Châu Đại Dương

Châu Đại Dương là một khu vực địa lý bao gồm Melanesia, Micronesia, PolynesiaAustralasia.[1] Châu lục này trải trên Đông Bán cầuTây Bán cầu, có diện tích 8.525.989 km² và dân số khoảng 40 triệu. Châu Đại Dương là lục địa nhỏ nhất về diện tích đất liền và nhỏ thứ nhì về dân số sau châu Nam Cực.

Các đảo nằm tại các điểm cực địa lý của châu Đại Dương là quần đảo Ogasawara, Hawaii, đảo Clipperton, quần đảo Juan Fernández, quần đảo Campbell, quần đảo Cocos (Keeling). Châu Đại Dương đa dạng về trình độ kinh tế, từ phát triển cao độ tại ÚcNew Zeland,[2][3] đến các nền kinh tế kém phát triển hơn nhiều như của KiribatiTuvalu.[4] Úc là quốc gia lớn nhất và đông dân nhất tại châu Đại Dương, còn Sydney của nước này là thành phố lớn nhất châu lục.[5]

Những người đầu tiên định cư đến Úc, New Guinea, và các đảo lớn nằm sát phía đông của chúng vào giai đoạn khoảng 50.000-30.000 năm trước. Người châu Âu khám phá châu Đại Dương từ thế kỷ XVI trở đi, và đến thế kỷ XVIII James Cook là người châu Âu đầu tiên đến bờ biển phía đông của lục địa Úc. Mặt trận Thái Bình Dương có các trận đánh lớn trong Chiến tranh thế giới thứ hai, chủ yếu là giữa Hoa Kỳ cùng đồng minh Úc của họ với Nhật Bản.[6]

Sau khi người châu Âu khám phá khu vực, họ tiến hành định cư tại đây trong các thế kỷ tiếp theo, dẫn đến thay đổi quan trọng về xã hội và chính trị của châu Đại Dương. Trong lịch sử đương đại, ngày càng có nhiều thảo luận về vấn đề quốc kỳ và một số người mong muốn thể hiện bản sắc riêng biệt và cá tính của họ.[7] Nghệ thuật tranh đá của thổ dân Úc là truyền thống nghệ thuật được thực hiện liên tục lâu nhất trên thế giới.[8] Puncak Jaya tại Papua thường được cho là đỉnh cao nhất tại châu Đại Dương.[9] Hầu hết các quốc gia châu Đại Dương có thể chế chính trị đa đảng dân chủ đại diện nghị viện, và du lịch là một nguồn thu nhập lớn đối với các đảo quốc Thái Bình Dương.[10]

Oceania (orthographic projection)

Định nghĩa

Oceania UN Geoscheme Regions
Các khu vực của châu Đại Dương

Thuật ngữ Océanie được nhà địa lý học Conrad Malte-Brun tạo ra vào khoảng 1812.[11] Từ Océanie là một từ tiếng Pháp, có nguồn gốc từ tiếng Latinh [undefined] lỗi: {{lang}}: không có văn bản (trợ giúp), và từ này có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp [undefined] lỗi: {{lang}}: không có văn bản (trợ giúp) (ōkeanós), nghĩa là đại dương.[12] Thuật ngữ Đại dương được sử dụng do đại dương liên kết các quốc gia trong châu lục, điều này khác với các châu lục khác.[13]

  • Về địa lý sinh vật, châu Đại Dương đồng nghĩa với vùng sinh thái Australasia và vùng sinh thái Thái Bình Dương (Melanesia, Polynesia và Micronesia), với New Zealand tạo thành góc tây nam của Tam giác Polynesia. New Zealand cũng có thể được nhìn nhận là bộ phận của Australasia, song theo truyền thống nó là bộ phận của Polynesia.[14]
  • Nếu tính là một vùng sinh thái, châu Đại Dương bao gồm toàn bộ Micronesia, Fiji, và toàn bộ Polynesia ngoại trừ New Zealand. New Zealand, cùng với New Guinea và các đảo lân cận, tạo thành vùng sinh thái Australasia riêng biệt.[15]
  • Theo khái niệm địa chính trị được Liên Hiệp Quốc và nhiều tập bản đồ sử dụng, châu Đại Dương bao gồm Úc và các quốc gia Thái Bình Dương từ Papua New Guinea về phía đông, song không bao gồm New Guinea thuộc Indonesia.[16]
EEZ Oceania

Lịch sử

Úc

Native Encampment by Skinner Prout, from Australia (1876, vol II)
Một bản khắc từ thế kỷ XIX miêu tả thổ dân Úc cắm trại.

Thổ dân Úc là các cư dân đầu tiên tại lục địa Úc và các đảo lân cận, họ di cư từ châu Phi đến châu Á vào khoảng 70.000 năm trước[17] và đến Úc vào khoảng 50.000 năm trước.[18] Họ được cho là thuộc các đợt di cư sớm nhất của loài người ra ngoài châu Phi.[19] Mặc dù có vẻ là họ di cư đến Úc qua Đông Nam Á, song họ rõ ràng không có liên hệ với các cư dân châu Á hoặc Polynesia.[20] Có bằng chứng về trao đổi di truyền học và ngôn ngữ học giữa thổ dân Úc tại cực bắc với các dân tộc Nam Đảo tại New Guinea và các quần đảo, song có thể là kết quả từ giao thương và liên hôn gần đây.[21]

Họ đến Tasmania khoảng 40.000 năm trước bằng cách di cư qua một cầu lục địa tồn tại trong kỷ băng hà cuối.[22] Người ta cho rằng cuộc di cư đầu tiên đến Úc được tiến hành khi đại lục tạo thành một phần của lục địa Sahul, nối với đảo New Guinea qua một cầu lục địa.[23] Cư dân Quần đảo Eo biển Torres là người bản địa tại các đảo trên eo biển Torres, nằm ngoài khơi mũi cực bắc của Queensland và gần Papua New Guinea.[24] Di cốt con người sớm nhất xác định được tại Úc là của người Mungo, có niên đại khoảng 40.000 năm.[25]

Melanesia

Melanesians
Phân bổ người Melanesia

Những cư dân đầu tiên của nhóm đảo Melanesia có vẻ là tổ tiên của người nói tiếng Papua hiện nay. Họ di cư từ Đông Nam Á, có vẻ đã chiếm giữ xa về cực đông đến các đảo chính của quần đảo Solomon, bao gồm đảo Makira và có thể là đến các đảo nhỏ xa hơn nữa về phía đông.[26]

Người Austronesia sống dọc bờ biển phía bắc và các đảo về phía bắc và phía đông của New Guinea, họ di cư đến khu vực vào khoảng 3.000 năm trước, có tiếp xúc với các dân tộc nói tiếng Papua hiện diện từ trước. Đến cuối thế kỷ XX, một số học giả đặt ra giả thuyết về một giai đoạn tương tác lâu dài, dẫn đến nhiều biến đổi phức tạp về di truyền, ngôn ngữ và văn hoá trong các dân tộc.[27]

Polynesia

AhuTongariki
Moai tại Ahu Tongariki trên Rapa Nui (đảo Phục sinh)

Người Polynesia về mặt ngôn ngữ, khảo cổ và nguồn gốc di truyền được nhìn nhận là một phân nhóm của người Austronesia di cư bằng đường biển, và các ngôn ngữ Polynesia của họ có nguồn gốc tiền sử tại quần đảo Mã Lai, và xa hơn nữa là Đài Loan. Từ khoảng 3000 đến 1000 TCN, những người nói các ngôn ngữ Austronesia bắt đầu di cư đến Đông Nam Á hải đảo,[28][29][30].

Hồ sơ khảo cổ học có dấu tích rõ ràng về sự bành trướng này, cho phép xác định chính xác phần nào tuyến đường mà họ đi theo và mốc thời gian. Người ta cho là vào khoảng 1400 TCN,[31] "người Lapita" xuất hiện tại quần đảo Bismarck tại tây bắc Melanesia.[32][33]

Cư dân đảo Phục sinh cho rằng một tù trưởng tên là Hotu Matu'a[34] đến đảo trên một hoặc hai xuồng lớn cùng vợ và đại gia đình.[35] Họ được cho là người Polynesia. Tài liệu xuất bản cho rằng con người định cư trên đảo vào khoảng 300–400, hoặc vào khoảng thời gian những người định cư đầu tiên đến Hawaii. Khoảng 1200, các nhà thám hiểm người Tahiti phát hiện và bắt đầu định cư tại khu vực. Mốc thời gian này thay đổi dựa trên tính toán niên đại ngôn ngữ và vào ba mốc cacbon phóng xạ từ than củi được cho là hình thành từ hoạt động phát quang rừng.[36] Tuy vậy, một nghiên cứu gần đây bao gồm các niên đại phóng xạ được cho thấy rằng đảo có người định cư gần đây khoảng năm 1200.[37]

Micronesia

HH1883 pg125 Hafen von Jap
Chuyên chở tiền đá đến đảo Yap tại Micronesia (1880).

Micronesia bắt đầu có người định cư từ vài thiên niên kỷ trước, song có các thuyết khác nhau về nguồn gốc và thời điểm có những người định cư ban đầu. Tồn tại một số khó khăn trong tiến hành khai quật khảo cổ học trên các đảo, do kích thước, mô hình định cư và thiệt hại do bão. Do đó, phần lớn bằng chứng dựa trên phân tích ngôn ngữ.[38]

Dấu tích khảo cổ học sớm nhất về nền văn minh được phát hiện trên đảo Saipan, có niên đại khoảng 1500 TCN hoặc không lâu trước đó. Tổ tiên của người Micronesia định cư tại đó 4.000 năm trước. Một hệ thống phân quyền dựa trên các tù trưởng cuối cùng tiến hoá thành một nền văn hoá kinh tế và tôn giáo tập trung hơn trên đảo YapPohnpei.[39] Thời tiền sử của nhiều hòn đảo Micronesia như Yap không được biết nhiều.[40]

Cư dân đầu tiên của Quần đảo Bắc Mariana đến từ Đông Nam Á vào khoảng từ 4000 TCN đến 2000 TCN. Họ được gọi là người Chamorro, và nói một ngôn ngữ Austronesia gọi là Chamorro. Người Chamorro cổ đại để lại một số tàn tích cự thạch, như đá Latte. Refaluwasch, hay người Caroline đến quần đảo Mariana trong thế kỷ XIX từ quần đảo Caroline. Các di dân Micronesia dần định cư tại quần đảo Marshall vào thiên niên kỷ thứ 2, khi họ có thể qua lại giữa các đảo dựa vào biểu đồ xếp từ que truyền thống.[41]

Người châu Âu thám hiểm

Từ năm 1527 đến năm 1595, một số đoàn thám hiểm lớn của Tây Ban Nha vượt qua Đại Tây Dương, kết quả là khám phá quần đảo MarshallPalau tại Bắc Thái Bình Dương, cùng với Tuvalu, Marquesas, quần đảo Solomon, quần đảo Cookquần đảo Admiralty tại Nam Thái Bình Dương.[42]

Trong quá trình tìm kiếm lục địa giả tưởng Terra Australis, các nhà thám hiểm Tây Ban Nha vào thế kỷ XVII, như đoàn thám hiểm của Pedro Fernandes de Queirós, khám phá các quần đảo PitcairnVanuatu, và đến eo biển Torres nằm giữa Úc và New Guinea, đặt tên nó theo nhà hàng hải Luís Vaz de Torres. Willem Janszoon là người châu Âu đầu tiên được chứng minh trọn ven là đặt chân đến Úc (1606), tại bán đảo Cape York.[43] Abel Janszoon Tasman đi vòng quanh thế giới và đổ bộ nhiều nơi trên bờ biển lục địa Úc, và khám phá Đất Van Diemen (nay là Tasmania), New Zealand vào năm 1642, và quần đảo Fiji.[44] Ông là nhà thám hiểm châu Âu đầu tiên được ghi nhận là tới các đảo này.[45]

Ngày 23 tháng 4 năm 1770, nhà thám hiểm người Anh James Cook tiến hành ghi chép đầu tiên về quan sát trực tiếp thổ dân Úc trên đảo Brush gần Bawley Point.[46] Ngày 29 tháng 4, Cook và thuỷ thủ tiến hành cuộc đổ bộ đầu tiên tại đại lục. Tại đó, James Cook có tiếp xúc lần đầu với một bộ lạc thổ dân gọi là Gweagal. Chuyến thám hiểm của ông là lần đầu tiên người châu Âu được ghi nhận là đã đến bờ biển phía đông của Úc.[47]

Thuộc địa hoá

New Guinea (1884-1919)
New Guinea từ năm 1884 đến năm 1919. Người Hà Lan kiểm soát nửa phía tây của New Guinea, Đức kiểm soát phần đông bắc, và Anh kiểm soát phần đông nam.

Năm 1789, cuộc nổi loạn trên tàu Bounty chống lại William Bligh có kết quả là một số người binh biến đã đào ngũ Hải quân Hoàng gia Anh và định cư tại quần đảo Pitcairn, về sau nơi này trở thành một thuộc địa của Anh. Anh cũng lập các thuộc địa tại Úc vào năm 1788, New Zealand vào năm 1840 và Fiji vào năm 1872, phần lớn châu Đại Dương trở thành bộ phận của Đế quốc Anh. Quần đảo Gilbert (nay là Kiribati) và quần đảo Ellice (nay là Tuvalu) nằm trong phạm vi ảnh hưởng của Anh vào cuối thế kỷ XIX.[48][49]

Các nhà truyền giáo Công giáo người Pháp đến Tahiti vào năm 1834; việc họ bị trục xuất vào năm 1836 khiến Pháp cử một pháo hạm đến vào năm 1838. Năm 1842, Tahiti và Tahuata được tuyên bố là lãnh thổ bảo hộ của Pháp, nhằm để cho các nhà truyền giáo hoạt động mà không bị phá rối. Thủ phủ Papeetē được thành lập vào năm 1843.[50] Ngày 24 tháng 9 năm 1853, theo lệnh của Napoleon III, Đô đốc Febvrier Despointes chính thức chiếm hữu Nouvelle-Calédonie và Port-de-France (Nouméa) được thành lập vào ngày 25 tháng 6 năm 1854.[51]

Nhà thám hiểm người Tây Ban Nha Alonso de Salazar đổ bộ lên quần đảo Marshall vào năm 1529. Quần đảo về sau được đặt tên theo nhà thám hiểm người Anh John Marshall, là người đến quần đảo cùng với Thomas Gilbert vào năm 1788. Năm 1905, chính phủ Anh chuyển giao một số trách nhiệm hành chính đối với phần đông nam New Guinea cho Úc (đổi tên thành "Lãnh thổ Papua"); và đến năm 1906, chuyển giao toàn bộ trách nhiệm còn lại cho Úc. Tây Ban Nha yêu sách quần đảo Marshall vào năm 1874. Đức lập thuộc địa tại New Guinea vào năm 1884, và tại Samoa vào năm 1900. Hoa Kỳ cũng bành trướng đến Thái Bình Dương, bắt đầu từ đảo Bakerđảo Howland vào năm 1857, còn Hawaii trở thành một lãnh thổ của Hoa Kỳ vào năm 1898. Bất đồng giữa Hoa Kỳ, Đức và Anh về Samoa dẫn đến Hiệp ước ba bên vào năm 1899.[52]

Lịch sử hiện đại

NZ 3rd Division (USMC photo)
Binh sĩ New Zealand đổ bộ tại Vella Lavella, Quần đảo Solomon

Một trong các cuộc tấn công quy mô lớn trên bộ đầu tiên tại châu Đại Dương là sự kiện New Zeland chiếm đóng Samoa thuộc Đức vào tháng 8 năm 1914. Quân đội Úc tấn công New Guinea thuộc Đức vào tháng 9 năm 1914, kết quả là người Đức đầu hàng.[53]

Quân đội Nhật Bản tấn công căn cứ hải quân Hoa Kỳ tại Trân Châu Cảng vào ngày 7 tháng 12 năm 1941,[54][55]. Cuộc tấn công khiến Hoa Kỳ tham gia Chiến tranh thế giới thứ hai. Nhật Bản sau đó xâm chiếm New Guinea, quần đảo Solomon và các đảo khác tại Thái Bình Dương. Bước ngoặt trên mặt trận này là trận chiến biển Coral và chiến dịch đường Kokoda tại Papua, và người Nhật cuối cùng thất bại vào năm 1945. Một số trận chiến nổi bật khác trên mặt trận châu Đại Dương là trận Bita Paka, chiến dịch quần đảo Solomon, oanh tạc Darwin.[56][57] Hoa Kỳ chiến đấu giành lại Guam từ 21 tháng 7 đến 10 tháng 8 năm 1944.[58]

Úc và New Zealand trở thành các quốc gia tự trị vào thế kỷ XX, lần lượt thông qua Đạo luật Quy chế Westminster vào năm 1942 và 1947. Năm 1946, người Polynesia được cấp quyền công dân Pháp và vị thế của quần đảo được chuyển thành một lãnh thổ hải ngoại; tên của quần đảo được đổi thành Polynésie Française (Polynésie thuộc Pháp) vào năm 1957. Hawaii trở thành một tiểu bang Hoa Kỳ vào năm 1959. FijiTonga độc lập vào năm 1970. Ngày 1 tháng 5 năm 1979, Hoa Kỳ công nhận hiến pháp của Quần đảo Marshall và thành lập Chính phủ Cộng hoà Quần đảo Marshall. Diễn đàn Nam Thái Bình Dương được thành lập vào năm 1971, đổi tên thành Diễn đàn Quần đảo Thái Bình Dương vào năm 2000.[53]

Địa lý

Aoraki Mount Cook
Aoraki (núi Cook), nằm tại đảo Nam của New Zealand
Puncakjaya
Puncak Jaya là đỉnh cao nhất tại châu Đại Dương

Châu Đại Dương ban đầu được nhận thức là các phần đất liền của Thái Bình Dương, trải dài từ eo biển Malacca đến bờ biển châu Mỹ. Nó gồm bốn khu vực: Polynesia, Micronesia, Malaysia (nay gọi là quần đảo Mã Lai), và Melanesia.[59] Ngày nay, bộ phận của ba lục địa địa chất nằm trong giới hạn thuật ngữ "châu Đại Dương": Á-Âu, ÚcZealandia, cũng như các đảo núi lửa phi lục địa của Philippines, Wallacea, và Thái Bình Dương mở rộng.

