Châu Úc

Châu Úc (còn gọi là Úc-New Guinea, Australinea, Sahul hay Meganesia) là một châu lục bao phủ Australia (Úc) lục địa, Tasmania, Tân Guinea, cùng các đảo ở giữa chúng. Châu lục này có eo biển Torres nằm giữa Úc và Tân Guinea, và eo biển Bass giữa đại lục Úc và Tasmania. Tuy nhiên dưới góc độ sinh họcđịa chất học thì chúng là một tổng thể duy nhất. Úc là nước duy nhất nằm trọn châu lục này. Mặc dù châu Úc là châu có diện tích nhỏ nhất trong 5 châu lục nhưng nó lại được nhớ nhất bởi vì đây cũng chính là hòn đảo lớn nhất thế giới. Dân số tính đến năm 2007 là hơn 29 triệu dân. châu Úc rộng khoảng 8,56 triệu km².[1]

Châu Úc
Australia-New Guinea (orthographic projection)
Diện tích8.600.000 km2 (3.300.000 sq mi) (hạng 7)
Dân số38.000.000 (ước tính dân số Úc, Papua New Guinea, Papua và West Papua năm 2019)
Mật độ dân số4,2 /km2 (11 /sq mi)
Tên gọi dân cưÚc
Quốc gia3 (Úc, Papua New Guinea và một phần Indonesia)
Ngôn ngữTiếng Anh, Indonesia, câc ngôn ngữ nhóm Austronesian, v.v.
Múi giờGMT+10, GMT+9.30, GMT+8
Tên miền Internet.au, .pg.id
Thành phố lớn nhất
Topography of australia
Hình chụp tô pô của châu Úc

Đặc điểm

Lục địa Australia có khí hậu khô hạn, phần lớn diện tích là hoang mạc và xa van. Giới sinh vật có nhiều loài độc đáo. Bạch đàncây keo mọc ở nhiều nơi. Động vật có nhiều loaì thú có túi như kangaroo, gấu koala, gấu túi ở Úc,...

Phần lớn các đảo có khí hậu nóng ẩm, có rừng rậm hoặc rừng dừa bao phủ.

Người dân

Châu Úc có số dân ít nhất trong các châu lục có dân cư sinh sống. Trên lục địa Australia và quần đảo New Zealand, dân cư chủ yếu là người da trắng (con cháu người Anh di cư sang từ những thế kỉ trước), còn trên các đảo khác thì dân cư chủ yếu là người bản địa có da màu sẫm, mắt đen và tóc xoăn.

Kinh tế

Australia là nước có nền kinh tế phát triển, nổi tiếng trên thế giới về xuất khẩu lông cừu, len, thịt bò, sữa,... Các ngành công nhiệp năng lượng, khai khoáng, luyện kim, chế tạo máy, chế biến thực phẩm phát triển mạnh.

Hình ảnh

Kangur.rudy.drs
Kangaroo đỏ
Casuarius casuarius - double-wattled cassowary
Đà điểu đầu mào
Emoe
Đà điểu châu Úc

Tham khảo

  1. ^ “Is Australia a Country or a Continent? - Country Digest”. Country Digest (bằng tiếng en-US). 7 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2018.
Berardius

Berardius là một chi động vật có vú trong họ Ziphiidae, bộ Cetacea. Chi này được Duvernoy miêu tả năm 1851. Loài điển hình của chi này là Berardius arnuxii Duvernoy, 1851.

Christina Aguilera

Christina María Aguilera (sinh ngày 18 tháng 12 năm 1980) là một nữ ca sĩ nhạc Pop/R&B, người viết bài hát và diễn viên người Mỹ. Cô cũng được nhắc đến trên sân khấu bằng nghệ danh viết tắt là Xtina và Baby Jane. Cô được công chúng trao tặng danh hiệu "Giọng ca của thế hệ" và "Nữ hoàng của Sự đổi mới" ("Queen of Reinvention"). Aguilera được xem là một biểu tượng văn hóa nổi bật trong cuối thập niên 1990 và trong thập niên 2000 nhờ những ấn hành nhạc cũng như phong cách ngoại hình luôn được đổi mới. Cô bắt đầu xuất hiện trước công chúng trong một số chương trình truyền hình bao gồm Star Search và The Mickey Mouse Club.

