Châu Mỹ Tây Ban Nha

Châu Mỹ Tây Ban Nha (tiếng Tây Ban Nha: Hispanoamérica) là khu vực nói tiếng Tây Ban Nha ở châu Mỹ.[1][2]

Những quốc gia này có những điểm tương đồng với nhau và với Tây Ban Nha. Ở các quốc gia này tiếng Tây Ban Nha được sử dụng chủ yếu.[3]

Hispanic America (orthographic projection)
Bản đồ các quốc gia hình thành khu vực châu Mỹ Tây Ban Nha
Spanish speakers in the Americas (orthographic projection)
Tỉ lệ người nói tiếng Tây Ban Nha ở châu Mỹ
Colonias europea en América siglo XVI-XVIII
Các thuộc địa và lãnh thổ của người châu Âu vào thế kỷ 16, 17 và 18

Quốc gia

Quốc gia Dân số Diện tích[a] GDP (danh nghĩa)[b] GDP (danh nghĩa) trên đầu người[4][5]
Argentina Argentina 41.214.000 2.780.400 $475,00 $11.766
Bolivia Bolivia 10.227.299 1.098.581 $27,43 $2.700
Chile Chile[6] 17.094.275 756.950 $268,20 $15.775
Colombia Colombia 45.273.936 1.141.748 $366,00 $8.097
Costa Rica Costa Rica 4.579.000 51.000 $45,13 $10.432
Cuba Cuba 11.451.652 110.861 $72,30 $6.051
Cộng hòa Dominica Cộng hòa Dominica 10.090.000 48.730 $59,00 $5.834
Ecuador Ecuador 14.067.000 256.370 $80,93 $5.968
El Salvador El Salvador 7.185.000 21.040 $23,82 $3.875
Guatemala Guatemala 14.655.189 108.890 $49,88 $3.512
Honduras Honduras 7.793.000 112.492 $18,39 $2.323
México Mexico 113.724.226 1.972.550 $1.177,00 $10.629
Nicaragua Nicaragua 5.743.000 129.494 $10,51 $1.839
Panama Panama 3.450.349 75.571 $36,25 $10.838
Paraguay Paraguay 6.996.245 406.752 $26,00 $4.169
Peru Peru 29.885.340 1.285.220 $199,00 $6.674
Puerto Rico Puerto Rico (Hoa Kỳ) 3.994.259 9.104 $93,52 $27.678
Uruguay Uruguay 3.415.920 176.215 $49,40 $16.609
Venezuela Venezuela 28.549.745 916.445 $382,40 $12.472
Tổng cộng 376.607.614 11.466.903 $3.460,16 $9.188

Thành phố lớn nhất

Thành phố Quốc gia Dân số Đại đô thị
Thành phố México  Mexico 8.851.080 20.137.152
Buenos Aires  Argentina 3.050.728 13.400.000
Lima  Peru 7.605.742 9.367.587
Bogotá  Colombia 7.434.453 8.600.000
Santiago  Chile 5.428.590 7.200.000
Guadalajara  Mexico 1.564.514 4.328.584
Caracas  Venezuela 3.273.863 5.289.364
Monterrey  Mexico 1.133.814 4.080.329
Medellín  Colombia 2.636.101 3.729.970
Guayaquil  Ecuador 2.432.233 3.328.534
Santo Domingo  Dominican Republic 1.111.838 3.310.171[7]
Havana  Cuba 2.350.000 3.073.000
Thành phố Guatemala  Guatemala 2.149.107 4.703.865
Maracaibo  Venezuela 2.201.727 2.928.043
Cali  Colombia 2.068.386 2.530.796
San Juan  Puerto Rico 434.374 2.509.007
Puebla  Mexico 1.399.519 2.109.049
Asunción  Paraguay 680.250 2.089.651
Montevideo  Uruguay 1.325.968 1.868.335
Quito  Ecuador 1.397.698 1.842.201
Managua  Nicaragua 1.380.300 1.825.000
Barranquilla  Colombia 1.148.506 1.798.143
Santa Cruz  Bolivia 1.594.926 1.774.998
Valencia  Venezuela 894.204 1.770.000
Tegucigalpa  Honduras 1.230.000 1.600.000
La Paz  Bolivia 872.480 1.590.000
San Salvador  El Salvador 540.090 2.223.092
Tijuana  Mexico 1.286.187 1.553.000
Toluca  Mexico 467.712 1.531.000
Mérida  Mexico 781.146 1.035.238
Barquisimeto  Venezuela 1.116.000 1.500.000
León  Mexico 1.278.087 1.488.000
Córdoba  Argentina 1.309.536 1.452.000
Juárez  Mexico 1.301.452 1.343.000
Tegucigalpa  Honduras 1.250.000 1.300.000
Maracay  Venezuela 1.007.000 1.300.000
San José  Costa Rica 386.799 1.284.000
Rosario  Argentina 908.163 1.203.000
Thành phố Panama  Panama 464.761 1.200.000
Torreón  Mexico 548.723 1.144.000
Bucaramanga  Colombia 516.512 1.055.331

