David Ricardo

David Ricardo (18 tháng 4 năm 177211 tháng 9 năm 1823) là một nhà kinh tế học người Anh, có ảnh hưởng lớn trong kinh tế học cổ điển sánh ngang cùng Adam SmithThomas Malthus. David Ricardo là người cổ vũ thương mại tự do dựa trên lý luận với lợi thế so sánh. Ông đã tiếp bước Adam Smith và đóng góp lớn vào việc phát triển thuyết giá trị lao động. Các lý luận của ông đã ảnh hưởng đáng kể đến tư tưởng kinh tế của Karl Marx. David Ricardo cũng là một thương gia, chuyên gia tài chính, nhà đầu cơ, ông được coi là người đã tích lũy được một tài sản lớn.

David Ricardo
David ricardo
David Ricardo
Sinh14 tháng 4, 1772
Luân Đôn, Anh
Mất11 tháng 9, 1823 (51 tuổi)
Gloucestershire, Anh

Đời sống cá nhân

Ricardo - Opere, 1852 - 5181784
Works, 1852

Ricardo sinh ra ở London, là con thứ ba trong số bảy người con của một gia đình người Do Thái nhập cư từ Hà Lan đến Đế quốc Anh trước khi ông được sinh ra. Khi 14 tuổi, sau một khóa học ngắn ở Hà Lan, Ricardo đã tham gia công việc cùng với cha của ông ở Sở giao dịch chứng khoán London, nơi ông bắt đầu học về các công việc tài chính. Đây là nền tảng cho các thành công sau đó của ông trong thị trường chứng khoán và kinh doanh bất động sản.

Các tư tưởng

Tác phẩm nổi tiếng nhất của Ricardo là Principles of Political Economy and Taxation (Những nguyên lý của kinh tế chính trị và thuế khóa). Ricardo đưa ra trong chương đầu tiên với một công bố về thuyết giá trị lao động. Trong phần sau của chương này, ông giải thích về việc giá cả không phù hợp, tương ứng với giá trị. Ricardo cũng đã phân tích và đi tới kết luận rằng khi dân số gia tăng thì địa tô cũng gia tăng theo. Trong tác phẩm này, Ricardo còn đưa ra luận điểm rằng một hệ thống thương mại tự do cho tất cả các quốc gia sẽ đem lại lợi ích cho mỗi quốc gia.

Xem thêm

Liên kết ngoài

Chủ nghĩa Marx

Chủ nghĩa Marx (còn viết là chủ nghĩa Mác hay là Mác-xít) là hệ thống học thuyết triết học, lịch sử và kinh tế chính trị dựa trên các tác phẩm của Karl Marx (1818–1883) và Friedrich Engels (1820–1895). Từ khi tập ba của tác phẩm "Tư bản" (Das Kapital) được xuất bản năm 1895, những người Marxist đã cố gắng tích hợp các ý tưởng trong đó vào trong một phương án chung phục vụ cho việc xây dựng một trật tự xã hội mới được gọi là xã hội chủ nghĩa hay cộng sản chủ nghĩa.

Từ thời gian đó đã phát triển nhiều khuynh hướng chịu ảnh hưởng chủ nghĩa Marx khác nhau mà mỗi một khuynh hướng đều tự nhận chính mình là kế thừa của "các nhà kinh điển" và phân rõ ranh giới lẫn nhau, trong đó có:

Phong trào Dân chủ Xã hội mà Chủ nghĩa Marxist Áo (Austromarxism) là một hình thức đặc biệt. Hiện nay một số đảng dân chủ xã hội hay nhóm cánh tả trong phong trào này các nước ở phương Tây đều công nhận các mô hình xã hội tiến bộ trong học thuyết Marx, nhưng chủ trương xây dựng xã hội mới bằng biện pháp đấu tranh hòa bình qua thời gian dài để thúc đẩy tiến hóa xã hội. Tiêu biểu cho khuynh hướng này là một số trong số các đảng Dân chủ xã hội ở châu Âu và một số nước khác.

