Dãy núi Atlas

Dãy núi Atlas (tiếng Berber: idurar n Watlas, tiếng Ả Rập: جبال الأطلس) là một dãy núi ven biển tây bắc châu Phi kéo dài khoảng 2.500 km (1.500 dặm) qua Maroc, Algérie, và Tunisia. Đỉnh cao nhất là ngọn núi Toubkal, với độ cao 4.167 mét (13.671 ft) so với mặt nước biển ở phía tây nam Maroc. Dãy núi Atlas phân cách đường bờ biển Địa Trung HảiĐại Tây Dương với sa mạc Sahara. Dân cư vùng núi Atlas chủ yếu là người Berber. Từ "núi" trong một số ngôn ngữ Berber là Adraradras, được cho là nguồn gốc tên của địa danh này.

Những ngọn núi ở đây là nhà của một số loài thực vật và động vật duy nhất ở châu Phi, rất nhiều trong số đó là nguy cơ tuyệt chủng và một số đã tuyệt chủng.

Dãy núi Atlas
Range
Tizi'n'Toubkal
Jbel Toubkal in Toubkal National Park in the High Atlas
Các quốc gia Maroc, Algérie, Tunisia
Điểm cao nhất Jbel Toubkal
 - cao độ 4.167 m (13.671 ft)
 - tọa độ 31°03′43″B 07°54′58″T / 31,06194°B 7,91611°T
Niên đại Precambrian
Vị trí dãy núi Atlas (màu đỏ)tại Bắc Phi
Vị trí dãy núi Atlas (màu đỏ)tại Bắc Phi
Atlas (thần thoại)

Atlas (tiếng Hy Lạp: Ἄτλας) là một vị thần khổng lồ trong thần thoại Hy Lạp, người nâng đỡ bầu trời. Dù tên tuổi gắn liền với rất nhiều địa danh, ông thường được nhận biết với dãy núi Atlas ở tây bắc châu Phi. Atlas là con trai của thần Iapetus

và nữ thần Asia.

Hyginus nhấn mạnh bản chất nguyên thủy của Atlas bằng cách biến ông trở thành con trai của Aether và Gaia. Ông có ba người anh em là Prometheus, Epimetheus và Menoetius.

Báo Barbary

Báo Barbary hoặc báo Bắc Phi từ dãy núi Atlas của Bắc Phi đã bước đầu được mô tả như là một phân loài báo (Panthera pardus panthera) vào cuối thế kỷ thứ 18. Sau khi phân tích di truyền trong những năm 1990, quần thể này được nhóm với báo châu Phi (P. p. pardus).

Phân loài này rất hiếm ở Bắc Phi. Chỉ có các quần thể nhỏ vẫn tồn tại dãy núi Atlas của Morocco và Algeria trong thảo nguyên rừng và núi ở độ cao từ 300 đến 2.500 m nơi có khí hậu ôn đới lạnh. Khỉ Barbary cũng sống trong này khu vực và môi trường sống.

Bắc Phi

Bắc Phi là khu vực cực Bắc của lục địa châu Phi, ngăn cách với khu vực châu Phi hạ Sahara bởi sa mạc Sahara. Về mặt địa lý, định nghĩa của Liên hiệp quốc về Bắc Phi bao gồm bảy khu vực:

Tunisia

Algérie

Ai Cập

Libya

Maroc

Sudan

Tây SaharaNhững vùng đất thuộc chủ quyền Tây Ban Nha (plazas de soberanía) nằm ở phía nam Địa Trung Hải và được bao bọc bởi Maroc trên đất liền. Quần đảo Canary thuộc Tây Ban Nha và quần đảo Madeira thuộc Bồ Đào Nha nằm ở phía bắc Đại Tây Dương và tây bắc của lục địa châu Phi đôi khi cũng được tính là thuộc vùng này. Về mặt địa lý, Mauritanie và Açores đôi khi cũng được tính là thuộc Bắc Phi.

