Cự thạch

Cự thạch (tiếng Anh: megalith) là các tảng đá lớn được sử dụng để xây dựng các kết cấu hay các di tích, hoặc là đứng một mình hoặc là cùng với các tảng đá khác. Trong ngôn ngữ một số nước châu Âu, người ta dùng từ megalith để chỉ cự thạch. Nó có nghĩa là làm từ những tảng đá như vậy, nhưng sử dụng cơ chế tự khóa mà không sử dụng vữa hay các chất kết dính nào khác. Từ megalith có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cổ megas nghĩa là lớnlithos nghĩa là đá.

Clooneen wedge tomb
Mồ mả hình nêm thời kỳ đồ đồng ở khu vực Burren của Ireland.

Sự phân bổ của các cự thạch

Thuật ngữ này có thể sử dụng để miêu tả các công trình xây dựng được con người ở nhiều khu vực trên thế giới và thuộc nhiều thời kỳ khác nhau dựng lên. Đầu thế kỷ 20, một số học giả cho rằng tất cả mọi cự thạch đều thuộc về một "nền văn minh cự thạch" toàn cầu (những người theo chủ nghĩa siêu phổ biến, ví dụ Grafton Elliot Smith và William James Perry), nhưng điều này đã bị bác bỏ từ lâu nhờ các phương pháp xác định niên đại hiện đại.

Nabta Playa

Nabta
Cự thạch ở Nabta.

Nabta Playa đã từng là một hồ lớn trong sa mạc Nubia, nằm ở khu vực cách 500 dặm về phía nam Cairo ngày nay (xem Nubia). Vào thiên niên kỷ 5 TCN những người sống ở Nabta Playa đã xây dựng thiết bị thiên văn học sớm nhất thế giới mà ngày nay còn biết tới, nó sớm hơn 1.000 năm, nhưng có thể so sánh với Stonehenge xem ở đây.

Các nghiên cứu chỉ ra rằng nó là một loại lịch tiền sử dùng để đánh dấu chính xác thời điểm diễn ra hạ chí xem ở đây. Các vật tìm thấy chỉ ra rằng khu vực này chỉ có thể sử dụng theo mùa vụ, có lẽ chỉ được trong mùa hè khi hồ này có nước đủ để cỏ phát triển cho việc chăn thả xem Nabta, xem thêm.

Các cự thạch ở Tây Âu

Dscn5212-mane-braz 800x600
Mồ mả bằng cự thạch ở Mane Braz, Bretagne, Pháp.

Tây Âu và khu vực ven Địa Trung Hải, các cự thạch nói chung được xây dựng trong thời kỳ đồ đá mới hoặc cuối thời kỳ đồ đá và thời kỳ đồng-đá hoặc thời kỳ đồ đồng (khoảng những năm 4500 – 1500 TCN). Có lẽ cự thạch nổi tiếng nhất ở châu Âu là cự thạch nằm ở Stonehenge, Anh, mặc dù còn rất nhiều cự thạch khác cũng được biết đến trên toàn thế giới.

Comte de Caylus (16921765) là người đầu tiên miêu tả các di tích ở Carnac. Legrand d'Aussy đã đưa ra các thuật ngữ menhir (cột đá) và dolmen (mộ đá), cả hai đều có nguồn gốc từ tiếng Breton, thành các thuật ngữ về các khối cấu trúc xây dựng bằng đá thời cổ đại. Ông diễn giải các cự thạch như là các mồ mả của người Gôloa.

Tại Anh, các nhà sưu tầm đồ cổ như Aubrey và Stukeley đã chỉ đạo các tìm kiếm sớm nhất đối với cự thạch. Năm 1805, Jacques Cambry đã xuất bản cuốn sách có tên gọi Monuments celtiques, ou recherches sur le culte des Pierres, précédées d'une notice sur les Celtes et sur les Druides, et suivies d'Etymologie celtiques, trong đó ông đề xuất ý tưởng về sự thờ cúng đá của người Celt. Điều này là sự liên kết hoàn toàn vô căn cứ giữa các thầy tu (druid) và các cự thạch và nó đã ám ảnh trí tưởng tượng cộng đồng kể từ đó.

