Cozak

Người Cozak, Kazakh hay người Cô-dắc (tiếng Nga: Казахи) là một cộng đồng truyền thống của những người sống trên khu vực thảo nguyên phía nam của Đông Âu và phần châu Á của nước Nga, nổi tiếng vì sự độc lập và các kỹ năng quân sự của họ, cụ thể là tài cưỡi ngựa. Cozak cũng có thể được dùng để chỉ các thành viên của các đơn vị quân sự Cozak. Ban đầu, Cozak là những người nông dân Ukraina hay Nga đã chạy trốn khỏi sự áp bức của Ba LanMoskva thời phong kiến để sinh sống tại các thảo nguyên phương nam tự do nhưng đầy nguy hiểm.

Tên gọi Cozak có lẽ có nguồn gốc từ tiếng Ba Lan thông qua tiếng Ukraina Kozak hơn là cách phát âm trong tiếng Nga ngày nay Kazakh. Cuối cùng, nó có nguồn gốc từ thuật ngữ xã hội trong tiếng Turk qazaq, nghĩa là "người mạo hiểm" hay "người tự do". Thuật ngữ này lần đầu tiên được đề cập tới trong biên niên sử Ruthenia từ năm 1395. Cozak (Qazaqlar) cũng là những người giữ gìn biên giới của hãn quốc Kazan.

Người Cozak lần đầu được biết rộng rãi tại Tây Âu giữa thế kỷ 17 như là kết cuộc khởi nghĩa lớn[1][2][3][4] của Bohdan Khmelnytsky và những người Zaporozhia ở Ukraina chống lại Liên bang Ba Lan-Litva, đã làm rung động các nền tảng cơ sở địa chính trị của miền đông châu Âu.

Nổi tiếng nhất trong số này là những người Cozak của các vùng Đông, Terek và Ural, cũng như các khu vực thuộc Siberi (chẳng hạn người Cozak Baikal). Số lượng người Cozak đã gia tăng vào cuối thời Trung Cổ, do được các nông nô Nga chạy trốn khỏi chủ của họ gia nhập thêm. Cuối cùng thì người Cozak đã trở thành những người bảo vệ các ranh giới quốc gia và các bộ lạc. Người Cozak phục vụ trong quân đội thường trực Nga trong nhiều cuộc chiến tranh trong suốt thế kỷ 18 và 19. Trong cuộc Nội chiến Nga (1917-1922) họ đã chiến đấu cho cả hai phía, mặc dù voisko Cozak sông Đông là một trong những lực lượng chính chống lại những người Bolshevik. Kết quả là trong thời kỳ Liên Xô thì người Cozak đã chịu sự ngược đãi lớn từ chính quyền Bolshevik và các vùng đất của người Cozak đã chịu một số nạn đói kém mất mùa. Tuy nhiên, cơ chế tổ chức quân sự của người Cozak đã được cải tạo lại trước khi diễn ra Chiến tranh thế giới thứ hai. Hiện nay, tại Nga thì người Cozak được coi hoặc là các hậu duệ theo dân tộc, hoặc theo hoạt động quân sự của họ, và thông thường là cả hai. Phạm trù sau đã được liệt kê như là một nhóm riêng rẽ trong điều tra dân số và con số này hiện tại là khoảng 150.000 người Cozak đang phục vụ quân sự tại Nga và tới vài triệu hậu duệ nhận thức được di sản Cozak của mình, hiện nay đang được phục hồi, cụ thể là tại miền nam Nga.

Cũng nổi tiếng là Cozak của voisko Zaporozhia, những người sống trên các thảo nguyên miền nam của Ukraina ngày nay. Số lượng người Cozak này đã tăng lên nhanh chóng trong khoảng thế kỷ 15 tới thế kỷ 17, được tăng thêm bởi các chủ đất-quý tộc Ruthenia nghèo, thương nhân và các nông dân chạy trốn từ Ba Lan-Litva. Người Cozak Zaporozhia đóng một vai trò quan trọng trong địa chính trị châu Âu, trải qua một loạt các liên minh và mâu thuẫn với Liên bang Ba Lan-Litva, MoskvaĐế quốc Ottoman. Mặc dù kể từ cuối thế kỷ 18 thì phần lớn các hậu duệ của họ đã chuyển tới khu vực Kuban của Nga và không còn nhận họ là người Ukraina, tuy nhiên họ vẫn được một số nhà sử học coi là tổ tiên của dân tộc Ukraina ngày nay. Hiện tại ở đây có một số tổ chức xã hội của người Ukraina cố gắng phục hồi kiểu sống và ảnh hưởng của người Cozak, thông thường với một số thành kiến chính trị hay tôn giáo khác nhau.

Ít được biết đến hơn là người Cozak Ba Lan (Kozacy) và người Cozak Tatar (Nağaybäklär). Tên gọi Cozak cũng được dùng để chỉ kỵ binh nhẹ trong quân lực Liên bang Ba Lan-Litva.

Repin Cossacks
Người Zaporozhe viết thư cho sultan Thổ Nhĩ Kỳ. Tranh của Ilya Repin từ năm 1880 tới năm 1891.

Lịch sử

Nguồn gốc

Không rõ từ khi nào thì người Slav đã bắt đầu sinh sống tại khu vực hạ lưu các sông ĐôngDnepr. Có lẽ điều này không thể xảy ra trước thế kỷ 13, khi các bộ lạc Mông Cổ đã đánh bại sức mạnh quyền lực của người Cuman và các bộ lạc Turk khác trên lãnh thổ này.

Các nhóm tiền-Cozak có lẽ đã tồn tại trong phạm vi lãnh thổ thuộc Ukraina ngày nay vào giữa thế kỷ 13. Năm 1261 một số người Slav sống trong khu vực giữa sông Dniester và sông Volga đã được đề cập tới trong biên niên sử Ruthenia. Các ghi chép lịch sử về người Cozak trước thế kỷ 16 là rất ít. Trong thế kỷ 15, cộng đồng xã hội Cozak được miêu tả như là một liên bang lỏng lẻo của các cộng đồng độc lập, thông thường có các đội quân địa phương, hoàn toàn tách rời từ các quốc gia láng giềng (chẳng hạn Ba Lan, Đại công quốc Moskva hay Hãn quốc Krym).

Vùng đất bản địa của người Cozak được xác định bằng đường nối liền các thị trấn-pháo đài Nga/Ruthenia nằm trên biên giới với thảo nguyên và kéo dài từ trung lưu sông Volga tới RyazanTula, sau đó bất ngờ quặt xuống phía nam và mở rộng về phía sông Dnepr thông qua Pereyaslavl. Khu vực này là nơi sinh sống của những người tự do, làm các công việc thủ công và thương mại.

Những người này, thường xuyên phải đối mặt với các chiến binh Tatar trên biên giới thảo nguyên, nhận được tên gọi trong tiếng Turk Cossack và sau này còn được dùng để chỉ những người tự do khác tại miền bắc Nga. Các dẫn chiếu cổ nhất trong sử sách có đề cập tới người Cozak của thành phố Ryazan đã tham dự vào cuộc chiến chống lại người Tatar năm 1444. Trong thế kỷ 16, người Cozak (đầu tiên là những người ở Ryazan) đã nhóm lại thành các cộng đồng quân sự và thương mại trên các thảo nguyên bao la và bắt đầu di cư vào khu vực sông Đông (nguồn Vasily Klyuchevsky, Курс русской истории (Giáo trình lịch sử Nga), tập 3, Moskva, 1988).

Вешенская 12 хутор кружилинский.jpg
Nhà ở của người Cozak sông Đông tại khutor (xóm) Kruzhilinsky, tỉnh Rostov

Quan hệ với các đế quốc

Vào thế kỷ 16, các cộng đồng Cozak này đã hợp nhất lại thành hai tổ chức lãnh thổ độc lập cũng như là các nhóm nhỏ hơn còn rời rạc khác.

  • Người Cozak của Zaporozhia, tập trung xung quanh khúc uốn cong hạ lưu sông Dnepr, bên trong lãnh thổ Ukraina ngày nay, với thủ đô được pháo đài hóa tại Zaporozhia Sic'. Họ về mặt hình thức đã tổ chức lại thành quốc gia, là voisko Zaporozhia, bằng một hiệp ước với Ba Lan năm 1649.
  • Nhà nước Cozak sông Đông, trên sông Đông, tách rời Đại công quốc Moskva ra khỏi các nhà nước Nogai khi đó là chư hầu của Đế quốc Ottoman. Thủ đô của nhà nước Cozak sông Đông là Cherkassk, sau này chuyển tới Novocherkassk.

Một số tài liệu lịch sử của giai đoạn này nhắc tới các nhà nước này như là các quốc gia độc lập có chủ quyền với nền văn hóa chiến tranh duy nhất, mà nguồn thu nhập chính của họ là từ sự cướp bóc các quốc gia láng giềng. Họ đã rất nổi tiếng vì các cuộc tấn công chống lại Đế quốc Thổ Ottoman và các chư hầu của quốc gia này, mặc dù họ không hề e ngại gì khi đi cướp bóc các quốc gia khác. Hành động của họ đã làm tăng sự căng thẳng dọc theo biên giới phía nam của Liên bang Ba Lan-Litva (Kresy), tạo ra kết quả gần như là một cuộc chiến tranh ở mức độ thấp nhưng thường xuyên trên các vùng lãnh thổ này trong gần như toàn bộ thời kỳ tồn tại của Liên bang Ba Lan-Litva.

Năm 1539, Đại công tước Vasili III của Nga đề nghị sultan Thổ kiềm chế bớt người Cozak và sultan đã trả lời:

Người Cozak không thề nguyện trung thành với tôi, và hãy để họ sống như là họ muốn.

Năm 1549, Sa hoàng Ivan Hung Đế, khi trả lời yêu cầu của sultan Thổ về việc ngăn chặn các hành động gây hấn của người Cozak sông Đông, đã nêu rõ:

Người Cozak sông Đông không phải thần dân của tôi, và việc họ thích sống trong chiến tranh hay hòa bình không phải là sự cần biết đến của tôi.

