Chiến dịch Wisla-Oder

Chiến dịch Wisla–Oder là chiến dịch tấn công chiến lược lớn của Quân đội Xô Viết trong Chiến tranh Xô-Đức, chiến dịch này diễn ra trong thời gian từ 12 tháng 1 đến 3 tháng 2 năm 1945 trong khu vực đồng bằng châu thổ hai con sông Wislasông Oder tại Ba Lan. Đây là chiến dịch thắng lợi rất to lớn của Quân đội Xô Viết đã đánh tan cụm tập đoàn quân A của quân đội Đức Quốc xã là cụm quân phòng thủ trên hướng WarszawaBerlin, giải phóng hầu hết Ba Lan, bắc Tiệp Khắc và đặc biệt quan trọng là đã đưa Quân đội Xô Viết vào sát thủ đô Đức: Hồng quân đã đứng chắc chân tại sông Oder chỉ cách Berlin dưới 100 km. Từ các bàn đạp này Hồng quân sẽ tiến hành chiến dịch Berlin kế tiếp chiếm thủ đô Đức chấm dứt chiến tranh thế giới thứ hai tại chiến trường châu Âu.

Chiến dịch Wisla–Oder
Một phần của Mặt trận Xô–Đức trong
Chiến tranh thế giới thứ hai
Lodz liberation2

Quân đội Liên Xô tiến vào Łódź, dẫn đầu bằng một khẩu pháo tự hành ISU-122
Thời gian 12 tháng 12 tháng 2 năm 1945
Địa điểm Ba Lan và các thổ miền đông cũ của Đế chế Đức
Kết quả Chiến thắng của Liên Xô
Tham chiến
 Đức
Flag of Germany (1935–1945).svg Wehrmacht:
Cụm tập đoàn quân A Đức (sau đổi tên là Cụm tập đoàn quân Trung tâm)
Liên Xô Liên Xô
Ba Lan Ba Lan
Red Army flag.svg Hồng quân:
Phương diện quân Belorussia 1Phương diện quân Ukraina 1
Chỉ huy và lãnh đạo
Ferdinand Schörner
Josef Harpe
Georgy Zhukov
Ivan Koniev
Lực lượng
Khoảng 450.000 quân, 1.150 xe tăng, 5.000 pháo, 630 máy bay 2.203.000 quân, 4.529 xe tăng, 14.812 súng cối, 13.763 pháo, 2.198 pháo phản lực Katyusha.
Thương vong và tổn thất
Khoảng 300.000 chết hoặc bị thương
150.000 bị bắt[1]
43.476 chết và mất tích; 150.717 bị thương

Hoàn cảnh chiến trường Xô–Đức đến tháng 1 năm 1945

xxxxnhỏ|trái|200px|Mặt trận Xô-Đức vào lúc diễn ra Chiến dịch Vistula–Oder năm 1945[2]]] Sau chiến dịch Bagration tình hình chính trị, kinh tế, quân sự, của Đế chế III xấu đi một cách thảm hại. Các đồng minh của Đức tan rã hết chỉ còn lại Hungary cũng đang trong những ngày hấp hối cuối cùng và đang tìm cách "đi đêm" với kẻ thù. Các cơ sở kinh tế, quốc phòng bị không lực đồng minh AnhMỹLiên Xô hủy diệt rất nặng nề, nguyên liệu, nhiên liệu cạn kiệt, sản xuất quốc phòng thụt giảm thê thảm. Quân đội Đức đã thiếu vũ khí nhiên liệu lại không thể duy trì nổi quân số nhiều triệu quân với mức độ thương vong quá lớn: tổng động viên đến mức ráo riết nhất cũng không bù được cho số tổn thất lại với chất lượng quân lính kém xa. Đức đã phải huy động người già, thiếu niên từ các tổ chức bán vũ trang như thanh niên Hitler, Volkssturm vào quân đội với trình độ huấn luyện và tinh thần chiến đấu kém xa trước đây. Sức mạnh của Đế chế III đã cạn kiệt: cả kinh tế chính trị và quân sự đang sụp đổ.

Tuy nhiên sau chiến dịch Bagration tại mặt trận phía đông hướng WarszawaBerlin chiến sự im ắng đến hơn 4 tháng, từ đầu tháng 9 đến hết tháng 12 năm 1944 quân đội Xô Viết tích cực chuẩn bị nhưng chưa tấn công, cả hai bên không có hành động quân sự tích cực nào. Thời gian tạm nghỉ đã cho phép quân Đức củng cố vá víu lại những lỗ hổng phòng ngự trên hướng Warszawa–Berlin và điều quân dự bị tấn công tuyệt vọng tại mặt trận phía tây chống liên quân AnhMỹ tại chiến dịch Ardennes và điều quân xuống phía nam phản công tại các trận đánh lớn tại vùng hồ Balaton Hungary để phòng thủ Budapest.

Trong thời gian này tại hướng Warszawa–Berlin quân đội Xô Viết đã thi hành một khối lượng công việc khổng lồ để đảm bảo hậu cần cho những chiến dịch tấn công to lớn và liên tục sắp tới để mau chóng đánh bại Đức Quốc xã. Các phương diện quân Xô Viết được cung cấp số đạn dược đủ để tiến hành 4 đến 5 chiến dịch thông thường cho phép Hồng quân tấn công liên tục trên diện rộng cho đến hết chiến tranh.

Binh lực và kế hoạch

Quân đội Liên Xô

Binh lực

RIAN archive 2410 Marshal Zhukov speaking
Nguyên soái G. K. Zhukov (năm 1941, lúc còn mang hàm Đại tướng), chỉ huy Phương diện quân Byelorussia
  • Phương diện quân Byelorussia 1 (Tư lệnh: nguyên soái G. K. Zhukov, tham mưu trưởng:, ủy viên Hội đồng quân sự: thượng tướng N. A. Bulganin)
    • Tập đoàn quân số 47
    • Tập đoàn quân Ba Lan số 1 (thiếu tướng S. G. Poplavskiy)
    • Tập đoàn quân xung kích số 3
    • Tập đoàn quân số 61
    • Tập đoàn quân xe tăng cận vệ số 1
    • Tập đoàn quân xe tăng cận vệ số 2
    • Tập đoàn quân xung kích số 5 (đóng tại đầu cầu Magnusew)
    • Tập đoàn quân cận vệ số 8 (đóng ở đầu cầu Magnusew) (thượng tướng V. I. Chuikov)
    • Tập đoàn quân số 69 (đóng ở đầu cầu Puławy)
    • Tập đoàn quân số 33 (đóng ở đầu cầu Puławy)

Kế hoạch

Tổng tư lệnh tối cao Stalin của Liên Xô để tưởng thưởng công lao của nguyên soái Xô Viết Georgy Konstantinovich Zhukov đã đặc biệt ưu ái vị nguyên soái này khi quyết định để Zhukov sẽ nhận được vinh dự đánh chiếm Berlin thủ đô nước Đức: Stalin điều nguyên soái Konstantin Konstantinovich Rokossovsky từ phương diện quân Byelorussia 1 – lực lượng sẽ phát triển về hướng Berlin – sang chỉ huy phương diện quân Byelorussia 2 để tấn công chiến dịch Đông Pomerania và chiến dịch Đông Phổ. Phương diện quân Belorussia 1 được trao cho nguyên soái G.K. Zhukov. Stalin còn chi tiết vạch tuyến ngăn cách tấn công của phương diện quân Zhukov với phương diện quân Ukraina 1 của nguyên soái I.S. Konev sao cho Berlin nằm trọn trong khu vực tiến quân của nguyên soái Zhukov. Những tế nhị trong quyết định này của tổng tư lệnh tối cao Xô Viết sau này được ba vị nguyên soái Liên Xô đề cập nhiều trong các hồi ký của mình sau chiến tranh.

Tổng hành dinh Xô Viết dự kiến bắt đầu chiến dịch vào ngày 20 tháng 1 năm 1945, nhưng theo thư của thủ tướng Anh Winston Churchill cho Tổng tư lệnh tối cao Liên Xô Stalin đề nghị quân đội Xô Viết tấn công sớm chia sẻ gánh nặng với quân đội đồng minh đang khó khăn trong chiến dịch Ardennes nên Stalin đã chỉ thị hai nguyên soái Zhukov và Konev tấn công sớm vào ngày 12 tháng 1 năm 1945.

Từ ngày 12 tháng 1 đến 3 tháng 2 năm 1945 Hồng quân tổ chức chiến dịch Wisla–Oder đây là chiến dịch quân sự quy mô rất lớn đã đánh tan các lực lượng Đức trên hướng phòng thủ WarszawaBerlin, giải phóng gần hết Ba Lan và đặt sự tồn tại của Đế chế III chỉ còn tính từng tuần.

Tấn công chiến dịch Wisla–Oder là hai phương diện quân chủ đạo của Liên Xô:

  • Tại cánh bắc, Phương diện quân Byelorussia 1 tư lệnh nguyên soái G.K. Zhukov gồm: tập đoàn quân xe tăng cận vệ số 1 và số 2; các quân đoàn xe tăng độc lập số 9 và 11; tập đoàn quân không quân số 16; các tập đoàn quân xung kích số 47, 61, 3 và số 5; tập đoàn quân cận vệ số 8; các tập đoàn quân số 69 và 33; tập đoàn quân Ba Lan số 1 và 2; 2 quân đoàn kỵ binh cận vệ số 2 và 7;
  • Cánh nam Phương diện quân Ukraina 1 của nguyên soái I.S. Konev: tập đoàn quân xe tăng cận vệ số 3; tập đoàn quân xe tăng số 4; quân đoàn xe tăng độc lập số 31; tập đoàn quân không quân số 2; tập đoàn quân cận vệ số 3 và 5; các tập đoàn quân số 6, 13, 52, 60, 21, 59; quân đoàn cơ giới cận vệ số 7; quân đoàn kỵ binh số 1.