Châu Đại Dương trải dài từ New Guinea tại phía tây, quần đảo Ogasawara tại phía tây bắc, quần đảo Hawaii tại phía đông bắc, đảo Phục Sinh và đảo Sala y Gómez tại phía đông, và đảo Macquarie tại phía nam. Châu Đại Dương không bao gồm Đài Loan, quần đảo Ryukyu, quần đảo Nhật Bản và quần đảo Maluku thuộc châu Á, hay quần đảo Aleut thuộc Bắc Mỹ. Về ngoại vi, châu Đại Dương trải dài từ 280Bắc đến quần đảo Ogasawara tại Bắc Bán cầu, và 660nam đến đảo Macquarie tại Nam Bán cầu.[60]

Các quần đảo châu Đại Dương gồm bốn loại cơ bản: đảo lục địa, đảo núi lửa, rạn san hô và thềm san hô nâng cao. Nhiều đảo núi lửa vẫn còn các núi lửa hoạt động, trong số đó có Bougainville, Hawaii, và quần đảo Solomon.[61]

Châu Đại Dương là 1 trong 8 vùng sinh thái trên Trái Đất. Liên quan đến các khái niệm này là châu Đại Dương gần, là bộ phận của miền tây Melanesia hải đảo, có người cư trú từ hàng chục nghìn thiên niên kỷ, còn châu Đại Dương xa là những nơi có người định cư gần đây hơn. Mặc dù đa số các đảo của châu Đại Dương thuộc Nam Thái Bình Dương, song cố một số đảo nằm ngoài giới hạn của đại dương này, như đảo Kangarooquần đảo Ashmore và Cartier.[62]

Các rạn san hô tại Nam Thái Bình Dương là các cấu trúc thấp, tạo thành trên dung nham bazan chảy bên dưới bề mặt đại dương. Một trong các cảnh quan kỳ vĩ nhất là rạn san hô Great Barrier ngoài khơi đông bắc Úc. Một loại đảo san hô thứ nhì được tạo thành khi các thềm san hô được nâng lên, thường là lớn hơn một chút so với các đảo san hô thấp, ví dụ như Banabavà Makatea.[63][64]

Khu vực

Micronesia nằm về phía bắc Xích đạo và phía tây Đường đổi ngày quốc tế, bao gồm quần đảo Mariana tại tây bắc, quần đảo Caroline tại trung tâm, quần đảo Marshall tại phía tây và Kiribati tại đông nam.[65][66]

Melanesia nằm về phía tây nam, gồm đảo New Guinea lớn thứ nhì thế giới, các nhóm đảo khác từ bắc xuống nam là quần đảo Bismarck, quần đảo Solomon, Santa Cruz, Vanuatu, FijiNouvelle-Calédonie.[67]

Polynesia trải dài từ Hawaii tại phía bắc đến New Zealand tại phía nam, còn bao gồm Tuvalu, Tokelau, Samoa, Tongaquần đảo Kermadec về phía tây, quần đảo Cook, quần đảo Sociétéquần đảo Australes tại trung tâm, và Marquises, Tuamotu, Gambierđảo Phục Sinh tại phía đông.[68]

Australasia gồm có Úc, New Zealand, đảo New Guinea, và các đảo lân cận tại Thái Bình Dương. Hầu hết Australasia nằm trên phần phía nam của mảng Ấn-Úc, nằm bên Ấn Độ Dương về phía tây và Nam Đại Dương về phía nam.[69]

Địa chất

Plaque Pacifique
Mảng Thái Bình Dương bao gồm hầu hết các vùng của châu Đại Dương, ngoại trừ Australasia và phần phía tây của Melanesia.

Mảng Thái Bình Dương chiếm hầu hết châu Đại Dương, đây là 1 mảng kiến tạo đại dương nằm bên dưới Thái Bình Dương. Mảng Thái Bình Dương có diện tích 103 triệu km², là mảng kiến tạo lớn nhất. Mảng bao gồm 1 điểm nóng nội bộ tạo thành quần đảo Hawaii.[70] Nó gần như hoàn toàn là một vỏ đại dương.[71] Bộ phận cổ nhất biến mất theo chu trình kiến tạo mảng là vào đầu Kỷ Creta (145-137 triệu năm trước).[72]

Úc là bộ phận của mảng Ấn-Úc, là đại lục thấp nhất, bằng phẳng nhất và cổ nhất trên Trái Đất[73] và có lịch sử địa chất tương đối ổn định. Các lực tác động địa chất như phay nghịch kiến tạo của các dãy núi hoặc va chạm giữa các mảng kiến tạo xảy ra chủ yếu vào lịch sử sơ khởi của Úc, khi nó vẫn là bộ phận của Gondwana. Úc nằm tại trung tâm của mảng kiến tạo, do đó hiện không có núi lửa hoạt động.[74]

Địa chất của New Zealand đáng chú ý do có hoạt động núi lửa, động đất và các khu vực địa nhiệt, nguyên nhân là quốc gia này có vị trí tại ranh giới của mảng Úc và mảng Thái Bình Dương. Phần lớn đá nền của New Zealand từng là bộ phận của siêu lục địa Gondwana, cùng với Nam Mỹ, châu Phi, Madagascar, Ấn Độ, châu Nam CựcÚc. Các đá nay tạo thành lục địa Zealandia nằm giữa Đông Úc và Tây châu Nam Cực.[75]

Mảnh lục địa Úc-New Zealand của Gondwana tách ra thời Creta muộn (95–90 Ma). Đến 75 Ma, Zealandia về cơ bản tách khỏi Úc và châu Nam Cực, song chỉ có các vùng biển nông tách biệt Zealandia và Australia tại phía bắc. Biển Tasman là bộ phận của Zealandia và sau đó gắn với Úc để tạo thành mảng Úc (40 Ma), và 1 ranh giới mảng mới được tạo thành giữa mảng Úc và mảng Thái Bình Dương.

Hầu hết các đảo trên Thái Bình Dương là đảo núi lửa, điển hình như đảo Phục Sinh, Samoa thuộc MỹFiji đột ngột đạt độ cao đến 1300 m từ bờ.[76] Quần đảo Tây Bắc Hawaii được tạo thành từ khoảng 7-30 triệu năm trước, là núi lửa hình khiên trên điểm nóng núi lửa tương tự như đã tạo thành chuỗi núi ngầm Emperor về phía bắc và quần đảo Hawaii lớn về phía nam.[77] Núi cao nhất Hawaii là Mauna Kea cao 4.205 m trên mực nước biển.[78]

Thực vật

Countryside Kaikoura, New Zealand
Thôn quê New Zealand
Uluṟu (Ayers Rock), Sunset
Uluru tại miền trung nước Úc.

Quốc gia có môi trường đa dạng nhất châu Đại Dương là Úc, có các khu rừng nhiệt đới tại đông bắc, các dãy núi tại đông nam, tây nam và đông, và hoang mạc khô hạn tại trung tâm.[79] Vùng hoang mạc hoặc đất bán khô hạn tại Úc thường được gọi là outback, chúng chiếm tỷ lệ cao vượt trội trong cơ cấu đất đai.[80] Vùng đất cao ven biển và một dải đất đồng cỏ Brigalow nằm giữa bờ biển và dãy núi, trong khi vùng nội lục của dãy phân thuỷ là các khu vực đất đồng cỏ lớn.[81] Cực bắc của bờ biển phía đông là bán đảo Cape York có rừng mưa nhiệt đới.[82][83][84][85][86]

Các đặc điểm nổi bật của hệ thực vật Úc là thích ứng với điều kiện khô cằn và bốc cháy, gồm hai loại là scleromorphy và serotiny. Tính thích nghi này thường thấy trong các loài thuộc các họ lớn và nổi tiếng: quắn hoa (Banksia), đào kim nương (bạch đàn), và đậu (keo). Hệ thực vật của Fiji, Quần đảo Solomon, VanuatuNouvelle-Calédonierừng khô nhiệt đới, thực vật nhiệt đới gồm có dừa, premna protrusa, psydrax odorata, gyrocarpus americanuscóc kèn.[87]

Cảnh quan New Zealand biến đổi từ các eo biển giống như fjord tại tây nam đến các bãi biển nhiệt đới tại cực bắc. Dãy Nam Alps chi phối địa hình đảo Nam, và có 18 đỉnh cao trên 3.000 m tại đảo này. Đỉnh cao nhất trong số đó là Aoraki/núi Cook với 3.754 m. Động đất phổ biến song thường không nghiêm trọng, trung bình có 3.000 trận mỗi năm.[88] Các loài cây bản địa có tính đa dạng cao, thích nghi với nhiều vi khí hậu tại New Zealand.[89]

Tại Hawaii, có nhóm loài đặc hữu Brighamia, hiện cần phải thụ phấn bằng tay để tránh tuyệt chủng.[90] Hai loài của BrighamiaB. rockiiB. insignis—có khoảng 120 cá thể trong môi trường hoang dã. Nhằm đảm bảo các loài này kết hạt, các nhà sinh thái học phải leo xuống các vách đá sâu 910 m để rắc phấn hoa lên đầu nhuỵ của chúng.[91]

Động vật

Norfolk Robin (Petroica multicolor) in the Norfolk Island
chim cổ đỏ Thái Bình Dương sống trên các đảo tây nam Thái Bình Dương.[92]

Chim bói cá Thái Bình Dương được tìm thấy tại quần đảo Thái Bình Dương,[93] cùng với bông lau đít đỏ,[94] sáo Polynesia,[95] ưng ngỗng nâu,[96] nhạn Thái Bình Dương[97]Myzomela cardinalis.[98] Các loài chim sinh sản tại Pitcairn gồm nhạn biển tiên, nhạn đầu xámchim nhiệt đới đuôi đỏ. Chích sậy Pitcairn là loài đặc hữu của đảo Pitcairn, được đưa vào danh sách loài gặp nguy hiểm vào năm 2008.[99]

Quạ Hawaii là loài bản địa tại Hawaii, song tuyệt chủng trong tự nhiên từ năm 2002.[100] Rắn cây nâu là loài bản địa tại bờ biển phía bắc và phía đông của Úc, cùng với Papua New Guinea, Guam và quần đảo Solomon.[101] Các loài bản địa khác tại Úc, New Guinea và các đảo lân cận là chim thiên đường, ăn mật, leo cây Australasia, cổ đỏ Australasia, bồng chanh, Cracticusđinh viên.[102][103]

Một đặc điểm độc đáo của hệ động vật Úc là có các loài thú nhau thai bản địa tương đối hiếm, và tính chi phối của các loài thú có túi — một nhóm các loài thú nuôi con trong một cái túi, gồm các họ chân to, phalangeriformesdasyuromorphia. Các loài sẻ của Úc gồm có tiêu liêu, nhạn rừng, mỏ gai, quạ, pardalotidae, chim lia.[104] Các loài chim chiếm ưu thế tại Úc là ác là Úc, quạ Úc, strepera graculina, bồ câu màosả nhà trò.[105] Gấu túi, đà điểu Úc, thú mỏ vịtchuột túi là các động vật quốc gia của Úc,[106]quỷ Tasmania là một trong các loài nổi tiếng tại quốc gia này.[107] Goanna là một loài thằn lằn ăn thịt bản địa của đại lục Úc.[108]

Các loài chim của New Zealand tiến hoá thành một hệ chim, gồm nhiều loài đặc hữu. Do là một quần đảo, New Zealand tích luỹ được hệ chim đa dạng và đến khi James Cook tới đây trong thập niên 1770 ông ghi rằng tiếng chim kêu inh tai. Có các loài bất thường về sinh vật học như kakapo, nó là loài vẹt duy nhất trên thế giới không bay được, hoạt động về đêm và cạnh tranh phối giống, song cũng có nhiều loài tương tự như tại các khu vực đất liền lân cận. Một số loài chim nổi tiếng và đặc trưng tại New Zealand là kiwi, kea, takahe, kakapo, mohua, tuichim chuông.[109] Tuatara là một loài bò sát đặc hữu nổi tiếng của New Zealand.[110]

Khí hậu

DSC00033 Polynésia Moréa island Haapiti Beach (8076090305)
Bãi biển trên đảo Mooréa, Polynésie thuộc Pháp

Các đảo Thái Bình Dương có khí hậu rừng mưa nhiệt đới và xa van nhiệt đới. Trong vùng Thái Bình Dương nhiệt đới và cận nhiệt đới, El Niño-Dao động phương Nam (ENSO) tác động đến điều kiện khí hậu.[111] Tại vùng nhiệt đới phía tây Thái Bình Dương, gió mùa gắn với mùa mưa trong các tháng mùa hè trong khi vào mùa đông có gió khô thổi đến từ đại lục châu Á.[112] Tháng 11 là tháng duy nhất toàn bộ các lưu vực bão nhiệt đới hoạt động.[113]

Về phía tây nam khu vực, tại đại lục Úc, khí hậu hầu hết là hoang mạc hoặc bán khô hạn, còn góc bờ biển phía nam có khí hậu ôn đới, như khí hậu đại dương và cận nhiệt đới ẩm tại bờ biển phía đông và khí hậu Địa Trung Hải tại phía tây. Phần phía bắc của Úc có khí hậu nhiệt đới.[114] Tuyết rơi thường xuyên trên các vùng cao gần bờ biển phía đông, tại các bang Victoria, New South Wales, TasmaniaLãnh thổ Thủ đô Úc.[115]

Hầu hết các vùng của New Zealand thuộc ôn đới, có khí hậu hải dương (phân loại khí hậu Köppen: Cfb) có đặc điểm là bốn mùa phân biệt. Điều kiện khác biệt từ rất ẩm ướt tại West Coast của đảo Nam đến gần như bán khô hạn tại Central Otago và cận nhiệt đới tại Northland.[116][117] Tuyết rơi tại đảo Nam của New Zealand và trên những nơi có độ cao lớn tại đảo Bắc. Tuyết cực kỳ hiếm xuất hiện ở những nơi gần mực nước biển tại đảo Bắc.[118]

Hawaii thuộc nhiệt đới, song trải qua nhiều khí hậu khác biệt tuỳ theo vĩ độ và địa lý. Đảo Hawaii có bốn trong năm nhóm khí hậu theo phân loại khí hậu Köppen: nhiệt đới, khô hạn, ôn đới và vùng cực. Quần đảo Hawaii đón hầu hết lượng mưa vào các tháng mùa đông (tháng 10 đến tháng 4).[119] Một vài đảo ở phía tây bắc như Guam dễ chịu tác động từ các cơn bão nhiệt đới vào mùa mưa.[120]

Nhiệt độ cao nhất từng ghi nhận được tại châu Đại Dương là tại Oodnadatta, Nam Úc (2 tháng 1 năm 1960), khi nhiệt độ đạt đến 50,7 °C.[121] Nhiệt độ thấp nhất từng ghi nhận được tại châu Đại Dương là - 25,6 °C tại Ranfurly của New Zealand vào năm 1903, và gần đây hơn ghi nhận được nhiệt độ -21,6 °C vào năm 1995 tại Ophir lân cận.[122] Pohnpei thuộc quần đảo Senyavin tại Micronesia là nơi mưa nhiều nhất tại châu Đại Dương, và đứng hàng đầu thế giới, với lượng mưa ghi nhận được hàng năm vượt 7.600 mm tại một số địa phương vùng núi.[123] Đỉnh của núi Waialeale tại Hawaii trung bình có lượng mưa 11.684 mm mỗi năm vào giai đoạn 1912–45.[124][125]