Các trao đổi tương tự đã diễn ra giữa Nga, Đế quốc Ottoman và Liên bang Ba Lan-Litva, và chúng đều thể hiện sự lợi dụng tính hiếu chiến của người Cozak cho các mục đích của chính mình. Về phía người Cozak, họ đã rất hạnh phúc khi cướp bóc mọi quốc gia này một cách công bằng nhiều hay ít, mặc dù trong thế kỷ 16, với sự thống trị của Liên bang Ba Lan-Litva được mở rộng xuống phía nam, thì người Cozak Zaporozhia đã chủ yếu được coi là thần dân của Liên bang này. Những người Cozak có đăng ký đã là một phần của quân đội Liên bang cho tới tận năm 1699.

Kozak9.1
Một người Cozak Ukraina trong thời kỳ Liên bang Ba Lan-Litva. Tranh của Dariusz T. Wielec.

Vào khoảng cuối thế kỷ 16, quan hệ giữa Liên bang Ba Lan-Litva và Đế quốc Ottoman, vốn đã không được mặn nồng cho lắm, lại càng bị làm xấu đi bởi các hành động đòi độc lập của người Cozak ngày càng gia tăng. Từ nửa sau của thế kỷ 16, người Cozak đã bắt đầu đột kích các vùng lãnh thổ dưới sự cai trị của Đế quốc Ottoman. Mặc dù là thần dân của Liên bang Ba Lan-Litva, nhưng chính quyền này cũng không thể kiểm soát những người Cozak độc lập hung tợn. Một cách tương tự, người Tatar sống dưới sự cai trị của Đế quốc Ottoman cũng tiến hành các cuộc cướp bóc vào lãnh thổ Liên bang Ba Lan-Litva, chủ yếu là vào các vùng dân cư thưa thớt ở phía đông nam liên bang này. Tuy nhiên, những kẻ cướp Cozak đã đột kích tới tận tâm của Đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ, các hải cảng thương mại giàu có của họ, chỉ cách cửa sông Dnepr khoảng 2 ngày đi thuyền. Vào năm 1615, người Cozak thậm chí còn san bằng các thị trấn ven Constantinopolis, buộc sultan Ottoman phải chạy khỏi cung điện. Các hiệp ước nối tiếp nhau giữa Đế quốc Ottoman và Liên bang Ba Lan-Litva đều kêu gọi cả hai bên kiềm chế người Cozak và Tatar, nhưng hiệu lực của chúng gần như là không tồn tại trên cả hai bên biên giới. Trong các thỏa thuận nội bộ, được phía Ba Lan đưa ra, người Cozak đồng ý đốt thuyền của họ và ngừng cướp bóc. Tuy nhiên, thuyền có thể làm lại rất nhanh, và kiểu sống của người Cozak được tô điểm bằng cướp bóc và chiến lợi phẩm. Trong thời gian này, Đế quốc Habsburg đôi khi ngấm ngầm thuê mướn những tên cướp Cozak để làm giảm áp lực của Đế quốc Ottoman lên trên biên giới của họ. Nhiều người Cozak và Tatar đã có sự thù oán lẫn nhau do các cuộc cướp bóc từ cả hai phía gây ra. Các cuộc cướp bóc của người Cozak được nối tiếp bằng sự trả thù từ phía người Tatar hay ngược lại là chuyện xảy ra thường xuyên. Các hỗn loạn kế tiếp và chuỗi các vụ trả thù thông thường chuyển toàn bộ vùng biên giới phía đông nam của Liên bang Ba Lan-Litva thành một vùng chiến sự cường độ thấp và dẫn tới sự leo thang của cuộc chiến giữa liên bang này và Đế quốc Ottoman, từ các cuộc chiến tranh quyền quý Moldavia (1593-1617) tới trận chiến Cecora (1620-1621) và các cuộc chiến những năm 1633–1634.

Matejko Khmelnytsky with Tugay Bey
"Bohdan Chmielnicki với Toğay bey tại Lvov", tranh sơn dầu, 1885, Viện bảo tàng quốc gia, Warsaw. Tranh của Jan Matejko.

Số lượng người Cozak được tăng lên cùng với những người nông dân chạy trốn khỏi thân phận nông nô trong Liên bang Ba Lan-Litva. Các cố gắng của szlachta (tầng lớp quý tộc Ba Lan-Litva) để biến người Cozak Zaporozhia thành nông nô đã xói mòn lòng trung thành của người Cozak khi đó đã tương đối mạnh đối với Liên bang. Mong muốn của người Cozak được công nhận bình đẳng với szlachta đã thường xuyên bị cự tuyệt, và các kế hoạch chuyển đổi Liên bang hai quốc gia (Ba Lan-Litva) thành ba quốc gia (với những người Cozak Ruthenia) đã có rất ít tiến bộ do thiếu sự công nhận trong toàn Liên bang. Lòng trung thành rất mạnh trong lịch sử của người Cozak đối với Chính thống giáo Đông phương tại một Liên bang mà tôn giáo chính là Công giáo Rôma đã làm tăng lên sự căng thẳng, đặc biệt khi các chính sách Liên bang thay đổi từ tương đối khoan dung sang thành ngăn cấm các nhà thờ Chính thống giáo, đã làm cho những người Cozak chống Công giáo mạnh mẽ vào thời gian này trở thành đồng nghĩa với chống Ba Lan.

Lòng trung thành đang suy giảm của người Cozak và tính kiêu ngạo của tầng lớp szlachta đối với họ đã tạo ra vài cuộc nổi dậy của người Cozak chống lại Liên bang Ba Lan-Litva vào đầu thế kỷ 17. Cuối cùng, sự từ chối cứng rắn của nhà vua trong việc nhượng bộ yêu cầu của người Cozak nhằm mở rộng sự đăng ký người Cozak đã là mẩu rơm cuối cùng thúc đẩy cuộc nổi dậy lớn nhất và thành công nhất trong số các cuộc nổi dậy: Cuộc nổi dậy Khmelnytsky bắt đầu năm 1648. Cuộc nổi dậy này trở thành một trong các chuỗi sự kiện thảm họa cho Liên bang, được biết dưới tên gọi Đại Hồng Thủy (tiếng Ba Lan: potop), dẫn đến sự tan rã của Liên bang này. Cuộc nổi dậy kết thúc vào năm 1654 với Hiệp ước Pereyaslav, trong đó người Cozak cam kết trung thành với Sa hoàng Aleksei I (1629 - 1676) cùng sự đảm bảo của Sa hoàng trong việc bảo vệ người Cozak, công nhận các starshina (quý tộc) Cozak và quyền tự trị dưới sự cai trị của ông[5], đã đưa người Cozak ra khỏi ảnh hưởng của Ba Lan. Cố gắng cuối cùng và không thành công để xây dựng lại liên minh Ba Lan-Cozak và tạo ra Liên bang Ba Lan-Litva-Ruthenia là Hiệp ước Hadiach năm 1658 đã được vua Ba Lan và Sejm cũng như một số starshina Cozak phê chuẩn, trong đó có ataman Ivan Vyhovsky[1]. Tuy nhiên starshina đã bị chia rẽ trong vấn đề này và hiệp ước đó đã nhận được rất ít sự ủng hộ trong các tầng lớp người Cozak, vì thế đã kết thúc thất bại.

Trong Đế quốc Nga

Józef Brandt - Wesele kozackie
Đám cưới Cozak. Tranh của Józef Brandt.

Người Cozak phục vụ trong vai trò của những người lính biên phòng và những người bảo vệ các thị trấn, pháo đài, khu dân cư và các trạm thương mại, thực hiện các chức năng chính trị trên biên giới và trở thành một bộ phận cấu thành của quân đội Nga. Vào thế kỷ 16, để bảo vệ các vùng đất biên cương trước các cuộc xâm chiếm của người Tatar, những người Cozak đã thực hiện các nhiệm vụ canh gác và tuần tra, theo dõi những người Tatar Krym và những người du cư của bộ lạc Nogai trong khu vực thảo nguyên.

Trong cuộc Chiến tranh Bảy năm (1756 - 1763), Đế quốc Nga liên minh với Đế quốc Áo, Pháp, Thụy Điển, Sachsen, v.v... chống lại Vương quốc Phổ.[6] Tham chiến trên lãnh thổ Phổ, người Cozak thường tàn phá ác liệt.[7] Vào năm 1758, người Cozak có tham chiến trận Zorndorf với Quân đội Nga đánh quân Phổ do Quốc vương Friedrich II Đại Đế thân chinh thống lĩnh, với chiến thắng của quân Phổ.[8][9] Vào năm 1759, trong trận đánh khốc liệt tại Kunersdorf, người Cozak Nga bắt hụt vua Friedrich II Đại Đế.[10] Khi ông tỏ ra tuyệt vọng vì sắp bị bắt sống, Đại tá Prittwitz - hết mình trung thành vì vua - chỉ huy một toán Kỵ binh nhẹ Phổ tấn công quyết liệt, chặn đứng người Cozak, đuổi họ ra chỗ khác, trong khi nhà vua nước Phổ tháo chạy.[11] Quốc vương Friedrich II Đại Đế hồi phục lại sau trận thảm bại tại Kunersdorf, và Quân đội Nga không truy kích ông.[12][13] Sau khi ông giành chiến thắng huy hoàng trong trận Liegnitz (1760), Quân đội Nga rút khỏi tỉnh Silesia mà cùng quân Áo tiến về vây hãm kinh thành Berlin.[14] Người Cozak có tham chiến trong cuộc vây hãm này. Tuy nhiên, liên quân Nga - Áo - Cozak - Sachsen nhanh chóng rút quân khi Quốc vương Friedrich II Đại Đế kéo quân về cứu kinh đô[15]. Ngay sau đó, quân Phổ giành chiến thắng trong trận đánh khốc liệt tại Torgau (1760), và với chiến thắng này kinh đô Berlin không bao giờ bị vây hãm nữa.[16]

Batalla-kunersforf
Quốc vương Friedrich II Đại Đế bị người Cozak bắt hụt trong trận đánh tại Kunersdorf (1759).