Dscn5211-mane-braz 600x800
Bên trong khoang chôn cất, Mane Braz

Các dạng cấu trúc cự thạch

Các cấu trúc cự thạch khác nhau bao gồm:

  • Mộ đá (dolmen hay cromlech trong ngôn ngữ của người Welsh): Đây là các hốc đứng độc lập bao gồm các tảng đá dựng đứng được che phủ bởi một tảng đá phía trên giống như cái nắp đậy. Chúng được sử dụng để mai táng và được che phủ bởi các gò đất đá.
  • Cột đá (Menhir): Đây là tảng đá dài dựng thẳng đứng.
  • Phiến đá thẳng (Orthostat): Đây là các phiến đá đứng thẳng tạo thành một phần của các cấu trúc lớn hơn.
  • Vòng tròn đá
  • Các hàng đá
  • Tàu đá
  • Taula: Đây là cột đá đứng thẳng, ở phía đỉnh chụp thêm tảng đá khác tạo ra hình chữ 'T'.
  • Trilithon: Kiến trúc bao gồm hai tảng đá dài dựng đứng để đỡ một tảng đá nằm ngang (gọi là lanh tô) ở trên đỉnh của chúng, ví dụ các tảng đá ở Stonehenge.

Mồ mả cự thạch

Nhiều di tích cự thạch cổ đã là các gò đống chôn cất được sử dụng bởi nhiều thế hệ người khác nhau. Các ụ đá hình tháp có khoang riêng là dạng phổ biến của các mồ mả tập thể. Một số trong chúng là các mồ mả có lối đi – nói chung được xây dựng mà vật liệu xây tường không cần hồ vữa và/hoặc có các cự thạch, thông thường với khoang chôn cất hình tròn trong các gò đống tròn và có lối đi thẳng dẫn ra ngoài. Mồ mả có hành lang có các khoang cự thạch dài với các bên song song thông thường ở các gò đống dài và có lối vào ở một đầu.

Thiên văn

Nhiều cự thạch được coi là có mục đích để xác định các sự kiện quan trọng trong thiên văn như các ngày diễn ra hạ chí, đông chí, xuân phânthu phân (xem thêm cổ thiên văn học). Các dấu đánh trên các cự thạch được một số người coi là đại diện cho các ngôi sao và vì thế để chỉ hướng các chòm sao tại các điểm xây dựng cự thạch.

Các cự thạch thời hiện đại

Có một số các công trình xây dựng kiểu cự thạch thời hiện đại. Coral Castle là một công trình bằng đá kỳ dị được xây dựng những năm thập niên 1920 ở Homestead, Florida bởi Edward Leedskalnin.

Các ví dụ về cự thạch

Các cự thạch khác còn có:

Xem thêm

  • Nghệ thuật tiền sử
  • Đá nguyên khối (monolith)

Liên kết ngoài

Các đền thờ cự thạch của Malta

Các đền thờ cự thạch của Malta (tiếng Malta: It-Tempji Megalitiċi ta' Malta) là quần thể bao gồm các đền thờ thời tiền sử, một số trong đó đã được UNESCO công nhận là Di sản thế giới. Chúng được xây dựng trong ba giai đoạn khác nhau từ giữa năm 3.600 TCN cho đến năm 700 TCN. Đây từng được coi là những cấu trúc đứng tự do lâu đời nhất trên Trái đất cho đến khi Göbekli Tepe được phát hiện ra. Các nhà khảo cổ học tin rằng, những quần thể đền thờ cự thạch này là kết quả của sự đổi mới ở địa phương trong quá trình tiến hóa văn hóa. Điều này dẫn đến việc xây dựng một số ngôi đền thuộc giai đoạn Ġgantija (từ năm 3.600-3.000 TCN), đỉnh cao là quần thể đền thờ Tarxien lớn vẫn được sử dụng cho đến năm 2.500 TCN. Sau khoảng thời gian này, văn hóa xây dựng đền thờ dần biến mất.Đền thờ Ġgantija đã được UNESCO công nhận là Di sản thế giới từ năm 1980. Đến năm 1992, Ủy ban Di sản thế giới tiếp tục mở rộng thêm năm địa điểm khác là Ħaġar Qim, Mnajdra, Ta' Ħaġrat, Skorba, và Tarxien. Ngày nay, các địa điểm này được quản lý bởi Cục Di sản Malta, trong khi quyền sở hữu các vùng đất xung quanh của nhiều cơ quan quản lý khác nhau tùy thuộc địa điểm. Ngoài các đền thờ trên, còn nhiều đền thờ cự thạch khác ở Malta không nằm trong danh sách Di sản thế giới của UNESCO như là Đền thờ Kordin, Santa Verna, Buġibba, Xrobb l-Għaġin hay Borġ in-Nadur.