Nhân khẩu

Huy hiệu Quốc kỳ Quốc gia/Lãnh thổ
(có người thường trú)
Diện tích
(km²)
Dân số Mật độ
(người/km²)
Thủ đô ISO 3166-1
Australasia
Shield of arms of Australia.svg Úc Úc/Australia 7.686.850 23.034.879 2,7 Canberra AU
Arms of New Zealand.svg New Zealand New Zealand 268.680 4.465.900 16,5 Wellington NZ
Insigne Insulae Norfolciae.svg Đảo Norfolk Đảo Norfolk (Úc) 35 2.302 61,9 Kingston NF
Melanesia
Arms of Fiji.svg Fiji Fiji 18.270 856.346 46,9 Suva FJ
Armoiries république française.svg New Caledonia Nouvelle-Calédonie (Pháp) 19.060 240.390 12,6 Nouméa NC
Pancasila Perisai.svg Indonesia Quần đảo Maluku (Indonesia) 74.505 1.895.000 ML
Pancasila Perisai.svg Indonesia Papua (Indonesia) 319.036 3.486.432 11 Jayapura PA
Pancasila Perisai.svg Indonesia Tây Papua (Indonesia) 140.375 760.855 5,4 Manokwari PB
Insigne incognitum.svg Papua New Guinea Papua New Guinea 462.840 5.172.033 11,2 Port Moresby PG
Insigne Insularum Salomonis.svg Quần đảo Solomon Quần đảo Solomon 28.450 494.786 17,4 Honiara SB
Insigne incognitum.svg Vanuatu Vanuatu 12.200 240.000 19,7 Port Vila VU
Micronesia
Insigne incognitum.svg Liên bang Micronesia Liên bang Micronesia 702 135.869 193,5 Palikir FM
Seal of Guam.svg Guam Guam (Hoa Kỳ) 549 160.796 292,9 Hagåtña GU
Insigne Kiribatum.svg Kiribati Kiribati 811 96.335 118,8 South Tarawa KI
Insigne incognitum.svg Quần đảo Marshall Quần đảo Marshall 181 73.630 406,8 Majuro MH
Insigne Naurunum.svg Nauru Nauru 21 12.329 587,1 Yaren (thực tế) NR
Great Seal of the United States (obverse).svg Quần đảo Bắc Mariana Quần đảo Bắc Mariana (Hoa Kỳ) 477 77.311 162,1 Saipan MP
Insigne incognitum.svg Palau Palau 458 19.409 42,4 Ngerulmud PW
Polynesia
Great Seal of the United States (obverse).svg Samoa thuộc Mỹ Samoa thuộc Mỹ (Hoa Kỳ) 199 68.688 345,2 Pago Pago AS
Insigne Insularum de Cook.svg Quần đảo Cook Quần đảo Cook (New Zealand) 240 20.811 86,7 Avarua CK
Roundel of Chile.svg Đảo Phục Sinh Đảo Phục Sinh (Chile) 164 5.761 31 Hanga Roa CL
Coat of arms of French Polynesia.svg Polynésie thuộc Pháp Polynésie thuộc Pháp (Pháp) 4.167 257.847 61,9 Papeete PF
Insigne Havaii.svg Hawaii Hawaii (Hoa Kỳ) 16.636 1.360.301 81,8 Honolulu US
Arms of New Zealand.svg Niue Niue (New Zealand) 260 2.134 8,2 Alofi NU
Insigne Insularum Pitcairn.svg Quần đảo Pitcairn Quần đảo Pitcairn (Anh) 47 47 10 Adamstown PN
Insigne Samoae.svg Samoa Samoa 2.944 179.000 63,2 Apia WS
Insigne incognitum.svg Tokelau Tokelau (New Zealand) 10 1.431 143,1 Nukunonu TK
Insigne Tongae.svg Tonga Tonga 748 106.137 141,9 Nukuʻalofa TO
Insigne Tuvalum.svg Tuvalu Tuvalu 26 11.146 428,7 Funafuti TV
Coat of arms of Wallis and Futuna.svg Wallis và Futuna Wallis và Futuna (Pháp) 274 15.585 56,9 Mata-Utu WF
Tổng cộng 8.919.530 41.050.699 4,4
Tổng cộng trừ đại lục Úc 1.232.680 19.022.699 14,8

Tôn giáo

Saione
Saione, nhà thờ của Quốc vương, một địa điểm thuộc Giáo hội Wesley Tự do tại Kolomotuʻa, Tonga.

Tôn giáo chiếm ưu thế tại châu Đại Dương là Cơ Đốc giáo (73,3%).[126][127] Một cuộc khảo sát vào năm 2011 cho rằng 92,1% người dân tại Melanesia,[126] 93,1% tại Micronesia[126] và 96,1% tại Polynesia tự nhận là tín đồ Cơ Đốc giáo.[126] Các tôn giáo truyền thống thường là thuyết vật linh, và chúng phổ biến trong các bộ lạc truyền thống với niềm tin rằng thần linh hiện diện trong các những điều tự nhiên.[128] Theo điều tra dân số năm 2013, 47,5% người New Zealand liên kết bản thân với Cơ Đốc giáo và 41,92% khai rằng không theo tôn giáo nào.[129] Theo điều tra nhân khẩu năm 2016, 52,1% dân cư Úc nhận rằng thuộc một giáo phái Cơ Đốc, và 30,1% cho biết là họ không theo tôn giáo nào.[130]

Trong các cuộc điều tra nhân khẩu gần đây tại Úc và New Zealand, có lượng lớn dân chúng cho biết là họ thuộc nhóm "không tôn giáo" (bao gồm vô thần, bất khả tri, thần giáo tự nhiên, nhân đạo thế tục và duy lý). Tại Tonga, sinh hoạt thường nhật chịu ảnh hưởng mạnh từ các truyền thống Polynesia và đặc biệt là từ tín ngưỡng Cơ Đốc. Thánh đường Hồi giáo Ahmadiyya tại Quần đảo Marshall là thánh đường Hồi giáo duy nhất tại Micronesia.[131] Nhà tín ngưỡng Bahá'í tại Tiapapata, Samoa là một trong tám nhà tín ngưỡng của giáo phái này.

Các tôn giáo khác trong khu vực gồm có Do Thái giáo, Phật giáo, Ấn Độ giáo, Sikh giáoJaina giáo. Isaac Isaacs là toàn quyền Úc đầu tiên sinh tại Úc, và là người Do Thái đầu tiên là đại diện cấp phó vương trong Đế quốc Anh.[132].

Ngôn ngữ

Các ngôn ngữ bản địa tại châu Đại Dương nằm trong ba nhóm địa lý chính:

Các ngôn ngữ có nguồn gốc thực dân là tiếng Anh tại Úc, New Zealand, Hawaii, và nhiều lãnh thổ khác; tiếng Pháp tại Nouvelle-CalédoniePolynésie thuộc Pháp, tiếng Nhật tại quần đảo Ogasawara, tiếng Tây Ban Nha tại đảo Phục Sinh. Ngoài ra còn có các thứ tiếng lai tạp được hình thành từ tương tác giữa tiếng Mã Lai hoặc các ngôn ngữ thực dân với ngôn ngữ bản địa, như Tok Pisin, Bislama, Chavacano, và nhiều ngôn ngữ thương mại và lai tạp Mã Lai, tiếng Hawaii bồi, Norfuk và Pitkern. Tiếp xúc giữa hai nhóm Nam Đảo và Papua dẫn đến có một vài ngôn ngữ hỗn hợp như Maisin.

Người nhập cư mang theo ngôn ngữ của họ đến khu vực, như Quan thoại, tiếng Ý, Ả Rập, Ba Lan, Hindi, Đức, Tây Ban Nha, Hàn, Quảng Đông hay Hy Lạp, cùng các thứ tiếng khác, tại Úc và New Zealand,[133] hay là tiếng Hindi Fiji tại Fiji.

Nhập cư

Dutch Migrant 1954 MariaScholte=50000thToAustraliaPostWW2
Các di dân Hà Lan đến Úc vào năm 1954.

Các khu vực đa văn hoá nhất tại châu Đại Dương, có mức độ nhập cư cao, là Úc, New Zealand và Hawaii. Kể từ năm 1945, có trên 7 triệu người đã định cư tại Úc. Từ cuối thập niên 1970, xuất hiện gia tăng đáng kể nhập cư từ châu Á và các quốc gia bên ngoài châu Âu, biến Úc thành một quốc gia đa văn hoá.[134]

Sydney là thành phố đa văn hoá nhất tại châu Đại Dương, có trên 250 ngôn ngữ khác nhau và 40% cư dân thành phố nói một ngôn ngữ khác tiếng Anh tại nhà.[135] Hơn thế nữa, 36% cư dân được ghi nhận là sinh tại hải ngoại, các quốc gia đứng đầu là Ý, Liban, Việt NamIraq, cùng các quốc gia khác.[136][137] Melbourne cũng khá đa dạng văn hoá, có lượng người nói tiếng Hy Lạp lớn nhất bên ngoài châu Âu,[138] và có lượng người gốc Á lớn thứ nhì tại Úc sau Sydney.[139][140][141]

Có một dòng di dân lớn từ châu Âu đến New Zealand sau khi ký kết Hiệp định Waitangi vào năm 1840. Nhập cư sau đó chủ yếu là từ quần đảo Anh, song cũng có người từ châu Âu đại lục, Thái Bình Dương, châu Mỹ và châu Á.[142][143] Auckland có trên một nửa cư dân New Zealand sinh tại hải ngoại.[144]

Hawaii là một bang có người thiểu số chiếm đa số cư dân.[145] Các công nhân người Hoa định cư tại Hawaii từ năm 1789. Năm 1820, các nhà truyền giáo Hoa Kỳ đầu tiên đến quần đảo.[146] Tính đến năm 2015, một lượng lớn cư dân Hawaii có nguồn gốc châu Á, đặc biệt là Philippines, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc. Nhiều người là hậu duệ của những di dân được đưa đến để làm việc trong các đồn điền mía vào giữa đến cuối thế kỷ XIX. Gần 13.000 người Bồ Đào Nha đến quần đảo cho đến năm 1899; họ cũng làm việc trong các đồn điền mía.[147] Người Puerto Rico di cư đến Hawaii từ năm 1899 khi ngành đường của Puerto Rico bị tàn phá do bão.[148]

Cổ di truyền học

Khảo cổ học, ngôn ngữ học, và nghiên cứu di truyền chỉ ra rằng châu Đại Dương có hai làn sóng di cư lớn. Cuộc di cư đầu tiên diễn ra khoảng 40 nghìn năm trước, những người Papua di cư này định cư tại phần lớn châu Đại Dương gần. Khoảng 3,5 nghìn năm trước, một cuộc bành trướng thứ nhì diễn ra khi những người nói tiếng Nam Đảo đến châu Đại Dương gần, và hậu duệ của họ đi đến các góc xa của Thái Bình Dương, định cư tại châu Đại Dương xa.[149]

Nghiên cứu ADN ti thể (mtDNA) định lượng mức độ bành trướng của người Nam Đào và chứng minh tác động đồng nhất của cuộc bành trướng này. Về ảnh hưởng của người Papua, các nhóm đơn bội bản địa ủng hộ giả thuyết về một lịch sử lâu dài tại châu Đại Dương gần, có một số dòng dõi cho thấy chiều sâu thời gian đến 60 nghìn năm. Cư dân tại Santa Cruz tại châu Đại Dương xa có điểm dị thường là tần số cực cao của các nhóm đơn bội bản địa có gốc châu Đại Dương gần.[149]

Các khu vực rộng lớn tại New Guinea vẫn chưa được các nhà khoa học và nhân loại học khám phá, do rừng che phủ rộng và địa hình núi cao. Các bộ lạc bản địa được biết đến tại Papua New Guinea có rất ít tiếp xúc với nhà cầm quyền địa phương. Nhiều bộ lạc vẫn ở thời kỳ tiền văn tự, và ở cấp quốc gia hay quốc tế, cực kỳ khó khăn nếu muốn biết các tên gọi bộ lạc và thông tin về họ. Các tỉnh PapuaTây Papua của Indonesia trên đảo New Guinea có khoảng 44 nhóm bộ lạc chưa được tiếp xúc.[150]

Kinh tế

Sydney skyline from Waverton Balls head reserve
Quang cảnh Sydney.

Kinh tế Úc có quy mô lớn vượt trội và chi phối trong khu vực, và cũng nằm vào nhóm lớn nhất thế giới. GDP bình quân của Úc cao hơn của Anh, Canada, Đức và Pháp xét theo sức mua tương đương.[151] New Zeland cũng là một trong các nền kinh tế toàn cầu hoá ở mức cao nhất, phụ thuộc lớn vào mậu dịch quốc tế.[152][153]

Sở giao dịch chứng khoán Úc tại Sydney có quy mô lớn nhất tại Úc và Nam Thái Bình Dương.[154] New Zealand có thứ hạng 53 thế giới về GDP danh nghĩa và 68 thế giới về GDP vào năm 2016. Năm 2012, Úc là nền kinh tế lớn thứ 12 thế giới về GDP danh nghĩa và đứng thứ 19 về GDP PPP.[155]

Điều tra chất lượng sinh hoạt Mercer xếp hạng Sydney đứng thứ 10 thế giới về chất lượng sinh hoạt vào năm 2014,[156] là một trong các thành phố đáng sống nhất thế giới.[157] Sydney được xếp hạng thành phố thế giới Alpha+ theo GaWC.[158][159] Melbourne cũng đứng hạng cao trong danh sách các thành phố đáng sống nhất thế giới,[160] và là trung tâm tài chính hàng đầu tại châu Á-Thái Bình Dương.[161][162] Auckland và Wellington của New Zealand cũng thường xuyên nằm trong danh sách các thành phố đáng sống nhất thế giới.[163][164]

Waikiki view from Diamond Head
Honolulu nhìn từ miệng núi lửa Diamond Head

Đại đa số cư dân sống trên các đảo Thái Bình Dương làm việc trong ngành dịch vụ, gồm du lịch, giáo dục và tài chính. Các thị trường xuất khẩu lớn nhất của châu Đại Dương gồm Nhật Bản, Trung Quốc, Hoa Kỳ và Hàn Quốc. Các đảo nhỏ tại Thái Bình Dương dựa vào mậu dịch với Úc, New Zeland và Hoa Kỳ để xuất cảng hàng hoá và để tiếp cận các sản phẩm khác. Các hiệp định mậu dịch của Úc và New Zealand được gọi là quan hệ kinh tế mật thiết. Úc và New Zealand, cùng các quốc gia khác là thành viên của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) và Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á (EAS).

Các sản phẩm chính từ Thái Bình Dương là dừa, bên cạnh đó là gỗ, thịt bò, dầu cọ, cacao, đường và gừng được trồng phổ biến khắp vùng nhiệt đới của châu Đại Dương. Ngư nghiệp là một ngành lớn tại nhiều đảo quốc nhỏ tại Thái Bình Dương, song nhiều khu vực đánh cá do các nước lớn khác khai thác, chẳng hạn như Nhật Bản. Các tài nguyên tự nhiên như chì, thiếc, niken và vàng được khai thác tại Úc và quần đảo Solomon.

Nhờ có tài nguyên rừng, khoáng sản và cá, Fiji là một trong các quốc gia phát triển nhất về kinh tế trong số các đảo quốc Thái Bình Dương, song vẫn là một quốc gia đang phát triển với lĩnh vực nông nghiệp lớn.[165] Nông nghiệp chiếm 18% GDP, song sử dụng đến 70% lực lượng lao động tính đến năm 2001. Xuất khẩu đường và ngành du lịch đang phát triển là những nguồn thu ngoại tệ chính.

Lịch sử kinh tế Hawaii có truy xuất thông qua các ngành công nghiệp từng chi phối trong lịch sử: gỗ đàn hương,[166] săn cá voi,[167] mía, dứa, quân sự, du lịch và giáo dục.[168] Xuất khẩu của Hawaii gồm thực phẩm và may mặc. Những ngành này có vị thế nhỏ trong kinh tế Hawaii, do khoảng cách vận chuyển xa đến các thị trường tiềm năng. Xuất khẩu thực phẩm của bang gồm có cà phê, hạt macca, dứa, gia súc, đường và mật ong.[169] Tính đến năm 2015, Honolulu được xếp hạng cao trong danh sách thành phố đáng sống, và cũng là thành phố an toàn thứ nhì tại Hoa Kỳ.[170][171]

Du lịch

Shangri-La Fijian Resort 15
Khu nghỉ dưỡng Shangri-La's Fijian

Du khách đến châu Đại Dương chủ yếu là từ Nhật Bản, Anh và Hoa Kỳ. Fiji hiện thu hút gần nửa triệu du khách mỗi năm, trên một phần tư là từ Úc. Ngành này đóng góp 1 tỉ USD trở lên cho kinh tế Fiji từ năm 1995. Vanuatu được công nhận rộng rãi là một trong các điểm nghỉ ngơi thượng hạng cho những người lặn biển muốn khám phá các rạn san hô Nam Thái Bình Dương. Du lịch được xúc tiến một phần là nhờ Vanuatu xuất hiện trong một số chương trình truyền hình thực tế.[172]

Du lịch là một thành phần quan trọng của kinh tế Úc, trong năm tài chính 2014/15 lĩnh vực này chiếm 3% GDP và đóng góp 47,5 tỉ AUD.[173] Năm 2015, có 7,4 triệu du khách đến Úc.[174] Các điểm đến phổ biến của Úc gồm có Cảng Sydney (Nhà hát Opera Sydney, Cầu cảng Sydney, Vườn thực vật Hoàng gia), Gold Coast, các công viên quốc gia Walls of Jerusalem và Mount Field tại Tasmania, Cung triển lãm Hoàng gia tại Melbourne, Rạn san hô Great Barrier tại Queensland, The Twelve Apostles tại Victoria, Uluru tại Trung Úc.[175]

Ngành du lịch New Zealand đóng góp 7,3 tỉ NZD (3,7%) cho GDP quốc gia vào năm 2013, cũng như hỗ trợ trực tiếp 110.800 việc làm quy đổi toàn thời gian (gần 6% lực lượng lao động của New Zealand). Chi tiêu của du khách quốc tế chiếm 16% nguồn thu xuất khẩu của New Zealand (gần 10 tỉ NZD). Tổng cộng du khách quốc tế và nội địa mỗi năm đóng góp 24 tỉ NZD cho GDP của New Zealand. Tourism New Zealand là cơ quan du lịch chính thức của quốc gia, tích cực xúc tiến quốc gia này trở thành một điểm đến toàn cầu.[176] Milford Sound in South Island is acclaimed as New Zealand's most famous tourist destination.[177]

Năm 2003, có trên 6,4 triệu du khách đến quần đảo Hawaii, họ chi tiêu trên 10,6 tỉ USD.[178] Do Hawaii có thời tiết ôn hoà quanh năm, nên du lịch phổ biến quanh năm. Năm 2011, Hawaii đón tiếp lượng khách gia tăng đến từ Canada, Úc và Trung Quốc với lần lượt là 13%, 24% và 21% so với năm 2010.[179]

Chính trị

Elizabeth II greets NASA GSFC employees, May 8, 2007 edit
Elizabeth là nguyên thủ của Thịnh vượng chung và là nữ vương của 5 quốc gia châu Đại Dương: Úc, New Zealand, Papua New Guinea, Quần đảo SolomonTuvalu.