Nga hoàng Pyotr III lên ngôi vua vào năm 1762 và chấm dứt chiến tranh chống Phổ, lại còn gửi quân Nga đến tiếp viện cho quân Phổ.[17] Những người Cozak hung bạo giờ đây nằm dưới sự thống lĩnh của Quân đội Phổ.[7] Không lâu sau đó, Hoàng hậu Ekaterina tiến hành đảo chính, lên làm Nữ hoàng Ekaterina II Đại Đế, cho rút quân Nga về nước nhưng vẫn không tái chiến với nước Phổ nữa.[18][19] Liên minh chống Phổ sụp đổ hoàn toàn.[20] Tất cả các nước tham chiến cũng đều kiệt quệ.[21] Trước sự tàn phá ác liệt của người Cozak và các đồng minh của họ trên chính quốc Phổ (chẳng hạn như ở tỉnh Pomerania), vua Friedrich II Đại Đế phải tiến hành tái thiết đất nước sau bảy năm chinh chiến, và gặt hái thành công.[22][23]

Dưới sự cai trị của người Nga, nhà nước Cozak của voisko Zaporozhia đã được phân chia thành hai nước cộng hòa bán tự trị của Đại công quốc Moskva: là Cozak Hetmanat và độc lập hơn là Zaporizhia. Tổ chức của người Cozak cũng đã được thiết lập trong thuộc địa của Nga Slobodskaya Ukraina. Các tổ chức này dần dần mất đi sự độc lập của họ và sau này đã bị Ekaterina II của Nga hủy bỏ vào cuối thế kỷ 18. Hetmanat trở thành thống đốc của Malorossiya (Tiểu Nga), Slobodskaya Ucraina (các tỉnh tỉnh KharkivZaporizhia) đã được nhập vào Novorossiya (Tân Nga). Năm 1775, voisko Zaporozhia đã bị giải tán và các thủ lĩnh cao cấp Cozak đã được ban tặng các tước hiệu quý tộc (dvoryanstvo). Phần lớn người Zaporozhia được tái định cư tại vùng thảo nguyên Kuban, là một vị trí hiểm yếu cho sự mở rộng của Nga về phía Kavkaz. Tuy nhiên, một số người Cozak đã bỏ chạy qua sông sông Danube (lãnh thổ dưới sự kiểm soát của Đế quốc Ottoman) để thành lập ra các voisko mới trước khi tái kết hợp lại với những người Cozak khác ở Kuban.

Trong thời gian họ lưu lại đây, một voisko mới đã được thành lập và vào cuối năm 1778 đã có khoảng 12.000 người Cozak tại khu định cư của họ trên vùng biên giới với Nga được tiếp nhận với sự phê chuẩn của Đế quốc Ottoman sau khi những người Cozak này chính thức thề nguyện phục vụ sultan Ottoman. Tuy nhiên mâu thuẫn nội bộ của voisko mới này về lòng trung thành mới, cũng như các thủ đoạn chính trị mà đế chế Nga sử dụng đã phân chia những người Cozak này. Sau khi một phần những người Cozak ra đi đã quay lại Nga thì họ được quân đội Nga sử dụng để tạo ra các đơn vị quân sự mới với sự hợp nhất những người Albania gốc Hy Lạp và Tatar Krym.

Tuy nhiên, sau chiến tranh Nga-Thổ Nhĩ Kỳ năm 1787–1792, phần lớn người Cozak đã được hợp nhất vào voisko Cozak biển Đen và di chuyển tới các thảo nguyên Kuban. Những người Cozak còn sống tại đồng bằng châu thổ sông Donau cũng đã trở lại Nga năm 1828 và tạo thành voisko Cozak Azov giữa BerdyanskMariupol. Năm 1864, tất cả họ được tái định cư tại Bắc Kavkaz và hợp nhất thành voisko Cozak Kuban.

Kubanskie kazaki 2
Người Cozak cuối thế kỷ 19

Người Cozak Nga đóng một vai trò quan trọng trong việc mở rộng của Đế quốc Nga tới Siberi (cụ thể là Ermak Timofeyevich), KavkazTrung Á trong giai đoạn từ thế kỷ 16 tới thế kỷ 19. Người Cozak cũng thực hiện công việc dẫn đường cho phần lớn các đoàn thám hiểm Nga được các nhà địa lý, khảo sát địa chính, thương nhân và thám hiểm dân sự hay quân sự lập ra. Năm 1648, một người Cozak Nga là Simeon Dezhnev đã tìm ra lối đi giữa châu Mỹchâu Á. Các đơn vị Cozak đóng vai trò lớn trong nhiều cuộc chiến vào các thế kỷ 17-19 (chẳng hạn các cuộc chiến tranh Nga-Thổ Nhĩ Kỳchiến tranh Nga-Ba Tư, sáp nhập Trung Á).

Trong cuộc xâm lược của Napoléon vào Nga, người Cozak đã là những người lính Nga mà binh lính Pháp e ngại nhất. Người Cozak cũng tham gia vào các cuộc chiến tranh du kích sâu bên trong các vùng lãnh thổ Nga bị người Pháp chiếm đóng, họ tấn công các tuyến đường giao thông liên lạc và tiếp tế. Các cuộc tấn công này, được những người Cozak cùng kỵ binh nhẹ Nga và các đơn vị khác phối hợp thực hiện, đã là một trong số các dạng phát triển đầu tiên của chiến thuật chiến tranh du kích và ở một mức độ nào đó, là một dạng hành quân đặc biệt như chúng ta biết tới ngày nay.

Những người châu Âu phương Tây có rất ít tiếp xúc với người Cozak trước khi quân đội Liên minh chiếm đóng Paris năm 1814. Như là đội quân kỳ cục nhất của quân đội Nga được nhìn thấy tại Pháp, người Cozak đã gây ra sự chú ý và sự khét tiếng lớn vì những hành động thái quá của họ trong chiến dịch năm 1812 của Napoléon Bonaparte tại Nga.

Từ ban đầu, quan hệ giữa người Cozak với người Moskva đã là rất đa dạng, có khi họ cùng tham gia vào các chiến dịch quân sự, nhưng vào thời điểm khác thì lại là các cuộc nổi dậy đáng kể của người Cozak. Một ví dụ cụ thể là sự tan rã của voisko Zaporozhia, diễn ra vào cuối thế kỷ 18. Sự chia rẽ của người Cozak khi đó là rõ nét giữa những người chọn lựa trung thành với đế quốc Nga và tiếp tục phục vụ (những người sau này chuyển tới Kuban) và những người chọn lựa tiếp tục cuộc sống kiểu lính đánh thuê và chạy tới vùng châu thổ sông Danub.

Tuy nhiên, vào thế kỷ 19, Đế quốc Nga đã hoàn thành việc kiểm soát toàn bộ đối với các voisko và tặng thưởng cho người Cozak nhiều đặc quyền vì sự phụng sự của họ. Vào thời gian này, nhiều người Cozak đã tích cực tham gia vào nhiều cuộc chiến tranh của Nga. Mặc dù chiến thuật kỵ binh trong các trận giáp lá cà của họ nói chung là thua kém so với các bộ phận chủ lực khác như hussar, nhưng người Cozak đã thực hiện tuyệt vời các công việc trinh sát và do thám, cũng như là các cuộc phục kích.

Trong những năm cuối của Đế quốc Nga

The Times history of the war (1914) (14761255571)
Một sotnia của cossacks chụp pin Áo

Vào cuối thế kỷ 19, các cộng đồng Cozak đã được hưởng đặc ân miễn thuế tại Đế quốc Nga, nếu cam kết sẽ có thời gian tham gia phục vụ quân sự là 20 năm (giảm xuống còn 18 năm kể từ năm 1909), trong đó chỉ cần 5 năm tại ngũ, phần còn lại của lời cam kết là dự bị quân sự. Vào đầu thế kỷ 20, người Cozak Nga đạt tới 4,5 triệu người và đã được tổ chức thành các voisko khu vực tách biệt, mỗi voisko bao gồm nhiều trung đoàn.

Cảm giác về người Cozak như là một cộng đồng tách biệt và cao quý đã tạo cho họ cảm giác mạnh về lòng trung thành đối với triều đình Sa hoàng và các đơn vị Cozak thường xuyên được sử dụng để dẹp các rối loạn trong nước, đặc biệt là trong thời kỳ nổi dậy rộng khắp của nông dân và công nhân thời kỳ 1905–1906. Chính quyền đế quốc phụ thuộc mạnh vào độ tin tưởng nhìn thấy được của người Cozak, mặc dù vào đầu thế kỷ 20 các cộng đồng tách biệt của họ và kiểu phục vụ quân sự bán phong kiến ngày càng bị nhìn nhận như là đã lỗi thời. Trong thuật ngữ nhà binh một cách chặt chẽ thì người Cozak không được các chỉ huy quân đội Nga đánh giá cao, những người này nhìn nhận họ như là đội quân ít kỷ luật, ít tập luyện và kỹ năng cưỡi ngựa thô thiển hơn so với kỵ binh hussar (dạng kỵ binh chỉ để ria, không để râu, mũ lông cừu cao, đi ủng), kỵ binh đánh bộ và kỵ binh đánh thương của kỵ binh thường trực ("The Cossacks" của Albert Seaton SBN 85045 116 7). Các phẩm chất của người Cozak như tính sáng tạo hay các kỹ năng cưỡi ngựa dữ không phải lúc nào cũng được đánh giá đúng. Kết quả là các đơn vị Cozak hay bị chia nhỏ ra thành các chi đội nhỏ để sử dụng trong vai trò của lính trinh sát, lính thông tin hay các nhóm hộ tống đẹp mắt.

Khi diễn ra cách mạng tháng 2 năm 1917, người Cozak dường như chia sẻ sự vỡ mộng chung đối với sự lãnh đạo của Sa hoàng và các trung đoàn Cozak tại kinh đô Sankt-Peterburg đã gia nhập vào phía nổi dậy. Trong khi chỉ có một số ít đơn vị tham dự, nhưng sự đào ngũ của họ (cũng như của konvoi-đội kỵ binh hộ tống Sa hoàng) đã là một đòn tâm lý nặng đối với chính quyền của Nikolai II và làm tăng tốc quá trình thoái vị của ông ta.