Sau khi thu âm bài hát "Reflection" cho bộ phim Mulan của hãng Walt Disney, cô có được hợp đồng với hãng RCA và bắt đầu nổi tiếng khi phát hành album mang chính tên cô mang thể loại teen pop rất thịnh hành lúc đó vào năm 1999. Sau đó, cô lột xác trong Stripped (2002) với những thể loại mới và đa dạng gồm R&B, pop rock hay soul. Stripped giúp Aguilera trở thành một "biểu tượng sex" khi mang hơi hướm của tình dục vào các bài hát cũng như trong các video âm nhạc như "Dirrty". Năm 2006, Aguilera trở lại trong album Back to Basics với phong cách âm nhạc của những năm 1920-1940. Các album Bionic và Lotus phát hành lần lượt vào năm 2010 và 2012 với những thành công không đáng kể. Ngoài âm nhạc, Aguilera còn được các nhà phê bình khen ngợi việc diễn xuất của cô trong phim điện ảnh nhạc kịch Burlesque (2010). Các ca khúc đã gắn liền với tên tuổi của cô bao gồm "Genie in a Bottle", "Lady Marmalade", "Dirrty", "Beautiful", "Fighter" và "Ain't No Other Man".

Bên cạnh ngoại hình ưa nhìn, Aguilera còn có một chất giọng mạnh mẽ và cao vút. Điều này giúp Aguilera liên tục gặt hái các giải thưởng danh giá, đặc biệt là 5 giải Grammy và 1 giải Latin Grammy. Aguilera là một trong các nghệ sĩ bán đĩa chạy nhất với 50 triệu bản album và 52 triệu đĩa đơn được tiêu thụ trên thế giới, và đứng thứ hai trong số các nghệ sĩ bán được nhiều đĩa đơn nhất thập niên 2000 tính riêng tại Mỹ, chỉ sau Madonna. Tạp chí danh tiếng Rolling Stone xếp Aguilera đứng thứ 58 trong danh sách "100 Ca sĩ vĩ đại nhất mọi thời đại" với tiêu chí dựa trên giọng hát, cô là ca sĩ trẻ nhất và là người duy nhất dưới 30 tuổi trong danh sách lúc bấy giờ. Ngoài ra, cô còn sở hữu một ngôi sao trên Đại lộ Danh vọng Hollywood, là ca sĩ thể hiện hai bài hát được đề cử Giải Quả cầu vàng cho ca khúc trong phim hay nhất, thủ vai chính trong bộ phim ca nhạc đình đám Burlesque và giám khảo cho chương trình truyền hình nổi tiếng The Voice. Bên cạnh hoạt động nghệ thuật, Aguilera còn cống hiến rất nhiều cho các công việc từ thiện về nhân quyền, nữ quyền... và đóng vai trò đại sứ của Liên Hiệp Quốc cho "Chương trình Lương thực Thế giới". Năm 2013, Christina được vinh danh trong danh sách "100 nhân vật có ảnh hưởng lớn nhất thế giới năm 2013" bởi tạp chí Time.

Cá heo mũi chai

Tursiops truncatus, thường được biết đến như Cá heo mũi chai thông thường hay Cá heo mũi chai Đại Tây Dương (và trong tài liệu cũ chỉ đơn giản là Cá heo mũi chai) là một loài nổi tiếng trong họ Delphinidae, bộ Cetacea. Loài này được Montagu mô tả năm 1821.

Cá heo voi lùn

Cá heo voi lùn (danh pháp hai phần: Feresa attenuata) là một loài động vật thuộc họ Cá heo mỏ. Cá heo voi lùn ước tính dân số chỉ có 38.900 cá thể trong các vùng nhiệt đới phía đông Thái Bình Dương.

Cá voi mõm khoằm Baird

Berardius bairdii là một loài động vật có vú trong họ Ziphiidae, bộ Cetacea. Loài này được Stejneger mô tả năm 1883.

Danh sách chi khủng long

Dưới đây là danh sách toàn bộ các chi khủng long đã biết thuộc liên bộ Dinosauria, trừ lớp Aves (chim). Danh sách này bao gồm cả những chi mà bây giờ không được xem là khủng long, hoặc đang trong vòng nghi ngờ (nomen dubium), hoặc chưa được công bố chính thức (nomen nudum), cũng như những tên gọi khác của chúng. Rất nhiều tên trong danh sách này đã được phân loại lại thành chim, cá sấu, thậm chí còn có gỗ hóa đá nữa. Tổng cộng có 1559 tên, trong đó khoảng 1192 (1191 nếu theo danh sách của Olshevsky) là tên của các chi khủng long hợp lệ hiện nay hoặc nomen dubium.