Úc có thể chế quân chủ lập hiến nghị viện liên bang[180] Elizabeth II là nguyên thủ với vị thế là Nữ vương Úc, tách biệt với chức vụ của bà trong các vương quốc Thịnh vượng chung khác. Nữ vương có đại diện là toàn quyền ở cấp liên bang và thống đốc tại cấp bang, họ được bổ nhiệm theo khuyến nghị của các thủ tướng.[181][182] Úc có hai nhóm chính đảng lớn thường thành lập chính phủ, ở cấp liên bang cũng như cấp bang: Công đảng ÚcLiên minh, Liên minh gồm Đảng Tự do và đối tác nhỏ hơn là Đảng Quốc gia.[183][184] Trong văn hoá chính trị Úc, Liên minh được nhìn nhận là trung-hữu còn Công đảng được nhìn nhận là trung-tả.[185] Quân đội Úc là lực lượng vũ trang lớn vượt trội tại châu Đại Dương.[186]

New Zealand có chế độ quân chủ lập hiến cùng thể chế dân chủ nghị viện,[187] song hiến pháp không được hệ thống hoá.[188] Elizabeth II là nguyên thủ quốc gia với vị thế Nữ vương New Zealand.[189] Đại diện cho Nữ vương là một toàn quyền, được bà bổ nhiệm với khuyến nghị từ thủ tướng.[190] Nghị viện New Zealand có quyền lập pháp, gồm có Nữ vương và Chúng nghị viện.[191] Một cuộc tổng tuyển cử nghị viện thường niên diễn ra không muộn hơn ba năm kỳ bầu cử trước đó.[192] New Zealand được xác định là một trong các quốc gia ổn định và được quản trị tốt nhất thế giới,[193][194] có mức độ minh bạch chính phủ cao và nằm vào hàng thấp nhất về tham nhũng.[195]

Samoa government building 2010
Toà nhà chính phủ tại Apia, Samoa.

Trong chính trị Samoa, thủ tướng là người đứng đầu chính phủ. Hiến pháp năm 1960 được tạo nên theo khuôn mẫu của Anh về dân chủ nghị viện, được sửa đổi để phù hợp với các tập quán Samoa. Chính phủ quốc gia (malo) thường kiểm soát hội đồng lập pháp.[196] Chính trị Tonga diễn ra theo khuôn khổ quân chủ lập hiến, quốc vương là nguyên thủ quốc gia.

Chính trị Fiji theo hệ thống đa đảng, thủ tướng là người đứng đầu chính phủ. Quyền lực hành pháp thuộc chính phủ, quyền lập pháp thuộc về cả chính phủ và nghị viện. Nguyên thủ quốc gia của Fiji là tổng thống, ông được nghị viện bầu ra theo đề cử của thủ tướng hoặc thủ lĩnh đối lập, có nhiệm kỳ 3 năm.

Tại Papua New Guinea, thủ tướng là người đứng đầu chính phủ. Tại Kiribati, tổng thống là người đứng đầu chính phủ, và có một hệ thống đa đảng. Nouvelle-Calédonie duy trì là bộ phận toàn vẹn của Cộng hoà Pháp, cư dân tại đây là công dân Pháp và có hộ chiếu Pháp, tham gia bầu cử quốc hội và tổng thống Pháp. Nouvelle-Calédonie có hai đại biểu trong Hạ viện Pháp và hai đại biểu trong Thượng viện Pháp.

Đảng Dân chủ chi phối chính trị Hawaii. Theo hiến pháp của bang, có ba nhánh chính phủ là hành pháp, lập pháp và tư pháp. Thống đốc là quan chức chính phủ cấp bang duy nhất được bầu trên toàn bang; những người khác do thống đốc bổ nhiệm. Phó thống đốc có chức trách như quốc vụ khanh. Thống đốc và phó thống đốc giám sát hai mươi cơ quan ban ngành từ văn phòng tại State Capitol.

Văn hoá

Úc

Sydney Opera House, botanic gardens 1
Nhà hát Opera Sydney là một di sản thế giới UNESCO.[197]

Kể từ năm 1788, ảnh hưởng chính đằng sau văn hoá Úc là văn hoá phương Tây Anh-Celt, cùng một số ảnh hưởng từ thổ dân.[198][199] Phân kỳ và tiến hoá văn hoá diễn ra trong các thế kỷ sau, kết quả là một văn hoá Úc đặc trưng.[200][201] Kể từ giữa thế kỷ XX, văn hoá đại chúng Mỹ có ảnh hưởng mạnh tại Úc, đặc biệt là thông qua truyền hình và điện ảnh.[202] Các ảnh hưởng văn hoá khác đến từ các quốc gia châu Á lân cận, và thông qua di cư quy mô lớn từ các quốc gia không nói tiếng Anh.[202][203] The Story of the Kelly Gang (1906) là phim dài đầu tiên của thế giới, nó thúc đẩy bùng nổ điện ảnh Úc vào thời phim câm.[204][205] Bảo tàng Úc tại Sydney và Nhà triển lãm Quốc gia Victoria tại Melbourne là những bảo tàng cổ nhất và lớn nhất tại châu Đại Dương.[206][207]

Úc cũng nổi tiếng nhờ văn hoá cà phê tại các trung tâm đô thị.[208] Úc và New Zealand có thanh thế về cà phê flat white. Hầu hết các nhóm bộ lạc thổ dân Úc sống nhờ một bữa ăn săn bắn-hái lượm đơn giản từ động thực vật bản địa, được gọi là đồ ăn cây bụi.[209][210] Những người châu Âu định cư đầu tiên đã đem đồ ăn kiểu Anh đến lục địa, phần lớn chúng nay được cho là đồ ăn Úc đặc trưng, như thịt nướng Chủ Nhật.[211][212] Di cư đa văn hoá biến đổi ẩm thực Úc; các di dân châu Âu sau Chiến tranh thế giới thứ hai, đặc biệt là từ Địa Trung Hải, giúp gây dựng văn hoá cà phê Úc thịnh vượng, và ảnh hưởng của văn hoá châu Á dẫn đến các biến thể Úc của các loại đồ ăn chính, như điểm tâm kiểu Tàu và Chiko Roll.[213]

Iolani Palace (1328)
Cung điện Iolani tại Honolulu từng là dinh thự của quân chủ Hawaii, được khôi phục và mở cửa cho công chúng với tư cách bảo tàng vào năm 1978.

Hawaii

Âm nhạc Hawaii gồm các phong cách truyền thống và đại chúng, biến đổi từ âm nhạc dân gian Hawaii bản địa đến rockhip hop hiện đại. Đóng góp của Hawaii cho âm nhạc Hoa Kỳ vượt so với tỷ lệ quy mô nhỏ của bang. Các phong cách như slack-key guitar được thế giới biết đến, trong khi âm nhạc Hawaiian-tinged là một bộ phận thường xuyên trong nhạc phim Hollywood. Hawaii cũng có đóng góp lớn cho nhạc đồng quê khi giới thiệu steel guitar.[214] Tôn giáo Hawaii là đa thần và vật linh, có niềm tin vào nhiều thần thánh, trong đó có niềm tin rằng tinh thần có trong các sinh vật và đối tượng phi nhân như động vật, cơn sóng và bầu trời.[215]

Ẩm thực Hawaii là một sự hỗn hợp của nhiều loài đồ ăn được các di dân đem đến quần đảo, trong đó đầu tiên là ẩm thực Polynesia và Hawaii bản địa, tiếp đến là Hoa Kỳ, Trung Quốc, Philippines, Nhật Bản, Hàn Quốc, Polynesia và Bồ Đào Nha. Nhạc sĩ Hawaii bản địa Israel Kamakawiwoʻole nổi tiếng với liên khúc "Somewhere Over the Rainbow/What a Wonderful World", được NPR mệnh danh là "Tiếng nói của Hawaii" vào năm 2010.[216]

New Zealand

Hobbit holes reflected in water
Phim trường Hobbiton nằm gần Matamata, được sử dụng cho The Lord of the Rings.[217]

New Zealand có một nền văn hoá phương Tây, chịu ảnh hưởng từ người Maori bản địa và các làn sóng di cư đa dân tộc sau khi người Anh thuộc địa hoá khu vực. Người Maori sở hữu một trong các nền văn hoá lớn của Polynesia. Văn hoá New Zeland được mở rộng nhờ toàn cầu hoá và di dân từ các đảo Thái Bình Dương, Đông Á và Nam Á.[218] New Zealand kỷ niệm hai ngày ký ức quốc gia, ngày Waitangi và ngày ANZAC, và cũng có ngày nghỉ lễ trong hoặc gần các dịp kỷ niệm thành lập mỗi tỉnh.[219]

Ngành thu âm New Zealand bắt đầu phát triển từ năm 1940 trở đi và có nhiều nhạc sĩ New Zealand đạt được thành công tại Anh và Mỹ.[220] Một số nhạc sĩ phát hành các bài hát tiếng Māori và nghệ thuật dựa trên truyền thống Māori kapa haka (hát và nhảy) được hồi sinh.[221] Nhờ có phong cảnh đa dạng trên một lãnh thổ quy mô nhỏ, cộng với khuyến khích của chính phủ,[222] nên nhiều nhà sản xuất quay các bộ phim có ngân sách lớn tại New Zealand, gồm có Avatar, The Lord of the Rings, The Hobbit, The Chronicles of Narnia, King KongThe Last Samurai.[223]

Ẩm thực New Zeland được mô tả là "vành đai Thái Bình Dương", kết hợp ẩm thực Maori bản địa và các truyền thống chế biến đa dạng được đưa đến cùng với các di dân từ châu Âu, Polynesia và châu Á.[224] Nông sản New Zealand đến từ đất liền và biển, chủ yếu là cây trồng và gia súc như ngô, khoai tây và lợn, chúng dần được các di dân châu Âu đưa tới.[225] Các nguyên liệu hay món ăn đặc trưng gồm có thịt cừu non, cá hồi, kōura (tôm),[226] các loại hàu vét, cá mồi trắng, pāua (bào ngư), trai, điệp, pipis và tuatua (hai loại sò đặc trưng của New Zealand),[227] kūmara (khoai lang), quả dương đào, tamarillo và pavlova (được xem là món ăn quốc gia).[224][228]

Samoa

Fale on Manono Island
Một fale trên đảo Manono.

fa'a Samoa, hay lối sống Samoa truyền thống vẫn có ảnh hưởng mạnh trong đời sống và chính trị Samoa. Mặc dù nhiều thế kỷ chịu ảnh hưởng của châu Âu, song Samoa duy trì các phong tục, các hệ thống xã hội và chính trị lịch sử, cùng tiếng Samoa. Các phong tục văn hoá như lễ Samoa 'ava có ý nghĩa quan trọng và các lễ nghi uy nghiêm tại các dịp quan trọng như ban tước thủ lĩnh matai. Các vật tổ có giá trị văn hoá lớn bao gồm 'ie toga được dệt tinh xảo.

Từ trong tiếng Samoa để chỉ nhảy là siva, có chuyển động nhẹ nhàng độc đáo của cơ thể theo điệu nhạc và kể một câu chuyện, song các điệu nhảy nam giới Samoa có thể mạnh mẽ hơn.[229] Sasa cũng là một điệu nhảy truyền thống, các hàng vũ công trình diễn các động tác đồng bộ nhanh theo điệu trống gỗ (pate) hoặc thảm cuộn. Điệu nhảy khác do nam giới trình diễn được gọi là fa'ataupati hay nhảy vỗ, tạo ra các âm nhịp nhàng khi vỗ lên các phần khác nhau trên cơ thể. Giống như các nền văn hoá Polynesia khác, người Samoa có hình xăm đặc trưng về giới và quan trọng về văn hoá.[230]

Mỹ thuật

Bradshaw rock paintings
Tranh đá Bradshaw phát hiện tại vùng Kimberley thuộc Tây Úc.

Những tác phẩm của người châu Đại Dương bản địa khác biệt lớn theo văn hoá và khu vực. Các chủ đề thường là về sinh sản hay siêu nhiên. Thuật khắc đá, hình xăm, tranh vẽ, khắc gỗ, và dệt là các loại hình mỹ thuật phổ biến khác.[231] Mỹ thuật châu Đại Dương bản địa bao gồm các truyền thống mỹ thuật của thổ dân Úc và các đảo Thái Bình Dương.[232] Những dân tộc ban đầu này không có hệ thống chữ viết, tạo ra tác phẩm trên các vật liệu dễ hỏng, do đó chỉ còn lại ít dấu tích từ thời kỳ này.[233]

Nghệ thuật tranh đá của thổ dân Úc là truyền thống mỹ thuật không bị gián đoạn cổ nhất và phong phú nhất thế giới, có niên đại đến 60.000 năm và lan truyền đến hàng trăm nghìn địa điểm.[234][235] Các bức tranh đá này có một vài chức năng, một số là ma thuật, để phục vụ săn bắn hoặc chỉ để tiêu khiển.[236] Điêu khắc tại châu Đại Dương xuất hiện lần đầu tiên tại New Guinea, gồm một loạt nhân vật bằng đá được phát hiện khắp đảo, song hầu hết là tại các vùng núi cao. Khó để thiết lập khung niên đại cho chúng, song một cái có niên đại từ 1.500 TCN.[237]

Đến 1500 TCN, văn hoá Lapita, hậu duệ của làn sóng thứ nhì đã bắt đầu bành trướng và lan đến các đảo xa hơn. Bắt đầu từ khoảng 1100, cư dân đảo Phục Sinh bắt đầu dựng gần 900 moai (tượng đá lớn). Đến khoảng 1200, cư dân đảo Pohnpei tại Micronesia đã bắt tay vào một công trình cự thạch khác, đó là một thành phố gồm các đảo nhân tạo và một hệ thống kênh đào, mang tên Nan Madol.[238] Mỹ thuật Hawaii gồm có điêu khắc gỗ, tác phẩm từ lông vũ, thuật khắc đá, quần áo từ vỏ cây (gọi là kapa trong tiếng Hawaii) và hình xăm. Người Hawaii bản địa không sử dụng kim loại hay quần áo dệt.[239]

Thể thao

Fiji vs Wales CG Melbourne 2006
Fiji thi đấu với Wales trong môn rugby bảy người

Rugby union là một trong các môn thể thao đáng chú ý nhất tại khu vực,[240] và là môn thể thao quốc gia tại New Zealand, Samoa, Fiji và Tonga. Môn thể thao phổ biến nhất tại Úc là cricket, môn phổ biến nhất trong nữ giới Úc là bóng lưới, song bóng đá kiểu Úc là môn thể thao có nhiều khán giả theo dõi nhất.[241][242][243] Rugby là môn thể thao phổ biến nhất đối với người New Zealand.[244] Tại Papua New Guinea, môn thể thao phổ biến nhất là rugby league.[245]

Bóng đá kiểu Úc là môn thể thao quốc gia của Nauru[246] Nó cũng được nhiều người theo dõi tại Papua New Guinea, và là môn thể thao phổ biến thứ nhì tại đây sau rugby league.[247][248][249] Nó thu hút lượng theo dõi đáng kể trên khắp New Zealand và các đảo Thái Bình Dương.[250] Đội tuyển rugby bảy người Fiji là một trong các đội tuyển thành công nhất thế giới, cùng với New Zealand.[251]

Vanuatu là quốc gia duy nhất tại châu Đại Dương xem bóng đá là môn thể thao quốc gia. Tuy nhiên đây cũng là môn thể thao phổ biến nhất tại Kiribati, Quần đảo SolomonTuvalu, và có tính đại chúng đáng kể và gia tăntg tại Úc. Năm 2006, Úc gia nhập Liên đoàn Bóng đá châu Á và giành quyền tham dự Giải bóng đá vô địch thế giới 20102014.[252]

Úc từng hai lần đăng cai Thế vận hội: Melbourne 1956Sydney 2000. Ngoài ra, Úc còn bốn lần tổ chức Đại hội thể thao Thịnh vượng chung (Sydney 1938, Perth 1962, Brisbane 1982, Melbourne 2006), và có kế hoạch tổ chức kỳ thứ năm (Gold Coast 2018). New Zealand cũng ba lần tổ chức đại hội này: Auckland 1950, Christchurch 1974 và Auckland 1990. Đại hội thể thao Thái Bình Dương là một sự kiện gồm nhiều môn thi đấu, hầu hết giống với Thế vận hội song với quy mô nhỏ hơn nhiều, thành phần chỉ là các quốc gia quanh Thái Bình Dương. Đại hội này được tổ chức bốn năm một lần kể từ năm 1963, Úc và New Zealand lần đầu tham gia đại hội vào năm 2015.[253]