Sau Cách mạng tháng Mười Nga

Trong cuộc nội chiến sau Cách mạng Nga, người Cozak đã tham gia vào cả hai bên của cuộc chiến. Một số sĩ quan và những binh lính Cozak có kinh nghiệm đã chiến đấu bên phía Bạch vệ, trong khi những binh lính nghèo hơn đã gia nhập Hồng quân, trong đó có cả các chỉ huy nổi tiếng như Semyon Budyonny. Sau thất bại của Bạch vệ, chính sách trừ bỏ kozak (Raskazachivaniye) đã được thực hiện đối với những người Cozak còn sống sót và các vùng đất của họ do họ bị nhìn nhận là mối đe dọa tiềm ẩn đối với chế độ mới. Điều này được thực hiện chủ yếu là phân chia lãnh thổ của họ thành các đơn vị hành chính khác nhau và giao nó lại cho các nước cộng hòa tự trị mới ra đời của người thiểu số, và sau đó tích cực khuyến khích việc định cư trên các lãnh thổ này bằng những dân tộc này. Điều này đặc biệt đúng với vùng đất của Cozak Terek. Các vùng đất của người Cozak thường là màu mỡ, và trong quá trình tập thể hóa thì nhiều người Cozak đã hứng chịu số phận của các kulak. Nạn mất mùa năm 1933 đã tác động vào vùng sông Đông và Kuban mạnh nhất. Theo Michael Kort, "Trong giai đoạn từ 1919 tới 1920, trong số khoảng 3 triệu người Cozak thì đã có khoảng 300.000 tới 500.000 người Cozak bị chết trong chiến tranh hoặc bị lưu đày"[24].

Tuy nhiên, năm 1936, dưới áp lực của các hậu duệ Cozak cũ như Semyon Budyonny, người ta đã quyết định đưa lại lực lượng Cozak vào trong Hồng quân. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, người Cozak một lần nữa lại chiến đấu trên cả hai bên chiến tuyến, do phần lớn những người cộng tác với Đức quốc xã là những người Cozak tị nạn đã từng theo Bạch vệ. Những người Cozak Hồng quân chiến đấu trên mặt trận phía nam, là khu vực mà thảo nguyên rộng lớn đã làm cho họ trở thành lý tưởng cho việc tiếp tế và tuần tra mặt trận. Một phân đội Cozak đã tham gia lễ diễu binh trên Quảng trường Đỏ vào năm 1945.

Một nhóm Cozak đáng chú ý là những người đã chiến đấu cho người Đức trong Wehrmacht là quân đoàn kỵ binh Cozak XV dưới sự chỉ huy của tướng Đức Helmuth von Pannwitz trong trận đánh chống lại các du kích ở Nam Tư. Họ đã đầu hàng quân đội Anh tại Áo năm 1945, với hy vọng sẽ được gia nhập vào phe người Anh để chống lại chủ nghĩa cộng sản. Tuy nhiên, khi đó có rất ít sự thông cảm cho nhóm đã bị coi là những người cộng tác với Đức quốc xã và những người bị thông báo là đã có những hành động tàn bạo chống lại các lực lượng kháng cự Đức quốc xã ở Đông Âu. Họ đã bị người Anh trao cho phía Liên Xô trong chiến dịch Keelhaul, để bị xử bắn hay bỏ tù. Vào cuối cuộc chiến, các chỉ huy của liên quân Anh-Mỹ đã "cho hồi hương" trên 150.000 người Cozak, bao gồm cả đàn ông, đàn bà và trẻ em về Liên Xô. Nhiều người trong số họ chưa bao giờ là công dân Xô viết. Sự kiện này được biết đến như là "Sự phản bội đối với người Cozak" hay "Sự phản bội bí mật".

Sau chiến tranh, các đơn vị Cozak, cùng với kỵ binh nói chung, đã bị coi là lỗi thời và được cho giải ngũ khỏi Hồng quân Xô viết. Trong những năm sau chiến tranh, nhiều con em Cozak đã nghĩ họ chỉ là những người nông dân bình thường, và những người sống bên trong các nước cộng hòa tự trị thường thua thiệt trước các bộ lạc thiểu số và di cư tới nơi khác (chủ yếu là tới khu vực Baltic).

Trong quá trình perestroika của Liên Xô cuối thập niên 1980, nhiều người kế nghiệp của những người Cozak đã trở thành những người nhiệt tình trong việc hồi sinh các truyền thống dân tộc của họ. Năm 1988, chính quyền Xô viết đã thông qua một sắc luật cho phép sự thành lập lại của các voisko cũ và tạo ra các voisko mới. Ataman của voisko lớn nhất, voisko sông Đông hùng mạnh nhất, đã được ban cho cấp bậc Nguyên soái và quyền thành lập các voisko mới. Người Cozak đã tích cực tham gia vào nhiều cuộc xung đột diễn ra sau đó: Transdniestr, Abkhazia, Nam Ossetia, KosovoChechnya. Trong khi ảnh hưởng của họ đối với kết quả của các vụ xung đột ít gây được sự chú ý của giới phương tiện truyền thông, nhưng người Cozak một lần nữa lại được biết đến vì tinh thần và lòng dũng cảm cao của họ.

Cùng thời gian này nhiều cố gắng đã được thực hiện nhằm gây ảnh hưởng của người Cozak đối với xã hội Nga và trong suốt thập niên 1990 nhiều tổ chức chính quyền khu vực đã đồng ý giao một vài công việc chính trị và chính quyền địa phương cho người Cozak. Tuy nhiên, vào tháng 4 năm 2005, tổng thống Nga Vladimir Putin đã trình dự luật "Về việc phục vụ quốc gia của người Cozak Nga" (O gosudarstvennoy sluzhbe rossiyskogo kazachestva) tới Duma quốc gia, đã được thông qua sau lần đọc đầu tiên ngày 18 tháng 5 năm 2005. Lần đầu tiên sau hàng thập kỷ, người Cozak đã được công nhận không chỉ là một thực thể văn hóa dân tộc học khác biệt mà còn là một sự phục vụ quân sự tiềm năng. Mặc dù tham vọng đầy đủ của họ nhằm quản lý toàn bộ lãnh thổ kéo dài từ Transdniester tới khu vực thảo nguyên dọc theo sông Ural có thể còn là xa xôi, nhưng dự luật đã là một bước tiến đáng kể để đạt được điều đó.

Tổ chức Cozak

Trong thời gian đầu, các nhóm Cozak được một ataman (sau này gọi là hetman) chỉ huy. Ông này là người được các thành viên của bộ lạc bầu ra tại Rada (hội đồng) Cozak, cũng như các chức vụ quan trọng khác của nhóm: quan tòa, luật sư, các chức vụ nhỏ hơn, và thậm chí cả các tăng lữ. Biểu tượng quyền lực của ataman là một chiếc gậy nghi thức, gọi là bulava.

Kozak na stanowisku
"Người Cozak làm nhiệm vụ", tranh của Józef Brandt

Sau khi chia cắt UKraina dọc theo sông Dnepr bởi Hiệp ước Andrusovo năm 1667 giữa Ba Lan và Nga thì người Cozak Ukraina được biết đến như là người Cozak tả ngạn và người Cozak hữu ngạn.

Ataman có các quyền hành pháp và vào thời gian chiến tranh ông là người chỉ huy tối cao trên chiến trường. Quyền lập pháp thuộc về Hội đồng Nhóm (Rada). Các chức vụ cao cấp trong Rada gọi là starshina. Do không có luật pháp dưới dạng văn bản (pháp điển hóa), nên người Cozak đã điều hành theo các "truyền thống Cozak", là một dạng luật chung bất thành văn.

Xã hội và chính quyền Cozak đã được quân sự hóa rất cao. Kiểu đơn vị hành chính-quân sự lớn nhất giống như một quốc gia gọi là voisko, được dịch thành "đoàn quân"), và được phân chia nhỏ thành các trung đoàn và các địa hạt đồng hành, cùng các làng kiêm các đồn bốt (polka, sotniastanytsa).

Mỗi một khu định cư Cozak, độc lập hay trong mối liên kết với các khu định cư khác, tạo thành một hay nhiều đơn vị quân sự và các trung đoàn kỵ binh nhẹ (hoặc là bộ binh cưỡi ngựa, chẳng hạn của người Cozak Siberi) sẵn sàng phản ứng trước các mối đe dọa chỉ cần có sự thông báo rất ngắn.

Khu định cư của người Cozak

Orenburg cossack
Một người đàn ông Cozak tại Orenburg, với shashka (kiếm) bên hông

Người Cozak tại Nga đã lập ra nhiều khu định cư (gọi là stanitsa) và các pháo đài dọc theo các "ranh giới khó chịu", chẳng hạn như các pháo đài Verny (Almaty, Kazakhstan) tại miền nam Trung Á, Grozny tại miền bắc Kavkaz, pháo đài Alexandrovsk (pháo đài Shevchenko, Kazakhstan), Krasnovodsk (Turkmenbashi, Turkmenistan), Novonikolayevskaya stanitsa (Bautino, Kazakhstan), Blagoveshchensk, các thị trấn và khu định cư tại các vùng ven sông Ural, Ishim, Irtysh, Obi, Enisei, Lena, Amur, Anadyr (Chukotka) và Ussuri v.v.

Tôn giáo

Mặc dù có một thiểu số nhỏ theo các tôn giáo như Hồi giáo, Phật giáo (người Cozak Kalmyk) và Tín ngưỡng cũ (старовeрa-một số người Cozak tại Nga), nhưng phần lớn người Cozak là những người theo Chính thống giáo Nga. Quan hệ giữa người Cozak và nhà thờ Chính thống giáo rất sâu sắc và nó có ảnh hưởng mạnh đối với cả lịch sử của người Cozak lẫn lịch sử của nhà thờ Chính thống giáo. Theo truyền thống, người Cozak được coi là người bảo vệ cho nhà thờ và những người theo Chính thống giáo nói chung.

Mặc dù người Cozak đôi khi bị coi là bài ngoại, nhưng một số người Cozak lại nhanh chóng chấp nhận văn hóa và tập quán của những người láng giềng[25] (chẳng hạn, người Cozak Terek, những người chịu ảnh hưởng lớn từ các nền văn hóa của các bộ lạc Bắc Kavkaz) và thường xuyên có các cuộc hôn nhân với cư dân địa phương (những người không phải là Cozak) không phụ thuộc vào chủng tộc hay dòng dõi, đôi khi vượt qua cả các cấm đoán tôn giáo. Các cô dâu được đưa về từ các vùng đất xa sau mỗi cuộc chiến tranh là khá phổ biến trong các gia đình Cozak. Một trong số các chỉ huy của Quân đội Tình nguyện (Dobrovolcheskaya armiya) Nga, tướng Bogaevsky đề cập tới trong cuốn sách của mình một trong các quân nhân trong đơn vị Cozak của mình, sotnik Khoperski, là người Trung Quốc theo nguồn gốc và được đưa về từ Mãn Châu trong Chiến tranh Nga-Nhật năm 1904-1905 khi chỉ là một đứa trẻ, đã được một gia đình Cozak chấp nhận và nuôi nấng[26].