Elatostema

Elatostema hay thường gọi tiếng Việt chi cao hùng là chi thực vật có hoa trong họ Tầm ma. Chi này bao gồm khoảng 350 loài đã được biết đến, trên thực tế có thể lên tới 1.000 loài, phân bổ ở rừng nhiệt đới khắp các khu vực thuộc châu Á, châu Phi, châu Úc. Nhiều loài thuộc Elatostema có thể được dùng làm rau hoang dã ăn được hoặc biết đến dùng làm thuốc. Ngày nay được sự hỗ trợ của công nghệ phân tích DNA người ta thấy rằng các chi Elastostema, Pellionia, và Pilea có quan hệ gần gũi và có thể nhập làm một.

Họ Đà điểu châu Úc

Họ Đà điểu châu Úc (danh pháp khoa học: Casuariidae) là một họ chim chạy hiện còn 4 loài sinh tồn, trong đó có 3 loài đà điểu đầu mào và 1 loài đà điểu châu Úc (chim emu) và khoảng 4-5 loài đã tuyệt chủng. Đà điểu Úc trước đây được phân loại trong họ riêng của chính nó, gọi là Dromaiidae, nhưng hiện nay được coi là có quan hệ họ hàng đủ gần với các loài đà điểu đầu mào để có thể coi là một phần của họ này. Khi bộ Đà điểu (Struthioniformes) được hiểu theo nghĩa rộng thì họ này thuộc về bộ đã đề cập, nhưng khi tiếp cận theo nghĩa hẹp thì họ thuộc về bộ của chính nó, tên khoa học gọi là Casuariiformes.

Tất cả bốn thành viên còn sinh tồn của họ là các loài chim không biết bay to lớn bản địa của khu vực Australia-New Guinea.

Indonesia

Indonesia tên chính thức là Cộng hòa Indonesia, (tiếng Indonesia: Republik Indonesia) trước đó trong tài liệu tiếng Việt quốc gia này từng được gọi là Nam Dương, là một đảo quốc lục địa nằm giữa Đông Nam Á và Châu Đại Dương. Indonesia được mệnh danh là "Xứ sở vạn đảo", lãnh thổ của nó bao gồm 13.487 hòn đảo và với dân số hơn 260 triệu người (năm 2019), đứng thứ tư thế giới về dân số và đứng thứ ba châu Á về dân số.

Indonesia là quốc gia có số dân theo Hồi giáo đông nhất thế giới; tuy nhiên khác với Malaysia và Brunei, trong Hiến pháp Indonesia không đề cập tới tôn giáo này là quốc giáo (do vậy không thể coi Indonesia là một quốc gia Hồi giáo giống như các nước Tây Á, Bắc Phi, Malaysia và Brunei). Indonesia theo thể chế cộng hòa với một bộ máy lập pháp và tổng thống do dân bầu. Indonesia có biên giới trên đất liền với Papua New Guinea, Đông Timor và Malaysia, ngoài ra giáp các nước Singapore, Philippines, Úc, và lãnh thổ Quần đảo Andaman và Nicobar của Ấn Độ. Thủ đô là Jakarta và đây cũng đồng thời là thành phố lớn nhất. Indonesia là 1 trong 5 thành viên sáng lập của ASEAN và là thành viên của G-20. Nền kinh tế Indonesia lớn thứ 16 toàn cầu theo GDP danh nghĩa và thứ 8 theo Sức mua tương đương, tuy nhiên do dân số đông nên GDP bình quân đầu người vẫn chỉ ở mức trung bình thấp.

Quần đảo Indonesia đã từng là một vùng thương mại quan trọng ít nhất từ thế kỷ VII, khi Vương quốc Srivijaya có hoạt động thương mại với Trung Quốc và Ấn Độ. Những vị vua cai trị địa phương dần tiếp thu văn hóa, tôn giáo và các mô hình chính trị Ấn Độ từ những thế kỷ đầu tiên của Công Nguyên, và các vương quốc Ấn Độ giáo cũng như Phật giáo đã bắt đầu phát triển. Lịch sử Indonesia bị ảnh hưởng bởi các cường quốc nước ngoài muốn nhòm ngó các nguồn tài nguyên thiên nhiên của họ. Các nhà buôn Hồi giáo đã đưa tới Đạo Hồi, và các cường quốc Châu Âu đã tranh giành để độc chiếm lĩnh vực thương mại trên các hòn đảo Hương liệu Maluku trong Thời đại Khám phá. Sau ba thế kỷ rưỡi dưới ách thực dân Hà Lan, Indonesia đã giành được độc lập sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Từ đó lịch sử Indonesia rơi vào cảnh biến động với các nguy cơ từ các thảm hoạ thiên nhiên, nạn tham nhũng và chia rẽ cũng như một quá trình dân chủ hoá, và các giai đoạn thay đổi kinh tế nhanh chóng.