Ghi chú

  1. ^ Về lịch sử thuật ngữ, xem Douglas & Ballard (2008) Foreign bodies: Oceania and the science of race 1750–1940
  2. ^ “Australia: World Audit Democracy Profile”. WorldAudit.org. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2008.
  3. ^ “Rankings on Economic Freedom”. The Heritage Foundation. 2016. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2016.
  4. ^ “Kiribati: 2011 Article IV Consultation-Staff Report, Informational Annexes, Debt Sustainability Analysis, Public Information Notice on the Executive Board Discussion, and Statement by the Executive Director for Kiribati”. International Monetary Fund Country Report No. 11/113. Ngày 24 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2011.
  5. ^ “Archived copy”. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 8 năm 2003. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2010.
  6. ^ “Secret Instructions to Captain Cook, ngày 30 tháng 6 năm 1768” (PDF). National Archives of Australia. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2011.
  7. ^ Dimensions of Australian Society, Ian McAllister – 1994, p 333
  8. ^ "Oceanic art", The Columbia Encyclopedia, Sixth Edition 2006.
  9. ^ MacKay (1864, 1885) Elements of Modern Geography, p 283
  10. ^ Drage, Jean (1994). New Politics in the South pacific. Institute of Pacific Studies, University of the South Pacific. tr. 162. ISBN 9789820201156. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2010.
  11. ^ “Oceania”. Oxford English Dictionary (ấn bản 3). Oxford University Press. Tháng 9 năm 2005. (yêu cầu Đăng ký hoặc có quyền thành viên của thư viện công cộng Anh.)
  12. ^ Adler, Jacob (1986). The fantastic life of Walter Murray Gibson: Hawaii's minister of everything. tr. 66.
  13. ^ Lyons, Paul (2006). American Pacificism: Oceania in the U.S. Imagination. tr. 30.
  14. ^ Udvardy. 1975. A classification of the biogeographical provinces of the world
  15. ^ Son, George Philip (2003). Philip's E.A.E.P Atlas. tr. 79. ISBN 9789966251251. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2014.
  16. ^ Lewis, Martin W.; Kären E. Wigen (1997). The Myth of Continents: a Critique of Metageography. Berkeley: University of California Press. tr. 32. ISBN 0-520-20742-4. Interestingly enough, the answer [from a scholar who sought to calculate the number of continents] conformed almost precisely to the conventional list: North America, South America, Europe, Asia, Oceania (Australia plus New Zealand), Africa, and Antarctica.
  17. ^ “An Aboriginal Australian Genome Reveals Separate Human Dispersals into Asia”. Science. Truy cập 8 tháng 2 năm 2018.
  18. ^ http://www.illumina.com/documents/icommunity/article_2012_04_Aboriginal_Genome.pdf
  19. ^ "Aboriginal Australians descend from the first humans to leave Africa, DNA sequence reveals", Biotechnology and Biological Sciences Research Council (BBSRC).
  20. ^ “About Australia:Our Country”. Australian Government. Australia's first inhabitants, the Aboriginal people, are believed to have migrated from some unknown point in Asia to Australia between 50,000 and 60,000 years ago.
  21. ^ Jared Diamond. (1997). Guns, Germs, and Steel. Random House. Luân Đôn. pp 314–316
  22. ^ Mulvaney, J. and Kamminga, J., (1999), Prehistory of Australia. Smithsonian Institution Press, Washington.
  23. ^ Lourandos, H., Continent of Hunter-Gatherers: New Perspectives in Australian Prehistory (Cambridge University Press, 1997) p.81
  24. ^ "When did Australia's earliest inhabitants arrive?", University of Wollongong, 2004. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2008.
  25. ^ Barbetti M, Allen H (1972). “Prehistoric man at Lake Mungo, Australia, by 32,000 years BP.”. Nature 240 (5375): 46–8. PMID 4570638. doi:10.1038/240046a0.
  26. ^ Dunn, Michael, Angela Terrill, Ger Reesink, Robert A. Foley, Stephen C. Levinson (2005). “Structural Phylogenetics and the Reconstruction of Ancient Language History”. Science 309 (5743): 2072–2075. PMID 16179483. doi:10.1126/science.1114615.
  27. ^ Spriggs, Matthew (1997). The Island Melanesians. Blackwell. ISBN 0-631-16727-7.
  28. ^ Hage, P.; Marck, J. (2003). “Matrilineality and Melanesian Origin of Polynesian Y Chromosomes”. Current Anthropology 44 (S5): S121. doi:10.1086/379272.
  29. ^ Kayser, M.; Brauer, S.; Cordaux, R.; Casto, A.; Lao, O.; Zhivotovsky, L. A.; Moyse-Faurie, C.; Rutledge, R. B. và đồng nghiệp (2006). “Melanesian and Asian origins of Polynesians: mtDNA and Y chromosome gradients across the Pacific”. Molecular Biology and Evolution 23 (11): 2234–2244. PMID 16923821. doi:10.1093/molbev/msl093.
  30. ^ Su, B.; Underhill, P.; Martinson, J.; Saha, N.; McGarvey, S. T.; Shriver, M. D.; Chu, J.; Oefner, P.; Chakraborty, R.; Chakraborty, R.; Deka, R. (2000). “Polynesian origins: Insights from the Y chromosome”. PNAS 97 (15): 8225–8228. Bibcode:2000PNAS...97.8225S. doi:10.1073/pnas.97.15.8225.
  31. ^ Kirch, P. V. (2000). On the road of the wings: an archaeological history of the Pacific Islands before European contact. Luân Đôn: University of California Press. ISBN 0-520-23461-8. Quoted in Kayser, M.; et al. (2006).
  32. ^ Green, Roger C.; Leach, Helen M. (1989). “New Information for the Ferry Berth Site, Mulifanua, Western Samoa”. Journal of the Polynesian Society 98 (3). Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2009.
  33. ^ Burley, David V.; Barton, Andrew; Dickinson, William R.; Connaughton, Sean P.; Taché, Karine (2010). “Nukuleka as a Founder Colony for West Polynesian Settlement: New Insights from Recent Excavations”. Journal of Pacific Archaeology 1 (2): 128–144.
  34. ^ Resemblance of the name to an early Mangarevan founder god Atu Motua ("Father Lord") has made some historians suspect that Hotu Matua was added to Easter Island mythology only in the 1860s, along with adopting the Mangarevan language. The "real" founder would have been Tu'u ko Iho, who became just a supporting character in Hotu Matu'a centric legends. See Steven Fischer (1994). Rapanui's Tu'u ko Iho Versus Mangareva's 'Atu Motua. Evidence for Multiple Reanalysis and Replacement in Rapanui Settlement Traditions, Easter Island. The Journal of Pacific History, 29(1), 3–18. See also Rapa Nui / Geography, History and Religion. Peter H. Buck, Vikings of the Pacific, University of Chicago Press, 1938. pp. 228–236. Online version.
  35. ^ Summary of Thomas S. Barthel's version of Hotu Matu'a's arrival to Easter Island.
  36. ^ Diamond, Jared. Collapse: How Societies Choose to Fail or Succeed. Penguin Books: 2005. ISBN 0-14-303655-6. Chapter 2: Twilight at Easter pp.79–119. See page 89.
  37. ^ Hunt, T. L., Lipo, C. P., 2006. Science, 1121879. See also "Late Colonization of Easter Island" in Science Magazine. Entire article Lưu trữ ngày 29 tháng 8 năm 2008, tại Wayback Machine. is also hosted by the Department of Anthropology of the University of Hawaii.
  38. ^ PV Kirch. 1997. The Lapita Peoples. Cambridge: Blackwell Publisher
  39. ^ “Background Note: Micronesia”. United States Department of State. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2012.
  40. ^ Morgan, William N. (1988). Prehistoric Architecture in Micronesia. tr. 30. ISBN 978-0-292-78621-9.
  41. ^ The History of Mankind Lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2013, tại Wayback Machine. by Professor Friedrich Ratzel, Book II, Section A, The Races of Oceania page 165, picture of a stick chart from the Marshall Islands. MacMillan and Co., published 1896.
  42. ^ Fernandez-Armesto, Felipe (2006). Pathfinders: A Global History of Exploration. W.W. Norton & Company. tr. 305–307. ISBN 0-393-06259-7.
  43. ^ J.P. Sigmond and L.H. Zuiderbaan (1979) Dutch Discoveries of Australia.Rigby Ltd, Australia. pp. 19–30 ISBN 0-7270-0800-5
  44. ^ Primary Australian History: Book F [B6] Ages 10-11. R.I.C. Publications. 2008. tr. 6. ISBN 978-1-74126-688-7. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2013.
  45. ^ “European discovery of New Zealand”. Encyclopedia of New Zealand. Ngày 4 tháng 3 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2010.
  46. ^ “Cook's Journal: Daily Entries, ngày 22 tháng 4 năm 1770”. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2011.
  47. ^ “Once were warriors – smh.com.au”. The Sydney Morning Herald. Ngày 11 tháng 11 năm 2002. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2011.
  48. ^ Noatia P. Teo, Hugh Larcy (ed) (1983). “Chapter 17, Colonial Rule”. Tuvalu: A History. University of the South Pacific/Government of Tuvalu. tr. 127–139.
  49. ^ Macdonald, Barrie (2001) Cinderellas of the Empire: towards a history of Kiribati and Tuvalu, Institute of Pacific Studies, University of the South Pacific, Suva, Fiji, ISBN 982-02-0335-X, p. 1
  50. ^ Ganse, Alexander. “History of French Polynesia, 1797 to 1889”. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2007.
  51. ^ “Rapport annuel 2010” (PDF). IEOM Nouvelle-Calédonie. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2013.
  52. ^ Gray, J. A. C. Amerika Samoa, A History of American Samoa and its United States Naval Administration. Annapolis: United States Naval Institute. 1960.
  53. ^ a ă Jose, Arthur Wilberforce (1941) [1928]. “Chapter V – Affairs in the Western Pacific” (PDF). Trong Bean, Charles Edwin Woodrow. Official History of Australia in the War of 1914–1918. Official Histories, Australian War Memorial. Volume IX – The Royal Australian Navy: 1914–1918 (ấn bản 9). Sydney, Australia: Angus and Robertson. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2014.
  54. ^ Prange, Gordon W., Goldstein, Donald, & Dillon, Katherine. The Pearl Harbor Papers (Brassey's, 2000), p.17ff; Google Books entry on Prange et al.
  55. ^ Fukudome, Shigeru, "Hawaii Operation". United States Naval Institute, Proceedings, 81 (December 1955), pp.1315–1331
  56. ^ For the Japanese designator of Oahu. Wilford, Timothy. "Decoding Pearl Harbor", in The Northern Mariner, XII, #1 (January 2002), p.32fn81.
  57. ^ Braithwaite, John; Charlesworth, Hilary; Reddy, Peter & Dunn, Leah (2010). “Chapter 7: The cost of the conflict”. Reconciliation and Architectures of Commitment: Sequencing peace in Bougainville. ANU E Press. ISBN 978-1-921666-68-1.
  58. ^ Kristof, Nicholas D. (ngày 26 tháng 9 năm 1997). “Shoichi Yokoi, 82, Is Dead; Japan Soldier Hid 27 Years”. The New York Times.
  59. ^ Dumont D'Urville, Jules-Sébastien-César (2003). “On the Islands of the Great Ocean”. Journal of Pacific History (Taylor & Francis, Ltd.) 38 (2): 163. JSTOR 25169637. doi:10.1080/0022334032000120512. Đã bỏ qua tham số không rõ |translator-last1= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |translator-first2= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |translator-last2= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |translator-last3= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |translator-first3= (trợ giúp); Đã bỏ qua tham số không rõ |translator-first1= (trợ giúp)
  60. ^ Douglas & Ballard (2008) Foreign bodies: Oceania and the science of race 1750–1940
  61. ^ Gillespie, Rosemary G.; Clague, David A. (2009). Encyclopedia of Islands. University of California Press. tr. 706. ISBN 978-0-520-25649-1. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2013.
  62. ^ Ben Finney, The Other One-Third of the Globe, Journal of World History, Vol. 5, No. 2, Fall, 1994.
  63. ^ "Coral island", Encyclopædia Britannica. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2013.
  64. ^ "Nauru", Charting the Pacific. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2013.
  65. ^ Academic American encyclopedia. Grolier Incorporated. 1997. tr. 8. ISBN 978-0-7172-2068-7. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2013.
  66. ^ Lal, Brij Vilash; Fortune, Kate (2000). The Pacific Islands: An Encyclopedia. University of Hawaii Press. tr. 63–. ISBN 978-0-8248-2265-1. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2013.
  67. ^ West, Barbara A. (2009). Encyclopedia of the Peoples of Asia and Oceania. Infobase Publishing. tr. 521–. ISBN 978-1-4381-1913-7. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2013.
  68. ^ Dunford, Betty; Ridgell, Reilly (1996). Pacific Neighbors: The Islands of Micronesia, Melanesia, and Polynesia. Bess Press. tr. 125–. ISBN 978-1-57306-022-6. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2013.
  69. ^ Douglas, Bronwen (2014). Science, Voyages, and Encounters in Oceania, 1511-1850. Palgrave Macmillan. tr. 6.
  70. ^ “SFT and the Earth's Tectonic Plates”. Los Alamos National Laboratory. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2013.
  71. ^ Frisch, Wolfgang; Meschede, Martin; Blakey, Ronald C. (2010), Plate Tectonics: Continental Drift and Mountain Building, Springer, tr. 11–12, ISBN 9783540765042.
  72. ^ Age of the Ocean Floor
  73. ^ Pain, C.F., Villans, B.J., Roach, I.C., Worrall, L. & Wilford, J.R. (2012): Old, flat and red – Australia's distinctive landscape. In: Shaping a Nation: A Geology of Australia. Blewitt, R.S. (Ed.) Geoscience Australia and ANU E Press, Canberra. Pp. 227–275 ISBN 978-1-922103-43-7
  74. ^ Kevin Mccue (ngày 26 tháng 2 năm 2010). “Land of earthquakes and volcanoes?”. Australian Geographic. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2010. Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  75. ^ New Zealand within Gondwana from Te Ara: The Encyclopedia of New Zealand
  76. ^ “Fiji”. CIA World Factbook. CIA. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2014.
  77. ^ Clague, D. A. and Dalrymple, G. B. (1989) Tectonics, geochronology, and origin of the Hawaiian-Emperor Chain in Winterer, E. L. et al. (editors) (1989) The Eastern Pacific Ocean and Hawaii, Boulder, Geological Society of America.
  78. ^ “Mauna Kea Volcano, Hawaii”. Hvo.wr.usgs.gov. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2011.
  79. ^ “Parks and Reserves—Australia's National Landscapes”. Environment.gov.au. Ngày 23 tháng 11 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2012.
  80. ^ Loffler, Ernst; Anneliese Loffler; A. J. Rose; Denis Warner (1983). Australia: Portrait of a continent. Richmond, Victoria: Hutchinson Group (Australia). tr. 37–39. ISBN 0-09-130460-1.
  81. ^ Seabrooka, Leonie; McAlpinea, Clive; Fenshamb, Rod (2006). “Cattle, crops and clearing: Regional drivers of landscape change in the Brigalow Belt, Queensland, Australia, 1840–2004”. Landscape and Urban Planning 78 (4): 375–376. doi:10.1016/j.landurbplan.2005.11.00.
  82. ^ “Einasleigh upland savanna”. Khu vực sinh thái lục địa. Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2010.
  83. ^ “Mitchell grass downs”. Khu vực sinh thái lục địa. Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2010.
  84. ^ “Eastern Australia mulga shrublands”. Khu vực sinh thái lục địa. Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2010.
  85. ^ “Southeast Australia temperate savanna”. Khu vực sinh thái lục địa. Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2010.
  86. ^ “Arnhem Land tropical savanna”. Khu vực sinh thái lục địa. Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2010.
  87. ^ Newman, Arnold (2002). Tropical Rainforest: Our Most Valuable and Endangered Habitat With a Blueprint for Its Survival Into the Third Millennium (ấn bản 2). Checkmark. ISBN 0816039739.
  88. ^ McKenzie, D. W. (1987). Heinemann New Zealand atlas. Heinemann Publishers. ISBN 0-7900-0187-X.
  89. ^ NZPCN (2006). New Zealand indigenous vascular plant checklist. ISBN 0-473-11306-6. Written by Peter de Lange, John W.D. Sawyer and J.R. Rolfe.
  90. ^ “Hawaiian Native Plant Propagation Database”. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2013.
  91. ^ Stephen Buchmann; Gary Paul Nabhan (ngày 22 tháng 6 năm 2012). The Forgotten Pollinators. ISBN 9781597269087. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2013.
  92. ^ BirdLife International (2012). Petroica pusilla. Sách Đỏ IUCN các loài bị đe dọa. Phiên bản 2013.2. Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2013.
  93. ^ Higgins, P.J biên tập (1999). Handbook of Australian Birds (PDF). Melbourne: OUP. tr. 1178.
  94. ^ BirdLife International (2016). Pycnonotus cafer. Sách Đỏ IUCN các loài bị đe dọa. Phiên bản 2016.3. Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2017.
  95. ^ Pratt, H. Douglas và đồng nghiệp (1987). The Birds of Hawaii and the Tropical Pacific. Princeton University Press. ISBN 0-691-02399-9.
  96. ^ “Brown Goshawk | BIRDS in BACKYARDS”. www.birdsinbackyards.net. Birdlife Australia. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2016.
  97. ^ Turner, Angela K; Rose, Chris (1989). Swallows & Martins: An Identification Guide and Handbook. Houghton Mifflin. ISBN 0-395-51174-7.
  98. ^ BirdLife International (2012). Myzomela cardinalis. Sách Đỏ IUCN các loài bị đe dọa. Phiên bản 2013.2. Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2013.
  99. ^ BirdLife International (2014). Acrocephalus vaughani. The IUCN Red List of Threatened Species.
  100. ^ Howard Youth. “Hawaii's Forest Birds Sing the Blues”. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2008.
  101. ^ Invasive Species: Animals – Brown Tree Snake, National Agricultural Library, United States Department of Agriculture, Retrieved 2010-08-31
  102. ^ Christidis, L., Boles, W., 2008. Systematics and Taxonomy of Australian birds, Collingwood, Victoria, Australia. CSIRO Publishing.
  103. ^ Steadman. 2006. Extinction & biogeography of tropical Pacific birds
  104. ^ Gill, Frank; Donsker, David biên tập (2016). “Rollers, ground rollers & kingfishers”. World Bird List Version 6.3. International Ornithologists' Union. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2016.
  105. ^ Egerton, L. ed. 2005. Encyclopedia of Australian wildlife. Reader's Digest
  106. ^ “Australia's National Symbols”. Department of Foreign Affairs and Trade. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2015.
  107. ^ “Welcome” (PDF). Save the Tasmanian Devil. Tháng 6 năm 2008. tr. 1. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2010.
  108. ^ Underhill D (1993) Australia's Dangerous Creatures, Reader's Digest, Sydney, New South Wales, ISBN 0-86438-018-6
  109. ^ Trewick SA, Gibb G. 2010. Assembly of the New Zealand avifauna- a review of molecular evidence. IBIS 152: 226–253.
  110. ^ Trewick SA. 2011. Vicars and vagrants: Assembly of the New Zealand avifauna. Australasian Science 32: 24–27.
  111. ^ Climate Prediction Center (ngày 30 tháng 6 năm 2014). “ENSO: Recent Evolution, Current Status and Predictions” (PDF). National Oceanic and Atmospheric Administration. tr. 5, 19–20. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2014.