Chú thích

  1. ^ Giá trị liệt kê theo km².
  2. ^ Giá trị liệt kê theo tỉ USD.

Tham khảo

  1. ^ All of the following dictionaries only list "Spanish America" as the name for this cultural region. None list "Hispanic America." All list the demonym for the people of the region discussed in this article as the sole definition, or one of the definitions, for "Spanish American". Some list "Hispanic," "Hispanic American" and "Hispano-American" as synonyms for "Spanish American." (All also include as a secondary definition for these last three terms, persons residing in the United States of Hispanic ancestry.) The American Heritage Dictionary of the English Language (3rd ed.) (1992). Boston: Houghton Mifflin. ISBN 0-395-44895-6. Merriam-Webster's Collegiate Dictionary (11th ed.) (2003). Springfield: Merriam-Webster. ISBN 0-87779-807-9. The Random House Dictionary of the English Language (2nd ed.) (1987). New York: Random House. ISBN 0-394-50050-4. Shorter Oxford English Dictionary on Historical Principles (2007). New York: Oxford University Press. ISBN 978-0-19-920687-2. Webster's New Dictionary and Thesaurus (2002). Cleveland: Wiley Publishing. ISBN 978-0-471-79932-0
  2. ^ "Hispanic America" is used in some older works such as Charles Edward Chapman's 1933 Colonial Hispanic America: A History and 1937 Republican Hispanic America: A History (both New York: The Macmillan Co.); or translated titles that faithfully reproduce Hispanoamérica, such as Edmund Stephen Urbanski (1978), Hispanic America and its Civilization: Spanish Americans and Anglo-Americans, Norman: University of Oklahoma Press.
  3. ^ “CIA – The World Factbook – Field Listing – Languages”. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2009.
  4. ^ Dữ liệu chủ yếu lấy theo ước tính của IMF cho năm 2013, công bố tháng 4 năm 2014. World Economic Outlook Database-April 2014, Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2014.
  5. ^ Dữ liệu chủ yếu lấy theo ước tính cho năm 2012. World Development Indicators database, World Bank. CSDL cập nhật ngày 18 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2013.
  6. ^ “Demografia de Chile” (PDF).
  7. ^ “República Dominicana; Población estimada y proyectada por año y sexo, según región, provincia y municipio. 2000-2010” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Oficina Nacional de Estadística (ONE). Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2010. Trang chứa nội dung này: [1] ("Poblacion estimada y proyectada región provincia y municipio 2000-2010.xls")
Bioko

Bioko (cũng viết là Bioco, tại châu Âu theo truyền thống gọi là Fernando Pó) là một hòn đảo nằm cách 32 km của ngoài khơi bờ biển Tây Phi, đặc biệt là Cameroon, tại vịnh Guinea. Đây là phần cực bắc của Guinea Xích đạo với dân số 260.000 người và diện tích là 2.017 km2 (779 sq mi). Đây là một đảo núi lửa với đỉnh cao nhất là Pico Basile đạt 3.012 m (9.882 ft).

