Chiến tranh du kích

Chiến tranh du kích là một loại hình chiến tranh bất thường được phe, nhóm quân sự nhỏ và yếu hơn, cơ động hơn áp dụng đối với kẻ thù lớn mạnh hơn và kém cơ động hơn. Lối đánh du kích bao gồm các cuộc phục kích, phá hoại, đánh bất ngờ, chớp nhoáng và rút lui nhanh. Mục tiêu của các cuộc tấn công du kích là những yếu điểm của kẻ thù.

Chiến tranh
Ramses II at KadeshGustavus Adolphus at the Battle at BreitenfeldDie Gartenlaube (1871) b 852Jacques-Louis David - Napoleon Crossing the Alps - Kunsthistorisches MuseumM1A1 abrams front
Lịch sử quân sự

Chủ đề  

Ngữ nghĩa

Du kích là từ Hán-Việt; "kích" là một danh từ chỉ một loại vũ khí (giống như cây thương), động từ là tấn công, đánh; "du" là từ nơi này sang nơi khác. "Du kích" là thuật ngữ chỉ lối đánh lúc thì chỗ này lúc thì chỗ khác, không thể đoán định được. Chiến tranh du kích là loại chiến tranh sử dụng lối đánh du kích như chiến thuật phổ biến và chủ yếu.

Trong tiếng Anh, chiến tranh du kíchGuerrilla warfare, một cụm từ có gốc tiếng Tây Ban Nha, "du kích" (guerrilla) là hình thức nhỏ bé của chiến tranh (guerra). Thuật ngữ này trở nên phổ biến trong Chiến tranh bán đảo đầu thế kỷ 19, khi người Tây Ban Nha nổi dậy chống lại quân đội xâm lược của Napoléon, họ sử dụng chiến lược du kích.

Chiến lược

Chiến tranh du kích là một loại chiến tranh bất đối xứng: là cuộc chiến giữa các đối thủ có sức mạnh không cân bằng.[1] Nó cũng là một loại chiến tranh bất thường: nó nhằm mục đích không chỉ đơn giản là để đánh bại kẻ thù, mà còn để giành chiến thắng hỗ trợ việc mở rộng và tăng ảnh hưởng chính trị.[2] Theo đó, chiến lược du kích nhằm mục đích gia tăng từng bước quy mô lực lượng, từ nhỏ lên thành một đạo quân lớn.[3] Nếu thành công, chiến tranh du kích sẽ làm suy yếu quân đối phương bằng cách tiêu hao lực lượng theo thời gian dài, cuối cùng buộc quân đối phương phải rút lui.

Chiến thuật

Về chiến thuật, du kích thường tránh đối đầu với các đơn vị lớn của quân đối phương, nhưng tìm kiếm và tấn công các nhóm nhỏ nhân lực và tài nguyên của đối phương để dần dần làm cạn kiệt lực lượng đối phương trong khi giảm thiểu thiệt hại của chính họ. Quân du kích cơ động, bí mật, bất ngờ, tổ chức trong các đơn vị nhỏ và tận dụng lợi thế của địa hình, vốn là điều khó khăn cho các đơn vị lớn hơn để tác chiến.

Phương pháp

Trà trộn, ẩn nấp kín đáo trong bộ phận dân cư lớn, ngụy trang dân thường. Cách thức của họ chủ yếu gồm:

Đặc điểm

Chiến tranh du kích là loại hình chiến tranh mang các đặc điểm:

_Các đơn vị du kích quy mô nhỏ và cơ động

_Chiến tranh tiêu hao

_Cường độ chiến tranh thấp

_Không có chiến tuyến rõ ràng

Lịch sử chiến tranh du kích

Trong cuộc kháng chiến giữa quân đội 13 thuộc địa Mỹ chống lại quân đội Anh quốc, quân đội thuộc địa đã dùng chiến thuật này. Dù lực lượng yếu hơn nhưng dưới sự chỉ huy của thủ lĩnh Washington, họ phát triển chiến tranh du kích ở vùng rừng núi Bắc Mỹ và gây tổn thất lớn cho quân đội Anh, cùng những trận quyết định để giành lại độc lập.

Tại cuộc chiến tranh Việt Nam, Nguyễn Chí Thanh hoàn thiện và phổ biến chiến tranh du kích. Khi mà quân đội Hoa Kỳ sử dụng một lực lượng lớn bộ binh, thiết giáp với quy mô lên đến cấp quân đoàn để tiến hành các cuộc tấn công càn quét thì ngược lại, Mặt Trận Dân tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam dùng các đơn vị bộ binh nhỏ, linh hoạt, trang bị thô sơ để phản kích lại.

Khi Mĩ mở các chiến dịch quy mô lớn như chiến dịch Khe Sanh thì Việt Nam cũng tiến hành giao chiến bằng những lực lượng với quy mô sư đoàn. Sau cuộc chiến năm 1968 VIỆT NAM tiếp tục duy trì chiến tranh du kích và thế trận "chiến tranh nhân dân" của Võ Nguyên Giáp ở quy mô nhỏ hơn, chiến trường chính được thay thế bằng bộ đội chính quy.

Các tác phẩm về Chiến tranh du kích

  1. Chiến tranh du kích (Manual de Guerra de Guerrillas) của Matías Ramón Mella, viết vào thế kỷ 19.
  2. Chiến tranh du kích của Che Guevara.
  3. Trên chiến tranh du kích (论游击战) của Mao Trạch Đông, phát hành năm 1937.
  4. Chiến tranh du kích của Lenin, xuất bản năm 1906.

Tham khảo

  1. ^ Tomes, Robert (Spring 2004). “Relearning Counterinsurgency Warfare” (PDF). Parameters (US Army War College). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 7 tháng 6 năm 2010.
  2. ^ The Irregular Warrior, 4 October 2015 [1]
  3. ^ Van Creveld, Martin (2000). “Technology and War II:Postmodern War?”. Trong Charles Townshend. The Oxford History of Modern War. New York, USA: Oxford University Press. tr. 356–358. ISBN 0-19-285373-2.