Cánh đồng Chum

Cánh đồng Chum (Tiếng Lào: ທົ່ງໄຫຫິນ [tʰōŋ hǎj hǐn]) là một cảnh quan khảo cổ cự thạch ở Lào. Nó bao gồm hàng ngàn chum đá nằm rải rác dọc theo thung lũng và cánh đồng thấp của đồng bằng trung tâm thuộc Cao nguyên Xiengkhuang. Hầu hết chúng nằm thành từng cụm với số lượng từ một cho đến vài trăm cái chum.Cao nguyên Xiengkhuang nằm ở cuối phía bắc của Dãy Trường Sơn, dãy núi chính trên bán đảo Đông Dương. Nhà nghiên cứu người Pháp Madeleine Colani vào cuối những năm 1930 đã kết luận rằng, những chiếc chum này liên quan đến hoạt động chôn cất thời tiền sử. Cuộc khai quật của các nhà khảo cổ Lào và Nhật Bản trong những năm qua đã hỗ trợ cho giải thích này với việc phát hiện ra hài cốt của con người, hàng hóa chôn cất và gốm sứ trong các chum. Cánh đồng Chum có niên đại từ thời đồ sắt (500 trước CN đến năm 500 sau CN) và là một trong những địa điểm thời tiền sử quan trọng nhất ở Đông Nam Á.

Di chỉ mộ đá Antequera

Di chỉ mộ đá Antequera là một quần thể các mộ đá nằm gần Antequera, tỉnh Málaga, miền nam Tây Ban Nha. Quần thể này bao gồm mộ đá Menga, Viera nằm ngay ngoài thị trấn và El Romeral cách đó vài km. Cả ba khu mộ đá này khác nhau về độ tuổi cũng như cấu trúc thiết kế nhưng đều là những đại diện cho cấu trúc cự thạch lớn nhất và đầy đủ nhất ở châu Âu.

Quần thể di tích mộ đá Antequera (bao gồm cả những dấu mốc tại El Torcal de Antequera và Peña de los Enamorados) đã được UNESCO công nhận là Di sản thế giới vào ngày 15 tháng 7 năm 2016, như là một trong những ví dụ nổi bật nhất về kiến trúc cự thạch trên thế giới.

Gia Lăng

Gia Lăng (chữ Hán giản thể: 嘉陵区, âm Hán Việt: Gia Lăng khu) là một quận thuộc địa cấp thị Nam Sung, tỉnh Tứ Xuyên, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Quận này có diện tích 1170 ki-lô-mét vuông, dân số năm 2002 là 660.000 người. Về mặt hành chính, quận này được chia thành 21 trấn 27 hương.

Trấn: Hỏa Hoa, Kim Bảo, Lý Bá, Long Bàn, Song Quế, Tây Hưng, Đại Thông, An Bình, Kim Phượng, Khúc Thủy, Lý Độ, Cát An, An Phúc, Tập Phượng, Tam Hội, Long Lĩnh, Nhất Lập, Thế Dương, Yến Gia, Văn Phong, Long Tuyền.

Hương: Thái Hòa, Lễ Nhạc, Đại Hưng, Mộc Lão, Diêm Khê, Di Sơn, Thổ Môn, Bạch Gia, Thiên Tinh, Đại Quan, Tân Miếu, Đào Viên, Song Điếm, Tích Thiện, Hoa Hưng, Đại Đồng, Kiều Long, Long Trì, Bát Giác, Thạch Lâu, Đại Thụ, Hà Tây, Dương Khẩu, Tân Trường, Lâm Giang, Hòa Bình, Cự Thạch.

Huaphanh

Tỉnh Houaphanh (tiếng Lào: ແຂວງ ຫົວພັນ; chữ Lào Latin hóa: Houaphan) tiếng Việt còn gọi là Hủa Phăn, là tỉnh nằm ở phía đông bắc Lào. Tỉnh lị đặt ở Sam Neua.

Tỉnh Houaphanh có diện tích 16.500 km2. Theo điều tra năm 2015 dân số của tỉnh là 289.393 người. Tỉnh này giáp Việt Nam ở phía bắc, đông và đông nam, tỉnh Xiangkhouang về phía nam và tây nam, và tỉnh Luang Prabang về phía tây.

Địa hình rất gồ ghề, phần lớn diện tích của tỉnh được bao trùm bởi rừng núi dày đặc, đặc biệt ở phía tây. Con đường chính chạy qua tỉnh là Đường 6 (Lào). Các sông chính là Nam Ma, chảy từ Việt Nam qua rồi lại đổ vào Việt nam, sông chảy qua Bản Muang-Et, và sông Nam Sam, nơi có các thị trấn Sam Nuea và Sam Tai.

