Chernobyl

Chernobyl (tiếng Ukraina: Chornobyl Чорнобиль, tiếng Nga Chernobyl Чернобыль) là một thị trấn trực thuộc huyện Ivankiv tỉnh Kiev ở miền bắc Ukraina gần Belarus. Đây là một một trung tâm thương mại và truyền thông trong thế kỷ 19. Thị trấn cách 14,5 km về phía đông nam nhà máy hạt nhân Chernobyl, được biết sau thảm họa Chernobyl.

Tọa độ: 51°16′B 30°13′Đ / 51,267°B 30,217°Đ

Чорнобиль
Чернобыль
Chernobyl
Hình ảnh chung của Чорнобиль Чернобыль Chernobyl

Lịch sử

Nhà máy điện nguyên tử Chernobyl mang tên V. I. Lenin (Чернобыльская АЭС им. В.И.Ленина) (51°23′14″B, 30°06′41″Đ) nằm ở thị trấn Pripyat, Ukraina, cách 18 km về phía tây bắc thành phố Chernobyl, 16 km từ biên giới Ukraina và Belarus, và khoảng 110 km phía bắc Kiev. Nhà máy có bốn lò phản ứng, mỗi lò có thể sản xuất ra 1 gigawatt (GW) điện (3,2 gigawatts nhiệt điện), và cả bốn lò phản ứng sản xuất ra khoảng 10% lượng điện của Ukraina ở thời điểm xảy ra vụ tai nạn. Việc xây dựng nhà máy được bắt đầu từ thập kỷ 1970, lò phản ứng số 1 bắt đầu hoạt động năm 1977, tiếp theo là lò phản ứng số 2 (1978), số 3 (1981), và số 4 (1983). Thêm hai lò phản ứng nữa (số 5 và số 6, mỗi lò cũng có khả năng sản xuất 1 gigawatt) đang được xây dựng ở thời điểm xảy ra tai nạn. Bốn tổ máy phát điện đó sử dụng lò phản ứng kiểu RBMK-1000.

Nhà máy điện hạt nhân Chernobyl vẫn tiếp tục sản xuất điện thêm 14 năm sau thảm hoạ và chỉ đóng cửa hoàn toàn vào năm 2000 do sức ép của quốc tế. Một vùng cách ly có bán kính 30 km được thiết lập quanh Chernobyl và đây là một trong những điểm nhiễm phóng xạ đậm đặc nhất trên hành tinh hiện nay [4].

Chornobyl radiation map
Bản đổ nhiễm phóng xạ

Tham khảo

Adi Roche

Adi Roche (sinh năm 1955 tại Clonmel, County Tipperary, Ireland) là một nhà vận động vì hoà bình, viện trợ nhân đạo và giáo dục, người đã tập trung vào việc giải tỏa những đau khổ của các trẻ em trải qua Thảm họa Chernobyl.

Cô là giám đốc điều hành tự nguyện của tổ chức từ thiện Chernobyl Children International có trụ sở tại Ireland.

Chernobyl (phim truyền hình ngắn tập)

Chernobyl là một miniseries (phim truyền hình loạt ngắn) chính kịch lịch sử bao gồm năm tập được biên kịch bởi Craig Mazin, và được đạo diễn bởi Johan Renck. Chernobyl được sản xuất bởi HBO cùng với Sky UK, lấy bối cảnh khi thảm họa hạt nhân Chernobyl xảy ra vào tháng 4 năm 1986 và những nỗ lực nhằm khắc phục hậu quả. Bộ phim có sự tham gia của các diễn viên Jared Harris, Stellan Skarsgård, Emily Watson và Paul Ritter.

Chernobyl được công chiếu tại Hoa Kỳ và Vương quốc Anh vào ngày 6 tháng 5 năm 2019 và đã nhận được những đánh giá tích cực từ các nhà phê bình. Tại lễ Trao Giải Primetime Emmy lần thứ 71, phim đã được đề cử 19 hạng mục, trong đó có Phim truyền hình ngắn tập xuất sắc nhất và phần diễn xuất của Harris, Skarsgård và Watson.

Gennady Grushevoy

Gennady Grushevoy (tiếng Belarus: Генадзь Грушавы, Hienadź Hrušavy) là giáo sư triết học ở Đại học quốc gia Belarus từ năm 1973. Ông được bầu làm nghị sĩ trong Nghị viện Belarus năm 1990 và làm Chủ tịch Ban "Các trẻ em Chernobyl" (Children of Chernobyl) từ khi thành lập năm 1989.