Liên kết ngoài

16 tháng 6

Ngày 16 tháng 6 là ngày thứ 167 (168 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 198 ngày trong năm.

Bessus

Bessus (chết vào mùa hè 329 TCN) là một quan tổng đốc vùng Bactria, về sau lên ngôi vua Ba Tư. Theo các nguồn cổ, ông là người giết người tiền nhiệm ông, Darius III Codomannus, sau khi quân đội Ba Tư bị vua của Macedonia là Alexandros Đại đế đánh bại.

Năm 330 TCN, ông lên ngôi vua Ba Tư (Artaxerxes V) chiến đấu chống lại Alexandros Đại Đế bằng chiến tranh du kích, bởi các thủ đô của Ba Tư đã bị Đại Đế chiếm và định đô. Nhưng sau khi cầm cự được một thời gian rất ngắn ông đã bị Đại Đế đánh bại hoàn toàn.

Bom xe

Bom xe hay thiết bị nổ tự tạo gắn với xe (tiếng Anh: vehicle-borne improvised explosive device, VBIED) là thiết bị nổ tự tạo đặt trong xe hơi hay phương tiện vận chuyển khác và được làm nổ. Nó thường được sử dụng làm vũ khí cho việc ám sát, khủng bố hay chiến tranh du kích.

Chiến dịch Barbarossa

Barbarossa (tiếng Đức: Unternehmen Barbarossa) là mật danh của chiến dịch xâm lược Liên bang Xô viết do Quân đội Đức Quốc xã tiến hành trong chiến tranh thế giới thứ hai. Với tên ban đầu là kế hoạch Otto và được đích thân Hitler đổi thành "Barbarossa" theo biệt hiệu của vị Hoàng đế La Mã Thần thánh Friedrich I ở thế kỷ XII vào ngày 18 tháng 12 năm 1940, chiến dịch có mục tiêu nhanh chóng chiếm đóng phần lãnh thổ phía Tây đường ranh giới nối liền giữa hai thành phố Arkhangelsk và Astrakhan (thường gọi là tuyến A-A) của Liên Xô, được mở màn vào sáng ngày 22 tháng 6 năm 1941 trên toàn bộ tuyến biên giới phía Tây của Liên Xô và thực tế kết thúc vào đầu tháng 2 năm 1942 trước cửa ngõ Moskva.

Trong toàn chiến dịch, mặc dù Quân đội Đức Quốc xã đã giành được một số chiến thắng vang dội ở cấp độ chiến thuật, chiếm được phân nửa lãnh thổ thuộc châu Âu của Liên Xô trong đó có một số vùng kinh tế quan trọng, nhưng không hoàn thành mục tiêu mà kế hoạch đề ra. Kể từ sau khi đợt tấn công Moskva bị bẻ gãy vào cuối tháng 1 năm 1942, Quân đội Đức Quốc xã không còn đủ sức tổ chức một đợt tổng tấn công nào khác trên toàn bộ mặt trận, khiến chiến lược đánh nhanh thắng nhanh trước mùa đông 1941-1942 của Hitler hoàn toàn phá sản.

Thất bại về mặt chiến lược của chiến dịch Barbarossa là một bước ngoặt quan trọng, buộc Hitler phải tham gia vào một cuộc chiến tranh tổng lực mà nước Đức Quốc xã và đồng minh phe Trục kém thế tương quan về năng lực sản xuất công nghiệp và khả năng tổng động viên so với Liên Xô và phe Đồng minh, dẫn tới sự suy yếu rồi thất bại hoàn toàn trong Chiến tranh thế giới thứ hai.

Về mặt lịch sử, thì chiến dịch Barbarossa được ghi nhận là chiến dịch quân sự có quy mô lớn nhất về quân số tham chiến và cũng là chiến dịch đẫm máu nhất với con số thương vong lớn chưa từng có trong lịch sử thế giới.

Chiến tranh Bán đảo

Chiến tranh Bán đảo (1807-1814) là một cuộc xung đột quân sự giữa đế chế của Napoleon và Bourbon Tây Ban Nha (với Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland liên minh với Vương quốc Bồ Đào Nha), để kiểm soát Bán đảo Iberia trong Chiến tranh Napoleon. Cuộc chiến bắt đầu khi quân đội Pháp và Tây Ban Nha xâm chiếm và chiếm đóng Bồ Đào Nha vào năm 1807, và leo thang vào năm 1808 khi Pháp khai chiến với Tây Ban Nha, nước trước đây là đồng minh của họ. Cuộc chiến trên bán đảo kéo dài cho đến khi Liên minh thứ sáu đánh bại Napoléon năm 1814, và được coi là một trong những cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc đầu tiên, có ý nghĩa đối với sự xuất hiện của chiến tranh du kích quy mô lớn.

Chiến tranh Bán đảo trùng lặp với những gì thế giới nói tiếng Tây Ban Nha gọi là Guerra de la Independencia Española (Chiến tranh Độc lập Tây Ban Nha), bắt đầu với Cuộc nổi dậy Dos de Mayo vào ngày 2 tháng 5 năm 1808 và kết thúc vào ngày 17 tháng 4 năm 1814. Sự chiếm đóng của Pháp đã phá hủy chính quyền Tây Ban Nha, mà phân tán thành các hội đồng chiến binh cấp tỉnh bất đồng với nhau. Giai đoạn lịch sử này là sự kiện đẫm máu nhất trong lịch sử hiện đại của Tây Ban Nha, gấp đôi lượng người chết so với Nội chiến Tây Ban Nha.Một chính phủ quốc gia được tái lập, Cortes of Cádiz Giin có hiệu lực là một chính phủ lưu vong ở Cádiz vào năm 1810, nhưng không thể huy động quân đội hiệu quả vì bị bao vây bởi 70.000 quân Pháp. Các lực lượng Anh và Bồ Đào Nha cuối cùng đã chiếm được Bồ Đào Nha, sử dụng nó như một vị trí an toàn để từ đó tiến hành các chiến dịch chống lại quân đội Pháp và cung cấp bất kỳ nguồn cung cấp nào họ có thể có cho Tây Ban Nha, trong khi quân đội và du kích Tây Ban Nha vây chặt số lượng lớn quân đội của Napoleon. Những lực lượng đồng minh kết hợp thường xuyên và bất thường này, bằng cách hạn chế sự kiểm soát lãnh thổ của Pháp, đã ngăn các Thống chế của Napoleon bình định các tỉnh nổi loạn của Tây Ban Nha, và cuộc chiến kéo dài qua nhiều năm bế tắc.Quân đội Anh, dưới quyền Tướng Sir Arthur Wellesley, sau này là Công tước 1 của Wellington, bảo vệ Bồ Đào Nha và vận động chống Pháp ở Tây Ban Nha cùng với quân đội Bồ Đào Nha cải cách. Quân đội Bồ Đào Nha bị mất tinh thần được tổ chức lại và trang bị lại dưới sự chỉ huy của tướng William Beresford, người đã được bổ nhiệm làm tổng tư lệnh các lực lượng Bồ Đào Nha bởi hoàng gia Bồ Đào Nha lưu vong, và chiến đấu như một phần của Quân đội Anh-Bồ Đào Nha dưới thời Wellesley.