Tổng cộng hai phương diện quân Zhukov và Konev có 2,2 triệu quân; 33,5 nghìn đại bácsúng cối; 7.000 xe tăngpháo tự hành; 5.000 máy bay chiến đấu với ưu thế về quân số và vũ khí gấp 4 đến 5 lần đối phương.

Lực lượng Đức phòng thủ tại hướng này là cụm tập đoàn quân A của Đức – tư lệnh đại tướng Josef Harpe (từ 17 tháng 1 năm 1945 là đại tướng Ferdinand Schörner) đó là các đơn vị: tập đoàn quân xe tăng số 4, tập đoàn quân dã chiến số 9 và 17. Khu vực phòng thủ của Đức được gia cố rất chắc chắn có 7 giải phòng ngự với chiều sâu từ 300 đến 500 km, ngoài ra các thành phố trong khu vực này đều đã được biến thành pháo đài trung tâm phòng ngự rất chắc chắn. Các sông trên hướng Warszawa–Berlin hầu hết đều chạy theo hướng nam – bắc và đã được quân Đức tận dụng biến thành các tuyến phòng thủ liên hoàn rắn chắc.

Ngày 12 tháng 1 năm 1944, phương diện quân Ukraina 1 của I.S. Konev từ bàn đạp Sandomir trên sông Wisla kết hợp với cánh phải của phương diện quân Belorussia 4 phát triển tấn công về phía tây và đây là chiến dịch Sandomir–Silesia phát triển tấn công theo hướng chung nhắm đến Breslau (Wroclaw).

Ngày 14 tháng 1 Phương diện quân Belorussia 1 kết hợp với cánh trái của phương diện quân Belorussia 2 tấn công từ 2 bàn đạp Pulava (Pulawy) và Magnushev(Gmina Magnuszew) đây là chiến dịch Warszawa–Poznan hướng tấn công nhắm vào phía Poznan.

Cho đến ngày 17 tháng 1, hai phương diện quân Xô Viết của Konev và Zhukov đã đè bẹp phòng thủ của các lực lượng chính của cụm tập đoàn quân A của Đức trên diện rộng gần 500 km và đột phá sâu 100–160 km. Quân đội Xô Viết đã giải phóng Warszawa, Radom, Chenstokhov (???), Radomsko, và hơn 2.400 thành phố và điểm dân cư của Ba Lan. Các lực lượng Đức được huy động từ Đức sang đã không thể vá lại lỗ thủng phòng ngự. Quân đội Xô Viết tấn công ào ạt với tốc độ trung bình 30–40 km một ngày đêm. Ngày 19 tháng 1, các đơn vị tiên phong của phương diện quân Konev là tập đoàn quân xe tăng cận vệ số 3, tập đoàn quân cận vệ số 5 và tập đoàn quân 52 trong khi truy đuổi quân Đức đã tiến sâu vào đất Đức và cánh trái Konev đã giải phóng thành phố Krakov (Krakow). Từ ngày 20 đến 25 tháng 1, phương diện quân Zhukov đã đập tan tuyến phòng thủ sông Varta và tuyến Poznan, bao vây và tiêu diệt khối quân Poznan gồm 6 vạn quân Đức.

Từ ngày 22 tháng 1 đến 3 tháng 2 quân đội Xô Viết đã hoàn thành các mục tiêu của chiến dịch đã tiến đến sông Oder vượt sông và lập các bàn đạp trên bờ tây tại các khu vực Shteinau (???), Breslau, Oppelna (???) và Kiustrin (???). Cùng thời gian này phương diện quân Ukraina 4 bên trái của phương diện quân Konev giải phóng toàn bộ miền nam Ba Lan và miền Bắc Tiệp Khắc đến thượng nguồn con sông Wisla.

Vì hình thế của mặt trận đến lúc này tại hướng Berlin đã tạo thành một mũi nhọn ăn sâu về phía lãnh thổ Đức và tại hai sườn bắc và nam của Hồng quân là các khối quân Đức còn rất mạnh tại Pomerania, Đông PhổSilesia rất có thể sẽ phản công mạnh vào sườn hai phương diện quân Zhukov và Konev nên Bộ chỉ huy tối cao Xô Viết vào ngày 3 tháng 2 năm 1945 đã chủ động chấm dứt chiến dịch và ngay sau đó chuyển trọng tâm tấn công tiếp theo sang nhiệm vụ đánh tiêu diệt các khối quân Đức tại Pomerania, Đông Phổ và Silesia, đó là các chiến dịch Đông Pomerania, chiến dịch Đông Phổ, chiến dịch hạ Silesia và chiến dịch thượng Silesia diến ra từ tháng 2 đến tháng 4 năm 1945.

Sau chiến tranh giữa hai nguyên soái Xô Viết Georgy Konstantinovich Zhukov nguyên tư lệnh phương diện quân Belorussia 1 và nguyên soái Vasily Ivanovich Chuikov nguyên tư lệnh tập đoàn quân cận vệ số 8 thuộc phương diện quân này đã diễn ra tranh luận về tính hợp lý dừng chiến dịch hay nên phát triển tấn công tiếp chiếm Berlin trong hành tiến khi thủ đô Đức còn chưa kịp bố phòng vững chắc: nguyên soái Chuikov cho rằng nếu thêm vài nỗ lực tấn công tiếp thì Berlin đã thất thủ trong tháng 2 năm 1945. Trong khi đó Zhukov cho rằng cần thiết phải dừng lại để trước hết phải thủ tiêu các khối quân lớn của đối phương hai bên sườn mũi nhọn Hồng quân hướng đến Berlin.

Sau các chiến dịch trong tháng 2 đến tháng 4 năm 1945 này quân đội Đức về cơ bản đã trắng tay.

Kết quả

Chiến dịch Wisla–Oder cũng là một thắng lợi rất to lớn của quân đội Xô Viết vào giai đoạn cuối của chiến tranh, đã tiêu diệt hoàn toàn 35 sư đoàn Đức, và đánh thiệt hại nặng 25 sư đoàn khác, bắt sống 14 vạn tù binh và một lượng lớn khí giới của quân Đức. Đã giải phóng đại bộ phận Ba Lan, đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho quân đội đồng minh trên mặt trận phía tây và là tiền đề để tiến hành các chiến dịch Pomerania và Silesia tiếp theo. Đặc biệt chiến dịch này đã đưa Hồng quân vào trung tâm nước Đức chỉ còn cách thủ đô Berlin của Hitler chỉ khoảng 60 km đường chim bay từ các bàn đạp này Hồng quân sẽ tiến hành chiến dịch Berlin chiếm thủ đô Đức bắt Đế chế III đầu hàng.

Chú thích

  1. ^ Висло-Одерская операция 1945 (tiếng Nga)
  2. ^ Ngoài Chiến dịch Wisla, bản đồ này cũng bày tỏ Chiến dịch Đông Phổ, Chiến dịch Silesia, Chiến dịch Đông Pomerania và các trận tại Courland. Xem thêm bản đồ chính xác hơn.

Liên kết ngoài

Chiến dịch Bagration

Bagration là mật danh của chiến dịch Byelorussia - chiến dịch tấn công chiến lược mùa hè năm 1944 của quân đội Liên Xô, chính thức bắt đầu ngày 23 tháng 6 đến 29 tháng 8 năm 1944 trong Chiến tranh Xô-Đức. Mật danh này được lấy theo tên của Pyotr Ivanovich Bagration - một vị tướng đã chiến đấu và hy sinh trong cuộc chiến tranh năm 1812 giữa Đế quốc Nga và nước Pháp của Napoléon I.

Đây là chiến dịch được thực hiện bởi 6 mũi tấn công của 4 Phương diện quân Liên Xô. Sau ba giai đoạn tác chiến chiến lược, Quân đội Liên Xô đã đánh tan Cụm Tập đoàn quân Trung tâm của Quân đội Đức Quốc xã, tiêu diệt 25 Sư đoàn Đức, giải phóng hoàn toàn lãnh thổ Byelorussia cùng phần lớn lãnh thổ các nước cộng hoà Xô viết vùng Baltic và miền Đông Bắc Ba Lan. Về phía nước Đức Quốc xã, đây là "thất bại thảm hại nhất của Quân đội Đức Quốc xã trong toàn bộ cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai", khi khu vực phòng thủ phía Đông của nước Đức Quốc xã bị sụp đổ và Đông Phổ bị trực tiếp đe doạ.

Chiến dịch Bagration cũng được xem là chiến thắng vĩ đại nhất của Hồng quân trong cả cuộc chiến. Chiến dịch này cùng với chiến dịch Lvov-Sandomir (tiếng Nga: Львов – Сандомир) được các nhà nghiên cứu lịch sử coi là tiêu biểu cho nghệ thuật chiến dịch Xô Viết, khi các hoạt động nghi binh liên tục làm Quân đội Đức Quốc xã lỡ chân, đồng thời các bài bản tấn công của học thuyết "Tác chiến chiều sâu" được thực hiện gần như hoàn hảo ở mọi cấp độ. Trong khi vai trò "bậc thầy" của Liên Xô về vây bọc được khẳng định, hai chiến dịch này đã đẩy Quân đội Đức Quốc xã ra khỏi lãnh thổ Liên Xô, giúp Hồng quân có bàn đạp ở bờ Tây sông Wisla, tạo tiền đề cho chiến dịch Vistula-Oder ở giai đoạn kế tiếp, đưa chiến tranh vào khu vực "chiều sâu chiến lược" của đối phương theo học thuyết.