Chiến tranh giành độc lập Argentina

Chiến tranh giành độc lập Argentina diễn ra từ năm 1810 đến 1818 giữa một bên là lực lượng bảo quốc Argentian do Manuel Belgrano, Juan José Castelli và José de San Martín lãnh đạo chống lại lực lượng bảo hoàng trung thành với Tây Ban Nha. Ngày 9 tháng 7, 1816, một hội nghị diễn ra tại San Miguel de Tucumán, tuyên bố nền độc lập của Argentina với hiến pháp quốc gia tạm thời.

Cristoforo Colombo

Cristoforo Colombo (tiếng Tây Ban Nha: Cristóbal Colón; tiếng Anh: Christopher Columbus, khoảng trước 31 tháng 10, 1451 – 20 tháng 5, 1506) là một nhà hàng hải người nước Cộng hòa Genova và một đô đốc của các vị Quân chủ Công giáo Tây Ban Nha, mà những chuyến vượt Đại Tây Dương của ông đã mở ra những cuộc thám hiểm Châu Mỹ cũng như quá trình thực dân hoá của Châu Âu. Ông thường được coi là một người dân Genova, nguồn gốc xuất thân là người Do Thái di cư như bao người khác ở thế kỷ 15 - 16.

Lịch sử coi chuyến đi đầu tiên năm 1492 của ông có tầm quan trọng lớn, dù thực tế ông không đặt chân tới lục địa cho tới tận chuyến thám hiểm thứ ba năm 1498. Tương tự, ông không phải là nhà thám hiểm đầu tiên của châu Âu tới châu Mỹ, bởi vì đã có những ghi chép về tiếp xúc xuyên Đại Tây Dương của châu Âu trước năm 1492. Có rất nhiều bằng chứng về việc người Na-uy thời trung cổ đã đặt chân đến và thiết lập nên các thuộc địa ở châu Mỹ. Tuy nhiên, chuyến đi của Colombo diễn ra trong thời điểm chủ nghĩa đế quốc quốc gia và sự cạnh tranh kinh tế giữa các nước đang phát triển tìm cách kiếm của cải từ việc thành lập những con đường thương mại và thuộc địa đang nổi lên. Vì thế, giai đoạn trước năm 1492 được coi là giai đoạn Tiền Colombo, và thời gian diễn ra sự kiện này (Ngày Colombo) thường được kỷ niệm tại toàn thể châu Mỹ, Tây Ban Nha và Ý.

Guatemala

Guatemala, tên chính thức Cộng hoà Guatemala (tiếng Tây Ban Nha: República de Guatemala, IPA: [re'puβlika ðe ɰwate'mala], Tiếng Việt: Cộng hòa Goa-tê-ma-la), là một quốc gia tại Trung Mỹ, ở phần phía nam Bắc Mỹ, giáp biên giới với México ở phía tây bắc, Thái Bình Dương ở phía tây nam, Belize và Biển Caribe ở phía đông bắc, và Honduras cùng El Salvador ở phía đông nam.

Juana de Ibarbourou

Juana Fernández Morales de Ibarbourou, còn được gọi là Juana de América, (1892-1979) là một nhà thơ người Uruguay và là một trong những nhà thơ nổi tiếng nhất của châu Mỹ Tây Ban Nha. Thơ của cô, trong đó các bài thơ sớm nhất thường rất gợi tình, đáng chú ý là cô nhận ra cảm xúc của mình với thiên nhiên xung quanh. Cô đã bốn lần được đề cử giải Nobel Văn học.Bà là nhà thơ , một trong những nhà thơ nữ Mỹ Latinh nổi tiếng nhất. Bà đã được tôn kính về việc ca ngợi tình yêu và thiên nhiên của bà.

Ibarbourou đã trải qua thời thơ ấu của mình trong một ngôi làng nhỏ. Bà hầu như tự học. Năm 1914, bà lập gia đình và sau đó sinh một đứa con trai. Một thời gian sau, gia đình chuyển đến Montevideo năm 1918.

Thơ Ibarbourou giàu hình ảnh, gợi cảm và thể hiện bằng ngôn ngữ đơn giản, đề cập đến các chủ đề của tình yêu và thiên nhiên. Las lenguas de diamante (1919; "Lưỡi kim cương") thu hút sự chú ý về nhục dục, tình ái, và thuyết phiếm thần. Những phẩm chất này, cùng với tính tự yêu của giới trẻ cũng có mặt trong các tác phẩm của bà.. Bà bị ảnh hưởng sâu sắc bởi sự ốm yếu của mình và cái chết của cha, mẹ và chồng.