Khu vực Maghreb bao gồm Tây Sahara, Maroc, Algérie và Libya. Bắc Phi thường được tính trong những định nghĩa phổ thông là cũng thuộc Trung Đông, vì hai vùng Bắc Phi và Trung Đông tạo nên thế giới Ả Rập. Ngoài ra, bán đảo Sinai thuộc Ai Cập nằm ở châu Á, khiến Ai Cập trở thành một quốc gia liên châu lục. Khu vực tranh chấp Tây Sahara hiện thuộc quyền kiểm soát về hành chính của Maroc; nhưng tổ chức ly khai Polisario Front cũng tuyên bố chủ quyền ở khu vực này và đấu tranh để tách vùng Tây Sahara khỏi Maroc.

Ectoedemia algeriensis

Ectoedemia algeriensis là một loài bướm đêm thuộc họ Nepticulidae. Loài này có ở Algérie, dãy núi Atlas ở Maroc và ở miền nam Pháp.

Sải cánh dài 5-5.6 mm. Con trưởng thành bay vào tháng 6. Có thể có một lứa một năm.

Ấu trùng ăn Quercus coccifera, Quercus ilex, Quercus ilex rotundifolia và Quercus suber. Chúng ăn lá nơi chúng làm tổ. The mine consists of a contorted corridor, often following a vein for some distance. The frass is black và leaves narrow clear margins.

Hemaris aksana

Hemaris aksana là một loài bướm đêm thuộc họ Sphingidae. Loài này có ở Middle và High dãy núi Atlas của Maroc. The habitat consists of flower-rich meadows có khoảng 1,300 và 2,500 mét.

Sải cánh khoảng 44–51 mm. Cá thể trưởng thành mọc cánh vào tháng 3, tháng 6 và tháng 8. At higher altitude, Loài bướm này bay the latter half of tháng 5 hoặc tháng 6.

Ấu trùng được ghi nhận ăn các loài Scabiosa.

Hươu đỏ

Hươu đỏ (danh pháp hai phần: Cervus elaphus) là một trong những loài hươu lớn nhất. Tùy thuộc vào phân loại, hươu đỏ sinh sống ở phần lớn châu Âu, khu vực dãy núi Caucasus, Tiểu Á, một số khu vực của Tây Á và Trung Á. Nó cũng sinh sống trong khu vực dãy núi Atlas giữa Maroc và Tunisia ở phía tây bắc châu Phi, là loài duy hươu duy nhất sinh sống ở châu Phi. Hươu đỏ đã được du nhập đến các khu vực khác bao gồm Úc, New Zealand và Argentina. Ở nhiều nơi trên thế giới thịt hươu đỏ được sử dụng như một nguồn thực phẩm.

Hươu đỏ là động vật nhai lại, đặc trưng bởi số ngón chân chẵn, và dạ dày bốn ngăn. Bằng chứng di truyền cho thấy hươu đỏ (Cervus elaphus) như định nghĩa truyền thống là một nhóm các loài chứ không phải là loài duy nhất, mặc dù nó vẫn còn tranh chấp một cách chính xác có bao nhiêu loài nhóm này bao gồm Tổ tiên của tất cả hươu đỏ có thể có nguồn gốc ở Trung Á và có lẽ giống như hươu Sika..

Mặc dù tại một thời điểm hươu đỏ là hiếm ở một số khu vực, chúng không bao giờ gần đến tuyệt chủng. Quá trình tái du nhập và bảo tồn khu vực sinh sống, đặc biệt là ở Anh, đã dẫn đến sự gia tăng dân số của hươu đỏ, trong khi các khu vực khác, chẳng hạn như Bắc Phi, đã tiếp tục cho thấy một sự suy giảm dân số.

Jordanita benderi

Jordanita benderi là một loài bướm đêm thuộc họ Zygaenidae. Nó được tìm thấy ở dãy núi Atlas cao ở Maroc.

Chiều dài cánh trước là 11,6-14,6 mm đối với con đực và 9,2 mm đối với con cái. Con trưởng thành bay từ tháng 3 đến đầu tháng 5.