Chiến dịch Berlin (1945)

Chiến dịch Berlin là chiến dịch tấn công cuối cùng của quân đội Xô Viết trong Chiến tranh Xô-Đức. Tại chiến dịch này – diễn ra từ ngày 16 tháng 4 đến 9 tháng 5 năm 1945 – Hồng quân Xô Viết đã đánh tan lực lượng vũ trang Đức bảo vệ thành phố Berlin, chiếm thủ đô Đức Quốc xã, buộc lãnh tụ (Führer) Quốc xã Adolf Hitler phải tự sát vào ngày 30 tháng 4 năm 1945. Nước Đức quốc xã bị đánh bại hoàn toàn và đã đầu hàng vô điều kiện, chấm dứt Chiến tranh thế giới thứ hai trên chiến trường châu Âu.

Chiến dịch Budapest

Chiến dịch Budapest (Tiếng Nga:Будапештская операция) là hoạt động quân sự lớn nhất giữa quân đội Liên Xô với quân đội Đức Quốc xã và quân đội Hungary tại Mặt trận Hungary thuộc Chiến tranh Xô-Đức trong các năm 1944-1945. Cuộc chiến diễn ra chủ yếu trên địa bàn thủ đô Budapest của Hungary và một số vùng lân cận. Đây là một trong các chiến dịch phức tạp và khó khăn đối với quân đội Liên Xô tại Trung Âu. Chiến dịch này kéo dài qua gần 4 tháng kể từ ngày 29 tháng 10 năm 1944, khi STAVKA ra mệnh lệnh yêu cầu Phương diện quân Ukraina 2 tiến hành các cuộc tấn công trên hướng Budapest, cho đến lúc toàn bộ số quân Đức và Hungary còn sống sót tại Budapest hạ vũ khí đầu hàng ngày 13 tháng 2 năm 1945. Chiến thắng của Hồng Quân Liên Xô trước quân đội Hungary đã loại bỏ đồng minh cuối cùng của nước Đức Quốc xã ở châu Âu, mở ra khả năng kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai ở Trung và Đông Âu trong một tương lai gần.Chiến dịch Budapest bị ngắt quãng thành năm giai đoạn:

Giai đoạn thứ nhất diễn ra từ ngày 29 tháng 10 đến hết ngày 3 tháng 11 năm 1944. Trong giai đoạn này, các cuộc tấn công của quân đội Liên Xô trên toàn bộ mặt trận của Phương diện quân Ukraina 2 đã không đột phá được phòng tuyến của quân đội Đức Quốc xã trên tuyến sông Tisza. Tập đoàn quân 46 (Liên Xô) trên cánh trái chỉ tiến thêm được 4 đến 6 km/ngày và tiếp cận tuyến sông Danube ở Baja. Ở giữa mặt trận Tập đoàn quân cận vệ 7 hầu như dẫm chân tại chỗ trong bùn lầy đầu mùa đông. Các quân đoàn cơ giới cận vệ 2 và 4 cũng phải dừng lại khi còn cách ngoại ô Budapest 15 km về phía Đông Nam. Ở cánh phải, các tập đoàn quân 27, 40, 53 (Liên Xô), 4 (Romania) và Cụm kỵ binh cơ giới của tướng I. A. Pliyev chưa có cách gì để vượt qua phòng tuyến cứng rắn của quân Đức trên tuyến sông Tisza.

Giai đoạn thứ hai diễn từ ngày 7 tháng 11 đến hết ngày 24 tháng 11 năm 1944. Kết quả của giai đoạn này cũng như giai đoạn thứ nhất. Hai bên bất phân thắng bại với những tổn thất lớn về về người và vũ khí, phương tiện.

Giai đoạn thứ ba diễn ra từ ngày 3 tháng 12 đến hết ngày 26 tháng 12 năm 1944. Lần này, với sự tham gia của Phương diện quân Ukraina 3 phối hợp với Phương diện quân Ukraina 2 làm cho mật độ tấn công của quân đội Liên Xô dày đặc hơn. Quân đội Đức Quốc xã cũng tập trung một lực lượng xe tăng rất mạnh để phòng thủ Budapest. Kết thúc giai đoạn này, hai cánh quân xung kích của Phương diện quân Ukraina 2 (Tập đoàn quân xe tăng 6) và Phương diện quân Ukraina 3 (Quân đoàn xe tăng 18) gặp nhau tại khu vực Esztergom, bao vây gần 190.000 quân Đức và Hungary trong vòng vây tại Budapest. Vì để thất lợi trên hướng Budapest, ngày 28 tháng 12, tướng Johannes Frießner bị cách chức; tướng Otto Wöhler được Bộ Tổng tư lệnh Lục quân Đức chỉ định là Tư lệnh Cụm tập đoàn quân Nam.

Giai đoạn thứ tư diễn ra từ đêm ngày 1 rạng ngày 2 tháng 1 năm 1945 đến ngày 26 tháng 1 năm 1945. Với sự tham gia của 13 sư đoàn xe tăng và 2 sư đoàn cơ giới, quân đội Đức Quốc xã mở cuộc phản công nhằm giải vây cho Cụm quân Budapest của tướng Karl Pfeffer-Wildenbruch. Ngày 20 tháng 1 năm 1945, xe tăng Đức đã vọt tiến đến sông Danube tại khu vực Dunapentele, phía Nam Budapest 25 km, đe dọa chia cắt đội hình của Phương diện quân Ukraina 2 trên hướng Nam Budapest. Ngày hôm sau, các trung đoàn pháo tự hành của Quân đoàn cơ giới cận vệ 2 và 4 được điều đến bịt cửa đột phá. Đây là mũi phản công xa nhất mà quân đội Đức Quốc xã đạt được trong quá trình phản công giải vây Budapest.

Giai đoạn thứ năm diễn ra từ ngày 27 tháng 1 đến ngày 13 tháng 2 năm 1945. Cụm quân Đức bị vây tại khu vực Budapest còn cố gắng kháng cự thêm nửa tháng nữa trước khi hạ vũ khí đầu hàng.Xen giữa 5 giai đoạn này là những diễn biến chính trị, quân sự. Ngày 21 tháng 12 năm 1944, Mặt trận dân tộc độc lập Hungary đã họp tại thành phố Debrecen và lập ra Quốc hội lâm thời và Chính phủ lâm thời Hungary đối địch với Chính phủ của tướng Ferenc Szálasi. Thượng tướng Béla Miklós, nguyên tư lệnh Tập đoàn quân 1 (Hungary) được bầu làm Thủ tướng. Thượng tướng János Verijos, nguyên Tổng tham mưu trưởng quân đội Hungary dưới thời Horthy Miklós chạy sang phía quân đội Liên Xô sau vụ đảo chính ở Budapest được chỉ định làm Bộ trưởng chiến tranh trong chính phủ lâm thời. Chính phủ này đã ký hiệp định đình chiến với đồng minh Liên Xô, Anh và Mỹ.Chiến dịch Budapest hầu như đã đánh sập những binh đoàn chủ lực của Cụm tập đoàn quân Nam (Đức). Mặc dù đầu tháng 3, Quân đội Đức Quốc xã còn cố gắng mở một chiến dịch tấn công lớn bằng xe tăng tại khu vực hồ Balaton nhằm hất quân đội Liên Xô sang bên kia sông Danube nhưng không thành công. Quân đội Liên Xô và các đồng minh chống phát xít như Nam Tư, Romania, Bugaria đã rộng đường tấn công Viên, Tiệp Khắc và tiếp cận biên giới phía Nam nước Đức.

Chiến dịch Lublin-Brest

Chiến dịch Lyublin–Brest hay Chiến dịch Lublin-Brest là một chiến dịch quân sự diễn ra trong Chiến tranh Xô-Đức do Hồng quân Liên Xô tổ chức nhằm tiếp tục tấn công vào Cụm tập đoàn quân Trung tâm (tái lập) của quân đội Đức Quốc xã. Chiến dịch này là một phần của chuỗi chiến dịch giải phóng Byelorussia mang mật danh "Bagration", kéo dài từ ngày 18 tháng 7 đến 2 tháng 10 năm 1944. Tham gia chiến dịch là Phương diện quân Byelorussia 1 do Nguyên soái K. K. Rokossovsky chỉ huy. Đối đầu với phương diện quân là phần lớn Cụm Tập đoàn quân Trung tâm và một số quân đoàn trên cánh Bắc của Cụm Tập đoàn quân Bắc Ukraina. Chiến dịch Lublin-Brest là một thắng lợi lớn của quân đội Liên Xô khi họ đã hoàn toàn quét sạch quân Đức khỏi miền tây nam Byelorussia và giải phóng một phần lãnh thổ Đông Ba Lan, thiết lập một số bàn đạp vượt sông trên bờ Tây sông Wisla và áp sát thủ đô Warszawa của Ba Lan.