Mặc dù thơ Ibarbourou sau này thiếu niềm đam mê và cảm xúc của công việc trước đây của bà, bà vẫn là một trong những nhà thơ nổi tiếng nhất của Nam Mỹ. Bà đã được bầu làm chủ tịch Hiệp hội Nhà văn Uruguay năm 1950.

Tác phẩm chủ yếu là: "Lưỡi kim cương" (1918), "Gốc hoang “(1922), "La bàn" (1930) và tập thơ văn xuôi "Tranh vẽ Thánh Kinh" (1936) v.v

Liên bang Granadine

Liên bang Granadine (tiếng Tây Ban Nha: Confederación Granadina) là một ngắn cộng hòa liên bang ngắn tồn tại từ lập năm 1858 cho đến năm 1893 như là kết quả của một sự thay đổi hiến pháp thay thế Cộng hòa Tân Granada. Nó bao gồm các quốc gia ngày nay là Colombia và Panama và một phần của tây bắc Brasil. Đổi lại, Liên bang Granadine đã được thay thế bởi Hợp chúng quốc Colombia sau một thay đổi hiến pháp khác vào năm 1863.

Lãnh thổ Louisiana

Lãnh thổ Louisiana là một lãnh thổ hợp nhất có tổ chức trong lịch sử của Hoa Kỳ từ ngày 4 tháng 7 năm 1805 đến 11 tháng 12 năm 1812. Nó bao gồm phần còn lại của Vùng đất mua Louisiana sau khi tách ra thành Lãnh thổ Orleans. Lãnh thổ Orleans sau đó trở thành tiểu bang Louisiana. Tuy nhiên Lãnh thổ Louisiana lớn hơn tiểu bang Louisiana rất nhiều. Lãnh thổ Louisiana là tất cả phần đất của Vùng đất mua Louisiana nằm ở phía bắc vĩ tuyến 33 độ Bắc (ranh giới phía nam của tiểu bang Arkansas hiện nay). Cơ quan chính quyền được đặt tại St. Louis.

Lãnh thổ Louisiana trong những ngữ cảnh khác có ý chỉ các lãnh thổ thuộc địa Louisiana của Pháp và Tây Ban Nha (xin xem Pháp thuộc địa hóa châu Mỹ, Tây Ban Nha thuộc địa hóa châu Mỹ). Thuật từ này cũng thường được dùng không chính thức để chỉ Vùng đất mua Louisiana.

Cả Meriwether Lewis (1807-1809) và William Clark (1813-1820) đã phục vụ với tư cách là thống đốc Lãnh thổ Louisiana.

Lãnh thổ Louisiana có 5 phân vùng Địa khu St. Louis, Địa khu St. Charles, Địa khu Ste. Genevieve, Địa khu Cape Girardeau và Địa khu New Madrid. Năm 1806, lập pháp lãnh thổ thành lập Địa khu Arkansas từ phần đất mà Xứ Osage nhượng lại. Phần còn lại được biết như là Lãnh thổ Thượng Louisiana.

Ngày 1 tháng 10 năm 1812, Thống đốc Clark tổ chức 5 địa khu hành chánh thuộc Lãnh thổ Thượng Louisiana thành các quận mà sau đó trở thành 5 quận đầu tiên của Lãnh thổ Missouri. Năm 1818, Các quận Franklin và Jefferson được thành lập từ quận gốc là Quận St. Louis để lại Quận St. Louis với vùng đất mà ngày nay bao gồm Quận St. Louis và Thành phố St. Louis.

Lãnh thổ Louisiana được đặt tên lại là Lãnh thổ Missouri vào năm 1812 để tránh nhầm lẫn với tiểu bang mới Louisiana.

