Nam Á đã bị Nhật Bản chiếm đóng, điều này đã làm cho uy tín của đế quốc Anh bị suy giảm nghiêm trọng và đẩy nhanh quá trình sụp đổ của đế quốc này. Sau chiến tranh, Anh phải trao quyền độc lập cho thuộc địa đông dân và giá trị nhất là Ấn Độ. Trong những năm còn lại của thế kỷ XX, phần lớn những thuộc địa của Đế quốc Anh giành được độc lập như một phần của phong trào phi thuộc địa hóa từ các cường quốc châu Âu, kết thúc với việc chuyển giao Hồng Kông cho Trung Quốc vào năm 1997. 14 lãnh thổ ở hải ngoại hiện vẫn thuộc chủ quyền của Anh.

Sau độc lập, nhiều cựu thuộc địa của Anh gia nhập Thịnh vượng chung các Quốc gia, một hiệp hội tự do của các quốc gia độc lập. 16 quốc gia có chung một nguyên thủ, Nữ vương Elizabeth II, đó là Vương quốc Khối thịnh vượng chung.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.