Trong thời gian diễn ra chiến dịch, ngày 21 tháng 7 năm 1944, tại thành phố Khelm vừa được quân đội Liên Xô giải phóng, những người yêu nước cánh tả Ba Lan đã bầu ra Ủy ban Giải phóng Dân tộc Ba Lan, có chức năng như một Chính phủ lâm thời Ba Lan. Tham gia Ủy ban này có các thành viên của Đảng Công nhân Ba Lan, Đảng Xã hội Ba Lan, Đảng Nông dân Ba Lan và Đảng Dân chủ Ba Lan. Từ ngày 27 tháng 7 năm 1944, Ủy ban Giải phóng Dân tộc Ba Lan bắt đầu các hoạt động quản lý hành chính nhà nước tại các vùng đất của Ba Lan được quân đội Liên Xô giải phóng.Chiến dịch Lyublin-Brest diễn ra tại những hoàn cảnh chính trị - quân sự rất phức tạp vào những thời điểm nhạy cảm của các mối quan hệ quốc tế. Trong đó, đan xen quan hệ giữa các nước đồng minh với nhau khi quân đội Đồng minh chống phát xít ở mặt trận phía tây đang tiến hành chiến dịch Normandie, quan hệ giữa các nước đồng minh với Liên Xô và với các quốc gia Đông Âu.v.v... Trước, trong và sau chiến dịch đều có những biến cố chính trị, những sự kiện quân sự có liên quan. Trong đó có cuộc khởi nghĩa Warszawa và việc thành lập Ủy ban Giải phóng Dân tộc Ba Lan, những sự kiện này gây ra nhiều tranh cãi trong giới sử học của nhiều quốc gia cho tới ngày nay. Nguyên soái K. K. Rokossovsky đánh giá, đây là một trong những chiến dịch khó khăn và phức tạp nhất trong cuộc đời chỉ huy quân đội của ông.

Chiến dịch Tây Carpath

Chiến dịch Tây Carpath là một chiến dịch tấn công chiến lược do quân đội Liên Xô tiến hành nhằm tấn công vào tuyến phòng thủ của quân đội Đức Quốc xã tại miền Tây Slovakia, Nam Ba Lan trong Chiến tranh Xô-Đức thuộc Chiến tranh thế giới thứ hai từ ngày 12 tháng 1 đến ngày 18 tháng 2 năm 1945. Tham gia chiến dịch có các đơn vị của Phương diện quân Ukraina 4 và cánh phải của Phương diện quân Ukraina 2. Các lực lượng này phải đối đầu với các tập đoàn quân 8, 17, Tập đoàn quân xe tăng 1 (Đức) và Tập đoàn quân 1 (Hungary) đang phòng thủ khu vực Carpath Tây thuộc lãnh thổ Slovakia và Ba Lan từ Jasło (Ba Lan) đến Nemecká (Tiệp Khắc).

Chiến dịch được tiến hành theo hai giai đoạn:

Giai đoạn thứ nhất: Các tập đoàn quân của Phương diện quân Ukraina 4 tấn công từ tuyến sông Wisłoka - Ondava đến tuyến sông Poprad, giải phóng các thành phố Jasło, Nowy Sącz, Prešov, Košice.

Giai đoạn thứ hai: Phương diện quân Ukraina 4 tiếp tục vượt sông Poprad, giải phóng các thành phố Bielsko-Biała, Nowy Targ, Poprad. Cánh phải của Phương diện quân Ukraina 2 gồm các tập đoàn quân 40, 27, 53 và Cụm kỵ binh cơ giới của tướng I. A. Pliyev tham gia tấn công bên cánh trái của Phương diện quân Ukraina 4, giải phóng các thành phố Brezno, Plešivec.Kết thúc chiến dịch, hai phương diện quân Liên Xô đã đột phá sâu từ 170 đến 230 km trên một chính diện mặt trận rộng 440 km, giải phóng một hầu hết lãnh thổ miền Tây Slovakia, đánh chiếm các bàn đạp làm tiền đề cho việc tiếp cận các tuyến sông Hron, Orava, thượng nguồn sông Wisla và mở chiến dịch giải phóng khu công nghiệp Moravská-Ostrava ngay sau đó.

Chiến dịch Viên

Chiến dịch tấn công Viên là một trong các chiến dịch quân sự quân sự lớn cuối cùng ở châu Âu trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Chiến dịch do Phương diện quân Ukraina 3 và cánh trái Phương diện quân Ukraina 2 của Hồng quân Liên Xô tổ chức nhằm tấn công vào Tập đoàn quân xe tăng 6 SS, Tập đoàn quân xe tăng 2 và Tập đoàn quân 6 của quân đội Đức Quốc xã phòng thủ ở miền Tây Hungary và miền Đông nước Áo. Trong một tháng, từ 16 tháng 3 đến 15 tháng 4 năm 1945, các phương diện quân Ukraina 2 và 3 cùng với sự tham gia tập đoàn quân Bulgaria 1 đã đánh bại quân đội Đức Quốc xã và giải phóng phần lãnh thổ phía Tây Hungary và Đông Áo, trong đó có thành phố Viên, thủ đô của Áo.Theo kế hoạch, chiến dịch Viên sẽ mở màn sau khi mũi tấn công của quân Đức tại hồ Balaton bị chặn đứng, vì vậy một phần giai đoạn đầu của chiến dịch Viên cũng chính là giai đoạn phản công của Phương diện quân Ukraina 3 tại hồ Balaton.

Chiến dịch Viên đã dẫn đến sự tan rã của Tập đoàn quân 6 (Đức) lần thứ ba và cũng là lần cuối cùng tuy tập đoàn quân này không đầu hàng Hồng quân mà đầu hàng quân đội đồng minh Anh - Hoa Kỳ. Theo chân Tập đoàn quân 6 (Đức), Tập đoàn quân xe tăng 2 (Đức) bị đánh bật khỏi lãnh thổ Hungary sang lãnh thổ Nam Tư và bị Quân giải phóng nhân dân Nam Tư đánh tan tại khu vực Bắc Croatia - Đông Slovenia. Chỉ có những lực lượng còn lại của Tập đoàn quân xe tăng 6 SS rút về vùng núi miền Tây Tiệp Khắc tiếp tục chống cự lại cho đến khi bị Hồng quân Liên Xô đánh tan trong Chiến dịch Praha và trên các trận tuyến cuối cùng ở Trung Âu năm 1945. Tướng Kurt Tippelskirch nhận xét: "Ba tập đoàn quân của Cụm tập đoàn quân Nam (Đức) bị tổn thất nặng nề sau các cuộc phản công hồi đầu tháng 3 đã không thể chịu đựng được sức tấn công của quân Nga".Kết quả thất bại của quân đội Đức Quốc xã trong Chiến dịch Viên đã làm tiêu tan hy vọng của Hitler về việc chuyển trọng tâm kháng chiến của nước Đức Quốc xã về miền núi Alpes, nước Áo và miền Tây Tiệp Khắc. Chiến dịch này đã đẩy nhanh quá trình diệt vong của phát xít Đức, kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai tại châu Âu.

Chiến dịch tấn công Moravská-Ostrava

Chiến dịch tấn công Moravská-Ostrava (đặt theo tên cũ của thành phố Ostrava) diễn ra từ ngày 10 tháng 3 đến ngày 5 tháng 5 năm 1945 là một chiến dịch quân sự lớn do Hồng quân Liên Xô tổ chức nhằm tấn công vào Cụm tập đoàn quân Trung tâm của quân đội Đức Quốc xã trong cuộc Chiến tranh Xô-Đức thuộc Chiến tranh thế giới thứ hai. Các cuộc tấn công của quân đội Liên Xô được triển khai ở vùng trung Tiệp Khắc với mục tiêu chọc thủng các phòng tuyến của quân Đức tại khu vực biên giới Slovakia-Séc, đánh vào miền Bắc Morava, tiến sâu vào nội địa Tiệp Khắc đến vùng phụ cận Praha. Tham gia chiến dịch này là các mũi tấn công chủ yếu của Phương diện quân Ukraina 4, được tăng cường thêm quân của Cụm tập đoàn quan Ukraina 1. Khi thực hiện chiến dịch, quân đội Liên Xô còn phải chú ý bảo vệ và chiếm giữ nguyên vẹn trung tâm công nghiệp Ostrava, một vùng kinh tế quan trọng giúp tái thiết đất nước Tiệp Khắc sau chiến tranh.Chiến dịch bị kéo dài thành ba giai đoạn:

Giai đoạn thứ nhất từ ngày 10 đến 23 tháng 3 năm 1945: Các cuộc tấn công được triển khai từ ngày 10 tháng 3 trên toàn tuyến mặt trận của Phương diện quân Ukraina 4 từ Żory đến Ružomberok nhưng không đạt kết quả. Gặp phải sức phản kích quyết liệt của Quân đoàn xe tăng 24 và Quân đoàn bộ binh 59 (Đức), cuộc tấn công của các tập đoàn quân 38 và cận vệ 1 chỉ phát triển được không quá 5 km chiều sâu trên một chính diện rộng khoảng 20 km. Tập đoàn quân 18, Quân đoàn bộ binh cận vệ 17 và Quân đoàn Tiệp Khắc 1 chưa kịp chuẩn bị để triển khai các mũi tấn công. Tuyến mặt trận của Phương diện quân Ukraina 4 hầu như không thay đổi so với đầu tháng 3 năm 1945.

