Chi (sinh học)

Biological classification L Pengo-vi

Chi, một số tài liệu về phân loại động vật trong tiếng Việt còn gọi là giống[1][2] (tiếng Latinh số ít genus, số nhiều genera), là một đơn vị phân loại sinh học dùng để chỉ một hoặc một nhóm loài có kiểu hình tương tự và mối quan hệ tiến hóa gần gũi với nhau. Trong danh pháp hai phần, in nghiêng, tên một loài gồm chữ thứ nhất là tên chi được viết hoa, chữ thứ hai chỉ một đặc điểm nổi bật của loài. Ví dụ loài người có tên khoa học Homo sapiens, thuộc chi Homo; loài hổ có tên khoa học là Panthera tigris, thuộc chi Panthera.

Xem thêm

Hình ảnh

Biological classification L Pengo vflip.svg
Biological classification de.svg
Categories taxonomiques ast.svg

Ghi chú

  1. ^ “Thuật ngữ "Chi" và "Giống" trong phân loại học sinh vật”.
  2. ^ xem thêm các nghĩa khác tại Giống (định hướng)
Adela (bướm đêm)

Adela là một chi (sinh học) bướm đêm trong họ (sinh học) Adelidae, phân họ (sinh học) Adelinae.

Astrocoeniidae

Astrocoeniidae là một họ san hô trong bộ Scleractinia. Họ này có mặt có mặt ở các đại dương cận nhiệt và nhiệt đới trên toàn thế giới.

Buccochromis

Buccochromis là chi (sinh học) của họ Cá hoàng đế có tông tên là haplochromine. Đây là chi đặc hữu ở Đông Phi.

Chi gồm 7 loài:

Buccochromis atritaeniatus

Buccochromis heterotaenia

Buccochromis lepturus – Buccochromis lepturus

Buccochromis nototaenia – Buccochromis nototaenia

Buccochromis oculatus

Buccochromis rhoadesii

Buccochromis spectabilis

Capsaspora

Capsaspora là một eukaryote đơn bào cộng sinh trong haemolymph của loài ốc nước ngọt nhiệt đới Biomphalaria glabrata.

Chi (định hướng)

Chi trong tiếng Việt có thể hiểu theo các nghĩa sau:

Chi (sinh học) như là một đơn vị phân loại sinh học đứng trên loài (species) và dưới họ (familia).

Chi (giải phẫu) để chỉ bộ phận tay và/hoặc chân của cơ thể động vật bậc cao.

Chi (họ người), họ người Á Đông.

Chi là từ viết tắt của Địa Chi trong Lịch Trung Quốc.

Chi (kế toán): Khoản chi

Chi phí: một thuật ngữ trong kinh tế.

Chi Chuột gai bìu má rừng

Chi Chuột gai bìu má rừng (tên khoa học Heteromys, tên tiếng Anh: forest spiny pocket mice) là một chi (sinh học) động vật thuộc bộ Gặm nhấm, họ Chuột bìu má (Heteromyidae). Tên chi Heteromys gồm Hetero- gốc tiếng Hy Lạp nghĩa là "khác, dị", còn mys nghĩa là "chuột". Chúng có một đặc điểm "lạ" là các túi má ở bên ngoài miệng dùng để trữ thức ăn và mở ra thu vào nhờ một hệ thống cơ đặc biệt ở hai má.

Chi Ma hoàng

Chi Ma hoàng (tên khoa học Ephedra) là một chi thực vật hạt trần chứa các loại cây bụi, và là chi duy nhất trong họ Ma hoàng (Ephedraceae) cũng như bộ Ma hoàng (Ephedrales). Các loài thực vật này sống trong các vùng có khí hậu khô trên một khu vực rộng, chủ yếu ở Bắc bán cầu, suốt từ miền nam châu Âu, miền bắc châu Phi, tây nam và miền trung châu Á, tây nam Bắc Mỹ và ở Nam bán cầu, tại Nam Mỹ kéo dài về phía nam tới Patagonia.