Người Mỹ gốc Tây Ban Nha và Latinh da trắng

Người Mỹ gốc Tây Ban Nha Latinh và da trắng (tiếng Anh: White Hispanic and Latino Americans, tiếng Tây Ban Nha: Americanos hispanos y latinos blancos) là một thuật ngữ được sử dụng trong Hoa Kỳ để chỉ một công dân Hoa Kỳ hoặc thường trú người nước ngoài gốc Tây Ban Nha (người Tây Ban Nha hoặc châu Mỹ Tây Ban Nha), được phân loại như trắng, thể loại chính thức đề cập đến những người có nguồn gốc từ châu Âu.

việc sử dụng nó được dựa trên định nghĩa được tạo ra bởi Văn phòng Quản lý và Ngân sách (Office of Management and Budget) và Cục Điều tra Dân số. Các khái niệm về nhóm dân số và dân tộc là độc lập với nhau, và những người trả lời điều tra dân số và các cuộc điều tra khác của Cục điều tra dân số được yêu cầu trả lời cả hai câu hỏi. Dân tộc phân biệt giữa những người tuyên bố có nguồn gốc của họ và những người không (người Mỹ gốc Tây Ban Nha). Trong khi đó, điều tra dân số yêu cầu mỗi cư dân báo cáo nhóm dân số được xác định rõ nhất.

Trong năm 2009, 48,4 triệu (15,8%) người Mỹ đã báo cáo là người gốc Tây Ban Nha. Trong số này, khoảng 30,4 triệu (63%) báo cáo là màu trắng.

Peninsular

Trong hệ thống phân biệt chủng tộc của thực dân Tây Ban Nha, một peninsular (phát âm tiếng Tây Ban Nha: [peninsuˈlaɾ], pl. peninsulares) là một người Tây Ban Nha sinh ra ở chính quốc Tây Ban Nha sinh sống tại châu Mỹ Tây Ban Nha hoặc Đông Ấn Tây Ban Nha. Từ peninsular ban đầu được sử dụng để nói đến những người ở bán đảo Tây Ban Nha, trái với "isleños" (dân đảo), chỉ những người dân quần đảo Canary (còn gọi là guanches).

Còn trong tiếng Bồ Đào Nha tại Brazil thuộc địa, người da trắng sinh ở bán đảo Iberia gọi là "reinóis" trong khi con của hai reinóis sinh ra tại Brazil là "mazombos".

Thời thuộc địa, những người lãnh đạo cao ở châu Mỹ và Philippines thường là peninsular. Trong các cuộc đấu tranh giành độc lập châu Mỹ, những người này còn gọi là "người Goth", đề cập đến vương quốc Visigoth từng cai trị Tây Ban Nha, hoặc tại México là "gaucho". "Godos" được dùng tại quần đảo Canary.

Thông thường, các peninsular sở hữu lượng lớn đất đai. Họ bảo vệ sự độc quyền thương mại tại Cádiz, làm đảo lộn các criollos, đã chuyển qua buôn lậu sang các thuộc địa khác của Anh và Pháp, đặc biệt là cách xa những cảng chính của hạm đội Tây Ban Nha. Họ, các peninsular làm việc để bảo vệ quyền lực của đế quốc Tây Ban Nha.

Trong hệ thống phân biệt chủng tộc thuộc địa, peninsular đứng đầu, theo sau là criollo, vốn đã phát triển một tầng lớp quý tộc địa phương đầy quyền lực trong thế kỷ 17 và 18.

Trận Ayacucho

Trận Ayacucho (tiếng Tây Ban Nha: Batalla de Ayacucho, IPA: [baˈtaʎa ðe aʝaˈkutʃo]) là một cuộc chiến đấu quân sự quyết định trong chiến Peru ngôn Độc lập. Đó là trận chiến bảo đảm độc lập của Peru và bảo đảm độc lập cho phần còn lại của Nam Mỹ. Ở Peru, nó được coi là sự kết thúc của các cuộc chiến tranh giành độc lập của người Mỹ gốc Tây Ban Nha, mặc dù chiến dịch của kẻ chiến thắng là ông Antonio Jose de Sucre, tiếp tục đến năm 1825 ở Thượng Peru và cuộc bao vây pháo đài Chiloé và Callao cuối cùng đã kết thúc vào năm 1826.