Chủ nghĩa Lenin (Chủ nghĩa Marx-Lenin) và các khuynh hướng dựa trên chủ nghĩa Lenin như chủ nghĩa Stalin, chủ nghĩa Trotsky, chủ nghĩa Mao, chủ trương xây dựng xã hội mới bằng biện pháp cách mạng, thành lập nhà nước mới. Tiêu biểu cho khuynh hướng này là các đảng Cộng sản tại các nước trên thế giới. Các đảng Cộng sản thường có quan hệ đồng minh với các đảng Dân chủ xã hội ở trên (do cùng chia sẻ học thuyết Marx), tạo nên lực lượng chính trị được gọi chung là cánh tả.

Chủ nghĩa cộng sản Tây Âu (Eurocommunism) là khuynh hướng cộng sản tại Tây Âu đã từ bỏ ý tưởng thực hiện cách mạng bạo lực để tạo ra nhà nước chuyên chính vô sản. Khuynh hướng chính trị này chấp nhận nền dân chủ phương Tây và chủ trương tiến đến chủ nghĩa cộng sản bằng các biện pháp cải cách xã hội.

Chủ nghĩa Tân Marxist (Neomarxism) hay Chủ nghĩa Hậu Marxist (Postmarxism) dưới nhiều hình thức khác nhau như Trường phái Frankfurt (Frankfurt School).

Chủ nghĩa tự do cổ điển

Chủ nghĩa tự do cổ điển là một ý thức hệ chính trị và là một nhánh của chủ nghĩa tự do vận động cho tự do dân sự và tự do chính trị với nền dân chủ đại nghị dưới pháp quyền và nhấn mạnh tự do kinh tế được định nghĩa trong chủ nghĩa tự do kinh tế hay còn gọi là chủ nghĩa tư bản thị trường tự do.Chủ nghĩa tự do cổ điển được phát triển tại châu Âu và Hoa Kỳ vào thế kỷ 19. Mặc dù được hình thành từ những ý tưởng đã được khai triển tại thời điểm cuối thế kỷ 18 nhưng chủ nghĩa tự do cổ điển cổ súy một dạng cụ thể của xã hội, chính phủ và chính sách công như là một phản ứng với cuộc Cách mạng Công nghiệp và đô thị hóa. Trong số các nhân vật nổi bật đóng góp cho chủ nghĩa tự do cổ điển có John Locke, Jean-Baptiste Say, Thomas Malthus, và David Ricardo. Nó dựa trên kinh tế học của Adam Smith và niềm tin vào luật tự nhiên, chủ nghĩa vị lợi, và tiến bộ.

Danh sách các nhà kinh tế học

Dưới đây là danh sách các nhà kinh tế học nổi bật được xếp theo thứ tự chữ cái, đây được xem là các chuyên gia về kinh tế

Franz Oppenheimer

Franz Oppenheimer (30 tháng 3 năm 1864 – 30 tháng 9 năm 1943) là một bác sĩ, kinh tế gia xã hội và nhà xã hội người Đức gốc Do thái mà cũng viết sách trong lãnh vực căn bản xã hội học của nhà nước.

Hàng hóa

Về hàng hóa hữu hình, xem Vật phẩm

Hàng hóa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi hay buôn bán.

Hàng hóa toàn cầu

Trong kinh tế, hàng hóa là một mặt hàng có thể trao đổi được sản xuất để thỏa mãn các mong muốn hoặc nhu cầu. Hàng hóa toàn cầu gồm hàng hóa và dịch vụ.Ý nghĩa đặc biệt hơn của thuật ngữ hàng hóa toàn cầu chỉ được áp dụng cho hàng hóa kinh tế. Nó được dùng để mô tả một lớp các hàng hóa có nhu cầu đối với chúng, nhưng chúng được cung cấp không xét đến sự khác biệt phẩm chất across một thị trường. Một hàng hóa toàn cầu có đầy đủ hoặc một phần tính có thể thay thế, nghĩa là thị trường xử lý các trường hợp của nó tương đương hoặc gần như tương đương không có liên quan đến những người sản xuất ra chúng. "Từ hương vị của lúa mì không thể nói ai là người tạo ra nó, một nông nô Nga, một nông dân Pháp hay một tư sản Anh."