Ấu trùng có thể ăn loài Carthamus lanatus.

Jordanita carolae

Jordanita carolae là một loài bướm đêm thuộc họ Zygaenidae. Nó được tìm thấy ở tây nam dãy núi Atlas ở Maroc trên độ cao từ 1.000 đến 1.500 mét.

Chiều dài cánh trước là 8,2-9,1 mm đối với con đực and 8-8,5 mm đối với con cái. Con trưởng thành bay từ cuối tháng 4 đến cuối tháng 5.

Ấu trùng có thể ăn Echinops spinosus. Khi lớn hẳn, chúng ăn lá cây nơi chúng làm tổ.

Jordanita maroccana

Jordanita maroccana là một loài bướm đêm thuộc họ Zygaenidae. Nó được tìm thấy ở dãy núi Atlas trung ở Maroc. Nó được thấy ở độ cao 2.000 meters.

Chiều dài cánh trước là 11,1-12,3 mm đối với con đực và 10,5–12 mm đối với con cái. Con trưởng thành bay từ tháng 4 đến đầu tháng 6.

Ấu trùng có thể ăn các loài Carthamus.

Jordanita minutissima

Jordanita minutissima là một loài bướm đêm thuộc họ Zygaenidae. Nó được tìm thấy ở dãy núi Atlas Sahara và dãy núi Aurès.

Chiều dài cánh trước là 6,5–7 mm đối với con đực và con cái. Con trưởng thành bay từ tháng 5 đến tháng 6.

Ấu trùng có thể ăn các loài Carthamus hoặc Echinops.

Khu vực sinh thái

Một khu vực sinh thái hay vùng địa sinh (tiếng Anh: ecozone) là cách phân chia bề mặt Trái Đất theo địa sinh. Trái Đất phân ra thành các vùng địa sinh dựa vào lịch sử và sự tiến hóa của thực vật và động vật.

Laothoe austanti

Laothoe austanti là một loài bướm đêm thuộc họ Sphingidae. Nó được tìm thấy ở dãy núi Atlas và coastal plains của Maroc, miền bắc Algérie và Tunisia và the neighbouring desert areas. The habitat consists of cây bạch dương- và cây liễu-lined streams và rivers.

Sải cánh dài 95–120 mm. Nó lớn hơn và thường nhạt hơn loài tương tự Laothoe populi.

There are usually two generations per year, con trưởng thành bay từ tháng 4 đến tháng 5 và again từ tháng 7 đến tháng 8. Trong vài năm có một thế hệ thứ ba.

Ấu trùng ăn các loài Salix và Populus.

Macaca sylvanus

Macaca sylvanus là một loài động vật có vú trong họ Cercopithecidae, bộ Linh trưởng. Loài này được Linnaeus mô tả năm 1758.

Đây là loài Macaca duy nhất có phạm vi phân bố ngoài châu Á và với dấu vết đuôi của chúng. Loài này được tìm thấy tại dãy núi Atlas ở Algeria và Morocco cùng với một dân số nhỏ mà đã được du nhập từ Morocco đến Gibraltar, khỉ Barbary là một trong những loài khỉ Cựu thế giới nổi bật nhất.

Maghreb

Vùng Maghreb (tiếng Ả Rập: المغرب العربي al-Maġrib al-ʿArabī; có nghĩa là "nơi mặt trời lặn" hay "phương tây") thường được dùng để đề cập đến các quốc gia Maroc, Algérie, Tunisia và Libya. Trong tiếng Ả Rập cổ, từ Maghreb đề cập đến khu vực bao gồm dãy Atlas và đồng bằng ven Địa Trung Hải của các quốc gia trên. Về mặt lịch sử đôi khi người ta cũng tính Tây Ban Nha thuộc vùng này, đặc biệt là trong giai đoạn đất nước này bị người Hồi giáo xâm lăng và thống trị.