Cho đến cuối năm 1824, những người theo chủ nghĩa Hoàng gia vẫn nắm quyền kiểm soát phần lớn phía nam Peru cũng như Pháo đài Real Felipe ở cảng Callao. Vào ngày 9 tháng 12 năm 1824, Trận Ayacucho (Trận La Quinua) đã diễn ra tại Pampa de Ayacucho (hoặc Quinua), cách Ayacucho vài km, gần thị trấn Quinua giữa lực lượng Hoàng gia và Độc lập. Các lực lượng độc lập được chỉ huy bởi trung úy Sucre của Simón Bolívar. Viceroy José de la Serna đã bị thương, và sau trận chiến, tổng tư lệnh thứ hai là ông Jose de Canterac đã ký tên vào thủ đô cuối cùng của quân đội Hoàng gia.

Quân đội Peru hiện đại kỷ niệm trận chiến này.

Đế quốc Hà Lan

Đế quốc Hà Lan (tiếng Hà Lan: Nederlands-koloniale Rijk) bao gồm các vùng lãnh thổ ở nước ngoài thuộc tầm kiểm soát của Hà Lan từ thế kỷ 17 đến những năm 1950. Người Hà Lan đã theo sau Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha trong việc thiết lập một đế quốc thực dân. Đối với điều này, họ đã được hỗ trợ bởi các kỹ năng của họ trong việc vận chuyển và thương mại và sự gia tăng của chủ nghĩa dân tộc bởi cuộc đấu tranh giành độc lập từ Tây Ban Nha.

Tham vọng đế quốc của người Hà Lan đã được củng cố bởi sức mạnh của ngành vận tải biển hiện tại của họ, cũng như vai trò chính của họ trong việc mở rộng giao thương hàng hải giữa châu Âu và Phương Đông. Cùng với Anh, Hà Lan bước đầu xây dựng tài sản thuộc địa trên cơ sở của nhà nước tư bản gián tiếp của công ty chủ nghĩa thực dân như công ty Công ty Đông Ấn Hà Lan và Công ty Tây Ấn Hà Lan vào đầu thế kỷ XVII. Chúng được coi là Các công ty thương mại hàng hải lớn nhất và rộng lớn nhất vào thời điểm đó, và từng nắm giữ độc quyền ảo trên các tuyến vận tải chiến lược của châu Âu về phía tây qua Nam bán cầu quanh Nam Mỹ qua eo biển Magellan và phía đông châu Phi, qua Mũi Hảo Vọng. Sự thống trị của các công ty về thương mại toàn cầu đã góp phần rất lớn vào một cuộc cách mạng thương mại và sự nở rộ văn hóa ở Hà Lan của thế kỷ 17, được gọi là Thời kỳ hoàng kim của Hà Lan. Trong quá trình tìm kiếm các tuyến thương mại mới giữa châu Á và châu Âu, các nhà hàng hải Hà Lan đã khám phá và lập bản đồ cho các khu vực xa xôi như New Zealand, Tasmania và một phần của bờ biển phía đông Bắc Mỹ.Vào thế kỷ 18, đế quốc thực dân Hà Lan bắt đầu suy tàn do Chiến tranh Anh-Hà Lan lần thứ tư 1780-1784, trong đó Hà Lan mất một số tài sản thuộc địa và độc quyền thương mại cho Đế quốc Anh. Tuy nhiên, các phần chính của đế chế vẫn tồn tại cho đến khi xuất hiện sự phân rã toàn cầu sau Thế chiến II (1939 - 1945), cụ thể là Đông Ấn (Indonesia) và Dutch Guiana (Surinam). Ba lãnh thổ thuộc địa cũ ở các đảo Tây Ấn xung quanh Biển Caribê, Argentina, Curaçao và Sint Maarten, vẫn là các quốc gia cấu thành đại diện trong Vương quốc Hà Lan.