Gennady Grushevoy đã được trao Giải tưởng niệm Thorolf Rafto năm 1999.

Gomel

Gomel (phát âm tiếng Anh: /ˈɡoʊmel/), cũng viết là Homel, Homiel hay Homyel (tiếng Belarus: Гомель, IPA: [ˈɣomʲelʲ], chuyển tự: Hómiel'; tiếng Nga: Гомель, IPA: [ˈɡomʲilʲ], chuyển tự: Gómiľ), là thành phố, trung tâm hành chính của Homiel Voblast và là thành phố lớn thứ hai của Belarus. Dân số theo ước tính năm 2006 là 479.935 người. Homel nằm ở đông nam quốc gia này, bên bờ sông Sozh, gần biên giới với Ukraina, gần với nhà máy điện nguyên tử Chernobyl. Dù thành phố này bị nhiễm xạ nặng do vụ thảm họa Chernobyl năm 1986, dân số thành phố vẫn tiếp tục tăng. Thành phố này có Sân bay Gomel.

Lịch sử Nhật Bản

Lịch sử Nhật Bản bao gồm lịch sử của quần đảo Nhật Bản và cư dân Nhật, trải dài lịch sử từ thời kỳ cổ đại tới hiện đại của quốc gia Nhật Bản. Các nghiên cứu khảo cổ học cho thấy trên các hòn đảo mà nay là Nhật Bản đã có người sinh sống ngay từ cuối thời kỳ đồ đá cũ. Ngay sau thời kỳ băng hà cuối cùng, khoảng 12.000 TCN, hệ sinh thái phong phú trên quần đảo Nhật Bản đã giúp đẩy nhanh sự phát triển loài người, sản sinh ra nền văn hóa đất nung nổi tiếng của thời kỳ Jomon. Lịch sử Nhật Bản với nhiều thời kỳ cô lập thay thế nhau bị gián đoạn bởi các ảnh hưởng cấp tiến, thường là cách mạng từ thế giới bên ngoài. Các tài liệu đầu tiên viết về Nhật Bản qua các đoạn ghi chép ngắn trong Nhị thập tứ sử của người Trung Quốc. Các ảnh hưởng tôn giáo và tín ngưỡng chính được du nhập từ Trung Quốc.Thủ đô đầu tiên được thành lập tại Nara năm 710, và nó đã trở thành một trung tâm của nghệ thuật Phật giáo, tôn giáo và văn hóa. Hoàng tộc vào thời gian này nổi lên vào khoảng năm 700, nhưng đến năm 1868 (vẫn có vài ngoại lệ), tuy có uy tín cao nhưng nắm trong tay rất ít quyền lực. Vào năm 1550, Nhật Bản được chia thành vài trăm đơn vị kiểm soát tại địa phương, hoặc các khu vực thuộc quyền kiểm soát "Đại Danh" (lãnh chúa), với lực lượng của riêng mình là các chiến binh samurai. Tokugawa Ieyasu (Đức Xuyên Gia Khang )lên nắm quyền năm 1600, và phong đất cho những người ủng hộ mình, thành lập "Mạc phủ" ở Edo (Tōkyō ngày nay). "Thời kỳ Tokugawa" đánh dấu một thời kỳ thịnh vượng và hòa bình, nhưng Nhật Bản cố ý chấm dứt các hoạt động Kitô giáo và cắt đứt gần như tất cả các tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Trong những năm 1860 thời kỳ Minh Trị bắt đầu bằng việc quân đội hoàng gia của thiên hoàng Minh Trị đánh bại quân đội Mạc phủ Tokugawa trong chiến tranh Mậu Thìn. Nhà lãnh đạo mới kết thúc chế độ phong kiến và chuyển đổi một hòn đảo cô lập—một quốc gia kém phát triển—nhanh chóng trở thành một cường quốc thế giới theo nhìn nhận của người phương Tây. Nền dân chủ là một vấn đề, bởi vì lực lượng quân đội tinh nhuệ Nhật Bản đã được bán độc lập và thắng thế hơn, hoặc thường xuyên sát hại dân thường trong những năm 1920 và 1930. Quân đội Nhật bắt đầu tiến vào Trung Quốc vào năm 1931 nhưng đã bị đánh bại trong cuộc chiến tranh Thái Bình Dương bởi Hoa Kỳ và Anh.