Dầu mỏ và đồng là các ví dụ khác của những hàng hóa toàn cầu như vậy, cung và cầu của chúng là một phần của một thị trường toàn cầu. Các món hàng như các hệ thống âm thanh nổi, mặt khác, có nhiều khía cạnh của sản phẩm khác biệt, chẳng hạn như thương hiệu, giao diện người dùng và chất lượng cảm nhận. Nhu cầu về một loại hệ thống âm thanh nổi cụ thể có thể lớn hơn nhiều so với nhu cầu cho một hệ thống khác.

Ngoài ra, theo Karl Makr: " Một đơn vị hàng hóa có thể có nhiều giá trị sử dụng tùy thuộc vào người dùng hàng hóa đó "

In contrast, một trong những đặc trưng của hàng hóa toàn cầu là giá cả của nó được xác định như một hàm của toàn bộ thị trường của nó. Các hàng hóa toàn cầu vật chất đã được thiết lập tốt có các thị trường giao ngay và phái sinh trao đổi tích cực. Nói chung, chúng là các tài nguyên cơ bản và các sản phẩm nông nghiệp như quặng sắt, dầu thô, than đá, muối, đường, trà, hạt cà phê, đậu tương, nhôm, đồng, gạo, lúa mì, vàng, bạc, pa-la-đi, và platinum. Các hàng hóa toàn cầu mềm là các hàng hóa được trồng trọt, trong khi các hàng hóa toàn cầu cứng là các hàng hóa được khai thác bằng cách khai khoáng.

Có một lớp hàng hóa năng lượng quan trọng khác bao gồm điện năng, khí đốt, than đá và dầu. Điện năng có đặc điểm riêng là nó thường không kinh tế nếu tích trữ; do vậy, điện năng phải được tiêu thụ ngay khi nó được sản xuất.

Hàng hóa toàn cầu hóa xảy ra khi một thị trường hàng hóa hoặc dịch vụ đánh mất sự khác biệt across cơ sở cung của nó, thường bởi sự khuếch tán của vốn trí tuệ cần thiết để thu mua hoặc sản xuất nó một cách hiệu quả. As such, những hàng hóa mà formerly carried premium margins đối với những người tham gia thị trường đã trở thành hàng hóa toàn cầu, chẳng hạn như generic pharmaceuticals và các chíp DRAM. Một ví dụ khác được đề xuất bởi New York Times là bổ sung vitamin tổng hợp, một mg 50 của canxi có giá trị tương đương với một người tiêu dùng không có vấn đề gì công ty sản xuất và thị trường nó, và như vậy, vitamin tổng hợp hiện đang được bán với số lượng lớn và có sẵn tại siêu thị bất kỳ với rất ít sự khác biệt giữa các thương hiệu.

Có một quang phổ của thương mại hóa, chứ không phải là một sự phân biệt nhị phân của "hàng hóa so với sản phẩm vi". Vài sản phẩm có tính không khác biệt đầy đủ và do đó tính có thể thay thế, thậm chí điện có thể được phân biệt trên thị trường dựa trên phương pháp phát điện (ví dụ, nhiên liệu hóa thạch, gió, năng lượng mặt trời). Mức độ nhiều sản phẩm của thương mại hóa phụ thuộc vào tâm lý và phương tiện của người mua. Ví dụ, sữa, trứng, và giấy máy tính xách tay được coi là của nhiều khách hàng như hoàn toàn không thể khác biệt và có thể thay thế, giá thấp nhất là yếu tố duy nhất quyết định trong việc lựa chọn mua. Khách hàng khác đi vào xem xét các yếu tố khác bên cạnh giá cả, chẳng hạn như tính bền vững môi trường và phúc lợi động vật. Cho các khách hàng, phân biệt như "hữu cơ so với không" hoặc "lồng miễn phí so với không" được tính vào sự khác biệt thương hiệu sữa hoặc trứng, và tỷ lệ tái chế hoặc cấp giấy chứng nhận hội đồng lâm nghiệp được tính vào việc phân biệt thương hiệu của giấy sổ tay.