Tuy gồm rất nhiều hòn đảo, Indonesia vẫn gồm các nhóm sắc tộc, ngôn ngữ và tôn giáo riêng biệt. Người Java là nhóm sắc tộc đông đúc và có vị thế chính trị lớn nhất. Với tư cách là một nhà nước duy nhất và một quốc gia, Indonesia đã phát triển một tính đồng nhất được định nghĩa bởi một ngôn ngữ quốc gia, sự đa dạng chủng tộc, sự đa dạng tôn giáo bên trong một dân số đa số Hồi giáo, và một lịch sử thực dân cùng những cuộc nổi dậy chống lại nó.

Khẩu hiệu quốc gia của Indonesia, "Bhinneka tunggal ika" ("Thống nhất trong đa dạng", theo nghĩa đen "nhiều, nhưng là một"), đã thể hiện rõ sự đa dạng hình thành nên quốc gia này. Tuy nhiên, những căng thẳng tôn giáo và chủ nghĩa ly khai đã dẫn tới những xung đột bạo lực đe doạ sự ổn định kinh tế và chính trị. Dù có dân số lớn và nhiều vùng đông đúc, Indonesia vẫn có nhiều khu vực hoang vu và là quốc gia có mức độ đa dạng sinh học đứng hàng thứ hai thế giới. Nước này rất giàu các nguồn tài nguyên thiên nhiên, có một lãnh thổ rộng nhất trong các nước Đông Nam Á, tuy vậy sự nghèo khó vẫn là một đặc điểm của Indonesia hiện đại.

Kitô giáo

Kitô giáo (thuật ngữ phiên âm) hay Cơ Đốc giáo (thuật ngữ Hán Việt) là một trong các tôn giáo khởi nguồn từ Abraham, đặt nền tảng trên giáo huấn, sự chết trên thập tự giá và sự sống lại của Giêsu Kitô như được ký thuật trong Kinh thánh Tân Ước. Kitô hữu (Cơ Đốc nhân) tin rằng Giêsu là Con của Thiên Chúa và là Đấng Messiah của người Do Thái như đã được tiên báo trong Kinh thánh Cựu Ước. Thuộc tôn giáo độc thần, hầu hết Kitô hữu tin rằng chỉ có một Thiên Chúa duy nhất hiện hữu trong ba thân vị (tiếng Hy Lạp: hypostasis) gọi là Ba Ngôi. Kitô giáo đóng một vai trò quan trọng trong nền văn hóa và văn minh phương Tây.

Trải qua hai thiên niên kỷ, các bất đồng về thần học và giáo hội học đã hình thành các hệ phái Kitô giáo khác nhau. Bốn nhánh chính hiện nay của Kitô giáo là Công giáo Rôma, Kháng Cách (Tin Lành), Chính Thống giáo Đông phương, và Chính Thống giáo Cựu Đông phương. Công giáo Tây phương, Chính Thống giáo Đông phương và Chính thống giáo Cựu Đông phương cắt đứt hiệp thông với nhau trong cuộc Ly giáo Đông–Tây năm 1054 và cuộc Ly giáo Chalcedon khởi đầu năm 451. Kháng Cách (cũng thường gọi là Tin Lành), không phải là một hệ phái đơn nhất nhưng là thuật từ nhóm hợp, phát sinh từ cuộc Cải cách Kháng nghị thế kỷ 16. Tính chung, Kitô giáo là tôn giáo lớn nhất thế giới với khoảng 2,3 tỉ tín hữu, chiếm hơn 31% dân số thế giới (năm 2015).Từ nguyên của "Kitô" là Χριστός (Khristos) trong tiếng Hy Lạp, nghĩa là "Đấng được xức dầu", dịch theo danh hiệu Messiah trong tiếng Hebrew. Trong tiếng Việt, người Công giáo dùng từ "Kitô" để gọi danh hiệu này của Giêsu, trong khi người Tin Lành thường dùng từ "Christ". Bên cạnh từ "Kitô" phiên âm qua tiếng Bồ Đào Nha được sử dụng bởi tín hữu Công giáo, còn có từ "Cơ Đốc" xuất phát từ chữ Nho (基督) và thường được tín hữu Tin Lành sử dụng. Ngoài ra, một số người cũng dùng cách gọi Thiên Chúa giáo để chỉ Công giáo nói riêng và Kitô giáo nói chung.