  112. ^ Glossary of Meteorology (2009). Monsoon. Lưu trữ ngày 22 tháng 3 năm 2008, tại Wayback Machine. American Meteorological Society. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2009.
  113. ^ Atlantic Oceanographic and Meteorological Laboratory - Hurricane Research Division. “Frequently Asked Questions: When is hurricane season?”. National Oceanic and Atmospheric Administration. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2006.
  114. ^ Climate of Australia
  115. ^ “Precipitation in Australia”. Climates and Weather of Australia. Routledge. 1997. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2012.
  116. ^ Walrond, Carl (tháng 3 năm 2009). “Natural environment – Climate”. Te Ara – the Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2016.
  117. ^ Mean monthly rainfall, NIWA.
  118. ^ Chapman, Paul (15 tháng 8 năm 2011). 'Once in a lifetime' snow storm hits New Zealand”. Telegraph.co.uk (Wellington). Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2016.
  119. ^ “Island of Hawaii: climate zones”. lovebigisland.com. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2017.
  120. ^ “National Weather Service Dedicated Forecast Office in Typhoon Alley”. US NOAA NWS. Ngày 27 tháng 4 năm 2000. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2012.
  121. ^ “Official records for Australia in January”. Daily Extremes. Bureau of Meteorology. 31 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2013.
  122. ^ “NZ's temperature record hits new low – minus 25.6degC”. The New Zealand Herald. 12 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2011.
  123. ^ RAINFALL CLIMATOLOGY FOR POHNPEI ISLANDS, FEDERATED STATES OF MICRONESIA
  124. ^ “Global Measured Extremes of Temperature and Precipitation”. National Climatic Data Center. Ngày 9 tháng 8 năm 2004.
  125. ^ “Mount Waialeale – Climate Summary”. National Oceanic and Atmospheric Administration. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2010.
  126. ^ a ă â b Christianity in its Global Context, 1970–2020 Society, Religion, and Mission, Center for the Study of Global Christianity
  127. ^ US Dept of State (ngày 1 tháng 5 năm 2012). “Background Notes Australia, Fiji, Kiribati, Malaysia, Micronesia, New Zealand, Samoa”. State.gov. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2012.
  128. ^ Cowan, James G. (1993). Messengers of the Gods. New York, NY: Bell Tower. ISBN 0-517-88078-4.
  129. ^ “Religious Diversity in New Zealand – Statement on Religious Diversity” (PDF). New Zealand Human Rights Commission and Victoria University. 2007.
  130. ^ “Cultural diversity in Australia”. 2071.0 – Reflecting a Nation: Stories from the 2011 Census, 2012–2013. Australian Bureau of Statistics. 21 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2012.
  131. ^ “Mosque soon to open in Uliga”. Ngày 28 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2014.
  132. ^ “Population of Jews in Australia”. Judaism.about.com. Ngày 11 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2013.
  133. ^ “2071.0”. Truy cập 8 tháng 2 năm 2018.
  134. ^ Australian Bureau of noms
  135. ^ “Sydney's melting pot of language”. The Sydney Morning Herald. 2014. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2014.
  136. ^ “Census 2016: Migrants make a cosmopolitan country”. The Australian. 15 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2017.
  137. ^ “Population, dwellings, and ethnicity”. .id. 2014. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2014.
  138. ^ [1]
  139. ^ “Vicnet Directory Indian Community”. Vicnet. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2008.
  140. ^ “Vicnet Directory Sri Lankan Community”. Vicnet. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2008.
  141. ^ “Vietnamese Community Directory”. yarranet.net.au. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2008.
  142. ^ “Immigration chronology: selected events 1840–2008”. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2016.
  143. ^ “Immigration regulation, Page 1”. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2016.
  144. ^ “2013 Census QuickStats about culture and identity – data tables”. Statistics New Zealand. 15 tháng 4 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2016. Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  145. ^ “California's Hispanic population projected to outnumber white in 2014”. Reuters. Ngày 31 tháng 1 năm 2013.
  146. ^ Williams, Charles (1832) [1828]. The missionary gazetteer: comprising a geographical and statistical account... CIHM/ICMH microfiche series, no. 35042 (also ATLA monograph preservation program; ATLA fiche 1988–3226). B B Edwards . Boston, MA: W. Hyde & Co. tr. 424. ISBN 978-0-665-35042-9. OCLC 657191416, 718098082, 719990067, 680518873. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2012.
  147. ^ Hoffman, Frederic L. (tháng 9 năm 1899). “The Portuguese Population in the United States”. Publications of the American Statistical Association (Alexandria, VA: American Statistical Association) 6 (47): 327–336. JSTOR 2276463. OCLC 11137237. doi:10.2307/2276463.(cần đăng ký mua) See pp. 332–33.
  148. ^ The Puerto Rican Diaspora, by Carmen Teresa Whalen; Pg. 47; Publisher: Temple University Press (ngày 30 tháng 8 năm 2005); ISBN 1-59213-413-0; ISBN 978-1-59213-413-7
  149. ^ a ă Duggan, A. T.; Evans, B.; Friedlaender, F. O. R.; Friedlaender, J. S.; Koki, G.; Merriwether, D. A.; Kayser, M.; Stoneking, M. (2014). “Maternal History of Oceania from Complete mtDNA Genomes: Contrasting Ancient Diversity with Recent Homogenization Due to the Austronesian Expansion”. The American Journal of Human Genetics 94 (5): 721. PMC 4067553. PMID 24726474. doi:10.1016/j.ajhg.2014.03.014.
  150. ^ “BBC: First contact with isolated tribes?”. Survival International. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2015.
  151. ^ Field listing – GDP (official exchange rate), CIA World Factbook
  152. ^ “Sovereigns rating list”. Standard & Poor's. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2011.
  153. ^ Rogers, Simon; Sedghi, Ami (15 tháng 4 năm 2011). “How Fitch, Moody's and S&P rate each country's credit rating”. The Guardian (Luân Đôn). Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2011.
  154. ^ “2012 Report (PDF)”. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2014.
  155. ^ “Statement on Monetary Policy (November 2013)”. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2014.
  156. ^ “2014 Quality of Living Worldwide City Rankings – Mercer Survey”. www.mercer.com. 19 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2016.
  157. ^ “2014 Quality of Living Index”. Mercer. 2014. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2014.
  158. ^ “The World According to GaWC 2010”. Globalization and World Cities (GaWC) Study Group and Network. Loughborough University. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2012.
  159. ^ “Global Power City Index 2010” (PDF). Tokyo, Japan: Institute for Urban Strategies at The Mori Memorial Foundation. Tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2011.
  160. ^ “Happy birthday Melbourne: 181 and still kicking!”. SBS Your Language. Truy cập 8 tháng 2 năm 2018.
  161. ^ The Global Financial Centres Index 14 (September 2013). Y/Zen Group. p 15. Truy cập 4 December 2013.
  162. ^ 2012 Global Cities Index and Emerging Cities Outlook. A.T. Kearney. p 2. Truy cập 29 December 2013.
  163. ^ Brinded, Lianna (23 tháng 2 năm 2016). “The 23 cities with the best quality of life in the world”. Business Insider (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2017.
  164. ^ “2014 Quality of Living Worldwide City Rankings – Mercer Survey”. www.mercer.com. 19 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2014.
  165. ^ “The World Factbook — Central Intelligence Agency”. Truy cập 8 tháng 2 năm 2018.
  166. ^ “Hawaii sandalwood trade”. Hawaiihistory.org. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2011. Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  167. ^ “Whaling in Hawaii”. Hawaiihistory.org. Ngày 16 tháng 6 năm 1999. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2011.
  168. ^ “Per capita GDF by year”. State of Hawaii. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2016.
  169. ^ “A History of Honey Bees in the Hawaiian Islands”. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2011.
  170. ^ “2015 quality of living survey”. Mercer. 4 tháng 3 năm 2015.
  171. ^ Kyte, Theresa (18 tháng 11 năm 2015). “Honolulu ranked 2nd safest city in America”. KITV. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2015.
  172. ^ “Tourism and Migration Statistics – Visitor Arrivals by Usual Country of Residence (1995–2001)”. Vanuatu Statistics Office. 2001. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2009.
  173. ^ Australian Bureau of Statistics. “Tourism Satellite Account 2014–15:Key Figures”.
  174. ^ “Visitor Arrivals Data”. Tourism Australia. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 9 năm 2015.
  175. ^ “5249.0 – Australian National Accounts: Tourism Satellite Account, 2010–11”. Australian Bureau of Statistics.
  176. ^ “Homepage – Ministry of Business, Innovation and Employment” (PDF).
  177. ^ "Real Journeys rapt with Kiwi Must-Do's", Scoop, 13 February 2007.
  178. ^ Hawaii State DBEDT (2003). “Overview of All Visitors” (PDF). Summary of 2004 Visitors to Hawaii: 2. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2012.
  179. ^ O'Neill, Sandler (9 tháng 9 năm 2011). “Bank of Hawaii Offers a Safe Port”. Barrons Online. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2012.
  180. ^ “How Australia's Parliament works”. Australian Geographic. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2014.
  181. ^ Davison, Hirst and Macintyre, tr. 287–8.
  182. ^ “Governor-General's Role”. Governor-General of Australia. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2010.
  183. ^ “Glossary of Election Terms”. Australian Broadcasting Corporation. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2010.
  184. ^ “State of the Parties”. Australian Broadcasting Corporation. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2010.
  185. ^ Fenna, Alan; Robbins, Jane; Summers, John (2013). Government Politics in Australia. Luân Đôn, United Kingdom: Pearson Higher Education AU. tr. 139. ISBN 978-1-4860-0138-5.
  186. ^ Defence Annual Report 2005-06 Lưu trữ ngày 18 tháng 11 năm 2006, tại Wayback Machine.. Pages 219–220.
  187. ^ “New Zealand’s Constitution”. The Governor-General of New Zealand. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2010.
  188. ^ “Factsheet – New Zealand – Political Forces”. The Economist (The Economist Group). 15 tháng 2 năm 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 5 năm 2006. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2009.
  189. ^ “New Zealand Legislation: Royal Titles Act 1974”. New Zealand Parliamentary Counsel Office. Tháng 2 năm 1974. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2011.
  190. ^ “The Role of the Governor-General”. The Governor-General of New Zealand. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2017.
  191. ^ “Parliament Brief: What is Parliament?”. New Zealand Parliament. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2016.
  192. ^ “The electoral cycle”. Cabinet Manual. Department of the Prime Minister and Cabinet. 2008. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2017.
  193. ^ “The Fragile States Index 2016”. The Fund for Peace. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2016.
  194. ^ “Democracy Index 2015”. The Economist Intelligence Unit. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2016.
  195. ^ “Corruption Perceptions Index 2015”. Transparency International. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2016.
  196. ^ “Background Note: Samoa”. U.S. State Department. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2007.
  197. ^ Braithwaite, David (28 tháng 6 năm 2007). “Opera House wins top status”. The Sydney Morning Herald. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2007.
  198. ^ Jupp, pp. 796–802.
  199. ^ Teo and White, pp. 118–20.
  200. ^ Davison, Hirst and Macintyre, tr. 98–9.
  201. ^ Teo and White, pp. 125–27.
  202. ^ a ă Teo and White, pp. 121–23.
  203. ^ Jupp, pp. 808–12, 74–77.
  204. ^ Chichester, Jo (2007). “Return of the Kelly Gang”. UNESCO Courier. UNESCO. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2009.
  205. ^ “The first wave of Australian feature film production” (PDF). Docs.google.com. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2010.
  206. ^ “A short history of the Australian Museum”. Truy cập 8 tháng 2 năm 2018.
  207. ^ National Gallery of Victoria - Victorian Heritage Register
  208. ^ “Avo smash and flat whites bringing the Aussie vibe to New York”. ABC News (bằng tiếng en-AU). Ngày 11 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2017.
  209. ^ “Bush Tucker Plants, or Bush Food”. Teachers.ash.org.au. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2011.
  210. ^ “Bush Tucker”. Theepicentre.com. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2011.
  211. ^ “Australian food and drink”. Department of the Environment, Water, Heritage and the Arts. 23 tháng 9 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 3 năm 2010.
  212. ^ “Modern Australian recipes and Modern Australian cuisine”. Special Broadcasting Service. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2010.
  213. ^ Jonsen, Helen (1999). Kangaroo's Comments and Wallaby's Words: The Aussie Word Book. Hippocrene Books. tr. 23. ISBN 978-0-7818-0737-1.
  214. ^ Unterberger, pp. 465–73
  215. ^ Chai, Makana Risser. "Huna, Max Freedom Long, and the Idealization of William Brigham," The Hawaiian Journal of History, Vol. 45 (2011) pp. 101-121
  216. ^ Kamakawiwo, Israel (6 tháng 12 năm 2010). “Israel Kamakawiwo'ole: The Voice Of Hawaii”. NPR. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2017.
  217. ^ Downes, Siobhan (1 tháng 1 năm 2017). “World famous in New Zealand: Hobbiton Movie Set”. Stuff Travel. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2017.
  218. ^ Tapaleao, Vaimoana (8 tháng 3 năm 2008). “Thousands attend Pasifika”. New Zealand Herald. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2017.
  219. ^ “Government and nation – National holidays”. Te Ara: The Encyclopedia of New Zealand. 3 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2010.
  220. ^ Swarbrick, Nancy (tháng 6 năm 2010). “Creative life – Music”. Te Ara: The Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2011.
  221. ^ Swarbrick, Nancy (tháng 6 năm 2010). “Creative life – Performing arts”. Te Ara: The Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2011.
  222. ^ Cieply, Michael; Rose, Jeremy (tháng 10 năm 2010). “New Zealand Bends and ‘Hobbit’ Stays”. New York Times.
  223. ^ “Production Guide: Locations”. Film New Zealand. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2011.
  224. ^ a ă “New Zealand Cuisine”. New Zealand Tourism Guide. Tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2016.
  225. ^ Petrie, Hazel (tháng 11 năm 2008). “Kai Pākehā – introduced foods”. Te Ara: The Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2017.
  226. ^ Whaanga, Mere (tháng 6 năm 2006). “Mātaitai – shellfish gathering”. Te Ara: The Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2017.
  227. ^ “Story: Shellfish”. Te Ara: The Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2016.
  228. ^ Burton, David (tháng 9 năm 2013). “Cooking – Cooking methods” (bằng tiếng Anh). Te Ara: The Encyclopedia of New Zealand. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2016.
  229. ^ “Dance: Siva”. Samoa.co.uk.
  230. ^ “Worn With Pride – Tatau (Tatoo)”. Oceanside Museum of Art. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2007.
  231. ^ Brunt, Peter (2012). Art in Oceania: A New History. New Haven và Luân Đôn: Yale University Press. tr. 410–497. ISBN 978-0-300-19028-1.
  232. ^ Hutchinson Encyclopedia. Oceanic art. Truy cập June 23, 2006.
  233. ^ Met Timeline of Art History, Oceania, 80000-2000 B.C.. Truy cập June 22, 2006.
  234. ^ Taçon, Paul S. C. (2001). "Australia". In Whitely, David S.. Handbook of Rock Art Research. Rowman & Littlefield. pp. 531–575. ISBN 978-0-7425-0256-7
  235. ^ Henly, Susan Gough (6 tháng 11 năm 2005). “Powerful growth of Aboriginal art”. The New York Times.
  236. ^ Met Timeline of Art History Ubirr (40,000?B.C.-present). Truy cập June 22, 2006.
  237. ^ Met Timeline of Art History, Lapita Pottery (ca. 1500–5000 B.C.). Truy cập June 22, 2006.
  238. ^ Met Timeline of Art History, Oceania, 1000–1400 A.D.. Truy cập June 22, 2006.
  239. ^ Met Timeline of Art History, Oceania, 1400–1600 A.D.. Truy cập June 22, 2006.
  240. ^ “Oceania Rugby Vacations”. Real Travel. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2009.
  241. ^ Australia – Page 54, Tracey Boraas – 2002
  242. ^ Planet Sport – Page 85, Kath Woodward – 2012
  243. ^ Australia – Page 101, Sundran Rajendra – 2002
  244. ^ New Zealand – Page 76, Rebecca Hirsch – 2013
  245. ^ “PNG vow to upset World Cup odds”. Rugby League (BBC). Ngày 15 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2009. But it would still be one of the biggest shocks in World Cup history if Papua New Guinea – the only country to have Rugby League as its national Sport – were to qualify for the last 4.
  246. ^ “Nauru AFL team to play in International Cup”. solomonstarnews.com. Ngày 16 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2009.
  247. ^ “Papua New Guinea”. Truy cập 8 tháng 2 năm 2018.
  248. ^ “MSN Groups Closure Notice”. Groups.msn.com. Ngày 23 tháng 10 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2009.
  249. ^ “Football in Australia – Australia's Culture Portal”. Cultureandrecreation.gov.au. Ngày 28 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2009.
  250. ^ “Rugby League Football – 1966 Encyclopaedia of New Zealand”. Teara.govt.nz. Ngày 13 tháng 6 năm 1908. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2009.
  251. ^ Wilson, Andy (ngày 5 tháng 11 năm 2009). “southern hemisphere sides are a class apart”. Luân Đôn: guardian.co.uk. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2010.
  252. ^ FIFA world cup 2010 – qualifying rounds and places available by confederation. Fifa.com. Ngày 3 tháng 4 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2009.
  253. ^ “Australia and New Zealand to compete in Pacific Games”. ABC News. 3 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2015.