Học thuyết giá trị lao động

Học thuyết giá trị lao động là một trong những học thuyết kinh tế về giá trị. Theo học thuyết này, giá trị của hàng hóa là do lượng lao động cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó quyết định.

Người đặt nền móng đầu tiên cho học thuyết này là William Petty và John Locke. Adam Smith và David Ricardo là những người có đóng góp lớn cho học thuyết giá trị lao động.Căn cứ vào sự khác nhau giữa tiền công lao động và giá trị của sản phẩm, các "nhà chủ nghĩa xã hội Ricardo" - Charles Hall, Thomas Hodgskin, John Gray, và John Francis Bray - đã áp dụng lý thuyết của Ricardo để phát triển lý thuyết về bóc lột. Karl Marx đã phát triển các ý tưởng này, cho rằng một phần lao động trong ngày làm việc của công nhân để trang trải cho chính tiền công mà nhà tư bản trả cho họ, trong khi phần còn lại của lao động của họ trong ngày đã làm giàu cho nhà tư bản. Học thuyết giá trị lao động cùng với các lý luận khác về bóc lột trở thành trung tâm tư tưởng kinh tế của Marx.

Kinh tế học

Kinh tế học là môn khoa học xã hội nghiên cứu sự sản xuất, phân phối và tiêu dùng các loại hàng hóa và dịch vụ. Kinh tế học cũng nghiên cứu cách thức xã hội quản lý các nguồn tài nguyên (nguồn lực) khan hiếm của nó. Nghiên cứu kinh tế học nhằm mục đích giải thích cách thức các nền kinh tế vận động và cách tác nhân kinh tế tương tác với nhau. Các nguyên tắc kinh tế được ứng dụng trong đời sống xã hội, trong thương mại, tài chính và hành chính công, thậm chí là trong ngành tội phạm học, giáo dục, xã hội học, luật học và nhiều ngành khoa học khác.

Kinh tế học quốc tế

Kinh tế học quốc tế là một bộ môn khoa học, một chuyên ngành của kinh tế học nghiên cứu sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa các quốc gia. Kinh tế học quốc tế được phát triển suốt từ thế kỷ XVIII và đã quy tụ được nhiều học giả kinh tế học nổi tiếng như Adam Smith, David Ricardo, John Stuart Mill, Alfred Marshall, John Maynard Keynes, và Paul A. Samuelson. Tuy nhiên, chỉ từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, với việc ứng dụng các công cụ kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô, kinh tế học quốc tế mới trở nên phát triển sâu và rộng.

Kinh tế học tân cổ điển

Kinh tế học tân cổ điển là một trường phái kinh tế học có trọng tâm nghiên cứu là cơ chế quyết định giá cả, sản lượng, phân phối thu nhập thông qua nguyên lý cung - cầu dựa trên các giả định về hành vi tối đa hóa thỏa dụng của người tiêu dùng trong điều kiện một ngân sách giới hạn hay tối đa hóa lợi nhuận của nhà sản xuất trong điều kiện chi phí bị giới hạn. Kinh tế học tân cổ điển khởi đầu bằng kinh tế học vi mô từ nửa cuối thế kỷ 19; và đến nay hầu hết các lý luận kinh tế học vi mô đều là do họ đóng góp. Kinh tế học tân cổ điển đóng góp vào kinh tế học vĩ mô chủ yếu từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Nó phối hợp với kinh tế học Keynes để tạo ra cái gọi là Trường phái kinh tế học vĩ mô tổng hợp.

Lịch sử tư tưởng kinh tế

Lịch sử tư tưởng kinh tế là lịch sử của các nhà tư tưởng và học thuyết kinh tế chính trị và kinh tế học từ thời cổ đại đến ngày nay. Lịch sử tư tưởng kinh tế gồm nhiều trường phái tư tưởng kinh tế khác nhau. Các tác gia Hy Lạp cổ đại như triết gia Aristotle xem xét những ý tưởng về nghệ thuật đạt được sự giàu có và nêu ra câu hỏi liệu tài sản tốt nhất là nên nằm trong tay cá nhân hay công cộng. Vào thời Trung cổ, các học giả như Thomas Aquinas tranh luận rằng các doanh nghiệp có nghĩa vụ về mặt đạo đức phải bán hàng hóa ở mức giá công bằng.