Giai đoạn thứ hai từ 24 tháng 3 đến 5 tháng 4 năm 1945: Một cuộc tấn công mới được triển khai nhưng tốc độ tấn công vẫn không được đẩy lên. Ngày 25 tháng 3, STAVKA cách chức các tướng I. Ye. Petrov và F. K. Korzhenyevich, tư lệnh và tham mưu trưởng Phương diện quân Ukraina 4. Đại tướng A. I. Yeryomenko được cử làm tư lệnh phương diện quân này, thượng tướng L. M. Saldalov làm tham mưu trưởng. Mặc dù đã tập trung binh lực và được tăng viện Quân đoàn xung kích 159 lấy từ lực lượng biên phòng của NKVD, nhưng cho đến tận ngày 14 tháng 4 - khi đã bước sang giai đoạn ba được gần 10 ngày - thì Phương diện quân Ukraina 4 cũng mới chỉ tiến lên được từ 20 đến 30 km ở cánh phải và 40 đến 55 km ở cánh trái. Trong khi đó, Phương diện quân Ukraina 1 đã thực hiện xong chiến dịch Thượng Silesia, vượt sông Oder và cánh trái của nó đã ở trên lãnh thổ phía Đông Nam nước Đức.

Giai đoạn thứ ba từ ngày 6 tháng 4 đến 5 tháng 5 năm 1945: Để phối hợp chặt chẽ các mặt trận trong cuộc tổng tấn công của Quân đội Liên Xô trên hướng Tây ngày 6 tháng 4, STAVKA ra lệnh cho nguyên soái I. S. Konev chuyển Tập đoàn quân 60 cho Phương diện quân Ukraina 4. Tướng A. I. Yeryomenko điều Tập đoàn quân 38 từ Vodzislav (Wodzislaw Slaski) vượt sông Oder lên phía Tây Bắc Morava, cùng với Tập đoàn quân 60 mở mũi tấn công vu hồi vào Moravská-Ostrava. Tập đoàn quân cận vệ 1 (trừ các sư đoàn 237 và sơn chiến 129) cũng di chuyển lên phía Bắc Nový Bohumín để mở mũi đột kích vỗ mặt từ phía Bắc vào Moravská-Ostrava. Hai mũi tấn công được thực hiện từ ngày 15 tháng 4. Ngày 30 tháng 4 năm 1945, Quân đội Liên Xô giải phóng thành phố công nghiệp Moravská-Ostrava. Trên cánh trái, Tập đoàn quân 18 (Liên Xô) cũng phối hợp với cánh phải của Phương diện quân Ukraina 2 tấn công sang phía Tây, dồn Tập đoàn quân xe tăng 1 (Đức) vào "cái túi" Přerov - Olomouc.12 giờ trưa 5 tháng 5 năm 1945, tại Praha nổ ra cuộc khởi nghĩa chống lại quân đội Đức Quốc xã do những người yêu nước Tiệp Khắc tiến hành. Trong khi đó, Quân đội Liên Xô vẫn còn cách thành phố này từ 70 đến 100 km. Từ ngày 6 tháng 5 năm 1945, Phương diện quân Ukraina 4 phối hợp Phương diện quân Ukraina 1 mở Chiến dịch Praha giải phóng hoàn toàn lãnh thổ Tiệp Khắc, bao vây và bức hàng phần lớn Cụm tập đoàn quân Trung tâm (Đức) ở phía Đông Praha.

Chiến dịch Đông Carpath

Chiến dịch Đông Carpath là hoạt động quân sự lớn trong Chiến tranh Xô-Đức thuộc Chiến tranh thế giới thứ hai do Hồng quân Liên Xô tổ chức nhằm tấn công vào các tuyến phòng thủ của Tập đoàn quân xe tăng 1, Quân đoàn bộ binh 11 (Đức Quốc xã) và Tập đoàn quân 1 (Hungary) tại khu vực phía Đông Slovakia. Tham gia chiến dịch này có Phương diện quân Ukraina 4 (tái lập) phối hợp với Tập đoán quân 38 trên cánh trái của Phương diện quân Ukraina 1 (Liên Xô).

Diễn ra từ ngày 8 tháng 9 đến ngày 30 tháng 11 năm 1944, chiến dịch này gồm hai hoạt động chính:

Hoạt động tấn công tại hướng Krosno - Dukla do Tập đoàn quân 38, Quân đoàn xe tăng 25, Quân đoàn kỵ binh cận vệ 1 và Quân đoàn Tiệp Khắc 1 thực hiện. Trong một số tài liệu lịch sử Liên Xô và Nga, hướng này được xem như một chiến dịch riêng và được gọi là Chiến dịch Carpath - Dukla.

Hoạt động tấn công trên hướng Sanok - Skolye - Uzhgorod do Tập đoàn quân cận vệ 1, Tập đoàn quân 18 và Quân đoàn bộ binh cận vệ 17 tiến hành. Trong một số tài liệu lịch sử Liên Xô và Nga, hướng này cũng được xem như một chiến dịch riêng và được đặt tên là Chiến dịch Carpath - Uzhgorod.Trước chiến dịch, ngày 29 tháng 8 năm 1944, tại Slovakia với trung tâm là Banska-Bistritsa và các thành phố Zvolen, Banska-Shtyavnitsa, Turch Martin đã nổ ra cuộc khởi nghĩa của những người Slovakia yêu nước. Do đó, chiến dịch còn có thêm mục tiêu nhanh chóng tiến quân vào lãnh thổ Slovakia để giúp đỡ quân khởi nghĩa. Những người khởi nghĩa cố gắng chống chọi với quân Đức tấn công họ từ ba phía trong quân đội Liên Xô vẫn dang bị kẹt lại trên các con đèo ở sườn phía Bắc dãy Carpath. Quân đội Đức Quốc xã đã chống cự dữ dội và tổ chức phòng ngự cứng rắn trong khu vực, khiến cho các mũi tiến công của quân đội Liên Xô gặp rất nhiều khó khăn và thời gian chiến dịch bị kéo dài hơn dự tính rất nhiều. Kết quả, quân đội Liên Xô không thể giúp đỡ những người khởi nghĩa Slovakia và đành bó tay nhìn cuộc khởi nghĩa bị quân Đức dìm trong biển máu.

Chiến dịch Đông Carpath cũng đặt dấu ấn cho việc trở về đất nước của Quân đoàn Tiệp Khắc 1 (trưởng thành từ Tiểu đoàn tình nguyện Tiệp Khắc một trong trận Sokolovo). Bằng các trận đánh ác liệt trên khu vực đèo Dukla, những người lính Tiệp Khắc chống phát xít bắt đầu tác chiến trên lãnh thổ của mình trong sự phối hợp với quân đội Liên Xô.

Mặc dù không đạt được mục tiêu đánh chiếm toàn bộ lãnh thổ Slovakia như dự tính nhưng chiến dịch tấn công Đông Carpath đã giúp cho quân đội Liên Xô giải phóng phần lãnh thổ còn lại của Ukraina tại dãy Carpath, chiếm giữ đèo Dukla, một vị trí rất hiểm yếu trong khu vực và chọc thủng phòng tuyến Árpád, một tuyến phòng thủ rất mạnh của quân đội Đức Quốc xã tại Slovakia, mở đường tiến vào giải phóng toàn bộ Tiệp Khắc.

Chiến tranh Xô-Đức

Chiến tranh Xô–Đức 1941–1945 là cuộc chiến giữa Liên Xô và Đức Quốc xã trong Chiến tranh thế giới thứ hai, trải dài khắp Bắc, Nam và Đông Âu từ ngày 22 tháng 6 năm 1941 khi Quân đội Đức Quốc xã (Wehrmacht) theo lệnh Adolf Hitler xoá bỏ hiệp ước không xâm phạm lẫn nhau Liên Xô- Đức và bất ngờ tấn công Liên bang Xô Viết tới ngày 9 tháng 5 năm 1945 khi đại diện Đức Quốc xã ký kết biên bản đầu hàng không điều kiện Quân đội Xô Viết và các lực lượng của Liên minh chống Phát xít sau khi Quân đội Xô Viết đánh chiếm thủ đô Đức Berlin. Nó đã được biết đến bởi rất nhiều cái tên khác nhau tùy thuộc vào các quốc gia, phía Liên Xô gọi nó là Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại (tiếng Nga: Великая Отечественная Война) lấy theo tên trong lời hiệu triệu của Stalin trên radio gửi đến nhân dân Xô Viết vào ngày 3 tháng 7 năm 1941, hoặc cuộc Chiến tranh thần thánh (tiếng Nga: Священная война); trong khi người Đức (và các nước phương Tây) thường gọi nó đơn giản là Mặt trận phía đông (tiếng Đức: die Ostfront), Chiến dịch phía đông (tiếng Đức: der Ostfeldzug) hoặc Chiến dịch nước Nga (tiếng Đức: der Rußlandfeldzug) vì thực chất đây là giai đoạn quan trọng nhất của cuộc chiến ở mặt trận phía đông châu Âu trong Chiến tranh thế giới thứ hai.