Nhà máy điện hạt nhân Chernobyl

Nhà máy điện hạt nhân Chernobyl (tiếng Ukraina: Чорнобильська атомна електростанція, tiếng Nga: Чернобыльская АЭС) là một nhà máy điện hạt nhân đã ngừng hoạt động ở thành phố Pripyat, Ukraine, 14,5 km (9,0 mi) về phía tây bắc Chernobyl, 16 km (9,9 mi) từ biên giới Ukraina–Belarus, và khoảng 110 km (68 mi) phía bắc Kiev. Lò phản ứng số 4 là nguyên nhân gây ra thảm họa Chernobyl năm 1986 và giờ nhà máy điện nằm bên trong Khu cách ly Chernobyl.

Nhà máy điện này sẽ được dọn dẹp vào năm 2065. Vào ngày 3 tháng 1, 2010, một luật Ukraina quy định chương trình này sẽ được thực hiện.

Năng lượng hạt nhân

Năng lượng hạt nhân hay năng lượng nguyên tử là một loại công nghệ hạt nhân được thiết kế để tách năng lượng hữu ích từ hạt nhân nguyên tử thông qua các lò phản ứng hạt nhân có kiểm soát. Phương pháp duy nhất được sử dụng hiện nay là phân hạch hạt nhân, mặc dù các phương pháp khác có thể bao gồm tổng hợp hạt nhân và phân rã phóng xạ. Tất cả các lò phản ứng với nhiều kích thước và mục đích sử dụng khác nhau đều dùng nước được nung nóng để tạo ra hơi nước và sau đó được chuyển thành cơ năng để phát điện hoặc tạo lực đẩy. Năm 2007, 14% lượng điện trên thế giới được sản xuất từ năng lượng hạt nhân. Có hơn 150 tàu chạy bằng năng lượng hạt nhân và một vài tên lửa đồng vị phóng xạ đã được sản xuất.

Polesia

Polesia (tiếng Belarus: Пале́ссе Paleśsie, tiếng Ba Lan: Polesie, tiếng Nga: Поле́сье Poles'e, tiếng Ukraina: Полі́сся Polissia) là một khu vực tự nhiên và lịch sử ở Đông Âu. Là một khu vực rừng rộng lớn bậc nhất châu Âu, Polesia nằm ở phía Tây Nam của Vùng Đất Thấp Đông Âu, chủ yếu nằm trong lãnh thổ Belarus và Ukraina ngoài ra có một phần nhỏ nằm trong lãnh thổ Ba Lan và Nga. Các khu vực đầm lầm của Polesia được gọi là cụm đầm Pinsk (theo tên của thành phố chính trong vùng là thành phố Pinsk). Phần lướn khu vực này bị ô nhiễm sau thảm họa Chernobyl và khu vực hiện nay bảo gồm cả Vùng cấm Chernobyl.

Pripyat, Ukraina

Prypiat (tiếng Ukraina: При́п'ять, Pryp’yat’; tiếng Nga: При́пять, Pripyat’), hay Pripyat’, là một thành phố bị bỏ hoang ở khu vực xa lánh ở phía bắc Ukraina, Kiev Oblast, gần biên giới với Belarus. Thành phố được lập năm 1970 để cung cấp nơi ở cho công nhân nhà máy điện nguyên tử Chernobyl, và đã bị bỏ hoang năm 1986 sau thảm họa Chernobyl. Dân số trước khi xảy ra tai họa hạt nhân là 50.000 người..

Không giống như các thành phố có tầm quan trọng quân sự khác bị hạn chế ra vào, việc ra vào Prypiat không bị hạn chế trước thời điểm xảy ra thảm họa. Trước thời điểm thảm họa Chernobyl, các nhà máy điện hạt nhân được Liên Xô xem là an toàn hơn các loại nhà máy điện khác. Ban đầu, nhà máy điện nguyên tử dự kiến xây cách thủ đô Kiev 25 km nhưng Viện hàn lâm khoa học Ukraina đã nêu lên các lo ngại việc vị trí này quá gần thành phố, do đó vị trí xây nhà máy, cùng với việc xây dựng thành phố Pripyat, được chọn ở địa điểm như hiện nay, cách Kiev khoảng 100 km. Sau thảm họa hạt nhân, thành phố Pripyat bị di tản trong hai ngày.