Triết gia người Scotland Adam Smith thường được trích dẫn là cha đẻ của kinh tế học hiện đại bởi tác phẩm kinh điển của ông Sự giàu có của các quốc gia. Những ý tưởng của ông được xây dựng dựa trên công trình của những người đi trước trong thế kỷ 18. Cuốn sách của ông xuất hiện vào thời kỳ ngay trước cuộc cách mạng công nghiệp Anh và gắn với nhiều thay đổi lớn trong nền kinh tế.

Những người tiếp nối của Smith bao gồm các kinh tế gia kinh điển như linh mục Thomas Malthus, Jean-Baptiste Say, David Ricardo và John Stuart Mill. Họ tìm hiểu cách mà các giai cấp địa chủ, tư bản và người lao động sản xuất và đóng góp vào sản lượng quốc gia và mô hình hóa các ảnh hưởng của dân số và thương mại quốc tế. Tại London, Karl Marx đã nghiên cứu hệ thống tư bản chủ nghĩa mà ông cho rằng có bản chất là sự bóc lột giá trị thặng dư. Từ khoảng năm 1870, các kinh tế gia tân cổ điển tìm cách xây dựng kinh tế học dựa trên toán học và khoa học thống kê tách biệt ra khỏi chính trị.

Sau những cuộc chiến vào đầu thế kỷ 20, John Maynard Keynes dẫn đầu một học thuyết cổ súy cho sự can thiệp của chính quyền vào các vấn đề kinh tế bằng chính sách tài khóa để kích thích nhu cầu và tăng trưởng. Khi thế giới chia rẽ giữa những nước tư bản chủ nghĩa (thế giới thứ nhất), cộng sản chủ nghĩa (thế giới thứ hai) và các nước nghèo (thế giới thứ ba), sự thống nhất thời hậu chiến cũng đổ vỡ. Những kinh tế gia như Milton Friedman và Friedrich von Hayek cảnh báo về việc chính phủ can thiệp quá nhiều và tập trung vào những học thuyết về sự thịnh vượng có thể đạt được thông qua chính sách tiền tệ và giảm bớt luật lệ cũng như can thiệp.

Những chính sách Keynes bắt đầu thất thế từ những năm 1970 với sự xuất hiện của cái gọi là trường phái tân cổ điển, với những nhà lý luận chủ đạo như Robert Lucas và Edward Prescott. Những nhà kinh tế học Keynes mới phản bác lại và gây ra một cuộc tranh luận kéo dài trong kinh tế học vĩ mô. Những nhà kinh tế học phát triển như Amartya Sen và kinh tế học thông tin như Joseph Stiglitz cũng giới thiệu các ý tưởng mới đối với tư tưởng kinh tế.

Mô hình Heckscher-Ohlin

Mô hình Heckscher-Ohlin, nhiều khi được gọi tắt là Mô hình H-O, là một mô hình toán cân bằng tổng thể trong lý thuyết thương mại quốc tế và phân công lao động quốc tế dùng để dự báo xem quốc gia nào sẽ sản xuất mặt hàng nào trên cơ sở những yếu tố sản xuất sẵn có của quốc gia. Eli Heckscher và Bertil Ohlin của Thụy Điển là hai người đầu tiên xây dựng mô hình này, nên mô hình mang tên họ, dù sau này có nhiều người khác tham gia phát triển mô hình. Mô hình dựa vào lý luận về lợi thế so sánh của David Ricardo.

Mô hình ban đầu do Heckscher và Ohlin xây dựng chưa phải là mô hình toán, chỉ giới hạn với hai quốc gia, hai loại hàng hóa có thể đem trao đổi quốc tế và hai loại yếu tố sản xuất (đây là hai biến nội sinh). Vì thế mô hình ban đầu còn được gọi là Mô hình 2 x 2 x 2.

Về sau, mô hình được Paul Samuelson là người đầu tiên áp dụng toán học vào, nên có khi được gọi là Mô hình Heckscher-Ohlin-Samuelson hay Mô hình H-O-S. Jaroslav Vanek mở rộng để áp dụng cho nhiều quốc gia và nhiều sản phẩm, nên cũng thường được gọi là Mô hình Heckscher-Ohlin-Vanek.