Tuy có tên là Chiến tranh Xô–Đức nhưng thực ra Đức không tấn công Liên Xô một mình mà còn có sự giúp sức của 8 nước đồng minh phe Trục ở châu Âu là Romania, Hungary, Bulgaria, Phát xít Ý, Slovakia, Croatia, Phần Lan, Vichy Pháp. Về phía Liên Xô, trên đà chiến thắng kể từ năm 1943, họ đã cho thành lập quân đội các nước Ba Lan, Tiệp Khắc bên phía mình để chiến đấu trên lãnh thổ các quốc gia này và làm nòng cốt xây dựng quân đội các quốc gia này sau chiến thắng. Vào cuối năm 1944 và đầu năm 1945, khi quân đội Xô Viết tiến vào Romania, Hungary, các nước này đã quay sang chống lại Đức Quốc xã và gia nhập Liên minh chống Phát xít. Cuộc chiến tranh tiếp diễn giữa Liên Xô và Phần Lan có thể coi là sườn phía bắc của mặt trận này. Ngoài ra, các hoạt động phối hợp của Đức-Phần Lan qua biên giới phía bắc Phần Lan-Liên Xô và tại khu vực Murmansk cũng được coi là một phần của Chiến tranh Xô-Đức.

Mặt trận này đã được đặc trưng bởi quy mô và sự ác liệt chưa từng thấy, sự hủy diệt quy mô lớn, và những tổn thất nhân mạng to lớn do chiến tranh, nạn đói, bệnh tật và cả những cuộc thảm sát. Đây cũng là nơi tập trung phần lớn các trại tập trung, các cuộc hành quân chết, các khu Do Thái, và những cuộc tàn sát, là trung tâm của cuộc Đại đồ sát người Do Thái. Trong tổng số người chết ước tính khoảng 70 triệu của Chiến tranh thế giới thứ hai thì trên 30 triệu người đã chết tại mặt trận này, trong đó có nhiều dân thường. Cuộc chiến này có ý nghĩa quyết định đối với kết quả của Chiến tranh thế giới thứ hai và là nguyên nhân chính cho sự thất bại của Đức và việc tiêu diệt nước Đức quốc xã. Sau chiến tranh, Liên bang Xô viết trỗi dậy trở thành một siêu cường quân sự và công nghiệp, các Đảng Cộng sản thiết lập chính phủ trên phần lớn các nước Đông Âu, còn nước Đức bị khối Đồng Minh phân đôi thành Cộng hoà Dân chủ Đức và Cộng hoà Liên bang Đức.

Hai cường quốc tham chiến chủ yếu là phát xít Đức và Liên Xô. Mặc dù không tham chiến tại đây, nhưng Vương quốc Anh và Hoa Kỳ đã viện trợ về tài chính và vật chất hỗ trợ cho Liên Xô trong các giai đoạn sau của cuộc chiến (khoảng 4% lượng vũ khí mà Liên Xô sử dụng là do Mỹ - Anh viện trợ). Trong khi đó, phía Đức Quốc xã thì nhận được sự hỗ trợ từ 9 nước đồng minh (phát xít Ý, Romania, Bulgaria, Hungary, Phần Lan, Slovakia, Croatia, Vichy Pháp và Tây Ban Nha), 9 nước này đã cung cấp cho Đức khoảng 20% quân số, 1/3 số lao động và hơn một nửa lượng nguyên vật liệu để sản xuất vũ khí. Đức Quốc xã đã huy động nguồn nhân lực, toàn bộ các kho vũ khí, dự trữ kim loại, các nguyên liệu chiến lược, huy động gần như toàn bộ nền công nghiệp quân sự của toàn Tây Âu và Trung Âu vào cuộc chiến chống Liên Xô, ngoài ra Đức còn tuyển mộ hàng trăm ngàn lính đánh thuê từ các nước vùng Baltic, Nam Tư, Đan Mạch, người Cozak. Trên thực tế, quân đội Liên Xô phải cùng lúc đương đầu với quân đội của 9 nước châu Âu chứ không chỉ riêng Đức Quốc xã. Nếu không có sự trợ giúp của 9 nước này, Đức Quốc xã sẽ không thể có đủ nhân lực và tài nguyên để tiến hành chiến tranh tổng lực lâu dài với Liên Xô (ví dụ, sau khi Romania bị Liên Xô đánh bại vào tháng 8/1944 thì Đức cũng bị mất một nửa nguồn cung dầu mỏ, điều này khiến sản lượng vũ khí của Đức sụt giảm nhanh chóng kể từ cuối năm 1944 và quân đội Đức cũng thua chung cuộc chỉ nửa năm sau đó).

Chiến tranh thế giới thứ hai

Chiến tranh thế giới thứ hai (cũng được nhắc đến với tên gọi Đệ nhị thế chiến, Thế chiến II hay Đại chiến thế giới lần thứ hai,...) là cuộc chiến tranh thế giới thảm khốc bắt đầu từ năm 1939 và chấm dứt vào năm 1945 giữa các lực lượng Đồng Minh và phe Trục theo chủ nghĩa phát xít. Hầu hết mọi lục địa trên thế giới đều bị ảnh hưởng của cuộc chiến này, ngoại trừ châu Nam Cực và Nam Mỹ. Cho đến hiện nay, nó là cuộc chiến rộng lớn và gây tàn phá nhất trong lịch sử nhân loại.Nguyên nhân cuộc chiến được nêu ra thì có nhiều và là một đề tài đang được tranh cãi, trong đó có Hòa ước Versailles, đại khủng hoảng, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa quân phiệt. Cũng chưa có sự thống nhất trong việc tính ngày bắt đầu cuộc chiến: một số người cho rằng đó là khi Đức xâm lược Ba Lan vào ngày 1 tháng 9 năm 1939, một số người khác tính ngày Nhật Bản xâm lược Trung Quốc vào ngày 7 tháng 7 năm 1937, còn một số khác thì tính vào một ngày còn sớm hơn nữa: ngày Nhật xâm lăng Mãn Châu vào năm 1931. Cũng một số người khác cho rằng hai cuộc thế chiến thực ra chỉ là một và được chia ra bởi một cuộc ngừng bắn.Chiến sự xảy ra tại khắp các khu vực: Đại Tây Dương, châu Âu, Bắc Phi, Trung Đông, Địa Trung Hải, Thái Bình Dương, phần lớn Đông Á và Đông Nam Á. Trong đó, chiến sự có quy mô lớn nhất, số người thiệt mạng nhiều nhất diễn ra ở khu vực Đông Âu giữa Liên Xô (một nước thuộc khối Đồng Minh) và phe Trục (gồm Đức Quốc Xã và 8 nước chư hầu của Đức). Cuộc chiến kết thúc tại châu Âu khi Đức đầu hàng vào ngày 8 tháng 5 năm 1945 (theo giờ Berlin, còn theo giờ Moskva là ngày 9 tháng 5) nhưng vẫn còn tiếp diễn tại châu Á cho đến khi Nhật đầu hàng vào ngày 2 tháng 9 năm 1945.

Chiến tranh thế giới thứ hai là một cuộc chiến tranh toàn diện, kể cả dân thường không ở mặt trận cũng bị đánh bom hàng loạt. Khoảng 70 triệu người đã chết do cuộc chiến này (con số thương vong vẫn tiếp tục được nghiên cứu), kể cả các hành động tàn sát diệt chủng của Đức Quốc xã (Holocaust). Trong số thương vong, 60% người chết là thường dân, chết vì bệnh dịch, nạn đói, nạn diệt chủng và bom đạn. Thiệt hại nặng nhất là Liên Xô từ 23 tới 27 triệu người chết, trong khi theo tỷ lệ dân số là Ba Lan với 16% (5,6 triệu người chết so với 34,8 triệu người trước chiến tranh).

Cuộc chiến cũng tạo ra nhiều phát minh lớn cho nhân loại như vũ khí nguyên tử, máy bay phản lực, ra-đa...

Sau cuộc chiến, châu Âu bị chia ra làm hai khối: một phía chịu ảnh hưởng của phương Tây do Hoa Kỳ đứng đầu, còn phía kia chịu ảnh hưởng của Liên Xô. Các nước đồng minh của Hoa Kỳ nằm trong kế hoạch gây ảnh hưởng chính trị thông qua các viện trợ kinh tế mang tên Kế hoạch Marshall trong khi các nước kia trở thành các nước chủ nghĩa cộng sản đồng minh của Liên Xô. Hoa Kỳ liên kết đồng minh trong Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương, trong khi Liên Xô liên kết đồng minh theo Hiệp ước Warszawa. Các liên minh này đóng vai trò quan trọng trong Chiến tranh Lạnh sau Thế chiến thứ II. Tại châu Á, sự chiếm đóng Nhật Bản của quân đội Hoa Kỳ đã dân chủ hóa nước này. Trong khi đó, do hậu quả của nội chiến, Trung Quốc tồn tại hai nhà nước: Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Trung Hoa Dân quốc tại Đài Loan.

Công viên Skaryszewski

Công viên Skaryszewski là một công viên đô thị nằm ở quận Praga-Południe của Warsaw, Ba Lan. Công viên được thiết kế và tạo ra bởi Franciszek Szanior vào năm 1905.

Heinrich Himmler

Heinrich Luitpold Himmler (tiếng Đức: [ˈhaɪnʁɪç ˈluˑɪtˌpɔlt ˈhɪmlɐ] ( nghe); 7 tháng 10 năm 1900 – 23 tháng 5 năm 1945) là Reichsführer (Thống chế SS) của Schutzstaffel (Đội cận vệ; SS), và là một thành viên hàng đầu trong Đảng Quốc xã (NSDAP) của Đức. Lãnh tụ Đức Quốc xã Adolf Hitler từng bổ nhiệm ông làm chỉ huy quân sự và sau đó là Tư lệnh Quân đội Thay thế, và Toàn quyền cai trị toàn bộ Đế chế Thứ ba trong một thời gian ngắn (Generalbevollmächtigter für die Verwaltung). Himmler là một trong số những nhân vật quyền lực nhất của Đức Quốc xã và là một trong những người có vai trò quan trọng nhất phải chịu trách nhiệm chính cho cuộc diệt chủng Holocaust.