Năm 1812, khi Napoléon khai chiến với một đội quân đông đảo mà sau này được coi là một cuộc xâm lược thất bại thảm khốc của Pháp tấn công nước Nga, một đội quân đồng minh dưới quyền Wellesley đã tấn công Tây Ban Nha, đánh bại quân Pháp tại Salamanca và chiếm Madrid. Vào năm sau, Wellington đã giành chiến thắng quyết định trước quân đội của Vua Joseph Bonaparte trong Trận chiến Vitoria. Bị quân đội Anh, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha truy kích, Thống chế Jean-de-Dieu Soult không còn có thể nhận được sự hỗ trợ đầy đủ từ một nước Pháp đã cạn kiệt, dẫn đầu các lực lượng binh lính Pháp kiệt quệ và mất tinh thần trong một cuộc rút quân dọc dãy núi Pyrenees trong mùa đông năm 1813-1814.

Những năm tháng chiến đấu ở Tây Ban Nha là một gánh nặng lớn đối với Grande Armée của Pháp. Trong khi người Pháp đã chiến thắng trong trận chiến, thông tin liên lạc và tiếp tế của họ đã bị kiểm tra nghiêm ngặt và các đơn vị của họ thường xuyên bị cô lập, quấy rối hoặc áp đảo bởi những người đảng chiến đấu trong một cuộc chiến tranh du kích và phục kích dữ dội. Quân đội Tây Ban Nha đã nhiều lần bị đánh bại và bị đẩy ra ngoại vi, nhưng họ lại tập hợp lại và không ngừng săn lùng quân Pháp. Sự tiêu tốn tài nguyên này của Pháp đã khiến Napoleon, người vô tình kích động một cuộc chiến tranh tổng lực, gọi cuộc xung đột là "Vết loét Tây Ban Nha". Chiến tranh và cách mạng chống lại sự chiếm đóng của Napoléon đã dẫn đến việc thành lập Hiến pháp Tây Ban Nha năm 1812, sau này là nền tảng của chủ nghĩa tự do châu Âu. Gánh nặng chiến tranh đã phá hủy kết cấu kinh tế và xã hội của Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, và mở ra một kỷ nguyên hỗn loạn xã hội, bất ổn chính trị và đình trệ kinh tế. Phá hủy các cuộc nội chiến giữa các phe phái tự do và tuyệt đối, được lãnh đạo bởi các sĩ quan được đào tạo trong Chiến tranh Bán đảo, vẫn tồn tại ở Iberia cho đến năm 1850. Các cuộc khủng hoảng tích tụ và sự gián đoạn của cuộc xâm lược, cách mạng và khôi phục đã dẫn đến sự độc lập của hầu hết các thuộc địa Mỹ của Tây Ban Nha và sự độc lập của Brazil khỏi Bồ Đào Nha.

Chiến tranh theo giai đoạn

Chiến tranh theo giai đoạn là khái niệm mô tả một cuộc chiến tranh đang diễn ra được hoạch định qua từng giai đoạn chiến đấu. Điều này xuất phát từ khả năng hiện tại tương đối bất lợi, khiến một lực lượng quân sự phải tổ chức quá trình chiến tranh của mình theo từng giai đoạn. Đây là một chiến lược quân sự nhằm từng bước chuyển hóa lực lượng từ yếu sang mạnh và từng bước tổ chức các trận đánh lớn hơn.

Đặc điểm thông thường của việc tổ chức chiến tranh này là một lực lượng quân sự ban đầu yếu kém sẽ chiến đấu theo cách thức chủ yếu và phổ biến là chiến tranh du kích, chiến tranh quy mô nhỏ, từng bước xây dựng các đơn vị lớn về quân số, và cả trang bị, thông thường là pháo binh và thiết giáp. Cho đến khi quân đội họ mạnh hơn sẽ tổ chức các trận đánh lớn hơn để mau chóng chiến thắng cuộc chiến. Đồng thời, việc tuyên truyền thuyết phục người dân là một phần quan trọng của loại chiến tranh này.

Chông

Chông là một loại bẫy thú hoặc người. Chông được làm bằng cây tre hoặc gỗ được vót nhọn và thường được đặt thẳng đứng trong lòng đất. Chông thường được cắm ở một khu vực với số lượng lớn.

Tên gọi trong tiếng Anh là "que Punji", thuật ngữ này xuất hiện lần đầu tiên bằng ngôn ngữ tiếng Anh vào những năm 1870, sau khi Quân đội Anh dính chông trong xung đột biên giới của họ chống lại người Kachin ở phía đông bắc Myanmar (và là từ ngôn ngữ mà từ đó có nguồn gốc).

Diệt chủng người Herero và Namaqua

Diệt chủng người Herero và Namaqua là cuộc diệt chủng do người Đức tiến hành tại xứ thuộc địa Tây Nam Phi thuộc Đức đầu thế kỷ 20. Phương thức diệt chủng đã thực hiện là dồn nạn nhân vào sa mạc Namib, vây chặt không cho họ thoát ra và để cho họ chết vì đói khát.