Đọc thêm

  • Frank Harary & Per Hage (1991) Exchange in Oceania: A Graph Theoretic Analysis, Oxford Studies in Social and Cultural Anthropology, Oxford University Press.
  • Frank Harary & Per Hage (2007) Island Networks: Communication, Kinship, and Classification Structures in Oceania, Structural Analysis in the Social Sciences, Cambridge University Press.

Liên kết ngoài

Australasia

Australasia là một thuật ngữ được sử dụng một cách không thống nhất để miêu tả một khu vực của châu Đại Dương—bao gồm Úc, New Zealand, đảo New Guinea và các quần đảo cận kề trên Thái Bình Dương.

Thuật ngữ này được Charles de Brosses đề ra trong Histoire des navigations aux terres australes (1756). Ông viết từ này theo tiếng Latinh cho cụm từ "miền nam châu Á" và tách biệt khu vực này ra khỏi Polynesia (ở phía đông) và đông nam Thái Bình Dương (Magellanica); nó cũng được tách ra khỏi Micronesia (phía đông bắc).

Bóng đá

Bóng đá hay Túc cầu (tiếng Anh-Anh: Football, tiếng Anh-Mỹ: Soccer) là môn thể thao đồng đội được chơi giữa hai đội với nhau, mỗi đội có 11 cầu thủ trên sân. Trò chơi này dùng một quả bóng và thường được chơi trên sân cỏ hình chữ nhật với hai khung thành ở hai đầu sân. Mục tiêu của trò chơi là ghi điểm bằng cách đưa bóng vào khung thành của đội đối địch. Ngoại trừ thủ môn, các cầu thủ khác đều không được cố ý dùng tay hoặc cánh tay để chơi bóng (trừ trường hợp ném biên). Đội chiến thắng là đội ghi được nhiều bàn thắng hơn khi kết thúc trận đấu. Bóng đá được mệnh danh là "môn thể thao vua", là môn thể thao được yêu thích nhất, được theo dõi nhiều nhất, được nhiều người chơi nhất thế giới.

Bóng đá được chơi ở đẳng cấp chuyên nghiệp trên thế giới. Hàng vạn người đến sân vận động để xem các trận thi đấu có đội bóng mà họ yêu thích, và hàng triệu người khác theo dõi qua tivi nếu không thể đến sân vận động. Ngoài ra, còn rất nhiều người chơi môn thể thao này ở đẳng cấp nghiệp dư.

Theo một cuộc khảo sát công bố vào năm 2001 của FIFA, tổ chức quản lý bóng đá trên thế giới, có hơn 240 triệu người thường xuyên chơi bóng đá ở hơn 200 quốc gia. Luật chơi đơn giản và dụng cụ thi đấu ít tốn kém giúp cho trò chơi này phát triển mạnh mẽ. Ở nhiều nước, bóng đá có vai trò quan trọng trong cuộc sống của người hâm mộ, trong cộng đồng địa phương hay cả quốc gia; do đó có thể nói đây là môn thể thao phổ biến nhất thế giới.

Bảng mã IOC

Ủy ban Olympic Quốc tế (IOC) sử dụng ba ký tự tiêu biểu cho mã quốc gia và chùm ký tự này sẽ đại diện cho các vận động viên trong các kì Đại hội Olympic. Mỗi chùm ký tự đại diện cho Ủy ban Olympic của các quốc gia; nhưng cũng có thể trong các sự kiện quá khứ nó được dùng để đại diện cho liên hiệp các quốc gia hay tập thể cá nhân không đại diện cho bất kì một quốc gia nào.

Bảng mã này có một vài điểm khác biệt so với bảng chuẩn ISO 3166-1 alpha-3. Trong một số tổ chức thể thao khác, chẳng hạn FIFA hay Liên đoàn Thịnh vượng chung Anh, dùng ký hiệu giống với bảng này.

Bộ Cá da trơn

Bộ Cá da trơn hay bộ Cá nheo (danh pháp khoa học: Siluriformes) là một bộ cá rất đa dạng trong nhóm cá xương. Các loài cá trong bộ này dao động khá mạnh về kích thước và các thức sinh sống, từ loài nặng nhất là cá tra dầu (Pangasius gigas) ở Đông Nam Á tới loài dài nhất là cá nheo châu Âu (Silurus glanis) của đại lục Á-Âu, hay những loài chỉ ăn xác các sinh vật chết ở lớp nước đáy, hay các loài cá ký sinh nhỏ bé như Vandellia cirrhosa. Có các loài với các kiểu tấm xương bảo vệ cũng như các loài không có tấm xương bảo vệ này, nhưng tất cả chúng đều không có vảy. Không phải loài cá da trơn nào cũng có râu; các đặc trưng để xác định bộ Siluriformes trên thực tế là các đặc điểm chung của hộp sọ và bong bóng. Bộ cá này có tầm quan trọng kinh tế đáng kể; nhiều loài được chăn nuôi ở quy mô lớn để cung cấp cá thực phẩm, một vài loài được nuôi thả như là cá câu thể thao. Nhiều loài cá nhỏ, cụ thể là các loài trong chi Corydoras, được nuôi làm cá cảnh trong các bể cá.

Cá da trơn là loài thủy sinh vật được chăn nuôi phổ biến ở nhiều nước trên thế giới và trở thành một nguồn thủy hải sản quan trọng trong công nghiệp thực phẩm, được chế biến và tiêu thụ rộng rãi trên toàn cầu. Tại Hoa Kỳ, các loài catfish (cá mèo hay cá trê Mỹ) thuộc họ Ictaluridae của bộ Cá da trơn được chăn nuôi với quy mô công nghiệp. Các chủ trại nuôi cá catfish đã thành lập một hiệp hội nghề nghiệp nuôi cá catfish để truyền bá, trao đổi kinh nghiệm chăn nuôi loài cá này và bảo vệ quyền lợi cho các thành viên trong trường hợp gặp phải sự cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường. Cũng trong cuộc cạnh tranh này, đã có thời kỳ, các loài cá tra nuôi (Pangasius hypophthalmus) và cá ba sa (Pangasius bocourti) của Nam Bộ, mặc dù thuộc họ Pangasiidae (tiếng Anh gọi là shark catfish) cũng trong bộ Cá da trơn nhưng vẫn bị cho là thuộc họ Cá trê (Clariidae) và cho tới nay tại thị trường Mỹ vẫn không được dán nhãn là catfish và áp dụng thuế chống phá giá lên các loài cá nhập khẩu này.

Ở Việt Nam có nhiều loài thuộc bộ Cá da trơn như cá trê, cá nheo, cá bông lau, cá ba sa, cá tra v.v Đại đa số chúng sinh sống tự nhiên trong các ao, đầm, sông, hồ. Chỉ đến gần đây, khi nhu cầu tiêu thụ loại cá này dưới dạng thực phẩm tăng lên một cách đột biến, một số loài cá thuộc bộ này bắt đầu được các chủ trại nuôi cá ở Việt Nam chăn nuôi, mặc dù với quy mô không lớn.

Canada

Canada (phiên âm: Ca-na-đa; phát âm tiếng Anh: /ˈkænədə/ nghe , phát âm tiếng Pháp: [kanadɑ] nghe ) là quốc gia có diện tích lớn thứ hai trên thế giới, và nằm ở cực bắc của Bắc Mỹ. Lãnh thổ Canada gồm 10 tỉnh bang và 3 vùng lãnh thổ liên bang, trải dài từ Đại Tây Dương ở phía đông sang Thái Bình Dương ở phía tây, và giáp Bắc Băng Dương ở phía bắc. Canada giáp với Hoa Kỳ lục địa ở phía nam, giáp với tiểu bang Alaska của Hoa Kỳ ở phía tây bắc. Ở phía đông bắc của Canada là đảo Greenland thuộc Vương quốc Đan Mạch. Ở ngoài khơi phía nam đảo Newfoundland của Canada có quần đảo Saint-Pierre và Miquelon thuộc Pháp. Biên giới chung của Canada với Hoa Kỳ về phía nam và phía tây bắc là đường biên giới dài nhất thế giới.

Nhiều dân tộc Thổ dân cư trú tại lãnh thổ nay là Canada trong hàng thiên niên kỷ. Bắt đầu từ cuối thế kỷ XV, người Anh và người Pháp thành lập các thuộc địa trên vùng duyên hải Đại Tây Dương của khu vực. Sau các xung đột khác nhau, Anh Quốc giành được rồi để mất nhiều lãnh thổ tại Bắc Mỹ, và đến cuối thế kỷ XVIII thì còn lại lãnh thổ chủ yếu thuộc Canada ngày nay. Căn cứ theo Đạo luật Bắc Mỹ thuộc Anh vào ngày 1 tháng 7 năm 1867, ba thuộc địa hợp thành thuộc địa liên bang tự trị Canada. Sau đó thuộc địa tự trị dần sáp nhập thêm các tỉnh và lãnh thổ. Năm 1931, theo Quy chế Westminster 1931, Anh Quốc trao cho Canada tình trạng độc lập hoàn toàn trên hầu hết các vấn đề. Các quan hệ cuối cùng giữa hai bên bị đoạn tuyệt vào năm 1982 theo Đạo luật Canada 1982.

Canada là một nền dân chủ đại nghị liên bang và một quốc gia quân chủ lập hiến, Nữ hoàng Elizabeth II là nguyên thủ quốc gia. Canada là một thành viên của Khối thịnh vượng chung Anh. Canada là quốc gia song ngữ chính thức (tiếng Anh và tiếng Pháp) tại cấp liên bang. Do tiếp nhận người nhập cư quy mô lớn từ nhiều quốc gia, Canada là một trong các quốc gia đa dạng sắc tộc và đa nguyên văn hóa nhất trên thế giới, với dân số xấp xỉ 35 triệu người vào tháng 12 năm 2012. Canada có nền kinh tế rất phát triển và đứng vào nhóm hàng đầu thế giới, kinh tế Canada dựa chủ yếu vào nguồn tài nguyên tự nhiên phong phú và hệ thống thương mại phát triển cao. Canada có quan hệ lâu dài và phức tạp với Hoa Kỳ, mối quan hệ này có tác động đáng kể đến kinh tế và văn hóa của quốc gia.

Canada là một quốc gia phát triển và nằm trong số các quốc gia giàu có nhất trên thế giới, với thu nhập bình quân đầu người cao thứ tám toàn cầu, và chỉ số phát triển con người cao thứ 11. Canada được xếp vào hàng cao nhất trong các so sánh quốc tế về giáo dục, độ minh bạch của chính phủ, tự do dân sự, chất lượng sinh hoạt, và tự do kinh tế. Canada tham gia vào nhiều tổ chức quốc tế và liên chính phủ về kinh tế: G8, G20, Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương. Canada là một thành viên của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO).

Cúp bóng đá châu Đại Dương

Cúp bóng đá châu Đại Dương (tiếng Anh: OFC Nations Cup) là giải bóng đá giữa đội tuyển bóng đá quốc gia thuộc châu Đại Dương do Liên đoàn bóng đá châu Đại Dương (OFC) tổ chức. Giải lần đầu tiên diễn ra tại New Zealand năm 1973 và nhà vô địch đầu tiên là đội tuyển nước chủ nhà. Từ năm 1996, giải được tổ chức 2 năm 1 lần. Tính đến nay, đội tuyển bóng đá quốc gia Úc đã 4 lần vô địch. Tuy nhiên Úc đã rút khỏi Liên đoàn bóng đá châu Đại Dương từ 1 tháng 1 năm 2006 và gia nhập Liên đoàn bóng đá châu Á (AFC). Từ năm 2004, giải được tổ chức 4 năm 1 lần. Hiện nay, đội tuyển bóng đá quốc gia New Zealand đã 5 lần vô địch. Đương kim vô địch hiện nay là đội tuyển bóng đá quốc gia New Zealand với chức vô địch Cúp bóng đá châu Đại Dương 2016.

Indonesia

Indonesia tên chính thức là Cộng hòa Indonesia, (tiếng Indonesia: Republik Indonesia) trước đó trong tài liệu tiếng Việt quốc gia này từng được gọi là Nam Dương, là một đảo quốc lục địa nằm giữa Đông Nam Á và Châu Đại Dương. Indonesia được mệnh danh là "Xứ sở vạn đảo", lãnh thổ của nó bao gồm 13.487 hòn đảo và với dân số hơn 260 triệu người (năm 2019), đứng thứ tư thế giới về dân số và đứng thứ ba châu Á về dân số.

Indonesia là quốc gia có số dân theo Hồi giáo đông nhất thế giới; tuy nhiên khác với Malaysia và Brunei, trong Hiến pháp Indonesia không đề cập tới tôn giáo này là quốc giáo (do vậy không thể coi Indonesia là một quốc gia Hồi giáo giống như các nước Tây Á, Bắc Phi, Malaysia và Brunei). Indonesia theo thể chế cộng hòa với một bộ máy lập pháp và tổng thống do dân bầu. Indonesia có biên giới trên đất liền với Papua New Guinea, Đông Timor và Malaysia, ngoài ra giáp các nước Singapore, Philippines, Úc, và lãnh thổ Quần đảo Andaman và Nicobar của Ấn Độ. Thủ đô là Jakarta và đây cũng đồng thời là thành phố lớn nhất. Indonesia là 1 trong 5 thành viên sáng lập của ASEAN và là thành viên của G-20. Nền kinh tế Indonesia lớn thứ 16 toàn cầu theo GDP danh nghĩa và thứ 8 theo Sức mua tương đương, tuy nhiên do dân số đông nên GDP bình quân đầu người vẫn chỉ ở mức trung bình thấp.

Quần đảo Indonesia đã từng là một vùng thương mại quan trọng ít nhất từ thế kỷ VII, khi Vương quốc Srivijaya có hoạt động thương mại với Trung Quốc và Ấn Độ. Những vị vua cai trị địa phương dần tiếp thu văn hóa, tôn giáo và các mô hình chính trị Ấn Độ từ những thế kỷ đầu tiên của Công Nguyên, và các vương quốc Ấn Độ giáo cũng như Phật giáo đã bắt đầu phát triển. Lịch sử Indonesia bị ảnh hưởng bởi các cường quốc nước ngoài muốn nhòm ngó các nguồn tài nguyên thiên nhiên của họ. Các nhà buôn Hồi giáo đã đưa tới Đạo Hồi, và các cường quốc Châu Âu đã tranh giành để độc chiếm lĩnh vực thương mại trên các hòn đảo Hương liệu Maluku trong Thời đại Khám phá. Sau ba thế kỷ rưỡi dưới ách thực dân Hà Lan, Indonesia đã giành được độc lập sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Từ đó lịch sử Indonesia rơi vào cảnh biến động với các nguy cơ từ các thảm hoạ thiên nhiên, nạn tham nhũng và chia rẽ cũng như một quá trình dân chủ hoá, và các giai đoạn thay đổi kinh tế nhanh chóng.

Tuy gồm rất nhiều hòn đảo, Indonesia vẫn gồm các nhóm sắc tộc, ngôn ngữ và tôn giáo riêng biệt. Người Java là nhóm sắc tộc đông đúc và có vị thế chính trị lớn nhất. Với tư cách là một nhà nước duy nhất và một quốc gia, Indonesia đã phát triển một tính đồng nhất được định nghĩa bởi một ngôn ngữ quốc gia, sự đa dạng chủng tộc, sự đa dạng tôn giáo bên trong một dân số đa số Hồi giáo, và một lịch sử thực dân cùng những cuộc nổi dậy chống lại nó.

Khẩu hiệu quốc gia của Indonesia, "Bhinneka tunggal ika" ("Thống nhất trong đa dạng", theo nghĩa đen "nhiều, nhưng là một"), đã thể hiện rõ sự đa dạng hình thành nên quốc gia này. Tuy nhiên, những căng thẳng tôn giáo và chủ nghĩa ly khai đã dẫn tới những xung đột bạo lực đe doạ sự ổn định kinh tế và chính trị. Dù có dân số lớn và nhiều vùng đông đúc, Indonesia vẫn có nhiều khu vực hoang vu và là quốc gia có mức độ đa dạng sinh học đứng hàng thứ hai thế giới. Nước này rất giàu các nguồn tài nguyên thiên nhiên, có một lãnh thổ rộng nhất trong các nước Đông Nam Á, tuy vậy sự nghèo khó vẫn là một đặc điểm của Indonesia hiện đại.