Với tư cách là một thành viên của tiểu đoàn dự bị trong chiến tranh thế giới thứ nhất, Himmler không phải phục vụ cho quân đội. Ông từng học nông học tại trường đại học trước khi gia nhập Đảng Quốc xã vào năm 1923 và lực lượng SS vào năm 1925. Năm 1929, ông được Hitler bổ nhiệm làm Reichsführer-SS (Thống chế SS). Trong 16 năm tiếp theo, ông đã phát triển lực lượng SS từ chỉ một tiểu đoàn 290 người thành một lực lượng bán quân sự hùng mạnh quy mô một triệu người; đồng thời theo lệnh Hitler thành lập và chỉ huy hoạt động của các trại tập trung. Himmler được biết đến là người có kỹ năng tổ chức tốt và rất có năng lực trong việc lựa chọn cấp dưới, một ví dụ là trường hợp Reinhard Heydrich năm 1931. Kể từ năm 1943, ông đồng thời đảm nhiệm chức Chỉ huy trưởng Cảnh sát Đức và Bộ trưởng Nội vụ, giám sát toàn bộ lực lượng an ninh và cảnh sát trong và ngoài, bao gồm cả Gestapo (Lực lượng Cảnh sát Bí mật, hay Mật vụ).

Thay mặt Hitler, Himmler thành lập lực lượng Einsatzgruppen và cho xây dựng các trại hủy diệt. Là cố vấn và giám sát của các trại tập trung, Himmler đã chỉ đạo việc sát hại khoảng sáu triệu người Do Thái, 200.000 đến 500.000 người Di-gan, và nhiều nạn nhân khác; tổng số thường dân bị giết dưới chế độ phát xít ước tính trong khoảng từ 11 đến 14 triệu người. Hầu hết trong đó là công dân các nước Ba Lan và Liên Xô.

Vào giai đoạn cuối của chiến tranh thế giới thứ hai, Hitler giao cho Himmler chức chỉ huy Cụm tập đoàn quân Thượng sông Rhine và Cụm tập đoàn quân sông Wisla; ông thất bại với các nhiệm vụ được giao và Hitler đã thay thế các chức vụ trên. Sau khi nhận ra nước Đức sẽ thất bại trong cuộc chiến, Himmler cố gắng mở các cuộc đàm phán hòa bình với Đồng Minh phương Tây không lâu trước thời điểm chiến tranh kết thúc và Hitler không hề biết đến điều này. Khi nghe được thông tin trên, Hitler tước bỏ tất cả mọi chức vụ của Himmler vào tháng 4 năm 1945 và ra lệnh bắt giữ. Himmler nỗ lực chạy trốn nhưng đã bị lính Anh phát hiện. Ông tự sát vào ngày 23 tháng 5 năm 1945, trong sự giam giữ của quân Anh.

Kunowice

Kunowice [kunɔˈvit͡sɛ] (tiếng Đức: Kunersdorf) là một ngôi làng ở quận hành chính Gmina Słubice, nội thuộc Hạt Słubice, Tỉnh Lubusz, ở miền Tây Bộ Ba Lan, gần sông Oder và biên giới nước Đức. Nó nằm cách Słubice xấp xỉ 5 kilômét (3 mi) về phía Đông, cách Gorzów Wielkopolski khoảng 60 km (37 mi) về phía Tây Nam, và cách Zielona Góra chừng 75 km (47 mi) về phía Tây Bắc. Trước năm 1945, vùng đất này thuộc về nước Đức (xem thêm Thay đổi lãnh thổ Ba Lan sau Chiến tranh thế giới thứ hai). Vào năm 2008, ngôi làng có dân số bao gồm 700 người.

Kunersdorf được kể đến lần đầu tiên vào năm 1337 như một phần đất của miền Neumark (Terra trans Oderam) ở miền Đông Bộ xứ Brandenburg. Tuyển hầu tước Jobst xứ Luxembourg đã nhượng nó cho thành phố Frankfurt vào năm 1399. Sau đó Kunersdorf bị quân đội của quận công Jan II Khùng xứ Żagań tàn phá khi ông này tấn công tuyển hầu tước Brandenburg là Albrecht III vào năm 1477, và lại bị tàn phá bởi Quân đội Đế quốc La Mã Thần thánh và quân Thụy Điển trong cuộc Chiến tranh Ba Mươi Năm.

Trong cuộc Chiến tranh Bảy năm (1756-1763), Kunersdorf là nơi diễn ra trận đánh ác liệt ngày 12 tháng 8 năm 1759 giữa 5 vạn quân Phổ do vua Friedrich II chỉ huy với 9 vạn quân đồng minh Nga-Áo do nguyên soái Nga Pyotr S. Saltykov và đại tướng Áo Ernst Gideon von Laudon chỉ huy. Trận Kunersdorf là thắng lợi lớn nhất của quân đội liên minh chống Phổ, họ đã loại được khoảng 19 nghìn quân Phổ ra khỏi vòng chiến và buộc khiến bộ phận lớn khác của quân Phổ chạy tứ tán khỏi trận địa.

Vào năm 1815, sau khi những cuộc chiến tranh xâm lược của Napoléon Bonaparte chấm dứt, Kunersdorf thuộc về Tỉnh Brandenburg mới được thiết lập của nước Phổ. Cùng với nước Phổ Kunersdorf trở thành một phần đất của Đế chế Đức vào năm 1871 nhờ có công cuộc Thống nhất nước Đức, và từ năm 1873 nó trở thành khu hành chính trong quận Weststernberg với trụ sở ở Drossen. Ngôi làng bị quân Liên Xô chiếm đóng trong Chiến dịch Wisla-Oder vào tháng 2 năm 1945. Qua việc thi hành đường biên cương Oder-Neisse theo Thỏa thuận Potsdam vào năm 1945, Kunowice trở thành một phần đất của Ba Lan.

Phương diện quân Belorussia 1

Phương diện quân Byelorussia 1 (tiếng Nga: 1-й Белорусский фронт) là một tổ chức tác chiến chiến lược của Hồng quân Liên Xô trong Chiến tranh thế giới II.

Phương diện quân Ukraina 1

Phương diện quân Ukraina 1 (tiếng Nga: 1-й Украинский фронт) là tổ chức tác chiến chiến lược của Quân đội Liên Xô trong Chiến tranh thế giới thứ hai, được thành lập ngày 20 tháng 10 năm 1943 ở phía tây nam Mặt trận Xô-Đức theo chỉ lệnh của Bộ Tổng tư lệnh tối cao các lực lượng vũ trang Liên Xô vào ngày 16 tháng 10 năm 1943 về việc đổi tên Phương diện quân Voronezh. Phương diện quân đã tham gia các chiến dịch ở giai đoạn cuối cuộc Chiến tranh vệ quốc vĩ đại trên hướng Tây Nam và Trung tâm mặt trận và là một trong hai Phương diện quân Liên Xô đã đánh chiếm Berlin. Ngày 10 tháng 6 năm 1945, Phương diện quân được giải thể để tổ chức thành Tập đoàn quân Trung tâm của các lực lượng vũ trang Liên Xô.

Tiger II

Tiger II (phiên âm từ tiếng Đức: Thi-gờ) là tên thường gọi của một loại xe tăng hạng nặng Đức trong Thế chiến II. Tên định danh chính thức của Đức là Panzerkampfwagen Tiger Ausf. B , thường được gọi tắt là Tiger B, với tên định danh lưu trữ Sd.Kfz. 182. Nó cũng thường được biết đến với cái tên không chính thức Königstiger (tên tiếng Đức cho "hổ Bengal"), thường được người Mỹ dịch là King Tiger, và Anh Quốc là Royal Tiger.Thiết kế theo cùng ý tưởng như Tiger I, nhưng được dự định để có tính năng cao hơn. Tiger II kết hợp giáp dày của Tiger I cùng với giáp nghiêng của Panther. Chiếc xe tăng nặng gần 71 tấn, là loại xe tăng nặng nhất trong thế chiến 2. Nó được bảo vệ bởi giáp phía trước dày 100 đến 180 mm (3,9 đến 7,1 in), và được trang bị pháo 8.8 cm Kampfwagenkanone 43 L/71. Nói cách khác, Tiger II chính là xe tăng Panther phóng to ra để có giáp dày hơn và pháo mạnh hơn.

Tuy nhiên, để có được vỏ giáp và hỏa lực tốt, Tiger II chịu chung nhược điểm với Tiger I: giá thành của xe rất đắt, không thể sản xuất số lượng lớn. Ngoài ra, xe quá nặng (71 tấn) dẫn tới nhược điểm nghiêm trọng nhất của Tiger II: hệ thống động cơ và điều khiển cơ khí của xe vẫn giống như Panther (trong khi xe nặng hơn gấp rưỡi) dẫn tới quá tải, độ tin cậy thấp và thường xuyên bị hư hỏng. Khi Tiger II bị hỏng thì cũng rất khó sửa chữa trong điều kiện chiến trường do các loại xe kéo rất khó có thể kéo một loại xe nặng như vậy (Tiger I cũng gặp nhược điểm này, nhưng không nghiêm trọng đến mức như Tiger II). Xe cũng không thể đi qua những cây cầu ở châu Âu thời đó, nên cứ gặp sông ngòi là việc hành quân bị đình trệ. Những nhược điểm trong thực tế này khiến hiệu quả chiến đấu của Tiger II là không cao (dù tính năng trên bản vẽ là rất tốt), thường xuyên có những đơn vị thiết giáp Đức trang bị Tiger II bị mất quá nửa lực lượng do xe tự hư hỏng chứ không phải bị tiêu diệt bởi kẻ địch. Do hiệu quả chiến đấu so với chi phí bỏ ra quá thấp, có nhiều nhà sử học coi Tiger II thực chất chỉ là một sự lãng phí khổng lồ các nguồn tài nguyên của Đức (với cùng một mức giá, Đức có thể sản xuất 3 chiếc Panther với hiệu quả chiến đấu cao hơn nhiều, trong khi người Nga có thể sản xuất 10 chiếc T-34/85 hoặc 6 chiếc IS-2)

Thân tăng Tiger II là cơ sở cho loại phương tiện chống tăng không tháp pháo Jagdtiger.