RBMK

RBMK là tên viết tắt từ phiên âm tiếng Nga của "lò phản ứng hạt nhân kiểu kênh công suất lớn" hay nói cách khác đây là lò phản ứng hạt nhân với 1 hệ thống đường dẫn nước vào thẳng vùng phản ứng (vùng hoạt), nước được đun nóng, sôi, và bốc hơi, quá nhiệt ngay trên các thanh nhiên liệu. Chính vì chỉ có 1 vòng tuần hoàn nước nên hiệu suất của lò rất cao. Ở các thế hệ lò tiếp theo, các lò thường dùng 2 tới 3 vòng tuần hoàn. Chính vì nước được sôi ngay trên thanh nhiên liệu, nên loại lò này có rất nhiều khuyết điểm.Vì vậy lò PBMK được gọi là " Lò phản ứng hạt nhân kiểu kênh công suất lớn" (reaktor bolshoy moshchnosti kanalniy tiếng Nga: Реактор Большой Мощности Канальный), thuộc lớp lò phản ứng hạt nhân được điều hòa nơtron bằng than chì do Liên Xô xây dựng để sử dụng trong các nhà máy điện hạt nhân. Lò phản ứng RBMK là kiểu lò liên quan đến thảm họa Chernobyl. Năm 2008, có ít nhất 12 lò phản ứng kiểu RBMK còn hoạt động tại Nga và Litva, nhưng không có bất kỳ dự án nào tiếp tục xây dựng các lò phản ứng kiểu RBMK mới (công nghệ lò RBMK đã được phát triển trong thập niên 1950 và ngày nay đã trở nên lỗi thời.

RBMK là một chương trình trọng điểm của Liên Xô để tạo ra lò phản ứng năng lượng làm lạnh bằng nước trên cơ sở các lò phản ứng dùng cho quân đội chạy bằng plutoni điều hòa bằng than chì. Thế hệ đầu tiên của lớp này là AM-1 ("Атом Мирный", tiếng Nga Atom Mirny, "nguyên tử hòa bình") sản xuất 5 MW điện (30 MW nhiệt) và cung cấp năng lượng cho Obninsk từ 1954 đến 1959.

Sử dụng nước nhẹ để làm lạnh và than chì là chất làm chậm neutron, lò có thể sử dụng urani tự nhiên làm nguyên liệu. Lò phản ứng năng lượng lớn (các lò RBMK trong nhà máy điện hạt nhân Ignalina ở Litva tạo ra 1500 MWe, một lượng rất lớn vào thời đó thậm chí đối với ngày nay) có thể được xây dựng mà không đòi hỏi phải tách các đồng vị cũng như làm giàu urani hay nước nặng.

Slavutych

Slavutych (tiếng Ukraina: Славутич) là một thành phố của Ukraina. Thành phố này thuộc tỉnh Kiev. Thành phố này có diện tích ? km2, dân số theo điều tra dân số năm 2001 là 24402 người.

Svetlana Alexandrovna Alexievich

Svetlana Alexandrovna Alexievich (tiếng Belarus: Святлана Аляксандраўна Алексіевіч Sviatłana Alaksandraŭna Aleksijevič; tiếng Nga: Светлана Александровна Алексиевич; tiếng Ukraina: Світлана Олександрівна Алексієвич; sinh ngày 31 tháng 5 năm 1948) là một nhà báo điều tra và nhà văn thể loại văn xuôi hiện thực. Bà là người Belarus nhưng viết văn và báo bằng tiếng Nga. Bà được trao giải Nobel Văn học năm 2015 "vì lối viết phức điệu, một tượng đài tưởng niệm sự thống khổ và lòng can đảm trong thời đại của chúng ta". Bà là nhà văn đầu tiên của Belarus nhận giải thưởng này.

Sông Pripyat

Sông Pripyat hay Prypiat (tiếng Ukraina: Прип’ять, phát âm [ˈprɪpjɑtʲ]; tiếng Belarus: Прыпяць, Prypiać, [ˈprɨpʲatsʲ]; tiếng Ba Lan: Prypeć, [ˈprɨpɛtɕ]; tiếng Nga: Припять, [ˈprʲipʲɪtʲ]) là một dòng sông ở Đông Âu với chiều dài xấp xỉ 775 km (482 mi). Nó chảy qua lãnh thổ các nước Ukraina và Belarus rồi đổ vào sông Dniepr tại vị trí của Hồ Kiev.