Mô hình Heckscher-Ohlin dựa trên các giả thiết sau:

Công nghệ sản xuất cố định ở mỗi quốc gia và như nhau giữa các quốc gia.

Công nghệ đó ở mỗi quốc gia đều có lợi tức theo quy mô cố định.

Lao động và vốn có thể di chuyển tự do trong biên giới mỗi quốc gia, nhưng không thể di chuyển tự do từ quốc gia này sang quốc gia khác.

Cạnh tranh trong nước là hoàn hảo.Mô hình Heckscher-Ohlin phiên bản 2 x 2 x 2 sử dụng hàm Cobb-Douglass vì nó phù hợp với giả thiết về lợi tức theo quy mô không đổi.

Mô hình đưa ra những kết luận sau: Nước nào có nhiều yếu tố đầu vào nào hơn thì nước đó sẽ xuất khẩu các sản phẩm thâm dụng yếu tố đầu vào đó và nhập khẩu các sản phẩm thâm dụng yếu tố đầu vào kia. Kết luận này được kinh tế học gọi là Định lý Heckscher-Ohlin.

Tuy nhiên, nghiên cứu thực nghiệm của Wassily W. Leontief năm 1954 về mô hình Heckscher-Ohlin dùng số liệu thống kê của Hoa Kỳ đã cho thấy dù Hoa Kỳ là nước sẵn vốn hơn là lao động, nhưng nước này vẫn xuất khẩu đáng kể các sản phẩm thâm dụng lao động và nhập khẩu nhiều sản phẩm thâm dụng vốn. Kinh tế học gọi phát hiện này của Leontief là Nghịch lý Leontief. Những nghiên cứu thực nghiệm khác cũng cho thấy mô hình này không được chấp nhận về mặt thống kê, từ đó đề nghị cần điều chỉnh mô hình, cụ thể là thay đổi các giả thiết, nhất là giả thiết về công nghệ.

Phát triển kinh tế

Phát triển kinh tế là quá trình lớn lên, tăng tiến mọi mặt của nền kinh tế. Nó bao gồm sự tăng trưởng kinh tế và đồng thời có sự hoàn chỉnh về mặt cơ cấu, thể chế kinh tế, chất lượng cuộc sống.

Ricardo

Ricardo có thể đề cập đến:

David Ricardo

Ricardo Quaresma

Ricardo Carvalho

Thomas Malthus

Thomas Robert Malthus, (13 tháng 2 năm 1766 – 23 tháng 12 năm 1834), hội viên FRS, là một nhà nhân khẩu học, nhà kinh tế học người Anh. Ông là một trong những đại biểu của kinh tế học cổ điển. Ông sống cùng thời với David Ricardo, là bạn thân và cũng là đối thủ về lý luận của Ricardo. Malthus có nhiều đóng góp vào các học thuyết kinh tế và các đóng góp vào lĩnh vực dân số, đặc biệt là vấn đề sự gia tăng dân số thông qua Thuyết dân số của ông.

Tư bản

Tư bản hay vốn trong kinh tế học là khái niệm để chỉ những vật thể có giá trị, có khả năng đo lường được sự giàu có của người sở hữu chúng. Tư bản là sở hữu về vật chất thuộc về cá nhân hay tạo ra bởi xã hội. Tuy nhiên tư bản có nhiều định nghĩa khác nhau dưới khía cạnh kinh tế, xã hội, hay triết học.

Trong kinh tế học cổ điển, tư bản được định nghĩa là những hàng hóa sẵn có để sử dụng làm yếu tố sản xuất. Với vai trò là yếu tố sản xuất, tư bản có thể là mọi thứ như tiền bạc, máy móc, công cụ lao động, nhà cửa, bản quyền, bí quyết, v.v.. nhưng không bao gồm đất đai và người lao động.