Ngăn cách một phần với phần còn lại của lục địa châu Phi bởi dãy núi Atlas và sa mạc Sahara, vùng Maghreb từ lâu đã là một vùng biệt lập điển hình về thời tiết, đất đai, con người, kinh tế và lịch sử với những ảnh hưởng từ Địa Trung Hải lớn hơn so với phần còn lại của châu Phi. Tuy nhiên, vùng này cũng có những liên hệ với vùng châu Phi hạ Sahara về con người, thương mại và các ảnh hưởng tôn giáo. Vùng này từng được thống nhất thành một thực thể chính trị duy nhất trong những năm đầu tiên khi người Ả Rập thống trị Bắc Phi (vào đầu thế kỷ 8) và lần thứ hai dưới sự cai trị của Almohads (1159 – 1229).

Liên đoàn Maghreb Ả Rập được thành lập vào năm 1989 để phát triển hợp tác và liên kết giữa các quốc gia Ả rập ở Bắc Phi. Những thành viên của liên đoàn này bao gồm Maroc, Algérie, Tunisia, Libya và gần đây là Mauritanie. Là ý tưởng ban đầu của Muammar al-Qaddafi để thành lập một siêu liên bang Ả Rập, tổ chức này được kỳ vọng sẽ dần xây dựng được một thị trường chung cho khu vực Bắc Phi. Bất chấp những bất ổn về kinh tế và chính trị trong vùng, đặc biệt là tại Algérie, tổ chức này đã đạt được nhiều tiến bộ với các mục tiêu chung.

Marrakech

Marrakesh ( or ; tiếng Ả Rập: مراكش‎ Murrākuš; Berber: ⴰⵎⵓⵔⴰⴽⵓⵛ Meṛṛakec, tiếng Pháp: Marrakech) là một thành phố lớn của Vương quốc Maroc. Đây là thành phố lớn thứ tư của đất nước, sau Casablanca, Fes và Tangier. Đây là thủ phủ của vùng Marrakesh-Safi ở miền trung tây nam Maroc. Nằm ở phía bắc của Dãy núi Atlas phủ đầy tuyết, Marrakesh nằm cách Tangier 580 km (360 mi) về phía tây nam, cách thủ đô Rabat 327 km (203 mi) về phía tây nam, cách Casablanca 239 km (149 mi) về phía nam, và cách Agadir 246 km (153 mi) về phía đông bắc. Điều tra dân số năm 2014 của thành phố là 928.850 người.Marrakesh là thành phố quan trọng thứ hai trong số thành phố cổ của Maroc, chỉ sau Fes. Thành phố này là nơi được những Người Berber sinh sống từ Thời đại đồ đá mới, nhưng thành phố thực sự được thành lập vào năm 1062 bởi Abu Bakr ibn Umar, vị thủ lĩnh và là anh em họ của vua Almoravid Yusuf ibn Tashfin. Vào thế kỷ thứ 12, người Almoravid đã xây dựng nhiều Madrasa và nhà thờ Hồi giáo tại Marrakesh, chịu ảnh hưởng từ Andalucía. Những bức tường màu đỏ của thành phố được xây dựng bởi Ali ibn Yusuf từ 1122–1123 và nhiều tòa nhà bằng đá sa thạch đỏ được xây dựng trong thời kỳ này, khiến thành phố có biệt danh là "Thành phố đỏ" hay "Thành phố đất son". Marrakesh phát triển nhanh chóng và trở thành trung tâm văn hóa, tôn giáo, thương mại lớn của Maghreb và châu Phi cận Sahara. Jemaa el-Fnaa là quảng trường tấp nập nhất tại châu Phi.