Một đoạn sông Pripyat chảy qua vùng cấm Chernobyl, nơi xảy ra thảm họa rò rỉ hạt nhân của nhà máy điện cùng tên vào thập niên 1980. Chính vì vậy, hiện nay dòng sông vẫn còn bị ô nhiễm bởi các nuclide phóng xạ. Thành phố Pripyat, Ukraina (dân số 45.000 người) đã bị bỏ hoang sau thảm họa Chernobyl.

Tai nạn hạt nhân và phóng xạ

Tai nạn hạt nhân và phóng xạ hay thảm họa hạt nhân được Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) định nghĩa là "một sự kiện dẫn đến hậu quả đáng kể cho con người, môi trường hoặc cơ sở". Các ví dụ bao gồm các tác động gây chết người đối với các cá nhân, đồng vị phóng xạ với môi trường hoặc tan chảy lõi lò phản ứng." Ví dụ điển hình của "tai nạn hạt nhân lớn" là một tai nạn trong đó lõi lò phản ứng bị hư hại và một lượng lớn đồng vị phóng xạ được giải phóng ra ngoài, chẳng hạn như trong thảm họa Chernobyl năm 1986.Tác động của các vụ tai nạn hạt nhân là một chủ đề tranh luận kể từ khi các lò phản ứng hạt nhân đầu tiên được xây dựng vào năm 1954, và là một yếu tố quan trọng trong mối quan tâm của công chúng về các cơ sở hạt nhân. Các biện pháp kỹ thuật để giảm nguy cơ tai nạn hoặc giảm thiểu lượng phóng xạ phát ra môi trường đã được áp dụng, tuy nhiên lỗi của con người vẫn còn và "đã có nhiều tai nạn với các tác động khác nhau cũng như các sự cố suýt xảy ra tai nạn và sự cố". Tính đến năm 2014, đã có hơn 100 vụ tai nạn hạt nhân nghiêm trọng và sự cố từ việc sử dụng năng lượng hạt nhân. Năm mươi bảy vụ tai nạn đã xảy ra kể từ thảm họa Chernobyl, và khoảng 60% tất cả các vụ tai nạn liên quan đến hạt nhân đã xảy ra ở Hoa Kỳ. Các vụ tai nạn nhà máy điện hạt nhân nghiêm trọng bao gồm thảm họa hạt nhân Fukushima Daiichi (2011), thảm họa Chernobyl (1986), tai nạn đảo Three Mile (1979) và tai nạn SL-1 (1961). Tai nạn điện hạt nhân có thể liên quan đến tổn thất sinh mạng và chi phí tiền tệ lớn cho công tác khắc phục.Các tai nạn tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân bao gồm tai nạn của K-19 (1961), K-11 (1965), K-27 (1968), K-140 (1968), K-429 (1970), K-222 (1980), và K-431 (1985) . Các sự cố / tai nạn phóng xạ nghiêm trọng bao gồm thảm họa Kyshtym, hỏa hoạn Windscale, tai nạn xạ trị ở Costa Rica, tai nạn xạ trị ở Zaragoza, tai nạn phóng xạ ở Morocco, tai nạn Goiania, tai nạn phóng xạ ở Mexico City, tai nạn đơn vị xạ trị ở Thái Lan, và tai nạn phóng xạ Mayapuri ở Ấn Độ.

IAEA duy trì một trang web báo cáo các vụ tai nạn hạt nhân gần đây.

Thảm họa

Một thảm họa là tai hoạ do thiên nhiên hoặc con người gây ra ở mức độ đáng kể gây hủy hoại, gây chết nhiều người và đôi khi tạo ra các thay đổi vĩnh viễn đối với môi trường tự nhiên.

Thời thượng cổ:

Núi lửa Vesuvius phun tràoThời hiện đại:

Núi lửa Krakatau phun trào (27 tháng 8 1883)

Titanic bị chìm (15 tháng 4 1912)

Thảm họa Hindenburg (6 tháng 5 1937)

Rơi máy bay Boeing 747 KAL007 (1 tháng 9 1983)

Nổ nhà máy hạt nhân Chernobyl (25 tháng 5 1986)

Nổ tàu con thoi Challenger (28 tháng 1 1986)

Chìm phà Estonia (September 28 1994)

The_Boston_Molasses_Disaster (15 tháng 1 1919)

Vụ nổ Halifax (6 tháng 12 1917)