Tư bản ở dạng hàng hóa có được nhờ mua bằng tiền hoặc tư bản vốn. Trong lĩnh vực tài chính và kế toán, khi đề cập đến tư bản là nói đến nguồn lực tài chính, đặc biệt là để bắt đầu hoặc duy trì một công việc kinh doanh, đôi khi còn được gọi là Dòng tiền hay Dòng luân chuyển vốn.

Tư bản (tác phẩm)

Tư bản - Chỉ trích về kinh tế chính trị (tựa đề nguyên bản bằng tiếng Đức Das Kapital - Kritik der politischen Oekonomie) là một tác phẩm về kinh tế chính trị quan trọng của nhà triết học và nhà học thuyết Karl Marx người Đức.

Ông Marx đã cống hiến 20 năm cuộc đời để viết tác phẩm này, nhưng ông chỉ hoàn thành một phần cuốn sách: cuốn thứ nhất, được xuất bản vào ngày 14 tháng 9 năm 1867, viết cho Wilhelm Wolff, phân tích về sự sản xuất của tư bản. Những bản thảo của ông Marx được ông Friedrich Engels sử dụng để xuất bản cuốn thứ 2 và thứ 3 vào năm 1885 và 1894. Những suy nghĩ của ông Marx về lịch sử học thuyết kinh tế được nhà học thuyết xã hội chủ nghĩa người Đức Karl Kautsky xuất bản dưới tiêu đề "Các học thuyết về giá trị thặng dư" (4 tập, 1905-1910).

Qua việc quan sát ngành công nghiệp hiện đại nước Anh, điều kiện làm việc của ngành và các phân tích của nhũng nhà học thuyết đi trước ông về nền kinh tế chính trị (như David Ricardo hoặc Adam Smith), ông Marx chỉ ra bản chất thật của chủ nghĩa tư bản bằng việc nhấn mạnh vào những mâu thuẫn nội tại của hệ thống này.

Chính tác giả coi cuốn sách của ông như "một tên lửa đáng gờm nhất bắn vào giới lãnh đạo của tầng lớp thượng lưu"

Yếu tố sản xuất

Kinh tế học cổ điển phân biệt các yếu tố sản xuất được sử dụng trong sản xuất hàng hóa:

Đất hay các nguồn lực tự nhiên (tài nguyên thiên nhiên) - các sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên chẳng hạn như đất đai và khoáng chất. Chi phí cho việc sử dụng đất là địa tô.

Sức lao động - các hoạt động của con người được sử dụng trong sản xuất. Chi phí thanh toán cho sức lao động là lương.

Tư bản hay vốn - Các sản phẩm do con người làm ra hay công cụ sản xuất) được sử dụng trong sản xuất các sản phẩm khác. Vốn bao gồm máy móc, thiết bị và nhà xưởng. Trong ý nghĩa chung, chi phí thanh toán cho vốn gọi là lãi suất.

Doanh nhân khởi nghiệpCác yếu tố này lần đầu tiên được hệ thống hóa trong các phân tích của Adam Smith, 1776, David Ricardo, 1817, và sau này được John Stuart Mill đóng góp như là một phần của lý thuyết chặt chẽ về sản xuất trong kinh tế chính trị.

Trong các phân tích cổ điển, tư bản nói chung được xem như là các vật thể hữu hình như máy móc, thiết bị, nhà xưởng. Với sự nổi lên của kinh tế tri thức, các phân tích hiện đại hơn thông thường phân biệt tư bản vật lý này với các dạng khác của tư bản chẳng hạn như "tư bản con người" (thuật ngữ kinh tế để chỉ giáo dục, kiến thức hay sự lành nghề).

Ngoài ra, một số nhà kinh tế khi nói tới các kinh doanh còn có khái niệm khả năng tổ chức, tư bản cá nhân hoặc đơn giản chỉ là "khả năng lãnh đạo" như là yếu tố thứ tư. Tuy nhiên, điều này dường như là một dạng của sức lao động hay "tư bản con người". Khi có sự phân biệt, chi phí cho yếu tố này của sản xuất được gọi là lợi nhuận.

Học thuyết kinh tế cổ điển sau này đã được phát triển xa hơn nữa và vẫn giữ được tác dụng cho tới ngày nay như là nền tảng cho kinh tế vi mô.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.