Sau một thời gian suy giảm thì thành phố đã bị Fes vượt mặt nhưng vào đầu thế kỷ 16, nó lại trở thành thủ đô của vương quốc. Thành phố lấy lại những gì tinh túy nhất của mình dưới Triều đại Saadi của Abu Abdallah al-Qaim và Ahmad al-Mansur, những người có công tôn tạo thành phố với việc cho xây dựng Cung điện El Badi vào năm 1578 cùng với việc phục hồi nhiều di tích đổ nát. Bắt đầu từ thế kỷ 17, thành phố trở nên phổ biến đối với những người hành hương Sufi giáo với bảy vị thánh bảo trợ của Maroc. Năm 1912, Cơ quan bảo hộ Pháp ở Maroc được thành lập và T'hami El Glaoui trở thành Tổng trấn (Pasha) của Marrakesh và giữ vị trí này gần như trong suốt thời kỳ bảo hộ cho đến khi Maroc độc lập và tái thiết chế độ quân chủ vào năm 1956. Năm 2009, Fatima-Zahra Mansouri trở thành người phụ nữ thứ hai tại Maroc được bầu làm thị trưởng một thành phố khi làm thị trưởng của Marrakesh từ năm 2009 đến 2015.

Giống như nhiều thành phố của Maroc, Marrakesh cũng bao gồm một thành lũy cổ với những quầy bán hàng rong và sạp hàng trong khu phố cổ được gọi là Medina, giáp với các khu phố hiện đại, nổi bật nhất là Gueliz. Ngày nay, đây là một trong số những thành phố bận rộn nhất châu Phi phục vụ như là một trung tâm kinh tế và điểm du lịch lớn. Du lịch được ủng hộ mạnh mẽ bởi Quốc vương Maroc Mohammed VI với mục tiêu tăng gấp đôi lượng khách du lịch tới Maroc lên 20 triệu du khách vào năm 2020. Mặc dù suy thoái kinh tế nhưng lĩnh vực bất động sản và khách sạn tại Marrakesh vẫn tăng trưởng mạnh mẽ trong thế kỷ 21. Thành phố là một địa điểm phổ biến với người Pháp và nhiều nhân vật nổi tiếng ở Pháp cũng sở hữu bất động sản ở đây. Marrakesh là nơi có chợ truyền thống (Souq) lớn nhất Maroc với khoảng 18 loại Souq bán các mặt hàng từ thảm Berber truyền thống cho đến đồ điện tử hiện đại. Hàng thủ công sử dụng một tỷ lệ đáng kể người lao động, những người chủ yếu bán sản phẩm của họ cho khách du lịch. Thành phố là một trong những trung tâm buôn bán động vật hoang dã lớn nhất Bắc Phi, bất chấp việc hầu hết các giao dịch này là bất hợp pháp. Phần lớn các giao dịch này diễn ra ngay trong Medina và quảng trường lân cận. Phổ biến nhất là rùa được bán làm thú cưng, nhưng khỉ Barbary và rắn cũng có thể được thấy.Thành phố được phục vụ đi lại bởi Sân bay quốc tế Menara và Ga đường sắt Marrakesh kết nối với Casablanca và nhiều thành phố khác ở bắc Maroc. Thành phố là nơi có một số cơ sở giáo dục lớn như là Đại học Cadi Ayyad. Về thể thao, đây là nơi có nhiều câu lạc bộ bóng đá của Maroc như Najm de Marrakech, Kawkab Marrakech, Mouloudia de Marrakech, Olympique Marrakech. Đường đua Marrakesh là nơi tổ chức nhiều sự kiện quốc tế lớn như Auto GP, Công thức 2 FIA và Giải vô địch xe du lịch thế giới.

Quốc huy Algérie

Con dấu quốc gia Algérie (tiếng Ả Rập: شعار الجزائر الوطني‎) là con dấu được sử dụng bởi các chính phủ, như các tiểu bang khác sử dụng phù hiệu áo giáp.

Sa mạc Sahara

Sahara (tiếng Ả Rập: الصحراء الكبرى‎, aṣ-Ṣaḥrāʾ al-Kubrā , nghĩa là sa mạc lớn) là sa mạc lớn nhất trên trái đất, là hoang mạc lớn thứ 3 trên Trái Đất (sau Châu Nam Cực và Vùng Bắc Cực), với diện tích hơn 9.000.000 km², xấp xỉ diện tích của Hoa Kỳ và Trung Quốc. Sahara ở phía bắc châu Phi và có tới 2,5 triệu năm tuổi.