Madonna (ca sĩ)

Madonna Louise Veronica Ciccone (; tiếng Ý: [tʃikˈkoːne]; sinh ngày 16 tháng 8 năm 1958) là nữ ca sĩ, người viết bài hát, diễn viên và thương nhân người Mỹ. Bà nổi danh trong việc phá bỏ giới hạn nội dung ca từ trong văn hóa âm nhạc đại chúng và hình tượng trong các video âm nhạc, thường xuyên xuất hiện trên MTV. Madonna còn được biết đến bởi khả năng biến hóa âm nhạc và hình ảnh của mình, đồng thời giữ vững quyền tự chủ trong ngành công nghiệp thu âm. Các nhà phê bình thường đón nhận các sản phẩm âm nhạc của bà một cách nồng nhiệt, cho dù gây nên một vài tranh cãi. Được mệnh danh là "Nữ hoàng nhạc pop", bà là nguồn cảm hứng cho nhiều nghệ sĩ khác trên toàn thế giới.

Sinh ra tại Thành phố Bay, Michigan, Madonna tìm đến thành phố New York để theo đuổi nghiệp vũ công vào năm 1977. Sau khi trình diễn trong nhóm nhạc Breakfast Club và Emmy, bà ký kết hợp đồng cùng Sire Records (một hãng thu âm con của Warner Bros. Records) vào năm 1982 và phát hành album đầu tay cùng tên trong năm kế tiếp. Bà tiếp tục thực hiện một chuỗi các album thành công về thương mại, bao gồm chủ nhân giải Grammy Ray of Light (1998) và Confessions on a Dance Floor (2005). Trong xuyên suốt sự nghiệp, Madonna đã sáng tác và sản xuất cho hầu hết các bài hát của mình, bao gồm nhiều đĩa đơn đạt vị trí số 1 tại các bảng xếp hạng thu âm như "Like a Virgin", "Into the Groove", "Papa Don't Preach", "Like a Prayer", "Vogue", "Frozen", "Music", "Hung Up" và "4 Minutes".

Madonna còn nổi tiếng qua các vai diễn trong Desperately Seeking Susan (1985), Dick Tracy (1990) và Evita (1996) mang về cho bà giải Quả cầu vàng cho "Nữ diễn viên xuất sắc nhất". Dù vậy, hầu hết các bộ phim khác của bà đều vấp phải những ý kiến chỉ trích từ các nhà phê bình. Ngoài ra, bà cũng tham gia làm phim, thiết kế thời trang và sáng tác sách dành cho trẻ em. Bà được khen ngợi trong vai trò của một nữ thương nhân, đặc biệt sau khi sáng lập nên công ty giải trí Maverick (trong đó có hãng thu âm Maverick Records). Vào năm 2007, bà ký một hợp đồng kỷ lục trị giá 120 triệu đô-la Mỹ cùng Live Nation.

Với hơn 300 triệu đĩa thu âm đã tiêu thụ trên toàn cầu, Madonna được công nhận là nữ nghệ sĩ thu âm bán chạy nhất mọi thời đại bởi Sách Kỷ lục Guinness. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ (RIAA) xếp Madonna là nữ nghệ sĩ rock bán chạy nhất thế kỷ 20 và là nữ nghệ sĩ bán chạy thứ hai tại Hoa Kỳ, với 64.5 triệu chứng nhận album. Theo Billboard, Madonna là nữ nghệ sĩ lưu diễn hàng đầu mọi thời đại, thu về hơn 1 tỷ đô-la Mỹ từ các chuyến lưu diễn của mình. Bà đứng ở vị trí thứ 2, chỉ sau ban nhạc The Beatles, trong danh sách Billboard Hot 100 All-Time Top Artists, giúp bà là nghệ sĩ đơn ca thành công nhất lịch sử bảng xếp hạng đĩa đơn Hoa Kỳ. Madonna là một trong 5 thành viên sáng lập nên Đại sảnh Danh vọng Âm nhạc Liên hiệp Anh và được bổ nhiệm vào Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll trong năm hợp lệ đầu tiên.