Trang phục

Mỗi một voisko có đồng phục riêng hoặc là màu nâu-xám, lam hay lục với cổ tay áo màu đỏ, vàng, đỏ thẫm hay lam nhạt. Người Cozak được cho là đã đưa ra đồng phục của chính mình. Trong khi thỉnh thoảng những quần áo này được sản xuất hàng loạt trong các xí nghiệp do các voisko riêng biệt sở hữu thì chủ yếu quần áo là do các gia đình tự cắt may.

Neft
Người Cozak tuần tra các giếng dầu gần Baku, năm 1905

Đối với phần lớn các voisko thì đồng phục cơ bản bao gồm áo rộng tiêu chuẩn và quần rộng điển hình của quân đội thường trực Nga trong giai đoạn 1881-1908. Tuy nhiên, các voisko Kavkaz (Kuban và Terek) mặc áo choàng cherkesska rất dài, hở đằng trước với các móc vỏ đạn trang trí và áo chẽn (gi lê) lửng, là hình ảnh phổ biến của người Cozak. Phần lớn các voisko đều đội mũ lông cừu với lớp vải màu phía trên khi mặc lễ phục, và với mũ lưỡi trai cho các nhiệm vụ hàng ngày. Tuy nhiên, có hai voisko Kavkaz dường như đội các mũ lưỡi trai phủ lông cừu trong phần lớn các trường hợp.

Cho đến năm 1909 áo choàng trắng và các chóp mũ theo kiểu quân đội Nga tiêu chuẩn đã được các trung đoàn Cozak mặc vào mùa hè. Các đai vai và dải mũ có màu như màu cho mỗi voisko liệt kê dưới đây. Từ năm 1910 tới năm 1918 áo vét tông màu xám-kaki đã được mặc khi ra trận với áo chẽn màu lam hay lục và các sọc màu của bộ đồng phục.

Trong khi phần lớn người Cozak phục vụ kỵ binh thì cũng có các đơn vị bộ binh và pháo binh trong một vài voisko. Ba trung đoàn lính Cozak tạo thành một bộ phận bảo vệ hoàng gia, cũng như là konvoi-đội kỵ binh hộ tống của Sa hoàng. Các trung đoàn bảo vệ hoàng gia mặc các đồng phục do thợ may của nhà nước cấp trông đẹp mắt và màu mè. Chẳng hạn, konvoi mặc các bộ áo choàng cherkesska màu đỏ tươi, áo chẽn trắng và các chóp màu đỏ trên các mũ lông cừu của họ.

Vào năm 1914, các voisko Cozak bao gồm:

  • Cozak sông Đông (thành lập năm 1570) đồng phục năm 1914 có màu lam với các sọc đỏ rộng trên quần, chóp bằng vải đỏ trên mũ lông cừu, đai vai lam),
  • Voisko Cozak Ural (thành lập năm 1571) đồng phục năm 1914 màu lam với các sọc trên quần, chóp mũ, đai vai có màu đỏ thẫm,
  • Voisko Cozak Terek (thành lập năm 1577) là voisko Kavkaz, đồng phục năm 1914 bao gồm cherkesska màu nâu-xám với các đai vai, áo chẽn và chóp trên mũ lông cừu màu lam nhạt,
  • Cozak Kuban (thành lập năm 1696) là voisko Kavkaz, đồng phục năm 1914 bao gồm cherkesska màu nâu-xám với các đai vai, áo chẽn và chóp mũ lông cừu màu đỏ,
  • Cozak Orenburg (thành lập năm 1744) đồng phục năm 1914 màu lục với các sọc trên quần chóp mũ và đai vai màu lam nhạt,
  • Cozak Astrakhan (thành lập năm 1750) đồng phục năm 1914 màu lam với các sọc trên quần, chóp mũ và đai vai màu vàng,
  • Cozak Siberi (khoảng đầu thập niên 1750) đồng phục năm 1914 màu lục với các sọc trên quần, chóp mũ và đai vai màu đỏ,
  • Cozak Gor'kaya Liniya (các sông Ishim và Irtysh, thường được coi là đơn vị nhỏ phía nam của tuyến Siberi (pháo đài hóa) và Cozak Siberi), thành lập năm 1753(?),
  • Cozak xuyên Baikal (thành lập năm 1851) đồng phục năm 1914 màu lục với các sọc trên quần, chóp mũ và đai vai màu vàng,
  • Cozak Amur (thành lập năm 1858) đồng phục năm 1914 màu lục với các sọc trên quần và chóp mũ màu vàng, các đai vai màu lục,
  • Cozak Semiryechensk (thành lập năm 1867) đồng phục năm 1914 màu lục với các sọc trên quần, chóp mũ và đai vai màu đỏ thẫm,
  • Cozak Ussuri (thành lập năm 1889) đồng phục năm 1914 màu lục với các sọc trên quần, chóp mũ và đai vai màu vàng.

Chú thích

  1. ^ Chevalier, Pierre (2001). Histoire de la guerre des cosaques contre la Pologne. Adamant Media Corporation. ISBN 1-4212-3269-3.
  2. ^ N/A. Izbornyk (bằng tiếng Pháp). Truy cập 25 tháng 9. Đã bỏ qua tham số không rõ |accessyear= (trợ giúp); Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  3. ^ “Resume”. Izbornyk (bằng tiếng Anh). Truy cập 25 tháng 9. Đã bỏ qua tham số không rõ |accessyear= (trợ giúp); Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  4. ^ “[[History of Charles XII]]”. Memo (bằng tiếng Pháp). Truy cập 25 tháng 9. Đã bỏ qua tham số không rõ |accessyear= (trợ giúp); Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp); Tựa đề URL chứa liên kết wiki (trợ giúp)
  5. ^ "Năm 1651, phải đối mặt với đe dọa ngày càng tăng từ phía Ba Lan và sự bỏ rơi của các đồng minh Tatar, Khmelnytsky đã đề nghị Sa hoàng sáp nhập Ukraina thành một công quốc tự trị dưới sự bảo hộ của Nga… Các chi tiết của liên minh được thương thảo tại Moskva. Người Cozak đã được đảm bảo mức độ tự trị lớn, và họ, giống như các nhóm xã hội khác tại Ukraina, vẫn giữ lại được tất cả các quyền và đặc quyền mà họ đã có dưới quyền cai trị của Ba Lan. “Pereyaslav agreement”. 2006 http://www.britannica.com/eb/article-9059219. Đã bỏ qua tham số không rõ |ency= (trợ giúp); |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  6. ^ Gerhard Ritter, Frederick the Great: a historical profile, trang 96
  7. ^ a ă Christopher Duffy, Frederick the Great: A Military Life, trang 294
  8. ^ Gerhard Ritter, Frederick the Great: a historical profile, trang 119
  9. ^ Christopher Duffy, Frederick the Great: A Military Life, trag 170
  10. ^ Gerhard Ritter, Frederick the Great: a historical profile, trang 121
  11. ^ Thomas Carlyle, History of Friedrich II. of Prussia, called Frederick the Great, Tập 11, trang 180
  12. ^ Gerhard Ritter, Frederick the Great: a historical profile, trang 121
  13. ^ Gerhard Ritter, Frederick the Great: a historical profile, trang 122
  14. ^ B Brackenbury, C. B. Brackenbury, Frederick the Great, trang 231
  15. ^ C B Brackenbury, C. B. Brackenbury, Frederick the Great, trang 23
  16. ^ Gerhard Ritter, Frederick the Great: a historical profile, trang 123
  17. ^ Christopher Duffy, Frederick the Great: A Military Life, trang 235
  18. ^ Christopher Duffy, Frederick the Great: A Military Life, trang 236
  19. ^ Christopher Duffy, Frederick the Great: A Military Life, trang 240
  20. ^ Gerhard Ritter, Frederick the Great: a historical profile, trang 125
  21. ^ Gerhard Ritter, Frederick the Great: a historical profile, trang 126
  22. ^ Baron Thomas Babington Macaulay Macaulay, Life of Frederick the Great, trang 235
  23. ^ Baron Thomas Babington Macaulay Macaulay, Life of Frederick the Great, trang 238
  24. ^ Kort, Michael (2001). The Soviet Collosus: History and Aftermath, trang 133. Armonk, NY: M.E. Sharpe. ISBN 0-7656-0396-9.
  25. ^ "Сопредельные с ними (поселенцами - Ред.) по "Горькой линии" казаки [...] поголовно обучались Киргизскому наречию и переняли некоторые, впрочем, безвредные привычки кочевого народа". Генерал-губернатор Казнаков в докладе Александру III, 1875.
    "Gần kề với họ (những người khai canh -Biên tập) dọc theo "Gorkaya Liniya" tất cả những người Cozak [...] đều học thổ ngữ Kyrgys và chấp nhận một số tư tưởng, tập quán vô hại của dân tộc du cư" trích dẫn báo cáo của thống đốc Kaznakov cho Sa hoàng Alexander III, 1875.
  26. ^ Богаевский А.П. Ледяной поход. Воспоминания 1918 г.