Ngày 12 tháng 1 năm 1904, người Herero dưới sự lãnh đạo của Samuel Maharero đã nổi dậy chống lại sự đô hộ của đế quốc Đức. Đến tháng 8, tướng Đức Lothar von Trotha đã đánh bại cuộc khởi nghĩa này trong trận Waterberg, dồn nghĩa quân và gia tộc họ vào sa mạc Omaheke, vây chặt không cho họ thoát và để họ chết vì đói khát. Tháng 10 cùng năm, đến lượt người Nama cũng nổi dậy chống lại người Đức và cũng bị khủng bố theo cách tương tự.

Năm 1985, Báo cáo Whitaker của Liên Hiệp Quốc đã coi hành động diệt chủng mà Đức tiến hành tại Tây Nam Phi đối với người Heroro và Namaqua là một trong những hành động diệt chủng đầu tiên của thế kỷ 20. Tổng cộng, có khoảng 65 nghìn người Heroro (80% toàn bộ dân số Heroro) và 10 nghìn người Namaqua (50% dân số Namaqua) đã chết trong thời gian từ 1904 đến 1907.

Du kích Liên Xô

Quân Du kích Liên Xô là các thành viên của phong trào kháng chiến thực hiện chiến tranh du kích chống lại sự chiếm đóng của Đức Quốc xã ở Liên Xô trong suốt Chiến tranh thế giới thứ II.

Phong trào được thiết lập và chỉ huy bởi chính quyền Liên Xô dựa trên kiểu mẫu của Hồng quân. Đối tượng chính của cuộc chiến tranh du kích, được thực hiện bởi các đơn vị du kích Liên Xô, là phá vỡ mặt trận phía Đông của quân Đức, đặc biệt là các tuyến lưu thông đường bộ và đường sắt.

Giải phóng Paris

Sự kiện giải phóng Paris, hay còn được biết với tên trận Paris, diễn ra trong cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai, từ ngày 19 tháng 8 năm 1944 cho tới khi lực lượng chiếm đóng Đức đầu hàng vào ngày 25 cùng tháng. Trước đó, thủ đô Pháp phải chịu sự quản lý của Đức Quốc xã từ tháng 6 năm 1940 khi quân đội Đức chiếm miền Bắc và Tây Pháp trong Trận chiến nước Pháp, còn chính phủ bù nhìn Vichy thành lập thủ đô ở thành phố Vichy, thuộc vùng Auvergne-Rhône-Alpes. Đối với Hoa Kỳ, trận giải phóng Paris có ý nghĩa lịch sử như sự kết thúc thắng lợi của chiến dịch Normandie đẫm máu vào mùa hè, trong khi người châu Âu coi sự kiện này là một bước ngoặt cho cuộc chiến. Nói cách khác, người ta cho rằng sự kiện giải phóng Paris đã chấm dứt cuộc giải phóng nước Pháp với thắng lợi hoàn toàn của phe Đồng Minh.Thị dân Paris đã bắt đầu nổi dậy từ ngày 19 tháng 8 năm 1944, nhưng quân đội Đức đã sắp sửa dập tắt được cuộc nổi dậy này. Nhưng sau cùng, với việc Sư đoàn Thiết giáp số 2 của Pháp dưới quyền Tướng Philippe Leclerc cùng với quân đội Hoa Kỳ kéo vào Paris (quân Hoa Kỳ đã "dọn dẹp" hướng Đông thành phố), quân Đức phải đầu hàng sau khi Sở Chỉ huy quân Đức bị đánh úp. Tướng Dietrich von Choltitz của Đức đã được giao trách nhiệm kêu gọi ngừng bắn. Sau khi Paris được giải phóng, quân Đồng Minh khải hoàn tiến vào thành phố vào ngày 26 tháng 8 năm 1944. Tướng Charles De Gaulle đã tái cơ cấu Chính phủ Pháp. Trong niềm hoan hỉ, ông đã tổ chức lễ diễu binh chiến thắng cùng với lực lượng Kháng chiến quân Pháp và quân Mỹ từ Khải hoàn môn xuống điện Elysées.Là đỉnh cao thắng lợi cho cuộc tiến công nước Pháp của quân lực Đồng Minh, Sự kiện giải phóng Paris đã kết thúc sự chiếm đóng của người Đức trên đất Pháp, tái lập nền cộng hòa, cũng là dấu chấm hết cho chính phủ Vichy. Do đó, theo góc nhìn của De Gaulle, cuộc giải phóng Paris đã hoàn tất mục tiêu trọng đại của ông. Thắng lợi của cuộc giải phóng Paris đã mang lại kết thúc tốt đẹp cho mối quan hệ đầy sóng gió giữa De Gaulle với lực lượng Pháp tự do trong thời chiến. Ngoài ra, thắng lợi này của quân lực Đồng Minh cũng biểu trưng cho sự sụp đổ hoàn toàn của Quân đội Đức Quốc xã tại nước Pháp.

Hoa Kỳ

Hoa Kỳ (tiếng Anh: United States - U.S) hay Mỹ (tiếng Anh: America) tên gọi đầy đủ là Hợp chúng quốc Hoa Kỳ hoặc Hợp chúng quốc Mỹ (tiếng Anh: United States of America - USA) là một nước cộng hòa lập hiến liên bang gồm 50 tiểu bang và 1 đặc khu liên bang. Quốc gia này nằm gần hoàn toàn trong Tây Bán cầu: 48 tiểu bang lục địa và thủ đô Washington, D.C., nằm giữa Bắc Mỹ, giáp Thái Bình Dương ở phía tây, Đại Tây Dương ở phía đông, Canada ở phía bắc, và México ở phía nam. Tiểu bang Alaska nằm trong vùng tây bắc của lục địa Bắc Mỹ, giáp với Canada ở phía đông. Tiểu bang Hawaii nằm giữa Thái Bình Dương. Hoa Kỳ cũng có 14 lãnh thổ hay còn được gọi là vùng quốc hải rải rác trong vùng biển Caribe và Thái Bình Dương.