Scopula rubiginata

Scopula rubiginata là một loài bướm đêm thuộc họ Geometridae. Loài này được tìm thấy từ bán đảo Iberia cho đến sông Ural. Ở phía bắc loài này hiện diện ở Đan Mạch và phía nam Thụy Điển và Phần Lan. Loài này không hiện diện ở phần lớn phía nam bán đảo Iberia (với ngoại lệ Gibraltar), Sicilia và phía nam các đảo Hy Lạp. Ở Maroc nó được tìm htấy ở dãy núi Atlas. Ngoài ra nó còn sinh sống ở phía bắc Thổ Nhĩ Kỳ, Kavkaz và Krym. Về phía đông, nó sinh sống đến phía nam Siberia, nam trung bộ các dãy núi châu Á đến Mông Cổ.

Sải cánh dài 16–22 mm. The moth gặp ở one (June đến tháng 8), two (May đến tháng 6 và tháng 7 đến tháng 9) or three (in overlapping generations từ tháng 4 đến tháng 10) generations tùy theo địa điểm.

Ấu trùng ăn nhiều loại thực vật thân thảo, bao gồm Thymus glabrescens, Calluna vulgaris, Artemisia campestris, Rumex acetosella, Thymus serpyllum, Medicago lupulina, Vicia, Lotus, Trifolium, Cytisus scoparius, Thalictrum, Galium, Taraxacum officinale và Convolvulus arvensis..

Tunisia

Tunisia (phiên âm tiếng Việt: Tuy-ni-di; tiếng Ả Rập: تونس‎ Tūnis), tên chính thức Cộng hòa Tunisia (الجمهورية التونسية‎ al-Jumhūriyya at-Tūnisiyya), là một quốc gia ở Bắc Phi. Nước này giáp với Algérie ở phía tây, Libya ở phía đông nam, và Biển Địa Trung Hải ở phía bắc và phía đông. Tunisia có diện tích 165,000 km² với dân số ước tính chỉ hơn 10.3 triệu người. Tên nước xuất phát từ tên thủ đô Tunis nằm ở phía đông bắc.

Tunisia là nước nằm ở cực bắc lục địa châu Phi, và là quốc gia nhỏ nhất trong số các quốc gia nằm dọc theo dãy núi Atlas. Miền nam nước này gồm một phần của sa mạc Sahara, và hầu hết phần còn lại gồm đất đai đặc biệt màu mỡ và 1,300 km bờ biển. Từng hai lần đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong thời cổ đại, đầu tiên với thành phố Phoenicia nổi tiếng của Carthage, sau đó như Tỉnh châu Phi được gọi là "giỏ bánh mì" của Đế chế La Mã. Sau này, Tunisia bị những kẻ cướp bóc xâm chiếm ở thế kỷ thứ V, người Byzantine ở thế kỷ thứ VI và người Ả Rập ở thế kỷ thứ VII.

Dưới thời Đế chế Ottoman, Tunisia được gọi là "Nhiếp chính Tunis". Nó được chuyển sang thuộc quyền bảo hộ của Pháp năm 1881. Sau khi giành được độc lập năm 1956, nước này lấy tên chính thức là "Vương quốc Tunisia" ở cuối thời kỳ cầm quyền của Lamine Bey và Triều đại Husainid. Với tuyên bố đưa nhà nước trở thành cộng hoà Tunisia ngày 25 tháng 7 năm 1957, nhà lãnh đạo quốc gia Habib Bourguiba trở thành tổng thống đầu tiên và lãnh đạo cuộc hiện đại hoá đất nước. Ngày nay Tunisia là một quốc gia hướng theo xuất khẩu, trong quá trình tự do hoá nền kinh tế của mình .

Tunisia có những quan hệ thân cận với cả Liên minh châu Âu — và đã có một thoả thuận kết hợp với tổ chức này — và thế giới Ả Rập. Tunisia cũng là một thành viên của Liên đoàn Ả Rập và Liên minh châu Phi.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.