Xem thêm

  • Lịch sử Cozak
  • Sự phản bội đối với người Cozak
  • Người Cozak đăng ký
  • Các Hetman của người Cozak Ucraina
  • Nağaybäk, người Cozak Tatar
  • Cozak Ottoman, đơn vị do Sadyk Pasha chỉ huy
  • Nổi dậy Kosinski
  • Dmytro Yavornytsky
  • Xe máy Cozak
  • Kozacy
  • Lữ đoàn Cozak Ba Tư

Tham khảo

Liên kết ngoài

Cuộc tấn công Berlin (1760)

Trận tấn công Berlin là một trận chiến diễn ra vào tháng 10 năm 1760 trong cuộc Chiến tranh Bảy năm. Trong trận đánh đó, liên quân Áo và Nga tấn công kinh đô Phổ là Berlin và chiếm giữ nó trong vòng 4 ngày. Trong cuộc tấn công này – một trong số ít những cuộc giao chiến của người Nga trong các năm 1760 - 1761, quân Nga có dùng đến lực lượng Kỵ binh và lính Cozak. Tuy nhiên, thành Berlin không bị hủy hoại nặng nề gì mấy. sau khi quân Nga nhận được tiền "phí bảo vệ" do thành phố giao nộp, và trước tin viện quân Phổ sắp kéo tới nơi, liên quân Nga-Áo rút lui. Chỉ huy quân Nga trong trận này, Gottlieb Heinrich Totleben về sau bị cáo buộc là đã bị quân Phổ mua chuộc để rút quân khỏi thành phố và bị kết tội làm gián điệp.

Cuộc vây hãm Hamburg

Thành phố Hamburg là một trong những pháo đài mạnh nhất ở phía đông sông Rhine. Sau khi được quân Cozak và các đội quân Liên minh khác sau đó giải phóng khỏi ách thống trị của Napoleon, thành phố này lại một lần nữa bị Quân đoàn XIII của Pháp dưới quyền Thống chế Davout đánh chiếm vào ngày 28 tháng 5 năm 1813, trong giai đoạn cao trào của chiến dịch tại nước Đức thuộc chiến tranh Napoleon, hay còn gọi là cuộc chiến tranh của Liên minh thứ sáu chống lại ách cai trị và chiếm đóng của Pháp. Nhận được lệnh phải giữ cho được thành phố bằng mọi giá, Davout đã phát động một chiến dịch đặc biệt mạnh mẽ tấn công vào Đội quân phương Bắc có quân số ngang bằng ông ta, bao gồm các đạo quân Phổ và đồng minh, dưới sự chỉ huy của Bá tước von Wallmoden-Gimborn, và giành được chiến thắng trong một số trận giao tranh nhỏ. Không bên nào giành được ưu thế quyết định, cuộc chiến tạm ngưng và kết quả là hình thành một mặt trận khá ổn định giữa Lübeck và Lauenburg, kéo dài xuống phía nam dọc theo sông Elbe, đến tận sau khi cuộc ngừng bắn trong mùa hè 1813 kết thúc. Trong tháng 10 năm 1813, quân Pháp đã tiến về phía Dannenberg, dẫn đến cuộc giao tranh lớn duy nhất tại miền Bắc nước Đức, trận Göhrde. Quân Pháp bại trận và phải rút lui trở lại Hamburg.

Mặc dù quân số, tiếp tế lương thực và đạn dược liên tục suy giảm, lực lượng của Davout vẫn không có dấu hiệu sẽ từ bỏ Hamburg. Khi quân đội Pháp rút về phía tây sau thất bại trong trận Leipzig vào cuối năm đó, phe Liên minh đã triển khai một phần lớn quân đội Nga-Thụy Điển của Jean-Baptiste Bernadotte để trông chừng thành phố trong thời gian chiến dịch năm 1814 tại Pháp. Davout vẫn còn giữ được Hamburg tận đến khi Chiến tranh với Liên minh thứ sáu kết thúc vào tháng 4, và cuối cùng đầu hàng các lực lượng Nga dưới quyền tướng Bennigsen vào ngày 27 tháng 5 năm 1814, theo mệnh lệnh của Vua Louis XVIII được tướng Gérard chuyển đến.

Trong cuộc phòng thủ của Davout tại Hamburg, một loại đồng xu bạc đã được phát hành. Họ dùng lại thiết kế của đồng xu 32 schilling từ năm 1809, với ngày tháng không thay đổi, nhưng tên chủ sở đúc tiền ban đầu bị đổi từ HSK (Hans Schierven Knoph) sang CAIG (C. A. J. Ginquembre, giám đốc người Pháp của sở đúc tiền vào năm 1813). Những đồng xu này được ban hành vào năm 1813, và đã được liệt kê trong Danh mục Tiêu chuẩn Tiền xu Thế giới 1801-1900 (Standard Catalog of World Coins) của tập đoàn Krause Publications như loại tiền số KM242 của Hamburg.

Dnipro

Dnipro hay Dnepropetrovsk (tiếng Ukraina: Дніпро Dnipro; tiếng Nga: Днипро Dnipro, trước đây là Екатериносла́в Yekaterinoslav; phát âm như "đờ-nhi-pờ-rô-pê-tro-sơ-kơ") là thành phố lớn thứ ba của Ukraina với dân số 1,1 triệu người, diện tích: 397 km². Thành phố tọa lạc tại phía Nam Trung bộ của Ukraina, phía nam của Kiev, bên sông Dnepr. Dnipropetrovsk là thủ phủ hành chính của tỉnh Dnipropetrovsk.

Vùng đô thị Dnipropetrovsk có dân số 1.860.000 người (năm 2001).Thành phố là một trung tâm công nghiệp chính của Ukraina, trong thời kỳ Xô Viết, Dnipropetrovsk đã là một trong những trung tâm công nghiệp hạt nhân, vũ khí và không gian của Liên Xô. Đây là quê hương của Yuzhmash, một cơ sở thiết kế và chế tạo tên lửa và công nghiệp không gian lớn. Do đây là thành phố chế tạo, thành phố này là một thành phố cấm (không cho người nước ngoài vào) cho mãi đến thập niên 1990.

Dnipropetrovsk có hệ thống giao thông hiện đại như tàu điện ngầm Dnipropetrovsk với một tuyến đường và sáu nhà ga. Đây là thành phố quê hương của Câu lạc bộ bóng đá nổi tiếng FC Dnipro Dnipropetrovsk.

Donbas

Donbas (tiếng Ukraina: Донбас) hoặc Donbass (tiếng Nga: Донба́сс) là một khu vực ở Đông Nam Ukraina. Về mặt từ nguyên, Donbas hình thành từ Donetskyi basein trong tiếng Ukraina (cònc Donbass từ Donetskiy bassein trong tiếng Nga) có nghĩa là lưu vực sông Donetsk. Có nhiều quan niệm về phạm vi của khu vực này, nhưng phổ biến hơn cả là Donbas bao gồm 2 tỉnh (oblast) Donets'k và Luhans’k. Đây là một vùng công nghiệp khai thác than quan trọng ở Nga và Ukraina suốt từ cuối thế kỷ XIX.Trước giữa thế kỷ XVII, Donbas là vùng tương đối hoang vu. Sau đó, những người Cozak sông Đông đã đến đây định cư. Cho đến giữa thế kỷ XVIII, vùng Donbas nằm dưới sự cai trị của nhà nước Het’manshchyna của người Cozak và Hãn quốc Krym. Sau đó, Đế quốc Nga đã chinh phạt Het’manshchyna và thôn tính Hãn quốc Krym, nên Donbas thành thuộc Nga. Sau cuộc nội chiến Nga 1917-1922, Donbas thuộc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết Ukraina (quốc gia này lại nằm trong Liên Xô). Năm 1991, Ukraina độc lập và Donbas là lãnh thổ của Ukraina. Vào thời điểm tổng điều tra dân số năm 1989 của Liên Xô, có tới 45% dân số Donbas là người Nga. Từ tháng 3 năm 2014, sau khi Chính quyền Ukraina có một số chính sách không có lợi cho người dân tộc Nga ở Ukraina, nhiều người Nga đã đấu tranh bằng vũ trang chống lại chính quyền Ukraina.

Kazakh

Kazakh hoặc Khazak có thể là:

Kazakhstan

Người Kazakh

Tiếng Kazakh

Gazakh (quận), Azerbaijan

Qazax, Azerbaijan

Kazakh Uyezd

Khazak, Iran

Lịch sử Siberi

Lịch sử thời kỳ đầu của Siber mang ảnh hưởng rất lớn bởi nền văn minh Pazyryk mang tính du mục của người Scythia ở bờ tây của dãy núi Ural và người Hung Nô ở bờ đông. Cả hai nền văn minh này đều hưng thịnh trước thời kỷ nguyên Ki tô giáo.

Vùng thảo nguyên Siberia đã chứng kiến một loạt các tộc người du mục kế tiếp nhau, bao gồm người Khiết Đan, người Altai và đế chế Mông Cổ. Trong cuối thời Trung cổ, Phật giáo Tây Tạng lan đến phía nam vùng hồ Baikal. Nằm trong đế chế Nga, Siberi là một tỉnh nông nghiệp và dùng là nơi đi đày cho những người chống đối bất đồng, trong đó nổi tiếng như Avvakum, Dostoevsky, hay những người liên quan đến cuộc nổi dậy tháng chạp (tiếng Nga:Восстание декабристов). Thế kỷ 19 chứng kiến ​​việc xây dựng các tuyến đường sắt xuyên Siberia, công nghiệp hóa và khám phá ra trữ lượng tài nguyên khoáng sản khổng lồ ở Siberia.

Mehmed IV

Để biết về những người cùng tên, xin xem bài Mohammed IV.Mehmed IV (tiếng Thổ Ottoman: Meʰmed-i rābi`; có biệt danh là Avcı, tạm dịch là "Người đi săn) (2 tháng 1 năm 1642 – 6 tháng 1 năm 1693) là vị Sultan thứ 19 của đế quốc Ottoman từ năm 1648 đến 1687. Mehmed IV lên ngôi khi mới 7 tuổi, và ông đã giao phần lớn quyền lực cho các Đại Vizia.

Mikhail Aleksandrovich Sholokhov

Mikhail Aleksandrovich Sholokhov (phiên âm tiếng Việt: Mi-kha-in A-lếch-xan-đrô-vích Sô-lô-khốp; tiếng Nga: Михаил Александрович Шолохов) (sinh ngày 24 tháng 5, lịch cũ ngày 11 tháng 5, năm 1905, mất ngày 21 tháng 2 năm 1984) là một nhà văn Liên Xô nổi tiếng và là người được trao Giải Nobel Văn học năm 1965.