Mũi đất

Mũi đất hay mũi biển là phần đất nằm kề biển với 3 mặt là nước bao quanh.

Paralimnophila

Limnophilinae là một chi ruồi hạc trong họ Limoniidae. Các loài được tìm thấy ở châu Á & châu Úc.

Thổ dân châu Úc

Thổ dân Úc là thổ dân ở lục địa Úc và các đảo của eo biển Torres, là hậu duệ của nhóm người tồn tại ở Úc và các đảo chung quanh lục địa này trước quá trình thực dân hóa của người châu Âu diễn ra. Những di chỉ con người sớm nhất tìm thấy ở Úc là Di cốt hồ Mungo, với niên đại khoảng 40.000 năm, mặc dù thời điểm đến vùng này đầu tiên Thổ dân Úc là một vấn đề tranh cãi giữa các nhà nghiên cứu, với con số niên đại xa nhất cỡ 125.000 năm.Có sự đa dạng rất lớn giữa các cộng đồng và các xã hội bản địa khác nhau ở Úc, mỗi cộng đồng đều có các nền văn hóa, phong tục và ngôn ngữ của riêng mình. Ngày nay tại Úc các nhóm này được chia thành các cộng đồng địa phương. Tại thời điểm định cư ban đầu của người châu Âu, hơn 250 ngôn ngữ được sử dụng; ước tính 120-145 trong số này vẫn được sử dụng, nhưng chỉ 13 ngôn ngữ không bị đe dọa tuyệt chủng. Thổ dân ngày nay hầu như chỉ nói tiếng Anh, với các cụm từ và các từ của ngôn ngữ thổ dân được thêm vào để tạo ra tiếng Anh thổ dân Úc (vốn cũng có ảnh hưởng hữu hình của ngôn ngữ bản địa trong cách ngữ âm và cấu trúc ngữ pháp). Dân số của thổ dân người Úc tại thời điểm người châu Âu đến định cư được ước tính vào khoảng 318.000 và 1,000,000 với sự phân bố dân cư tương tự như của dân số Úc hiện nay, phần lớn sống ở phía đông, tập trung dọc theo sông Murray.

Trogossitidae

Trogossitidae là một họ bọ cánh cứng trong phân bộ Polyphaga. Trogossitidae gồm khoảng 600 loài, 59 chi được tìm thấy ở châu Mỹ và 36 chi ở châu Úc.

Tương lai của Trái Đất

Tương lai của Trái Đất về mặt sinh học và địa chất có thể được ngoại suy dựa trên việc ước lượng những tác động trong dài hạn của một số yếu tố, bao gồm thành phần hóa học của bề mặt Trái Đất, tốc độ nguội đi ở bên trong của nó, những tương tác trọng lực với các vật thể khác trong hệ Mặt Trời, và sự tăng dần lên trong độ sáng của Mặt Trời. Nhân tố bất định trong phép ngoại suy này là ảnh hưởng liên tục của những công nghệ mà loài người phát minh ra, chẳng hạn như kỹ thuật khí hậu, có khả năng gây ra những thay đổi lớn tới Trái Đất. Sự kiện tuyệt chủng Holocen đang diễn ra là hậu quả của công nghệ và những tác động của nó có thể kéo dài tới năm triệu năm. Từ đó, công nghệ có khả năng sẽ dẫn đến sự tuyệt chủng của loài người, để hành tinh quay trở lại nhịp độ tiến hóa chậm hơn chỉ nhờ vào những quá trình tự nhiên diễn ra một cách lâu dài.Giữa những khoảng thời gian dài tới hàng trăm triệu năm, các sự kiện vũ trụ ngẫu nhiên có khả năng đe dọa tới sinh quyển của Trái Đất trên quy mô toàn cầu và thậm chí gây tuyệt chủng hàng loạt. Chúng bao gồm những sự va chạm với sao chổi hoặc tiểu hành tinh có bán kính từ 5–10 km (3,1–6,2 mi) trở lên, và một vụ nổ siêu tân tinh xảy ra trong vòng bán kính 100 năm ánh sáng tính từ Mặt Trời (được gọi là siêu tân tinh gần Trái Đất. Các sự kiện địa chất quy mô lớn khác thì dễ dự đoán hơn. Nếu bỏ qua tác động lâu dài của sự ấm lên toàn cầu, học thuyết Milankovitch dự đoán rằng Trái Đất sẽ tiếp tục trải qua các thời kỳ băng hà ít nhất là cho đến khi kỷ băng hà Đệ tứ kết thúc. Điều này là kết quả của độ lệch tâm quỹ đạo, độ nghiêng trục quay và tiến động của quỹ đạo Trái Đất. Trong chu kỳ biến đổi của các siêu lục địa (chu kì siêu lục địa) đang tiếp diễn, hoạt động kiến tạo mảng có khả năng sẽ tạo nên một siêu lục địa sau 250–350 triệu năm. Trong khoảng 1,5–4,5 tỉ năm tới, độ nghiêng trục quay của Trái Đất có thể sẽ bắt đầu thay đổi một cách hỗn loạn với độ chênh lệch lên tới 90° so với hiện tại.