Chim săn mồi

Chim săn mồi là các loài chim có lối sống ăn thịt bằng cách đi săn, chủ yếu là săn các động vật có xương sống, bao gồm cả các loài chim khác. Móng vuốt và mỏ của chúng có xu hướng tương đối lớn, mạnh mẽ và thích nghi để quắp mồi và xé thịt. Trong hầu hết các trường hợp, những con mái lớn hơn đáng kể so với con trống. Do tập tính ăn thịt, chúng thường là đứng trên cùng trong chuỗi thức ăn. Chim săn mồi có thể phân loại thành 2 nhóm chính: chim săn mồi ban đêm và chim săn mồi ban ngày.

Chim săn mồi ban ngày:

Phần lớn là các loài chim trong bộ Ưng và bộ Cắt, bao gồm đại bàng, diều hâu, chim ưng, kền kền, chim ó, chim bồ cắt và chim cắt… Những loài này thường bay nhanh và có thị giác rất tốt. Chúng thường bắt mồi bằng cách lao xuống từ trên cao. Khác với các loài cú thường nuốt nguyên cả con mồi, các loài chim ưng và chim cắt thường xé mồi khi ăn. Đa số chúng thường có xu hướng bay cao hoặc liệng. Các loài chim thuộc bộ Cắt thường giết chết con mồi bằng mỏ, nhờ trên mỏ có một mấu sắc, được gọi là răng, giúp cho nó có thể bẻ gãy xương sống con mồi, trong khi các loài chim trong bộ Ưng sử dụng chú yếu móng vuốt để giết mồi.

Chim săn mồi ban đêm

Là các loài chim trong Bộ Cú, bao gồm cú mèo, cú vọ, dù dì và chim lợn… Chúng có thính giác rất tốt, phù hợp với lối sống ban đêm, và thường tiếp cận con mồi một cách bất ngờ. Các loài chim lợn có đặc điểm không phát ra tiếng động khi bay, trong khi các loài trong Họ Cú mèo có thị giác tương đối tốt và một số trong số chúng cũng săn mồi cả vào ban ngày.

Chromidotilapiini

Chromidotilapiini là tông (sinh học) của họ Cá hoàng đế từ vùng nhiệt đới Tây Phi và Trung Phi. Có bảy chi (sinh học) và hơn 40 loài trong tông này.

Halaelurus

Halaelurus là chi (sinh học) thuộc Họ Cá nhám mèo.

Lợn biển

Lợn biển, tên khoa học Trichechus, là chi sinh học duy nhất trong họ Trichechidae, là một họ động vật có vú trong bộ Sirenia. Họ này được Gill miêu tả năm 1872.Lợn biển là loài động vật có vú lớn, sống trong nước biển. Có 3 loài lợn biển còn tồn tại, cùng với cá cúi (Dugong dugong, họ Bò biển Dugongidae) tạo thành bộ Bò biển (Sirenia). Đuôi của nó giống cái giầm, còn đuôi của cá cúi chia hai phần. Phần nhiều thời gian nó tiêu tốn vào việc ăn cỏ trong nước nông.

Lợn hươu

Lợn hươu (tiếng Indonesia: babirusa) là 1 chi (sinh học), Babyrousa, thuộc họ lợn (Suidae) phân bố tại khu vực Wallacea, cụ thể tại những đảo của Indonesia như Sulawesi, Togian, Sula và Buru. Tất cả thành viên của chi này từng được xét là thành phần của một loài đơn nhất cho đến năm 2002, lợn hươu, B. babyrussa, sau khi phân chia thành nhiều loài riêng biệt, danh pháp khoa học được giới hạn cho lợn hươu Buru từ đảo Buru và Sula, nhưng ngược lại loài được biết đến nhiều nhất, lợn hươu Sulawesi phía bắc, đặt danh pháp B. celebensis. Nếu một con lợn hươu không mài răng nanh của nó (có thể đạt được thông qua hoạt động thường xuyên), cuối cùng có thể khiến cho răng nanh dài ra rồi đâm vào hộp sọ con vật.

Phân chi

Trong sinh học, phân chi là bậc phân loại trực tiếp dưới Chi (sinh học). Trong Mã quốc tế thuật ngữ động vật học, tên phân chi có thể được dùng độc lập hoặc bao hàm trong một danh pháp hai phần, trong ngoặc đơn được đặt giữa tên chi (sinh học) và tên đặc tả (động vật học).