Với 3,79 triệu dặm vuông (9.833.520 triệu km²) và 324,1 triệu dân (2018), Hoa Kỳ là quốc gia lớn thứ 3 hoặc thứ 4 về tổng diện tích (xem phần địa lý để biết thêm chi tiết) và thứ 3 về dân số trên thế giới. Hoa Kỳ là một trong những quốc gia đa dạng chủng tộc nhất trên thế giới, do kết quả của những cuộc di dân đến từ nhiều quốc gia khác trên thế giới. Nền kinh tế quốc dân của Hoa Kỳ lớn nhất trên thế giới và đứng thứ 2 thế giới (tính theo sức mua tương đương). Tổng sản phẩm nội địa (GDP) của Mỹ được ước tính cho năm 2015 là trên 18,1 ngàn tỷ đô la (khoảng 23% tổng sản lượng thế giới dựa trên GDP danh nghĩa, và khoảng 16% theo sức mua tương đương). GDP bình quân đầu người của Hoa Kỳ là 56.421 đô la, đứng hạng 5 thế giới theo giá trị thực và hạng 10 theo sức mua tương đương.Quốc gia được thành lập ban đầu với 13 thuộc địa của Liên hiệp Anh nằm dọc theo bờ biển Đại Tây Dương. Sau khi tự tuyên bố trở thành các "tiểu quốc", cả 13 cựu thuộc địa này đã đưa ra tuyên ngôn độc lập vào ngày 4 tháng 7 năm 1776. Các tiểu bang nổi loạn đã đánh bại Đế quốc Anh trong Chiến tranh Cách mạng Mỹ, đây là cuộc chiến tranh thuộc địa giành độc lập đầu tiên thành công trong lịch sử. Hội nghị Liên bang quyết định sử dụng bản Hiến pháp Hoa Kỳ hiện tại vào ngày 17 tháng 9 năm 1787. Việc thông qua bản hiến pháp một năm sau đó đã biến các cựu thuộc địa thành một phần của một nước cộng hòa duy nhất. Đạo luật nhân quyền Hoa Kỳ gồm có mười tu chính án hiến pháp được thông qua năm 1791.

Theo tư tưởng Vận mệnh hiển nhiên, Hoa Kỳ đã bắt đầu cuộc mở rộng lãnh thổ mạnh mẽ trên khắp Bắc Mỹ trong thế kỷ XIX. Sự kiện này bao gồm việc tiêu diệt các dân tộc bản địa (Diệt chủng người da đỏ), đánh chiếm những lãnh thổ mới, và từng bước thành lập các tiểu bang mới. Nội chiến Hoa Kỳ kết thúc chế độ nô lệ tại Hoa Kỳ và ngăn ngừa sự chia xé quốc gia. Đến cuối thế kỷ XIX, Hoa Kỳ đã mở rộng đến Thái Bình Dương, và trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới. Chiến tranh Tây Ban Nha – Hoa Kỳ và Chiến tranh thế giới thứ nhất đã xác định vị thế cường quốc quân sự toàn cầu của Hoa Kỳ. Chiến tranh thế giới thứ hai đã xác định vị thế siêu cường toàn cầu của Hoa Kỳ, là quốc gia đầu tiên có vũ khí hạt nhân, và là một trong năm thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Là siêu cường duy nhất còn lại sau Chiến tranh Lạnh, Hoa Kỳ được nhiều quốc gia nhìn nhận như là một thế lực quân sự, văn hóa, và kinh tế có ảnh hưởng lớn nhất trên thế giới. Tuy nhiên, xã hội Hoa Kỳ cũng đang tồn tại những vấn đề nan giải khó giải quyết (chênh lệch giàu nghèo cao, nạn xả súng bừa bãi, nạn phân biệt chủng tộc, tỷ lệ tội phạm cao, chi phí y tế đắt đỏ...).

Napoléon Bonaparte

Napoléon Bonaparte (phiên âm: Na-pô-lê-ông Bôn-na-pác; tiếng Pháp: Napoléon Bonaparte [napoleɔ̃ bɔnɑpaʁt], tiếng Ý: Napoleone Buonaparte; một số sách Việt còn ghi tên ông là Nã Phá Luân (拿破侖); 15 tháng 8 năm 1769 – 5 tháng 5 năm 1821) là một nhà quân sự và nhà chính trị tiêu biểu của Pháp trong và sau cuộc cách mạng Pháp cũng như các cuộc chiến tranh liên quan ở châu Âu.

Với đế hiệu Napoléon I, ông là Hoàng đế của người Pháp từ năm 1804 đến năm 1815. Cuộc cải cách pháp luật của ông, Bộ luật Napoléon, đã có những ảnh hưởng lớn lên nhiều bộ luật dân sự trên toàn thế giới, nhưng ông được nhớ đến nhất bởi vai trò của mình trong các cuộc chiến tranh mà Pháp phải đương đầu với hàng loạt liên minh, được gọi là các cuộc chiến tranh Napoléon. Ông đã thiết lập quyền bá chủ trên phần lớn lục địa châu Âu và tìm cách truyền bá những lý tưởng của cách mạng Pháp, đồng thời củng cố nền đế chế làm phục hồi những nét của chế độ cũ Pháp (Ancien Régime). Nhờ thắng lợi trong những cuộc chiến này, thường là chống lại đối phương có ưu thế về quân số, ông được coi là một trong những nhà chỉ huy quân sự tài ba nhất mọi thời đại, và các chiến dịch của Napoléon

được nghiên cứu tại các học viện quân sự trên khắp thế giới.

Napoléon được sinh ra ở Ajaccio thuộc Corse, trong một gia đình thuộc dòng dõi quý tộc Genova (Ý). Ông được đào tạo thành một sĩ quan pháo binh ở Pháp. Bonaparte trở nên nổi tiếng dưới thời Đệ Nhất Cộng hòa Pháp khi chỉ huy thành công nhiều chiến dịch chống lại Liên minh thứ nhất và thứ hai chống Pháp. Ông cũng tiến hành cuộc chinh phạt bán đảo Ý.