Máy bay B-25 đâm vào Tòa nhà Empire State (July 28 1945

Thảm họa Aberfan 21 tháng 10 năm 1966

Thảm họa Chernobyl

Thảm hoạ Chernobyl là một vụ tại nạn hạt nhân xảy ra vào ngày 26 tháng 4 năm 1986 khi nhà máy điện hạt nhân Chernobyl ở Pripyat, Ukraina (khi ấy còn là một phần của Liên bang Xô viết) bị nổ. Đây được coi là vụ tai nạn hạt nhân trầm trọng nhất trong lịch sử năng lượng hạt nhân. Do không có tường chắn, đám mây bụi phóng xạ tung lên từ nhà máy lan rộng ra nhiều vùng phía tây Liên bang Xô viết, Đông và Tây Âu, Scandinavie, Anh quốc, và đông Hoa Kỳ. Nhiều vùng rộng lớn thuộc Ukraina, Belarus và Nga bị ô nhiễm nghiêm trọng, dẫn tới việc phải sơ tán và tái định cư cho hơn 336.000 người. Khoảng 60% đám mây phóng xạ đã rơi xuống Belarus. Theo bản báo cáo năm 2006 của TORCH, một nửa lượng phóng xạ đã rơi xuống bên ngoài lãnh thổ ba nước cộng hoà Xô viết Thảm hoạ này phát ra lượng phóng xạ lớn gấp bốn trăm lần so với quả bom nguyên tử được ném xuống Hiroshima.

Vụ tai nạn làm dấy lên những lo ngại về sự an toàn trong ngành công nghiệp năng lượng hạt nhân Xô viết, làm đình trệ sự phát triển của ngành này trong nhiều năm, đồng thời buộc chính phủ Xô viết phải công bố một số thông tin. Các quốc gia: Nga, Ukraina, Belarus, ngày nay là các quốc gia độc lập, đã phải chịu chi phí cho nhiều chiến dịch khử độc và chăm sóc sức khoẻ cho những người bị ảnh hưởng từ vụ Chernobyl. Rất khó để kiểm kê chính xác số người đã thiệt mạng trong tai nạn này, bởi vì sự che đậy thông tin thời Xô viết gây khó khăn cho việc truy ra những nạn nhân. Danh sách này không đầy đủ, và chính quyền Xô viết sau đó đã cấm các bác sĩ được ghi chữ "phóng xạ" trong giấy chứng tử . Tuy nhiên, đa số những căn bệnh nguy hiểm về lâu dài có thể dự đoán trước như ung thư, trên thực tế vẫn chưa xảy ra, và sẽ rất khó để gắn nó có nguyên nhân trực tiếp với vụ tai nạn. Những ước tính và những con số đưa ra khác nhau rất xa. Một bản báo cáo năm 2005 do Hội nghị Chernobyl, dưới quyền lãnh đạo của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA) và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), đưa ra cho rằng có 56 người chết ngay lập tức; 47 công nhân và 9 trẻ em vì ung thư tuyến giáp, và ước tính rằng có khoảng 9.000 người, trong số gần 6.6 triệu, cuối cùng sẽ chết vì một loại bệnh ung thư nào đó. Riêng tổ chức Hoà bình xanh ước tính tổng số người chết là 93.000, nhưng đã ghi trong bản báo cáo của họ rằng "Những con số được đưa ra gần đây nhất cho thấy rằng chỉ riêng ở Belarus, Nga và Ukraina vụ tai nạn có thể đã dẫn tới cái chết thêm của khoảng 200.000 người trong giai đoạn từ 1990 đến 2004."

Tiếng vọng từ Chernobyl

Tiếng vọng từ Chernobyl: Lịch sử truyền miệng về thảm họa hạt nhân là tác phẩm của nhà văn đoạt giải thưởng văn chương Nobel năm 2015 Svetlana Alexievich. Alexievich là nhà báo chuyên nghiệp sinh sống ở Minsk, thủ đô của Belarus, vào năm 1986 khi Thảm hoạ nguyên tử Chernobyl xảy ra. (Thời điểm này, Belarus vẫn là một phần của Các nước cộng hòa của Liên bang Xô viết với tên gọi Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Byelorussia).