Rắn hổ mang rừng rậm

Rắn hổ mang rừng rậm (danh pháp hai phần: Naja melanoleuca), còn được gọi là rắn hổ mang đen (black cobra) hay rắn hổ mang môi đen trắng (black and white-lipped cobra), là một loài rắn bản địa thuộc họ Elapidae tại châu Phi, chủ yếu tại miền trung và phần phía tây châu lục. Đây là loài rắn dài nhất thuộc chi rắn hổ mang thật sự với chiều dài lên đến 3,1 m. Mặc dù ưa thích sinh cảnh rừng rậm đất thấp và xavan ẩm ướt, nhưng loài rắn hổ mang này rất dễ thích nghi và có thể tìm được tại nơi khí hậu khô hạn trong phạm vi địa lý của chúng. Loài rắn này rất giỏi bơi lội, thường được xét là loài bán thủy sinh. Rắn hổ mang rừng rậm có thói quen ăn uống phổ biến rộng rãi, khẩu phần đa dạng cao: bất cứ gì từ côn trùng lớn đến động vật hữu nhũ nhỏ và những loài bò sát khác. Loài rắn này khá cảnh giác, e dè và được xét là loài rắn rất nguy hiểm. Khi bị kích động hay bị quấy nhiễu, rắn sẽ ra vẻ tự vệ như những loài rắn hổ mang đặc thù, cảnh báo tình thế bằng cách nâng phần thân trước lên khỏi mặt đất, bành rộng mang cổ hẹp và huýt inh ỏi. Rắn ít phổ biến cắn người hơn so với những loài hổ mang châu Phi khác do nhiều yếu tố khác nhau, mặc dù vết cắn từ loài rắn này có khả năng đe đọa khẩn cấp tính mạng.

Tiến hóa loài người

Tiến hóa của loài người là quá trình tiến hóa dẫn tới sự xuất hiện của người hiện đại về mặt giải phẫu. Chủ đề thông thường tập trung vào lịch sử tiến hóa của linh trưởng — cụ thể là chi Homo, và sự xuất hiện của Homo sapiens như là một loài khác biệt trong Hominidae (tức "vượn lớn") — chứ không phải nghiên cứu về lịch sử sớm hơn đã dẫn tới sự ra đời của linh trưởng.

Nghiên cứu về sự tiến hóa của loài người áp dụng sự liên kết đa ngành, bao gồm nhân loại học, linh trưởng học, di truyền học, khảo cổ học, cổ sinh vật học, ngôn ngữ học, phong tục học, tâm lý học tiến hóa và phôi học.Quan điểm chính trong giới khoa học đề cập đến nguồn gốc của người hiện đại về mặt giải phẫu là giả thuyết được gọi là "rời khỏi châu Phi" (OOA, Out of Africa) hay "nguồn gốc châu Phi gần đây của người hiện đại" (RAOMH) hay giả thiết nguồn gốc châu Phi gần đây (RAO), cho rằng loài người (Homo sapiens) có nguồn gốc châu Phi và di cư ra khỏi lục địa này vào khoảng 100 đến 50 Ka BP (Ka BP = Kilo annum before present = ngàn năm trước).

Homo sapiens sau đó đã thay thế Homo erectus ở châu Á và người Neanderthal ở châu Âu.

Đơn vị phân loại

Đơn vị phân loại (chữ Anh: Taxon, số nhiều: Taxa, Chữ Hán: 分類單元 / 分类单元, Hán - Việt: Phân loại đơn nguyên) là đơn vị thao tác khách quan trong công tác phân loại, tên gọi và đặc trưng phân loại có quy định đặc biệt, là chỉ một chủng loại đơn vị phân loại cụ thể trong tầng lớp cấp bậc. Ví dụ như, một chi (sinh học) cụ thể, một họ (sinh học) cụ thể, một bộ (sinh học) cụ thể, v.v

Trong sinh vật học, một đơn vị phân loại (taxon) là một nhóm cá thể thuộc bất kỳ một mức độ nào của thang chia bậc. Nói cách khác “taxon” là nhóm sinh vật có thật được chấp nhận làm đơn vị phân loại ở bất kỳ mức độ nào. Như vậy khái niệm taxon luôn bao hàm ý về những đối tượng cụ thể. Mặc dù không cần thiết, một taxon thường được gọi bằng một tên cụ thể và đưa ra một thứ hạng. Nếu một taxon được đặt một tên khoa học, nó sẽ phải tuân theo quy định mà đã được tiêu chuẩn hóa từ trước

Đại bàng

Đại bàng là một loài chim săn mồi cỡ lớn thuộc bộ Ưng, họ Accipitridae. Chúng sinh sống trên mọi nơi có núi cao và rừng nguyên sinh còn chưa bị con người chặt phá như bờ biển Úc, Indonesia, Phi châu... nhưng chủ yếu là Lục địa Á-Âu với khoảng 60 loài, còn lại 11 loài khác tìm thấy tại các lục địa còn lại bao gồm 2 loài ở Lục địa Bắc Mỹ, 9 loài ở Trung và Nam Mỹ và 3 loài ở Úc.