Jayapura

Jayapura, cũng gọi là Djajapura, là thành phố ở phía đông Indonesia, thủ phủ của Papua. Thành phố nằm ở chân dãy núi Cyclops, bên vịnh Yos Sudarso (vịnh Humboldt), bờ biển bắc của New Guinea. Dân số năm 2002 khoảng 200.000 người. Đây là một trung tâm của một khu vực trồng cacao, dừa, rau và chăn nuôi gia súc. Thành phố này được người Hà Lan thành lập năm 1910 và đã là trung tâm hành chính của Hollandia. Đây đã là căn cứ của Nhật Bản trong thế chiến II cho đến khi Đồng Minh chiếm giữ vào năm 1944 và thành phố đã trở thành thủ đô của thuộc địa New Guinea thuộc Hà Lan giai đoạn 1949-1962. Sau đó thành phố đã được chuyển sang cho Liên Hiệp Quốc kiểm soát và đã được đặt dưới quyền kiểm soát của Indonesia năm 1963 và được đổi tên thành Sukarnapura. Thành phố này có tên như hiện này vào năm 1969.

Katy Perry

Katheryn Elizabeth Hudson (sinh ngày 25 tháng 10 năm 1984) được biết đến với nghệ danh Katy Perry, là nữ ca sĩ kiêm sáng tác nhạc người Mỹ. Sinh ra ở Santa Barbara bang California, thời thơ ấu, cô thường hát trong nhà thờ. Sau đó, cô theo đuổi dòng nhạc Phúc âm ở lứa tuổi thiếu niên. Cô ký hợp đồng với Red Hill Records và phát hành album đầu tay Katy Hudson năm 16 tuổi (2001), tuy vậy, album này gặp thất bại về doanh số. Năm kế tiếp, cô chuyển đến Los Angeles và hợp tác với những nhà sản xuất Glen Ballard, Dr. Luke và Max Martin. Sau khi chuyển nghệ danh thành Katy Perry và bị The Island Def Jam Music Group và Columbia Records sa thải, cô ký hợp đồng thu âm cùng hãng Capitol Records vào tháng 4 năm 2007.

Perry bắt đầu nổi tiếng khi phát hành đĩa đơn "I Kissed a Girl" cùng album phòng thu thứ hai One of the Boys (2008). Album phòng thu thứ ba, Teenage Dream (2010) tiếp tục ra mắt hàng loạt các đĩa đơn đứng đầu Billboard Hot 100 như "California Gurls", "Teenage Dream", "Firework", "E.T.", "Last Friday Night (T.G.I.F.)", cũng như đĩa đơn đạt đến top 3 "The One That Got Away". Đây là album đầu tiên của một nữ nghệ sĩ có 5 đĩa đơn ăn khách đạt vị trí quán quân trong lịch sử Billboard Hot 100 và là album thứ hai trong tổng thể, chỉ đứng sau Bad (1987) của Michael Jackson. Vào tháng 3 năm 2012, cô tái bản lại album này với tên gọi Teenage Dream: The Complete Confection, gồm có đĩa đơn quán quân "Part of Me" và Á quân "Wide Awake". Album phòng thu thứ tư, Prism (2013) cho phát hành 5 đĩa đơn, trong đó có 2 đĩa đơn quán quân "Roar" và "Dark Horse", cô trở thành nghệ sĩ đầu tiên có nhiều video đạt hơn một tỷ lượt xem tại Vevo cho hai bài hát này. Album thứ năm của cô, Witness, phát hành vào năm 2017, là album quán quân thứ ba của cô trên Billboard 200 của Hoa Kỳ.

Perry đã nhận được nhiều giải thưởng và đề cử, gồm 4 Kỷ lục Guinness Thế giới, 5 Giải thưởng Âm nhạc Mỹ, giải Brit và giải Juno, đạt danh hiệu "Người phụ nữ của năm 2012" do tạp chí âm nhạc Billboard bình chọn và lọt vào danh sách "Nữ nghệ sĩ bội thu nhất trong âm nhạc" của tạp chí Forbes (2011–2016). Ước tính tài sản của cô vào năm 2016 là 125 triệu USD. Xuyên suốt sự nghiệp âm nhạc, Perry đã bán ra hơn 100 triệu đĩa đơn trên toàn thế giới, giúp cô trở thành một trong những nghệ sĩ âm nhạc có doanh số lớn nhất mọi thời đại.

Về điện ảnh, cô phát hành bộ phim tài liệu tiểu sử Katy Perry: Part of Me (2012), lồng tiếng cho bộ phim điện ảnh The Smurfs năm 2011 và phần tiếp theo trong năm 2013. Cô cũng cho ra nhiều sản phẩm thương mại theo tên tuổi của mình, như các dòng nước hoa Purr, Meow, và Killer Queen.

Liên đoàn bóng đá châu Đại Dương

Liên đoàn bóng đá châu Đại Dương (tiếng Anh: Oceania Football Confederation; viết tắt: OFC) là một trong 6 liên đoàn bóng đá cấp châu lục của hiệp hội bóng đá quốc tế. OFC được thành lập ngày 15 tháng 11 năm 1966.

Melanesia

Melanesia (UK: / mɛləˈniːziə /, US: / mɛləˈniːʒə /) là một tiểu vùng của Châu Đại Dương kéo dài từ đảo New Guinea ở tây nam Thái Bình Dương đến Biển Arafura và về phía đông đến Fiji.

Khu vực này bao gồm bốn quốc gia độc lập Vanuatu, Quần đảo Solomon, Fiji và Papua New Guinea, cũng như tập thể đặc biệt của Pháp ở New Caledonia và khu vực Tây New Guinea của Indonesia. Hầu hết các khu vực là ở Nam bán cầu, với một vài hòn đảo nhỏ phía tây bắc của Tây New Guinea ở Bắc bán cầu.

Cái tên Melanesia (theo tiếng Pháp Mélanésie) được Jules Dumont d'Urville sử dụng lần đầu tiên vào năm 1832 để biểu thị một nhóm dân tộc và địa lý của những hòn đảo mà cư dân mà ông nghĩ là khác biệt với Micronesia và Polynesia.

Paris

Paris là thủ đô của nước Pháp, cũng là một trong ba thành phố phát triển kinh tế nhanh nhất thế giới cùng Luân Đôn và New York và cũng là một trung tâm hành chính của vùng Île-de-France. Nằm ở phía bắc nước Pháp, khu vực trung tâm của châu Âu, Paris được xây dựng hai bên bờ sông Seine với tâm là đảo Île de la Cité. Đây cũng là nơi hợp lưu của sông Seine và sông Marne.

Paris nằm ở điểm gặp nhau của các hành trình thương mại đường bộ và đường sông, và là trung tâm của một vùng nông nghiệp giàu có. Vào thế kỷ 10, Paris đã là một trong những thành phố chính của Pháp cùng các cung điện hoàng gia, các tu viện và nhà thờ. Từ thế kỷ 12, Paris trở thành một trong những trung tâm của châu Âu về giáo dục và nghệ thuật. Thế kỷ 14, Paris là thành phố quan trọng bậc nhất của Cơ Đốc giáo và trong các thế kỷ 16, 17, đây là nơi diễn ra Cách mạng Pháp cùng nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của Pháp và châu Âu. Đến thế kỷ 19 và 20, thành phố trở thành một trong những trung tâm văn hóa của thế giới, thủ đô của nghệ thuật và giải trí.

Năm 2018, nội ô Paris có dân số là 2.206.488 người, mật độ 21.000 người/km², thuộc hàng cao nhất trong các thủ đô châu Âu. Nếu tính toàn bộ vùng đô thị Paris, vào năm 2013, dân số Paris là 12,405,426 người. Là thành phố thủ đô, Paris tập trung các hoạt động văn hóa, tài chính, thương mại... của toàn nước Pháp. Năm 2016, GDP của Paris cùng với toàn vùng Île-de-France đạt 681 tỷ euro, tương đương với nước Hà Lan.

Nổi tiếng với tên gọi Kinh đô ánh sáng, Paris là một trung tâm văn hóa lớn của thế giới và cũng là một trong những thành phố du lịch thu hút nhất. Sự nhộn nhịp, các công trình kiến trúc và không khí nghệ sĩ đã giúp Paris mỗi năm có đến 30 triệu khách nước ngoài. Thành phố còn được xem như kinh đô của thời trang cao cấp với nhiều khu phố xa xỉ cùng các trung tâm thương mại lớn. Là nơi đặt trụ sở chính của các tổ chức quốc tế như OECD, UNESCO... cộng với những hoạt động đa dạng về tài chính, kinh doanh, chính trị và du lịch đã khiến Paris trở thành một trong những trung tâm trung chuyển lớn nhất trên thế giới và được coi như một trong bốn "thành phố toàn cầu" cùng với New York, Luân Đôn và Tokyo.

Polynesia

Polynesia (tiếng Việt: Pô-li-nê-di hay Đa Đảo) là một phân vùng của châu Đại Dương, gồm khoảng trên 1.000 đảo ở phía trung và nam Thái Bình Dương. Dân cư Polynesia có những nét tương đồng về nền văn hoá, ngôn ngữ và tín ngưỡng. Thuật ngữ "Polynesia" được Charles de Brosses, một nhà văn người Pháp, sử dụng lần đầu tiên vào năm 1756, và ban đầu dùng để chỉ tất cả các đảo trên Thái Bình Dương.

Saipan

Saipan (, tên gọi cũ trong tiếng Tây Ban Nha: Saipán) là hòn đảo lớn nhất của Thịnh vượng chung Quần đảo Bắc Mariana thuộc Hoa Kỳ, một chuỗi 15 hòn đảo nhiệt đới nằm trên quần đảo Mariana phía tây Thái Bình Dương. Theo điều tra dân số năm 2017, dân số của hòn đảo khoảng 52.263 người.

Trung tâm hành chính của của nó là tại làng Capitol Hill nằm trên đảo. Vì toàn bộ hòn đảo được tổ chức thành một đô thị duy nhất nên hầu hết các ấn phẩm chỉ định Saipan là thủ đô của khối thịnh vượng chung này.

San Francisco

San Francisco (), tên chính thức Thành phố và Quận San Francisco (tiếng Anh: City and County of San Francisco), là một trung tâm văn hóa và tài chính hàng đầu của Bắc California và vùng vịnh San Francisco.

Là quận-thành phố thống nhất duy nhất của tiểu bang California, San Francisco chiếm một diện tích khoảng 46,9 dặm vuông Anh (121 km2) trên đầu phía bắc của bán đảo San Francisco. Mật độ dân số của nó là khoảng 17.620 người trên một dặm vuông Anh (6.803 người trên một cây số vuông). Đây là thành phố lớn (dân số trên 200 ngàn người) có mật độ dân cư đông nhất trong tiểu bang California và là thành phố lớn có mật độ dân số đông thứ hai tại Hoa Kỳ, chỉ sau Thành phố New York. San Francisco là thành phố đông dân thứ tư tại California, sau Los Angeles, San Diego và San Jose, và đứng thứ 14 đông dân nhất tại Hoa Kỳ theo ước tính điều tra dân số năm 2012 là 825.863. Thành phố cũng là một trung tâm văn hóa và tài chính của vùng thống kê kết hợp San Jose-San Francisco-Oakland với tổng dân số 8,4 triệu dân.

San Francisco (tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là "Thánh Phanxicô") được thành lập ngày 29 tháng 6 năm 1776 khi những người thực dân từ Tây Ban Nha thiết lập một doanh trại quân sự tại Golden Gate và một hội truyền giáo được đặt tên là Thánh Phanxicô thành Assisi cách đó vài dặm Anh. Cơn sốt vàng California năm 1849 mang đến sự phát triển nhanh chóng cho thành phố và biến nó thành thành phố lớn nhất trên Tây Duyên hải Hoa Kỳ vào thời điểm đó. Vì sự phát triển dân số, San Francisco trở thành một quận-thành phố thống nhất vào năm 1856.

Sau khi ba phần tư thành phố bị tàn phá bởi trận cháy và động đất năm 1906, San Francisco nhanh chóng được tái xây dựng và tổ chức Hội chợ Quốc Panama-Thái Bình Dương chín năm sau đó. Trong thời Chiến tranh thế giới thứ hai, San Francisco là cảng đưa quân phục vụ Mặt trận Thái Bình Dương. Sau chiến tranh, binh sĩ phục vụ chiến tranh trở về, cuộc di dân khổng lồ, những tư tưởng và thái độ tự do cấp tiến cũng như nhiều nhân tố khác đã hội tựu tại đây và hình thành một hiện tượng xã hội "Summer of Love" và phong trào dân quyền của người đồng tính, biến thành phố San Francisco thành một trung tâm của chủ nghĩa vận động cho tự do cấp tiến tại Hoa Kỳ.

Ngày nay, San Francisco được xếp thứ 44 là điểm đến du lịch trên thế giới, và hạng sáu điểm đến du lịch tại Hoa Kỳ vào năm 2011. Thành phố nổi tiếng vì mùa hè mát mẻ, sương mù, đồi dốc trùng điệp, kiến trúc đa dạng, và những danh lam thắng cảnh trong đó có cầu Cổng Vàng, xe chạy bằng dây cáp, nhà tù xưa trên đảo Alcatraz, và khu Phố Tàu. Thành phố cũng là một trung tâm tài chính và ngân hàng chính yếu.

The Red Tour

The Red Tour là chuyến lưu diễn thứ ba của nữ ca sĩ-nhạc sĩ người Mỹ Taylor Swift nhằm quảng bá cho album phòng thu thứ tư của cô, Red (2012). Chuyến lưu diễn diễn ra ở 4 châu lục, bắt đầu tại Omaha vào ngày 13 tháng 3 năm 2013 và kết thúc tại Singapore vào ngày 12 tháng 6 năm 2014. Đây là lần đầu tiên Swift trình diễn tại những nước Hồi giáo như Malaysia và Indonesia.

Swift biểu diễn trên hai sân khấu khác nhau, thay đổi nhiều trang phục và trình diễn bằng nhiều loại nhạc cụ như guitar điện, guitar acoustic, piano và băng cầm trong suốt chương trình. Danh sách tiết mục phần lớn lấy từ Red kết hợp với một số ca khúc nằm trong các album phòng thu trước đây của Swift. Tại nhiều thành phố, nữ ca sĩ còn gây bất ngờ cho khán giả bằng việc mời nhiều nghệ sĩ lên sân khấu và song ca cùng cô. Chuyến lưu diễn nhận được nhiều phản hồi chuyên môn rất tích cực, một số nhà phê bình âm nhạc còn nhận thấy sự biến chuyển trong phong cách của Swift từ dòng nhạc đồng quê sang dòng nhạc pop.

Do lượng yêu cầu cao từ phía khán giả sau khi vé tại nhiều đấu trường và sân vận động được bán hết, Swift bổ sung thêm nhiều đêm diễn vào lịch trình. Doanh thu của The Red Tour tại Hoa Kỳ và Canada đạt 115,3 triệu USD (118.545 triệu USD theo thời giá năm 2018), trở thành chuyến lưu diễn thành công nhất về mặt thương mại tại khu vực Bắc Mỹ năm 2013. Tổng cộng, chuyến lưu diễn đã phục vụ hơn 1,7 triệu khán giả tại 12 quốc gia, thu về 150,2 triệu USD (151.952 triệu USD theo thời giá năm 2018) từ 86 buổi diễn cháy vé, vượt qua kỉ lục doanh thu của Soul2Soul II Tour do Tim McGraw và Faith Hill khởi xướng để trở thành chuyến lưu diễn có doanh thu cao nhất mọi thời đại bởi một nghệ sĩ nhạc đồng quê.

Tân Thế giới

Tân thế giới là một tên gọi được sử dụng để chỉ châu Mỹ (bao gồm Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Trung Mỹ và Caribe cũng như các đảo xung quanh một cách tổng thể) được sử dụng từ thế kỷ 16. Châu Mỹ vào thời điểm đó là hoàn toàn mới đối với người châu Âu, là những người trước đó cho rằng thế giới chỉ bao gồm châu Âu, châu Á và châu Phi (hay Cựu thế giới). Thuật ngữ "Tân thế giới" không nên nhầm lẫn với các thuật ngữ "thế giới mới" hay "thế giới hiện đại" (mặc dù "tân" cũng có nghĩa là "mới") vì các cụm từ sau nói chung được dùng để chỉ thế giới theo dòng thời gian lịch sử, chứ không phải là để chỉ các vùng đất.

Thuật ngữ này do nhà thám hiểm người Florence Amerigo Vespucci đưa ra. Châu Mỹ cũng được gọi là "phần thứ tư của thế giới".

Victoria (Úc)

37°0′N 144°0′Đ

Victoria là một tiểu bang nằm tại góc đông nam của Úc. Tuy là tiểu bang có diện tích nhỏ thứ nhì (sau Tasmania), Victoria có dân số cao nhất Úc - vào năm 2005 dân số của Victoria đạt hơn 5 triệu người. Thủ phủ của Victoria là Melbourne, nơi tập trung hơn 70% dân số của tiểu bang.

Các quốc gia và lãnh thổ tại Châu Đại Dương
Quốc gia có chủ quyền
Bộ phận của
Quốc gia có chủ quyền
Lãnh thổ phụ thuộc

lãnh thổ khác
Các khu vực trên thế giới

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.