Năm 1799, ông đã tổ chức một cuộc đảo chính và tự đưa mình trở thành vị Tổng tài thứ nhất; năm năm sau đó Thượng viện Pháp tuyên xưng ông là Hoàng đế Pháp. Trong thập niên đầu tiên của thế kỷ XIX, Đệ Nhất Đế chế Pháp dưới quyền Napoléon đã tham gia vào một loạt xung đột — những cuộc chiến tranh Napoléon — lôi kéo mọi cường quốc chính ở châu Âu tham gia. Sau một loạt thắng lợi, Pháp đạt được vị trí thống trị ở lục địa châu Âu, và Napoléon duy trì phạm vi ảnh hưởng của Pháp thông qua việc thành lập của những mối đồng minh rộng lớn và bổ nhiệm bạn bè và người thân cai trị các quốc gia châu Âu khác như những chư hầu của Pháp.

Cuộc chiến kéo dài ở bán đảo Iberia và cuộc xâm lược nước Nga năm 1812 đánh dấu bước ngoặt trong cơ đồ của Napoléon. Quân đội chủ lực của Pháp, Grande Armée, bị tổn thất nặng nề trong chiến dịch và không bao giờ có thể khôi phục lại hoàn toàn. Năm 1813, Liên minh thứ sáu đã đánh bại quân đội của ông tại Leipzig, năm sau đó Liên minh xâm lược Pháp, buộc Napoléon phải thoái vị và đày ông đến đảo Elba. Chưa đầy một năm sau, ông thoát khỏi Elba và trở lại nắm quyền, nhưng đã bị đánh bại trong trận Waterloo vào tháng 6 năm 1815. Napoléon trải qua sáu năm cuối cùng của cuộc đời trong sự giam cầm của người Anh trên đảo Saint Helena. Cái chết của ông gây ra nhiều tranh cãi về sau, chẳng hạn một số học giả cho rằng ông là nạn nhân của một vụ đầu độc bằng arsen.

Ảnh hưởng của Napoléon đối với thế giới hiện đại là đã mang lại những cải cách tự do cho nhiều vùng lãnh thổ mà ông đã chinh phục và kiểm soát, chẳng hạn như Hà Lan, Thụy Sĩ và một phần lớn của nước Ý và Đức hiện đại. Ông đã thực hiện các chính sách tự do cơ bản ở Pháp và khắp Tây Âu. Bộ luật Napoleon của ông đã ảnh hưởng đến hệ thống pháp luật của hơn 70 quốc gia trên thế giới. Nhà sử học Anh, Andrew Roberts bình luận: "Những ý tưởng củng cố thế giới hiện đại của chúng ta — công lý, chế độ nhân tài (chính quyền do những người thực sự có tài năng nắm giữ), bình đẳng trước pháp luật, quyền sở hữu, sự khoan dung tôn giáo, giáo dục thế tục hiện đại, tài chính ổn định, và nhiều thứ khác... — đã được bảo vệ, củng cố, chỉnh lý và mở rộng về mặt địa lý bởi Napoleon. Ông còn bổ sung theo đó là một chính quyền địa phương hợp lý và có năng lực, chấm dứt nạn cướp bóc ở nông thôn, khuyến khích khoa học và nghệ thuật, việc bãi bỏ chế độ phong kiến và sự lập pháp lớn nhất kể từ khi Đế quốc La Mã sụp đổ".

Nổi dậy Tây Tạng 1959

Khởi nghĩa Tây Tạng năm 1959 hoặc Cuộc nổi loạn Tây Tạng năm 1959 bắt đầu vào ngày 10 tháng 3 năm 1959, khi một cuộc nổi loạn diễn ra ở Lhasa, thủ phủ của Tây Tạng, mặc dù có chính quyền riêng trên thực tế đã nằm dưới sự kiểm soát của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa kể từ khi Hiệp định 17 điều được ký kết năm 1951. Xung đột đột vũ trang giữa các lực lượng du kích Tây Tạng và Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc bắt đầu vào năm 1956 tại các vùng Kham và Amdo, là các vùng đang được thực thi cải cách xã hội chủ nghĩa. Chiến tranh du kích sau đó lây lan sang các khu vực khác của Tây Tạng và kéo dài đến năm 1962.

Sự kiện này được người Tây Tạng tổ chức kỷ niệm với tên gọi Ngày khởi nghĩa Tây Tạng trong khi chính quyền Tây Tạng sở tại tổ chức trên danh nghĩa Ngày giải phóng nông nô Tây Tạng.

Phục kích

Phục kích là một chiến thuật quân sự che dấu lực lượng và tấn công bất ngờ quân đối phương. Các đơn vị phục kích chọn lựa địa điểm để đón đánh quân thù, bố trí lực lượng, che dấu các vị trí và sẵn sàng tấn công khi quân thù di chuyển đến. Đây là chiến thuật gây bất ngờ, về tấn công đây là chiến thuật bị động tại một địa điểm nhưng chủ động trong việc lựa chọn địa điểm cũng như chủ động trong tình huống chiến đấu.

Mức độ nguy hiểm của phục kích đối với phục kích đơn vị hay phục kích cá nhân, như việc giết một vị tướng địch chẳng hạn, là hình thức bắn tỉa. Một hay nhiều xạ thủ bắn tỉa được bố trí chờ sẵn, có khả năng giết rất nhiều quân địch tại một vị trí che dấu, mà quân đối phương không thể kịp trở tay hay có thể thực hiện phản công.