Trong suốt 4 tỉ năm tới, độ sáng của Mặt Trời sẽ ngày càng tăng lên, làm gia tăng lượng phóng xạ Mặt Trời ảnh hưởng tới Trái Đất. Điều này đẩy nhanh tốc độ phong hóa của các khoáng vật silicat, làm giảm hàm lượng cacbon điôxít trong khí quyển. Trong vòng khoảng 600 triệu năm, hàm lượng CO2 sẽ là không đủ để các thực vật C3 tiếp tục quang hợp. Mặc dù một số các thực vật khác sử dụng phương pháp cố định cacbon C4 vẫn có thể quang hợp với hàm lượng CO2 thấp tới 10 phần triệu, trong dài hạn toàn bộ thực vật vẫn sẽ không thể sống sót. Sự tuyệt chủng của thực vật, thành phần chủ chốt trong chuỗi thức ăn trên Trái Đất, cũng sẽ làm cho hầu hết các loài động vật diệt vong.Trong vòng 1,1 tỉ năm tới, mặt trời sẽ sáng hơn 10% so với hiện tại. Điều này khiến cho hiệu ứng nhà kính trong khí quyển Trái Đất không ngừng gia tăng và các đại dương sẽ dần bay hơi hết. Do đó, hoạt động kiến tạo mảng sẽ dừng lại và chu trình cacbon cũng chấm dứt theo. Kết quả là Trái Đất sẽ mất đi từ trường và từ quyển, làm gia tăng tốc độ mất vật chất trong khí quyển vào không gian. Đến thời điểm đó, hầu hết hoặc tất cả sự sống trên Trái Đất sẽ không còn tồn tại. Kết cục nhiều khả năng xảy ra nhất là Trái Đất sẽ bị Mặt Trời nuối chửng vào khoảng 7,5 tỉ năm tới, khi nó đã trở thành một sao khổng lồ đỏ và nở rộng ra tới quỹ đạo Trái Đất.

Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng

Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng là một vườn quốc gia của Việt Nam, nằm tại huyện Bố Trạch, và Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình, cách thành phố Đồng Hới khoảng 50 km về phía Tây Bắc, cách thủ đô Hà Nội khoảng 500 km về phía nam. Vườn quốc gia này giáp khu bảo tồn thiên nhiên Hin Namno ở tỉnh Khammouan, Lào về phía tây, cách Biển Đông 42 km về phía đông kể từ biên giới của hai quốc gia.

Phong Nha-Kẻ Bàng nằm ở một khu vực núi đá vôi rộng khoảng 200.000 ha thuộc lãnh thổ Việt Nam, khu vực lãnh thổ Lào tiếp giáp vườn quốc gia này cũng có diện tích núi đá vôi khoảng 200.000 ha. Diện tích vùng lõi của vườn quốc gia là 85.754 ha và một vùng đệm rộng 195.400 ha. Tháng 8 năm 2013, Thủ tướng chính phủ đã có quyết định mở rộng vườn quốc gia này lên 1233,26 km2. Vườn quốc gia này được thiết lập để bảo vệ một trong hai vùng carxtơ lớn nhất thế giới với khoảng 300 hang động và bảo tồn hệ sinh thái bắc Trường Sơn ở khu vực Bắc Trung Bộ Việt Nam. Đặc trưng của vườn quốc gia này là các kiến tạo đá vôi, 300 hang động, các sông ngầm và hệ động thực vật quý hiếm nằm trong Sách đỏ Việt Nam và Sách đỏ thế giới. Các hang động ở đây có tổng chiều dài khoảng hơn 80 km nhưng các nhà thám hiểm hang động Anh và Việt Nam mới chỉ thám hiểm 20 km, trong đó 17 km ở khu vực Phong Nha và 3 km ở khu vực Kẻ Bàng.