Đế quốc Tây Ban Nha

Đế quốc Thực dân Tây Ban Nha (tiếng Tây Ban Nha: Imperio español) là một trong những đế quốc lớn nhất thế giới và là một trong những đế quốc toàn cầu đầu tiên trên thế giới. Đạt tới thời kỳ cực thịnh về quân sự, quyền lực chính trị và kinh tế dưới vương triều Habsburgs Tây Ban Nha, trong thế kỷ 16 và 17, có phạm vi rộng nhất dưới vương triều Bourbon, khi tích hợp với Đế quốc Bồ Đào Nha trong một hệ thống chung gọi là Liên minh Iberia, từ 1580 đến 1640. Đế quốc Tây Ban Nha trở thành siêu cường trong thời gian đó và là đế quốc đầu tiên được gọi là "đế quốc mặt trời không bao giờ lặn".

Vào thế kỷ thứ 15 và 16 Tây Ban Nha là quốc gia tiên phong cho phong trào thám hiểm thế giới và chủ nghĩa bành trướng thuộc địa của châu Âu cũng như tiên phong trong việc mở các lộ trình giao thương qua đại dương, với việc thông thương phát triển nở rộ qua Đại Tây Dương giữa Tây Ban Nha với Mỹ và qua Thái Bình Dương giữa Châu Á - Thái Bình Dương với México qua Philippines. Những người Tây Ban Nha đi khai phá thuộc địa đã lật đổ những nền văn minh Aztec, Inca, Maya và tuyên bố chủ quyền với một dải đất bao la ở Bắc và Nam Mỹ. Trong một khoảng thời gian, đế chế Tây Ban Nha thống trị các đại dương nhờ hạm đội tàu giàu kinh nghiệm, một sức mạnh bậc nhất toàn cầu, và họ thống trị những chiến trường ở châu Âu với một lực lượng bộ binh dày dạn và thiện chiến có tên là tercios. Tây Ban Nha trải qua thời kỳ vàng son về văn hóa trong thế kỷ 16 và 17.

Từ giữa thế kỷ 16, vàng và bạc từ các mỏ ở châu Mỹ đã tăng cường tiềm lực quân sự của Tây Ban Nha Habsburg trong một chuỗi các cuộc chiến tại châu Âu và Bắc Phi. Vào thế kỷ 17 và 18, đế chế Tây Ban Nha có được một lãnh thổ rộng lớn nhất trên thế giới, dù nó có trải qua sự biến động trong quân đội và tài sản kinh tế từ thập niên 1640. Phải đương đầu với kinh nghiệm và thử thách mới trong việc xây dựng đế chế, các nhà tư tưởng Tây Ban Nha đã công thức ra một vài ý tưởng tân tiến trong các đạo luật thiên nhiên, quyền tối cao độc lập, đạo luật quốc tế, chiến tranh và kinh tế - họ thậm chí đặt dấu hỏi về tính hợp pháp của chủ nghĩa đế quốc - liên quan đến những trường phái ý tưởng về tính tập thể như trường phái Salamanca.

Những bất đồng thường xuyên với các thế lực thù địch đã gây ra các cuộc chiến về lãnh thổ, giao thương và tôn giáo mà đã góp phần không nhỏ vào sự suy tàn dần dần của đế chế Tây Ban Nha từ giữa thế kỷ 17. Trên Địa Trung Hải, Tây Ban Nha thường xuyên giao chiến với đế quốc Ottoman, trên lục địa châu Âu, Pháp vươn lên với một sức mạnh tương đương. Ở bên ngoài, Tây Ban Nha ban đầu bị cạnh tranh bởi Bồ Đào Nha, rồi sau đó là Anh và Hà Lan. Thêm vào đó, các lực lượng phá rối dưới sự đỡ đầu của Anh, Pháp và Hà Lan cùng với việc phạm tội quá mức của quân đội Tây Ban Nha, sự tham nhũng gia tăng của chính phủ và sự đình trệ về kinh tế gây ra bởi các chi tiêu quân đội đã phần nào đóng góp cho sự đi xuống của đế chế này.

Đế chế Tây Ban Nha tại châu Âu đã không thể thực hiện được do hiệp ước Utrecht (1713), hiệp ước đã cắt bỏ những lãnh thổ còn lại của Tây Ban Nha ở Ý và các quốc gia thuộc vùng đất thấp. Tài sản của Tây Ban Nha tăng lên sau đó, nhưng nó vẫn duy trì là một sức mạnh thứ hai về chính trị tại lục địa châu Âu.