Trận Iwo Jima

Trận Iwo Jima (tiếng Anh: Battle of Iwo Jima, tiếng Nhật: 硫黄島の戦い, diễn ra từ ngày 19 tháng 2 đến ngày 26 tháng 3 năm 1945) là trận đánh thuộc mặt trận Thái Bình Dương trong Chiến tranh thế giới thứ hai giữa Hoa Kỳ và Đế quốc Nhật Bản tại đảo Iwo Jima. Đây là một trong những trận đánh ác liệt nhất của chiến trường Thái Bình Dương và kết quả sau một tháng giao tranh, quân Mỹ đã chiếm được Iwo Jima với thương vong khủng khiếp của cả hai bên tham chiến. Sau khi chiếm được hòn đảo, người Mỹ đã biến nó thành một căn cứ không quân cho những chiếc khu trục cơ yểm trợ máy bay ném bom hạng nặng B-29 trút bom xuống các trung tâm công nghiệp trọng điểm trên lãnh thổ Nhật Bản và làm bàn đạp tấn công Tokyo

Iwo Jima cũng là trận đánh đầu tiên của quân đội Mỹ trên lãnh thổ Nhật Bản. Do đó, quân Mỹ đã phải đối đầu với một hệ thống phòng ngự dày đặc cùng với các công sự kiên cố, trận địa pháo được ngụy trang, địa đạo dưới mặt đất và sức chống trả ngoan cường của người Nhật dựa vào các hang động tự nhiên và địa hình núi đá hiểm trở. Đỉnh Suribachi, điểm cao nhất trên hòn đảo và cũng là một vị trí phòng thủ quan trọng của quân Nhật, bị thủy quân lục chiến Mỹ đánh chiếm vào ngày 23 tháng 2 và bức ảnh sáu người lính thủy quân lục chiến cắm cờ chiến thắng trên đỉnh Suribachi với tên gọi "Raising the Flag on Iwo Jima" đã trở thành biểu tượng cho trận đánh. Tuy nhiên, phải đến ngày 16 tháng 3, hòn đảo mới chính thức được người Mỹ tuyên bố an toàn với con số thương vong phía Mỹ là 6.821 người chết và 19.189 người bị thương, trong khi 21.000 quân Nhật trú phòng trên đảo, chỉ còn duy nhất 216 người sống sót bị bắt làm tù binh. Đây là trận đánh duy nhất của thủy quân lục chiến Hoa Kỳ mà số thương vong tổng cộng của Mỹ lớn hơn của Nhật, dù số quân Nhật tử trận gấp ba lần số quân Mỹ.Trận Iwo Jima cũng đã làm nên tên tuổi của vị tướng Nhật có nhiệm vụ bảo vệ hòn đảo là đại tướng Kuribayashi Tadamichi. Bối cảnh trận đánh đã được dựng thành nhiều bộ phim nổi tiếng, trong đó gần đây là hai bộ phim Flags of Our Fathers (Ngọn cờ cha ông) và Letters from Iwo Jima (Những bức thư từ Iwo Jima) của đạo diễn Clint Eastwood.

Vùng Ayacucho

Ayacucho là một vùng của Peru, ở trung-nam Andes của Peru. Thủ phủ là thành phố Ayacucho. Vùng này bị khủng bộ nặng nhất trong thập niên 1980 trong cuộc chiến tranh du kích do phe Con đường sáng thực hiện..

Một cuộc trưng cầu dân ý đã được tổ chức ngày 30 tháng 10 năm 2005 để quyết định vùng này có sáp nhập với các vùng Ica và Huancavelica để tạo thành vùng Ica-Ayacucho-Huancavelica mới, đây là một động thái phi tập trung hóa ở Peru. Tuy nhiên đề án sáp nhập thất bại.

Xung đột nội bộ tại Peru

Ước tính gần 70.000 người đã chết trong chiến sự nội bộ tại Peru từ lúc bắt đầu năm 1980 và, mặc dù vẫn đang tiếp diễn, tình hình đã lắng xuống rất nhiều từ năm 2000. Các thành viên tham chiến trong xung đột là Con đường Sáng (Sendero Luminoso), Phong trào Cách mạng Tupac Amaru và chính phủ Peru.

Phần lớn nạn nhân chiến tranh là dân thường. Tất cả các thành phần vũ trang trong cuộc chiến cố ý nhắm vào và giết hại thường dân, làm cho cuộc xung đột đẫm máu hơn bất kỳ cuộc chiến tranh khác trong lịch sử Peru.

Xung đột vũ trang tại Bắc Ireland

Xung đột vũ trang tại Bắc Ai-len (tiếng Ai-len: Na Trioblóidí, tiếng Anh: The Troubles, tiếng Anh theo Quốc tế: Northern Ireland conflict) là tên của một cuộc xung đột sắc tộc - dân tộc ở Bắc Ai-len trong những năm cuối thế kỷ 20. Nó đôi khi được mô tả như là một cuộc "chiến tranh du kích" hay "chiến tranh cấp độ thấp". Cuộc xung đột bắt đầu vào cuối năm 1960 và thường được coi là kết thúc với vào năm 1998. Mặc dù cuộc xung đột diễn ra chủ yếu tại Bắc Ai-len, song bạo lực vẫn lan tràn vào các vùng Cộng hòa Ai-len, Vương quốc Anh và châu Âu lục địa.

Cuộc xung đột chủ yếu về mâu thuẫn chính trị và dân tộc, được thúc đẩy bởi các sự kiện lịch sử.

Đế quốc Anh

Đế quốc Anh (tiếng Anh: British Empire) bao gồm các quốc gia tự trị, các thuộc địa, các lãnh thổ bảo hộ, các lãnh thổ ủy thác và các lãnh thổ khác do Anh cai trị và quản lý. Đế quốc Anh khởi nguồn với các thuộc địa và trạm mậu dịch hải ngoại do Anh thiết lập từ cuối thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XVIII. Vào giai đoạn đỉnh cao của nó, đây là đế quốc hùng mạnh nhất trong lịch sử và là thế lực đứng đầu toàn cầu trong hơn một thế kỷ. Đến năm 1913, Đế quốc Anh cai trị khoảng 412,2 triệu người, chiếm 23% dân số thế giới lúc đó và bao phủ diện tích hơn 35.500.000 km², gần một phần tư tổng diện tích toàn cầu. Do vậy, những di sản về văn hóa, ngôn ngữ, luật pháp của Đế quốc Anh được truyền bá rộng rãi. Vào thời điểm nó đạt tới đỉnh cao của quyền lực, Đế quốc Anh thường được ví với câu nói "đế quốc có mặt trời không bao giờ lặn" bởi vì sự mở rộng cương thổ ra toàn địa cầu đồng nghĩa với việc mặt trời luôn chiếu sáng trên ít nhất một trong những vùng lãnh thổ của nó.