Đại bàng vàng

Đại bàng vàng (danh pháp hai phần: Aquila chrysaetos) là một trong những loài chim săn mồi nổi tiếng ở Bắc bán cầu. Loài này thuộc họ Accipitridae. Từng phân bố rộng rãi ở Holarctic (Bắc giới), nó đã biến mất khỏi một số khu vực đông dân cư hơn. Mặc dù đã biến mất khỏi hay không phổ biến trong một số phạm vi phân bố trước đây vì các bệnh lây truyền qua đường tình dục, loài này vẫn còn khá phổ biến, có mặt tại Âu Á, Bắc Mỹ, và các khu vực của châu Phi. Mật độ cao nhất của đại bàng làm tổ trên thế giới nằm ở phía nam quận Alameda, tiểu bang California. Đại bàng vàng có màu nâu sẫm, với bộ lông nâu vàng nhẹ trên đầu và cổ. Sải cánh của loài này dài từ 1,8-2,3m. Trong khi những con chim đực nặng từ 7-11 kg thì con cái chỉ có cân nặng bằng một nửa con đực: từ 3,5-6 kg.

Đại bàng vàng sử dụng sự nhanh nhẹn và tốc độ của kết hợp với móng vuốt cực kỳ mạnh mẽ để chộp một loạt các con mồi, bao gồm thỏ, marmota, sóc đất, và các động vật có vú lớn như cáo và các động vật móng guốc non. Chúng cũng ăn xác thối nếu con mồi sống khan hiếm, cũng như các loài bò sát. Các loài chim, bao gồm cả các loài lớn lên đến kích thước của thiên nga và sếu đã được ghi nhận là con mồi của loài đại bàng này. Trong nhiều thế kỷ, loài này là một trong những loài chim được đánh giá cao nhất được sử dụng làm chim nuôi đi săn, với các phân loài Á-Âu đã được sử dụng để săn và giết chết con mồi như sói xám (Canis lupus) trong một số cộng đồng bản địa. Do tính can đảm săn mồi, đại bàng vàng được một số nền văn hóa bộ lạc, cổ xưa xem là loài tôn kính thần bí.

Đại bàng đuôi trắng

Đại bàng đuôi trắng (tên khoa học Haliaeetus albicilla) là một loài chim săn mồi trong họ Accipitridae cũng bao gồm các loài chim ăn thịt khác như diều, ó. Nó được xem là loài gần gũi với đại bàng đầu trắng.

Tổng bộ
(magnorder)
Vực/Liên giới
(domain/superkingdom)
Liên ngành
(superphylum)
Liên lớp
(superclass)
Liên bộ
(superorder)
Liên họ
(superfamily)
Liên tông
(supertribe)
Liên loài
(superspecies)
Giới
(kingdom)
Ngành
(phylum)
Lớp
(class)
Đoàn
(legion)
Bộ
(order)
Họ
(family)
Tông
(tribe)
Chi/Giống
(genus)
Loài
(species)
Phân giới
(subkingdom)
Phân ngành
(subphylum)
Phân lớp
(subclass)
Đội
(cohort)
Phân bộ
(suborder)
Phân họ
(subfamily)
Phân tông
(subtribe)
Phân chi/Phân giống
(subgenus)
Phân loài
(subspecies)
Thứ giới/Nhánh
(infrakingdom/branch)
Thứ ngành
(infraphylum)
Thứ lớp
(infraclass)
Thứ bộ
(infraorder)
Tổ
(section)
Thứ
(variety)
Tiểu ngành
(microphylum)
Tiểu lớp
(parvclass)
Tiểu bộ
(parvorder)
Loạt
(series)
Dạng
(form)

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.