Tuy nhiên, Tây Ban Nha duy trì và mở rộng đế chế bên ngoài của nó cho đến thế kỷ 19, cú sốc của cuộc chiến tranh bán đảo đã tạo nên một làn sóng tuyên bố độc lập tại Quito (1809), Colombia (1810), Venezuela và Paraguay (1811) đồng thời các cuộc cách mạng liên tiếp nổ ra đã cướp đi các thuộc địa của đế chế tại Đại Lục Châu Mỹ. Tây Ban Nha cố gắng duy trì những mảnh vụn của đế chế tại vùng Caribbean (Cuba và Puerto Rico); Châu Á (Philippines), và Châu Đại Dương (Guam, Micronesia, Palau, và Quần đảo Bắc Mariana) cho đến tận chiến tranh Tây Ban Nha-Hoa Kỳ nổ ra năm 1898. Sự tham gia của Tây Ban Nha trong cuộc tranh chấp châu Phi là rất nhỏ; vùng Maroc Tây Ban Nha (thuộc địa Maroc của Tây Ban Nha) được duy trì cho đến năm 1956, Guinea Tây Ban Nha và Sahara Tây Ban Nha được duy trì cho đến năm 1968 và 1975. Quần đảo Canaria, Ceuta, Melilla là những khu vực hành chính hiện vẫn là một phần của Tây Ban Nha trong khi Isla de Alborán, Isla Perejil, Islas Chafarinas, Peñón de Alhucemas, và Peñón de Vélez de la Gomera vẫn là các lãnh thổ thuộc Tây Ban Nha. Và theo UN, "Sahara Tây Ban Nha/Tây Sahara" hiện vẫn dưới sự điều hành của Tây Ban Nha.

Động từ tiếng Tây Ban Nha

Động từ tiếng Tây Ban Nha tạo ra một khía cạnh khó của tiếng Tây Ban Nha. Tiếng Tây Ban Nha là một ngôn ngữ tương đối tổng hợp với một mức độ biến tố trung bình đến cao, nó được thể hiện trong cách chia động từ tiếng Tây Ban Nha.

Giống như các động từ trong hầu hết các ngôn ngữ, động từ tiếng Tây Ban Nha thể hiện hành động hoặc trạng thái của một chủ thể nhất định, và giống như các động từ trong hầu hết các ngôn ngữ Ấn Âu, động từ của tiếng Tây Ban Nha trải qua sự biến tố theo các loại sau:

Thì: quá khứ, hiện tại, hoặc tương lai

Số lượng: số ít hoặc số nhiều

Ngôi: thứ nhất, thứ hai hoặc thứ ba

Phân biệt T–V: thân mật hay trang trọng

Cách: chỉ định, giả định, hoặc mệnh lệnh

Thể: hoàn thành hoặc chưa hoàn thành (phân biệt chỉ bằng thì quá khứ dưới dạng thời quá khứ và thời quá khứ chưa hoàn thành)

Dạng: chủ động hoặc bị độngHệ thống động từ tiếng Tây Ban Nha hiện đại học mười sáu thức dạng hoàn thành riêng biệt (nghĩa là tập hợp các hình chức cho mỗi sự kết hợp của thì và cách (thì đề cập đến khi hành động xảy ra, và cách đề cập đến cách của chủ thể – ví dụ: chắc chắn vs nghi ngờ), cộng một thức dạng chưa hoàn thành (thể mệnh lệnh), cũng như ba dạng không thời gian (nguyên thể, động danh từ, và quá khứ phân từ).

Mười bốn thì thông thường cũng được chia thêm thành bảy thì đơn giản và bảy thì phức (cũng được gọi là thì hoàn thành). Bảy thì phức được tạo thành với trợ động từ haber theo sau bởi quá khứ phân từ. Động từ có thể được sử dụng trong các dạng khác, như là hiện tại tiếp diễn, nhưng trong các luận văn chúng thường không được coi là một thì đặc biệt mà được coi là một cấu trúc xây dựng lời nói vòng.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.