Tội ác chiến tranh của Đồng Minh trong Chiến tranh thế giới thứ hai

Tội ác chiến tranh của Đồng minh bao gồm cả các hành vi vi phạm cáo buộc về mặt pháp lý đã được kiểm chứng trong luật pháp chiến tranh của Đồng Minh trong Chiến tranh thế giới thứ II đối với các khu dân sự hoặc nhân viên quân sự của các nước phe Trục.

Vào cuối Chiến tranh thế giới thứ II, có nhiều tố cáo về tội phạm chiến tranh phe Trục đã diễn ra, nổi tiếng nhất là cuộc xét xử tại Nuremberg. Tuy nhiên, ở châu Âu, các tòa án này được thành lập thuộc thẩm quyền của Hiến chương London, trong đó chỉ xem xét những cáo buộc về tội ác chiến tranh bởi những người đã hành động vì lợi ích của các nước phe Trục tại châu Âu.

Có một số tội ác chiến tranh liên quan đến các nhân viên của Đồng minh được điều tra bởi các lực lượng Đồng Minh và tòa án binh được dẫn đầu trong một số trường hợp. Một số sự kiện tội ác khác bị cáo buộc bởi các sử gia đã theo luật pháp chiến tranh trong hoạt động vào thời điểm đó, nhưng cho một loạt các lý do không được điều tra bởi các lực lượng Đồng Minh trong chiến tranh, hoặc họ được điều tra và ra quyết định đã không bị truy tố.

Xe tăng T-34

Xe tăng T–34 là một xe tăng hạng trung sản xuất bởi Liên Xô từ năm 1940 đến năm 1958, chủ yếu được sử dụng trong chiến tranh Xô-Đức (1941-1945). T-34 đã cách mạng hoá cách thức thiết kế và chế tạo xe tăng trên thế giới; mặc dù về giai đoạn sau chiến tranh có nhiều xe tăng mang giáp trụ và hỏa lực trội hơn T-34, nó vẫn được đánh giá là loại xe tăng hiệu quả nhất và có thiết kế gây ảnh hưởng lớn nhất trong Chiến tranh thế giới thứ hai.

Trong thế chiến thứ 2, T-34 là một trong những loại xe tăng có sự phối hợp tốt nhất giữa tính năng bảo vệ, tính cơ động, hỏa lực và độ tin cậy và khả năng bảo trì của xe; nó cũng là một trong những mẫu thiết kế có thời hạn phục vụ lâu nhất, một số chiếc hiện vẫn còn được sử dụng. Ở thời kỳ đầu chiến tranh, T-34 vượt trội hơn hẳn xe tăng Panzer III, Panzer IV của Đức về cả hỏa lực và vỏ giáp, tuy nhiên những lợi thế này bị hạn chế nhiều do thiếu hệ thống liên lạc bộ đàm và các tổ lái Liên Xô khi đó còn thiếu kinh nghiệm chiến thuật. Hệ thống tháp pháo hai người điều khiển - khá phổ biến ở xe tăng thời đó - khiến người xa trưởng phải kiêm luôn nhiệm vụ nạp đạn và nó tỏ ra kém hiệu quả hơn hệ thống tháp pháo ba người (xa trưởng, pháo thủ và người nạp đạn). Những điểm yếu này đã được các nhà thiết kế khắc phục ở phiên bản nâng cấp T-34/85.

T–34 là loại xe có buồng lái chật hẹp, nó bị đánh giá kém về mức độ tiện nghi cho kíp chiến đấu 4 người. T–34 cũng bị coi là quá ồn nên có thể bị phát hiện trong đêm từ khoảng cách 450 đến 500m, vì vậy lính Đức sẽ có được những cảnh báo sớm về vị trí của xe tăng đối phương. Giá trị cao nhất của T–34 là thiết kế hiệu quả cao, giúp việc chế tạo rất dễ dàng và dễ sửa chữa. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai đã ghi nhận nhiều trường hợp T–34 bị bắn bay mất tháp pháo vẫn dễ dàng được sửa chữa trong điều kiện dã chiến, chỉ cần vài giờ lắp tháp pháo mới là xe lại tham gia chiến đấu được ngay. Xe cũng khá nhẹ và động cơ diesel làm mát bằng nước làm tăng độ tin cậy của động cơ cũng như tăng khoảng cách hoạt động của xe. Tốc độ của T–34 cũng là một lợi thế chính yếu so với các xe tăng Đức: Tốc độ tối đa trung bình của các xe tăng Đức là 25 dặm (khoảng 40 km)/giờ trong khi tốc độ tối đa của T–34 là 32 dặm (khoảng 50 km)/giờ. Vỏ thép nghiêng cũng giúp cho T–34 có được sự bảo vệ tốt chống lại đạn pháo Đức, thiết kế này hiệu quả đến nỗi Đức đã copy lại để áp dụng trên loại xe tăng Panther (Con Báo) và Tiger II (Vua Cọp).Ưu điểm lớn nhất của xe T-34 chính là thiết kế rất dễ sản xuất của nó: Liên Xô có thể chịu đựng được mức tổn thất lớn của T-34 trên chiến trường vì hệ thống nhà máy của họ cho phép sản xuất rất nhanh hàng nghìn chiếc khác. Trong khi xe tăng của Đức đòi hỏi nhiều giờ công lao động, chi phí và thợ lành nghề để chế tạo, xe T-34 có thể được chế tạo với các thiết bị đơn giản và thợ cơ khí bậc trung. Các nhà máy T-34 nằm sâu sau dãy Ural nơi không bị ảnh hưởng của các cuộc ném bom của không quân Đức và có thể tăng công suất sản xuất hỗ trợ cho nhau để bù cho số bị thiếu hụt khi một nhà máy gặp vấn đề. Với cùng một chi phí, phía Đức sản xuất được 1 xe tăng Tiger thì phía Liên Xô có thể sản xuất 7-8 xe T-34. Do đó trong chiến trận phía Đức phải tiêu diệt được 7-8 xe tăng T-34 với mức tổn thất 1 xe tăng Tiger của mình thì mới có cơ hội thay đổi được so sánh lực lượng có lợi về phía mình, tỷ lệ này phía Đức không thể nào có thể đạt được. Thành phố Cheliabinsk (Челябинск) tại vùng núi Ural Nga là nơi sản xuất chính loại xe tăng này nhiều đến nỗi thành phố này được gọi là Tankograd (танкоград)- thành phố xe tăng. Tổng cộng gần 58.000 chiếc T-34 đã được sản xuất trong Thế chiến 2, nhiều hơn bất kỳ loại xe tăng nào khác.

Xe tăng T-34 liên tục được cải tiến trong suốt cuộc Chiến tranh vệ quốc vĩ đại nhằm tăng tính hiệu quả và giảm giá thành, điều này khiến càng lúc càng nhiều xe tăng T-34 được tung ra mặt trận. Đầu năm 1944, T-34 được trang bị pháo 85 mm hỏa lực mạnh hơn, cho phép nó có thể chiến đấu ngang cơ với loại Tiger ở cự ly gần; cùng với vỏ thép tốt hơn; tháp pháo ba người, phẳng hơn biến nó thành mục tiêu có kích thước nhỏ hơn. Kiểu này được gọi là xe tăng T-34/85. Cho đến cuối cuộc chiến, dòng tăng T-34 linh loạt và giá thành thấp đã thay thế nhiều loại xe tăng hạng nhẹ và hạng trung của Liên Xô, trở thành loại xe tăng được sản xuất chủ yếu trong quân đội Liên Xô lúc đó và cũng là loại xe tăng chủ lực của Liên Xô trong suốt Cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Trên cơ sở khung thân của T-34, Liên Xô cũng chế tạo một loạt các thiết kế pháo tự hành rất thành công gồm SU-85, SU-100 và SU-122. Thiết kế cách mạng của T-34 cũng đã dẫn tới việc thiết kế và sản xuất dòng xe tăng lừng danh T-54/55.T-34 là loại xe tăng được sản xuất nhiều nhất trong Chiến tranh thế giới thứ hai và là xe tăng sản xuất nhiều thứ nhì trên thế giới, sau dòng T-54/55. Tới năm 2010, các xe tăng T-34 vẫn còn được phục vụ trong ít nhất là 27 quốc gia và một số nước sẽ còn tiếp tục sử dụng nó cho tới giữa thế kỷ 21, đưa nó trở thành loại xe tăng có thời gian phục vụ lâu nhất từ trước tới nay.

Tham chiến
Niên biểu
Khía cạnh
khác

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.