Mikhail Sholokhov được biết tới nhiều nhất qua bộ tiểu thuyết sử thi Sông Đông êm đềm, tác phẩm được Jorge Amado cho rằng có thể sánh với Chiến tranh và hòa bình của Lev Tolstoy. Ngoài ra Sholokhov còn có nhiều sáng tác về những người Cozak vùng Sông Đông và về cuộc Chiến tranh giữ nước vĩ đại.

Người Albazin

Người Albazin (tiếng Nga: албазинцы, Tiếng Trung phồn thể: 阿爾巴津人, Tiếng Trung giản thể: 阿尔巴津人, phiên âm Hán Việt: A Nhĩ Ba Yân) là một trong số ít nhóm dân tộc thiểu số người Trung Quốc gốc Nga. Theo giả thuyết phổ biến nhất, những người Albazin ở Trung Quốc là hậu duệ của khoảng 50 người Nga Cozak đến từ Albazin ở bờ sông Amur được hoàng đế Khang Hi cho tái định cư vào Trung Quốc ở ngoại vi phía đông bắc của Bắc Kinh vào năm 1685.

Ngày nay, thống kê có khoảng 500 người Albazin ở Trung Quốc, chủ yếu sinh sống ở Bắc Kinh và Cáp Nhĩ Tân. Ngoài ra có một số ít cư trú tại Hô Luân Bối Nhĩ, Thượng Hải, Thiên Tân, Vũ Hán, Cẩm Châu, Bạch Thành, Trường Xuân. Hầu hết người Albazin là tín đồ Chính thống giáo Đông phương.

Người Zaporozhe viết thư cho sultan Thổ Nhĩ Kỳ

Người Zaporozhe viết thư cho sultan Thổ Nhĩ Kỳ (tiếng Nga: Запорожцы пишут письмо турецкому султану) là một họa phẩm anh hùng ca của tác giả Ilya Repin. Bức tranh sơn dầu rộng 2,03 m (6,66 ft) X 3,58 m (11,74 ft) đã được bắt đầu vào năm 1880 và không hoàn thành cho đến năm 1891. Repin ghi lại những năm làm việc dọc theo mép dưới của khuôn vải. Hoàng đế Aleksandr III đã mua bức tranh này với trị giá 35.000 rúp, tại thời điểm đó là số tiền lớn nhất từng được trả cho một bức tranh ỡ Nga. Kể từ đó, bức tranh đã được triển lãm tại Viện Bảo tàng Quốc gia Nga tại Sankt Peterburg. Bức tranh này mô tả cảnh dân Zaporozhia hồi đáp thư chiêu hàng của hoàng đế Thổ-Ottoman Mehmed IV. Theo Victor A. Friedman, bức thư này "một trong những văn bản nổi tiếng nhất của người Cozak trong lịch sử lạm dụng lời nói (vi phạm đối thoại)".

Nursultan

Nursultan hay Nur-Sultan (tiếng Kazakh: Нұр-Сұлтан, trước đây tên là Astana (tiếng Kazakh: Астана [astaˈna] ()), là thủ đô của Kazakhstan. Thành phố tọa lạc bên bờ sông Ishim ở mạn bắc của Kazakhstan, trong vùng Akmola, dù về mặt hành chính nó được quản lý riêng biệt với địa vị đặc biệt. Ước tính chính thức năm 2017 đã báo cáo dân số của thành phố là 1.029.556 người, khiến nó trở thành thành phố lớn thứ hai ở Kazakhstan, sau Almaty, thủ đô Kazakhstan từ năm 1991 đến 1997.Được hành lập năm 1830 như một điểm dân cư tên Akmoly (tiếng Kazakh: Ақмолы, chuyển tự Aqmolı)/Akmolinsky prikaz (tiếng Nga: Акмолинский приказ), nó đóng vai trò là một phòng tuyến của người Cozak Xibia. Năm 1832, điểm dân cư này được nâng lên cấp thị trấn và được đổi tên thành Akmolinsk (tiếng Nga: Акмолинск). Ngày 20 tháng 3 năm 1961, nó lại được đổi tên thành Tselinograd (tiếng Nga: Целиноград) để đánh dấu bước tiến của thành phố như một trung tâm văn hóa và hành chính trong chiến dịch Osvoyeniye tseliny. Năm 1992, tên Akmola (tiếng Kazakh: Ақмола), được áp dụng. Ngày 10 tháng 12 năm 1997 Akmola thay Almaty làm thủ đô Kazakhstan. Rồi, cái tên Astana được sử dụng từ ngày 6 tháng 5 năm 1998. Ngày 20 tháng 3 năm 2019, thủ đô của của Kazakhstan được đổi tên từ Astana thành Nursultan theo tên của Tổng thống Nursultan Nazarbayev vừa tuyên bố từ chức.

Astana trở thành thủ đô của Kazakhstan vào năm 1997, và từ đó đã phát triển kinh tế thành một trong những thành phố hiện đại nhất ở Trung Á. Vào ngày 23 tháng 3 năm 2019, sau một cuộc bỏ phiếu nhất trí tại quốc hội Kazakhstan, thành phố đã được đổi tên thành Nur-Sultan, sau khi cựu tổng thống Nurseult Nazarbayev từ chức.

Nursultan hiện đại là một thành phố được quy hoạch, như Brasília của Brasil, Canberra của Úc, Huambo của Angola, Milton Keynes của Anh và Washington, D.C. của Hoa Kỳ. Sau khi trở thành thủ đô, Nursultan thay đổi nhanh chóng. Kiến trúc sư người Nhật Kisho Kurokawa là người lên kế hoạch xây dựng thành phố. Với vai trò trụ sở của chính phủ Kazakhstan, Nursultan là nơi có tòa nhà quốc hội, tòa án tối cao, dinh tổng thống Ak Orda và nhiều cơ quan chính phủ khác. Đây còn là nơi có nhiều trung tâm thương mại, khách sạn và tòa nhà chọc trời hiện đại. Nur-Sultan cũng có hệ thống y tế, thể thao và giáo dục đa dạng.

Podkamennaya Tunguska

Podkamennaya Tunguska (tiếng Nga: Подкаменная Тунгуска, nghĩa là Tunguska dưới những cục đá, Trung Tunguska hay Tunguska đầy đá) là một sông tại vùng Krasnoyarsk, Nga; đây là một chi lưu phía đông của sông Enisei và có chiều dài 1.160 dặm (1.870 km). Tên gọi của sông xuất phát từ thực tế là sông phải chảy qua bên dưới các bãi đá sỏi. Từ năm 1610 những người Nga từ Mangazeya đã vượt qua điểm hợp lưu của Podkamennaya Tunguska với Enisei; đến thập niên 1620 những người Cozak Mangazeya và những người bẫy thú đã đến đây để lấy lông thú từ các thị tộc Tungus bản địa. Sự kiện Tunguska vào tháng 6 năm 1908 diễn ra gần sông, khoảng 8 km (5,0 mi) về phía nam-đông nam của hồ Cheko.

Phần thượng du của sông còn được gọi là Katanga.

Rostov (tỉnh)

Rostov Oblast (tiếng Nga: Росто́вская о́бласть, Rostovskaya oblast) là một chủ thể liên bang của Nga (một tỉnh. Trung tâm hành chính là thành phố Rostov trên sông Đông. Rostov Oblast có diện tích 100.800 kilômét vuông (38.900 sq mi) và dân số 4.279.179 (Điều tra dân số 2010), là chủ thể liên bang đông dân thứ 6 ở Nga.

Tỉnh này giáp Ukraina, tỉnh Volgograd và tỉnh Voronezh về phía bắc, Krasnodar và Stavropol Krai ở phía nam, và Cộng hòa Kalmykia ở phía đông.

Sa quốc Nga

Sa quốc Nga (tiếng Nga: Русское царство, chuyển tự Russkoje tsarstvo hay Nước Nga Sa hoàng, tiếng Nga: Российское царство, chuyển tự Rossiyskoye tsarstvo) là giai đoạn trung ương tập quyền hóa trong lịch sử Nga, bắt đầu từ sự kiện đại công tước Ivan Khủng Khiếp xưng sa hoàng năm 1547 cho đến khi Pyotr Đệ Nhất chuyển sang xưng hoàng đế năm 1721. Đây cũng là thời kì đầy biến động nhất và cương vực Nga cũng bành trướng với tốc độ nhanh nhất (35.000 km²/năm), từ đó biến Nga thành xứ sở nửa Âu nửa Á.

Sông Uda (vùng Khabarovsk)

Uda (tiếng Nga: Уда́,tiếng Trung: 乌第河) là một sông tại vùng Khabarovsk thuộc Nga. Sông chảy vào biển Okhotsk gần thị trấn nhỏ Chumikan. Sông dài 457 km và khởi nguồn từ phía nam của sườn Đông dãy núi Stanovoy và chảy về phía đông, nhận nước từ các chi lưu khác cũng bắt nguồn từ dãy Stanovoy. Tại cực đông dãy Stanovoy, sông nhận nước của 'sông Maya' từ vùng cao ở tây bắc và chảy khoảng 50 km vào vịnh Uda ở góc tây nam của biển Okhotsk gần Quần đảo Shantar.

Từ Điều ước Nerchinsk (1689) tới Điều ước Aigun (1859), phần hạ lưu của sông là biên giới giữa Trung Quốc và Nga, mặc dù nó không được thể hiện rõ ràng và khu vực hiếm có người viếng thăm. Một số người của Ivan Moskvitin đã tiếp cận Uda năm 1640. Những người Lamut bản địa kể cho ông về sông Zeya và sông Amur song không hướng dẫn họ vào nội địa. Năm 1684 một số người Cozak chạy trốn người Mãn tại sông Zeya, tiếp cận đến Udsk, và theo sông Maya tới Yakutsk.

Udsk Ostrog (công sự) được thành lập vào năm 1679, hay 1659 bên bờ tả của sông cách 47 đến 60 dặm về phía thượng nguồn. Có các đề nghị chuyển Okhotsk xuống phía nam đến Udsk song bị từ chối vì bến cảng không thuận tiện và gần biên giới với nhà Thanh.