Trong suốt Thời đại Khám phá vào thế kỷ XV và XVI, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha là hai quốc gia châu Âu đi tiên phong trong phong trào thám hiểm thế giới và trong quá trình đó họ đã thiết lập các đế quốc hải ngoại lớn. Đố kỵ với sự thịnh vượng vô cùng lớn mà hai đế quốc thực dân này giành được, các nước Anh, Pháp và Hà Lan bắt đầu thiết lập các thuộc địa và các mạng lưới mậu dịch của họ tại châu Mỹ và châu Á. Một loạt cuộc chiến với Pháp và Hà Lan trong thế kỷ XVII và XVIII đã giúp Anh trở thành một cường quốc chi phối thống trị tại Bắc Mỹ và Ấn Độ. Nhưng đồng thời, uy thế của nước Anh (và cả Pháp) bị hạn chế tại châu Âu sau năm 1763, trước sự phát triển lớn mạnh của các cường quốc phía Đông như Phổ, Áo và Nga.Sự kiện Mười ba thuộc địa tại Bắc Mỹ giành được độc lập vào năm 1783 sau cuộc Chiến tranh Cách mạng Mỹ khiến cho nước Anh mất đi một số thuộc địa lâu đời nhất và đông dân nhất của mình. Ngay sau đó nước Anh nhanh chóng chuyển sự quan tâm sang châu Phi, châu Á và Thái Bình Dương. Sau thất bại của nước Pháp trong cuộc chiến tranh Cách mạng Pháp và chiến tranh Napoléon (1792 – 1815), nước Anh tận hưởng một thế kỷ thống trị hầu như không có đối thủ, và mở rộng phạm vi trên khắp toàn cầu. Địa vị thống trị của Anh sau này được ca ngợi như là Pax Britannica (Thái bình Anh Quốc), một giai đoạn mà châu Âu và thế giới tương đối thái bình (1815 – 1914), đây là thời điểm mà nước Anh nắm quyền bá chủ toàn cầu và trở thành người canh giữ cho hoà bình thế giới. Vào đầu thể kỷ 19, cuộc Cách mạng công nghiệp bắt đẩu biến đổi nước Anh; tại thời điểm diễn ra cuộc "Đại Triển Lãm" vào năm 1851, nước Anh được ca ngợi như là "công xưởng của thế giới". Đế quốc Anh còn bành trướng đến Ấn Độ, phần lớn Châu Phi và nhiều khu vực khác trên thế giới. Cùng với sự kiểm soát chính thức của nước Anh đối với các thuộc địa riêng của mình, nó còn thống trị gần như toàn bộ nền thương mại của thế giới đồng nghĩa với việc là nó kiểm soát nền kinh tế của nhiều khu vực khác như châu Á và Mỹ Latinh.Tại nước Anh, những quan điểm chính trị đã thay đổi theo hướng ủng hộ chính sách tự do thương mại cùng chính sách tự do và phổ cập hoá đặc quyền bầu cử. Vào thế kỷ XIX, dân số của nước Anh đã gia tăng một cách mạnh mẽ, cùng với đó quá trình đô thị hoá nhanh chóng mà gây nên những căng thẳng nghiêm trọng về cả kinh tế cũng như xã hội. Để tìm kiếm các thị trường và các nguồn tài nguyên mới, Đảng Bảo thủ dưới thời Benjamin Disraeli đã khởi động một kỷ nguyên mới của chủ nghĩa bành trướng đế quốc tại Ai Cập, Nam Phi và nhiều nơi khác. Nhiều thuộc địa như Canada, Úc và New Zealand được trao quyền tự trị, một vài trong số đó được tái phân loại là quốc gia tự trị.Đến đầu thế kỷ XX, sự phát triển lớn mạnh của Đức và Hoa Kỳ làm xói mòi phần nào vị thế dẫn đầu về kinh tế của nước Anh. Chính sách đối ngoại của Anh quốc tập trung vào mối quan hệ hợp tác chặt chẽ và hữu nghị với Hoa Kỳ, nhưng những căng thẳng về vấn đề ngoại giao và quân sự khiến quan hệ với nước Đức ngày càng trở nên xấu đi và là nguyên nhân chính dẫn đến cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Trong thời kỳ diễn ra cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất, nước Anh đã phải dựa nhiều vào đế quốc của mình về mặt nhân sự cũng như lương thực. Cuộc chiến này đã tạo ra một gánh nặng to lớn cả về mặt quân sự, tài chính và nguồn nhân lực cho nước Anh. Mặc dù sau cuộc chiến này, cương thổ của Đế quốc Anh đã được mở rộng lên tới cực điểm, bản thân nó đã không còn giữ được vị thế như là một cường quốc vô song về quân sự và công nghiệp được nữa. Trong Chiến tranh thế giới lần hai, các thuộc địa của Anh tại Đông Nam Á đã bị Nhật Bản chiếm đóng, điều này đã làm cho uy tín của đế quốc Anh bị suy giảm nghiêm trọng và đẩy nhanh quá trình sụp đổ của đế quốc này. Sau chiến tranh, Anh phải trao quyền độc lập cho thuộc địa đông dân và giá trị nhất là Ấn Độ. Trong những năm còn lại của thế kỷ XX, phần lớn những thuộc địa của Đế quốc Anh giành được độc lập như một phần của phong trào phi thuộc địa hóa từ các cường quốc châu Âu, kết thúc với việc chuyển giao Hồng Kông cho Trung Quốc vào năm 1997. 14 lãnh thổ ở hải ngoại hiện vẫn thuộc chủ quyền của Anh.

Sau độc lập, nhiều cựu thuộc địa của Anh gia nhập Thịnh vượng chung các Quốc gia, một hiệp hội tự do của các quốc gia độc lập. 16 quốc gia có chung một nguyên thủ, Nữ vương Elizabeth II, đó là Vương quốc Khối thịnh vượng chung.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.