Để ghi lại bi kịch của từng nạn nhân nói trên, tác giả – đã để ra thời gian 10 năm đi phỏng vấn khoảng 500 nạn nhân vụ nổ, từ những người dân thường, nhân viên cứu hoả cho đến những công nhân được giao phó nhiệm vụ dọn dẹp, nhà vật lý, chính trị gia, nhân viên y tế. Mỗi câu chuyện bộc lộ sự đau khổ, sự mất mát, sự sợ hãi, nỗi giận dữ, cảm thức bất an mà mỗi người kể cùng với gia đình họ đã trải qua. Do nội dung là những chứng từ trung thực, phản ánh mọi khía cạnh của thảm hoạ, từ bản thân vụ nổ, nguyên nhân, hậu quả cho đến cách đối phó trong lúc và sau vụ nổ của các giới chức trách nhiệm, nên tác phẩm đóng vai trò bản cáo trạng một chế độ chỉ biết lấy lừa bịp, dối trá làm phương châm hành xử.Tác phẩm “Tiếng vọng từ Chernobyl “ của Svetlana Alexievich đã góp phần quan trọng để Uỷ ban chấm giải Nobel Thuỵ Điển quyết định trao gỉai thưởng văn chương năm 2015 cho tác giả. Quả thật, như nhận định của uỷ ban chấm giải, những tác phẩm của bà là “một tượng đài cho sự thống khổ và lòng can đảm trong thời đại chúng ta.”

Xêsi

Xêsi (tiếng Latinh: caesius) là một nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn có ký hiệu Cs và số nguyên tử bằng 55. Nó là một kim loại kiềm mềm, màu vàng ngà, và với điểm nóng chảy là 28 °C (83 °F) khiến cho nó trở thành một trong các kim loại ở dạng lỏng tại hay gần nhiệt độ phòng. Xêsi là một kim loại kiềm, có tính chất vật lý và hóa học giống với rubidi, kali; là kim loại hoạt động mạnh, có khả năng tự cháy, phản ứng với nước thậm chí ở nhiệt độ −116 °C (−177 °F). Nó là nguyên tố có độ âm điện thấp thứ hai sau franxi, và chỉ có một đồng vị bền là xêsi-133. Xêsi được khai thác trong mỏ chủ yếu từ khoáng chất pollucit, trong khi các đồng vị phóng xạ khác, đặc biệt là xêsi-137 - một sản phẩm phân hạch hạt nhân, được tách ra từ chất thải của các lò phản ứng hạt nhân.

Nhà hóa học người Đức Robert Bunsen và nhà vật lý học Gustav Kirchhoff đã phát hiện ra xêsi năm 1860 bằng một phương pháp mới được phát triển là "quang phổ phát xạ nung bằng ngọn lửa". Các ứng dụng quy mô nhỏ đầu tiên của xêsi là "chất bắt giữ" trong ống chân không và trong tế bào quang điện. Năm 1967, dựa trên nguyên lý của Einstein về sự không đổi của tốc độ ánh sáng trong vũ trụ, Ủy ban Quốc tế về Cân đo đã tách biệt hệ đếm 2 sóng riêng biệt từ quang phổ phát xạ của xêsi-133 để đồng định nghĩa giây và mét trong hệ SI. Từ đó xêsi được ứng dụng rộng rãi trong các đồng hồ nguyên tử độ chính xác cao.

Từ thập niên 1990, ứng dụng của nguyên tố này trên quy mô lớn nhất là xêsi format trong dung dịch khoan. Nó có nhiều ứng dụng trong kỹ thuật điện, điện tử, và hóa học. Đồng vị phóng xạ xêsi-137 có chu kỳ bán rã khoảng 30 năm và được sử dụng trong y học, thiết bị đo công nghiệp và thủy văn. Mặc dù nguyên tố chỉ có độ độc tính trung bình, nó là vật liệu nguy hại ở dạng kim loại và các đồng vị phóng xạ của nó ảnh hưởng đến sức khỏe cao nếu được phóng thích ra môi trường.

Thông tin
Tên hiệu
"Más"
Vị trí
Bản mẫu:Tiêu đề bản đồ}
Vị trí của Chernobyl so với Kiev
Chính quyền
Quốc gia Ukraina
Thị trưởng
Các đặc điểm địa lý
Diện tích
 - Thành phố

km²
Dân số
 - Thành phố (500)

Múi giờ
- Mùa hè  (DST)
MSC (UTC+2)
MSD (UTC+3)
Thông tin khác
Mã bưu chính 07270
Website: chornobyl.in.ua
Effects
Individuals
Locations
Organisations
Related topics

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.