Trận Austerlitz

Trận Austerlitz còn gọi là Trận Ba Hoàng đế hay Trận Tam Hoàng, là một trong những trận đánh quan trọng và có tính chất quyết định trong chiến tranh Napoléon. Trận đánh xảy ra ngày 2 tháng 12 năm 1805 gần thị trấn Austerlitz, Áo (Slavkov u Brna, Cộng hòa Séc), tại đây Đại quân Pháp do hoàng đế Napoléon I chỉ huy đánh bại một đội quân đông hơn của Nga-Áo do Nga hoàng Aleksandr I và hoàng đế La-Đức Franz II chỉ huy. Thảm bại Austerlitz của liên minh Nga-Áo đã khiến Áo phải ký hòa ước Pressburg với Pháp cuối năm 1805, đưa đến sự cáo chung nhanh chóng của Liên minh thứ ba. Trận Austerlitz thường được ca ngợi là tuyệt tác chiến thuật của Napoléon, đứng cùng hàng với các trận đánh kinh điển như Gaugamela, Cannae hay Leuthen.Sau khi hợp vây tiêu diệt một lực lượng lớn Áo trong chuỗi trận Ulm, quân đội Pháp chiếm Viên tháng 11 năm 1805. Người Áo đành tránh đụng độ với Pháp, chờ quân đội Nga đến tiếp sức. Napoléon thừa thắng rượt lên hướng bắc, nhưng tới khi Nga-Áo hội binh, Napoléon quyết định nhanh chóng dứt điểm cuộc chiến trước khi mọi thứ có thể tồi tệ hơn. Ông làm đủ mọi cách để lừa liên minh rằng quân Pháp đang rất đuối, điển hình là việc rút hết quân khỏi cao điểm có tính chiến lược Pratzen gần Austerlitz và tự ý trải mỏng cánh phải quân Pháp. Nga hoàng Aleksandr I đắc chí, sai các tướng dồn lực tiêu diệt quân cánh phải của địch. Ngày 2 tháng 12, quân liên minh chia làm 4 cột dọc đánh ập vào cánh phải Pháp. Quân Pháp lúc đầu hơi lùi, nhưng thống chế Davout kịp đem quân đoàn III đi gấp từ Viên tới trận địa, hãm lại đà tấn công của địch. Do dồn sức đánh diệt cánh phải Pháp, quân liên minh tự làm yếu trung tâm của mình trên cao điểm Pratzen. Thống chế Pháp Soult đem quân đoàn IV lên chiếm Pratzen, cắt đôi đội hình địch và phá tan cả hai cánh sườn địch. Quân liên minh thua chạy loạn xạ, mất thêm hàng nghìn người bị bắt sống.

Thảm họa này đã làm mất niềm tin của hoàng đế Franz vào Liên minh thứ ba. Ngày 26 tháng 12, Áo ký hòa ước Pressburg với Pháp, chịu xóa tên khỏi liên minh chống Pháp, đồng thời củng cố các hiệp ước Campo Formio và Lunéville trước đó. Áo còn nhượng một số vùng đất ở Ý, Đức và giao nộp 40 triệu franc chiến phí cho Pháp. Quân đội Nga được phép rút lui về nước. Chiến thắng Austerlitz cũng kéo theo việc thành lập Liên bang Rhein gồm các nước chư hầu Đức của Napoléon, đóng vai trò là tấm đệm giữa Pháp và Trung Âu. Sự ra đời của liên bang khiến đế quốc La-Đức không còn giá trị; nó phải sụp đổ năm 1806 khi hoàng đế Franz II thoái vị, chỉ giữ lại ngôi hoàng đế Áo quốc (Franz I). Dù vậy, nền hòa bình không kéo dài khi mà nước Phổ nhanh chóng tham chiến trong Liên minh thứ tư vào năm 1806.

Trận Hagelberg

Trận Hagelberg,, còn gọi là Trận Hagelsberg hay Trận Lubnitz, là một trận đánh trong cuộc Chiến tranh Giải phóng Đức - một phần của các cuộc chiến tranh của Napoléon, diễn ra vào ngày 27 tháng 8 năm 1813. Trong trận đánh này, Quân đội Phổ do tướng Karl Friedrich von Hirschfeld chỉ huy, với sự hỗ trợ của người Cozak Nga do tướng A. I. Černyšëv chỉ huy, đã đánh tan tác Quân đội Đế chế Pháp vốn bị áp đảo về quân số do tướng Jean-Baptiste Girard chỉ huy, buộc Girard phải rút quân về Magdeburg và Wittenberg. Chiến thắng Hagelberg được xem là một thắng lợi vĩ đại của lực lượng dân binh Landwehr của Phổ, cũng như là thành quả của công cuộc cải cách mạnh mẽ của tướng Friedrich Wilhelm Freiherr von Bülow nói riêng và người Phổ nói chung trong cuộc hưu chiến trước đó không lâu. Đồng thời, hàng loại trận thắng chủ yếu là của quân đội Phổ trong các trận chiến như Dennewitz, Hagelberg, Kulm, v.v... đã xoay chuyển tình hình chiến tranh sau thất bại của quân đội Liên minh thứ sáu trong trận Dresden, đồng thời củng cố yêu cầu bình đẳng của nước Phổ với Đế quốc Áo.Sau khi quân đội Pháp dưới quyền tướng Nicolas Oudinot bị đè bẹp trong trận Großbeeren vào ngày 23 tháng 7 năm 1813, Sư đoàn của tướng Girard đã kéo vào xứ Brandenburg để hỗ trợ cho quân của Oudinot. Tướng Hirschfeld - vị Tư lệnh của một Sư đoàn dân binh Phổ đã tiến công lực lượng này trong cùng ngày với thắng lợi của Hoàng đế Napoléon Bonaparte của Pháp tại trận Dresden. Giao tranh đã kéo dài trong 5 tiếng đồng hồ giữa quân Pháp với quân đồng minh Phổ - Nga, và Hirschfeld phát động một cuộc tổng tấn công vào Hagelberg. Sau một cuộc hỗn chiến đẫm máu mà trong đó đạn của súng hỏa mai tỏ ra hiệu quả hơn là lưỡi lê, quân của Girard đã gặp bất lợi. Một lỗ hổng được hình thành giữa cánh trái và trung quân của ông,, buộc quân đội Pháp phải bỏ lại làng Hagelberg. Ngoài ra, một vài khẩu pháo của quân đội Nga cùng với một số binh sĩ mang súng trường của quân đội Phổ đã nã đạn vào quân Pháp đang triệt thoái. Đội hậu binh của Girard cố thủ tại Klein Glein đến đêm rồi cũng tháo lui. Quân Cozak đã truy kích nhưng Hirschfeld đã giữ lại hầu hết đoàn quân của ông. Cuộc bại trận tại Hagelberg đã mang lại thiệt hại không nhỏ cho quân đội Pháp (trong số đó có chiến lợi phẩm và hàng nghìn người bị bắt làm tù binh), hơn hẳn thiệt hại của liên quân Phổ-Nga. Đây cũng được xem là một trong những thất bại rõ ràng của các thuộc cấp của Napoléon trong việc chỉ huy một đội quân độc lập.Quân Pháp đã tháo chạy thục mạng trên khắp các nẻo đường sau thất bại của mình tại Hagelberg. Chiến thắng Hagelberg được nhìn nhận là một trong những hệ quả của "Kế hoạch Trachenberg" của khối Liên minh thứ sáu. Vốn diễn ra 4 ngày sau chiến thắng Großbeeren và là trận đánh đầu tiên của lực lượng dân quân Kurmark Landwehr của Phổ, trận chiến này đã không chỉ tiêu diệt đạo quân của Girard mà còn lên dây cót cho niềm tự tin của người Phổ vốn đang ngày một gia tăng, trước khi quân Pháp lại bị đánh bại trong trận chiến Dennewitz. Đồng thời, đại thắng của liên quân Phổ - Nga tại Hagelberg cũng là cuộc chạm trán đầu tiên giữa lực lượng dân quân mới được canh tân của quân đội Phổ và những binh sĩ được tuyển mộ đã đem lại thắng lợi cho quân đội Pháp trong trận Lützen và trận Bautzen - những lực lượng này vốn không có khác biệt đáng kể về mặt huấn luyện.

Trận Podhajce (1667)

Trận Podhajce (6-16 tháng 10 năm 1667) diễn ra ở thị trấn Podhajce của Vương quốc Ba Lan và Đại Công quốc Litva (nay là Pidhaitsi, miền Tây Ukraina), và khu vực xung quanh nó như một phần của cuộc Chiến tranh Ba Lan-Cozak-Tartar và Đại chiến Thổ Nhĩ Kỳ. Trong trận này, 9 nghìn quân Ba Lan-Litva dưới quyền Jan Sobieski đã đánh bại 35 nghìn quân Tatar và Cozak dưới quyền Petro Doroshenko và Adil Giray. Với chiến thắng này, Jan được công nhận là vị tướng giỏi nhất của Ba Lan, và được phong làm Tổng tư lệnh Quân đội Ba Lan. Tuy nhiên, đây không phải là một thắng lợi quyết định.

Yemyelyan Ivanovich Pugachyov

Yemyelyan Ivanovich Pugachyov (Емелья́н Ива́нович Пугачёв, 1742 – 21 tháng 1 (lịch Gregory) hay 10 tháng 1 (lịch Julius) năm 1775) – đọc là Êmêlian Ivanôvích Pugatrốp là một nông dân người Cozak tại đế quốc Nga, thủ lĩnh của cuộc nổi dậy nông dân kéo dài từ năm 1773 đến năm 1775, chống lại Nữ hoàng Ekaterina II Đại đế. Giống như nhiều thủ lĩnh nông dân thời đó, để tập hợp quần chúng, Pugachyov đã mạo xưng Nga hoàng Pyotr III - vị vua đã bị Ekaterina II cướp ngôi và ám sát năm 1762. Triều đình Nga lúc bấy giờ xem ông là một kẻ mạo danh và một tên phiến loạn, nhưng đông đảo quần chúng nhân dân luôn nhớ về một "Nga hoàng Pyotr III" người Cozak đã cùng với họ chiến đấu chống lại cường quyền áp bức, chiến đấu vì một xã hội tự do bình đẳng.

Đại thi hào Nga là Aleksandr Sergeyevich Pushkin đã viết cuốn sử rất hay "Lịch sử cuộc bạo loạn Pugachyov" và thuật kỹ lại một số sự kiện trong cuộc bạo động này qua tác phẩm "Người con gái viên đại uý" (1836).

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.