Tháng 4 năm 2009, một đoàn thám hiểm thuộc Hiệp hội Hang động Hoàng gia Anh đã phát hiện và công bố hang Sơn Đoòng là hang động có kích thước lớn nhất thế giới (dài trên 5 km, cao 200 m, và rộng 150 m), lớn hơn nhiều so với hang Deer ở Vườn quốc gia Gunung Mulu ở Sarawak, Malaysia, lớn gấp 4 đến 5 lần so với Phong Nha. Trong đợt khảo sát này, đoàn thám hiểm cũng tìm thấy nhiều hang động khác .

Kiến tạo carxtơ của Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng được hình thành từ 400 triệu năm trước, từ thời kỳ Đại Cổ Sinh do đó là carxtơ cổ nhất ở châu Á.

Trải qua nhiều thay đổi lớn về địa tầng và địa mạo, địa hình khu vực này hết sức phức tạp. Phong Nha-Kẻ Bàng phô diễn các bằng chứng ấn tượng về lịch sử Trái Đất, giúp nghiên cứu lịch sử hiểu được lịch sử địa chất và địa hình của khu vực. Khu vực Phong Nha-Kẻ Bàng là một trong những mẫu hình riêng biệt và đẹp về sự kiến tạo carxtơ phức tạp ở Đông Nam Á. Được UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới theo tiêu chí địa chất, địa mạo năm 2003, và được UNESCO công nhận lần 2 là Di sản thiên nhiên thế giới với tiêu chí đa dạng sinh học, sinh thái vào ngày 3 tháng 7 năm 2015.

Đà điểu châu Úc

Đà điểu Úc hay chim Êmu (danh pháp hai phần: Dromaius novaehollandiae) là một loài chim thuộc họ Casuariidae của bộ Đà điểu (Struthioniformes) nghĩa rộng (sensu lato) hay bộ Casuariiformes khi bộ Struthioniformes được hiểu theo nghĩa hẹp (sensu stricto) trong siêu bộ chim mỏ cổ (Palaeognathae), phân lớp chim hiện đại (Neornithes). Chúng sống trên các thảo nguyên châu Úc, phân bố từ vùng Đông Úc đến vùng Tasmania. Trọng lượng trung bình khoảng từ 40 kg đến 50 kg, đầu và cổ có lông, chân có 3 ngón. Thức ăn chủ yếu là thực vật và động vật nhỏ.

Ấn Độ Dương

Ấn Độ Dương có diện tích 75.000.000 km² bao phủ 20% diện tích mặt nước trên Trái Đất. Đại dương này về hướng Bắc được giới hạn bởi bán đảo Ấn Độ, Pakistan và Iran, về hướng Đông bởi Đông Nam Á (cụ thể là Myanma, Thái Lan, Malaysia, Indonesia) và châu Đại Dương), về phía Tây bởi bán đảo Ả Rập và châu Phi. Ấn Độ Dương mở tại hướng Nam và giáp Nam Băng Dương. Tên gọi được đặt theo tên của Ấn Độ.Sử sách tiếng Việt trước thế kỷ XX còn gọi đại dương này là Tiểu Tây Dương.

Theo quy ước quốc tế, ranh giới giữa Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương nằm ở kinh tuyến 20° Đông, và ranh giới với Thái Bình Dương nằm ở kinh tuyến đi ngang qua đảo Tasmania (phía nam của mũi Agulhas) ở kinh tuyến 146°55' Đ. Ấn Độ Dương chấm dứt chính xác tại vĩ tuyến 60° Nam và nhường chỗ cho Nam Đại Dương, về phía bắc ở khoảng 30 độ Bắc trong vịnh Ba Tư. Đại dương này rộng gần 10.000 km tại khu vực giữa Úc và châu Phi và diện tích 73.556.000 km² bao gồm cả biển Đỏ và Vịnh Ba Tư. Ấn Độ Dương có thể tích ước khoảng 292.131.000 km³.

Các khu vực trên thế giới

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.