Tỉnh là nơi có hang Viengxay, một mạng lưới dày đặc các hang động được sử dụng bởi quân Pathet Lào, và Công viên Khảo cổ học Hintang, một trong những địa danh nổi tiếng nhất thuộc thời tiền sử ở miền bắc Lào, rải rác còn có những vườn cự thạch.

Houaphanh là một trong những khu vực nghèo nhất của Lào nhưng có phong cảnh cực kỳ hữu tình và nghề dệt may truyền thống nổi tiếng.

Hàng Gòn

Hàng Gòn là một xã thuộc thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai, Việt Nam.

Xã Hàng Gòn được thành lập vào năm 2003 do đổi tên từ xã Xuân Thanh cũ, do trùng tên với phường Xuân Thanh mới thành lập khi đó.

Hầm mộ Ħal Saflieni

Hầm mộ Ħal-Saflieni (Hypogeum Ħal-Saflieni) là một cấu trúc ngầm bí mật thời đại đồ đá mới thuộc Giai đoạn Saflieni (3.300-3.000 TCN) nằm ở thị trấn Paola, Malta. Nó thường đơn giản được gọi là Hypogeum (tiếng Malta: Ipoġew), nghĩa đen có nghĩa là "ngầm" trong tiếng Hy Lạp. Nó được cho là một thánh địa và nghĩa địa lớn với di cốt 7.000 cá nhân riêng lẻ được các nhà khảo cổ học ghi nhận lại, và là một trong những ví dụ được bảo tồn tốt nhất của nền văn hóa xây dựng đền thờ ở Malta, là nền văn hóa cũng tạo ra Các đền thờ cự thạch và Vòng tròn đá Xagħra.

Hồ Đồng Đò

21°19′1″B 105°46′18″Đ

Hồ Đồng Đò nằm cách Hà Nội 45 km tại địa phận thôn Minh Tân, xã Minh Trí, huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội. Hồ chỉ cách khu du lịch hồ Đại Lải khoảng 7 km, cách sân gôn Hà Nội khoảng 2 km. Đặc biệt đây là nơi có vàng sa khoáng, hiện tại không còn được khai thác. Trước đây lòng hồ chỉ là con suối nhỏ, đến năm 2000 thì xây xong đập Đồng Đò để cung cấp nước tưới cho khoảng 200 ha đất canh tác tại xã Minh Trí. Hồ nằm trong thung lũng, hai bên là núi núi cao, được nhà nước trồng toàn bộ là rừng thông cách đây hơn 30 năm. Hồ rộng khoảng 60 ha có chiều dài hơn 2 km với sức chứa khoảng 900.000m³.

Hồ được thả cá, nơi sâu nhất có thể trên 20 m. Nơi đây có phong cảnh đẹp và rất thuận tiện cho du lịch, cắm trại vì có rừng thông, hồ nước rất sạch và rất gần Hà Nội. Đây là địa điểm được quy hoạch là khu du lịch sinh thái của thành phố Hà Nội. Hiện nay đây là điểm du lịch dã ngoại mới của Hà Nội được nhiều bạn trẻ ưa thích.Trong lịch sử, nơi đây năm 1592, sau khi thất thủ Thăng Long, nhà Mạc quyết định dời đô lên Cao Bằng, để sẵn sàng tiến hành một cuộc chiến đấu lâu dài. Đoàn thiên đô phải bao gồm cả triều đình, trong đó lại có hoàng hậu, công chúa, người già, trẻ em là bộ phận khó cơ động. Ngoài ra còn có thư tịch, ấn tín, bảo vật v.v. Triều đình không thể đi đường quan lộ lên Cao Bằng, mà một bộ phận phải đi đường tắt, bí mật, vượt qua đỉnh núi Hàm Lợn gần Đồng Đò. Hiện nay tại khu vực đền Giõng Mai có đào được một số hiện vật là sành sứ thời nhà Mạc.

Năm 2005 Trường Đại học KHXH&NV đã phát hiện di tích cự thạch còn khá nguyên vẹn tại suối Đồng Đò, thôn Minh Tân, xã Minh Trí. Nguyên trước đây người dân quanh vùng nhìn thấy những phiến đá được sắp xếp một cách kỳ lạ và như có chủ ý, với một phiến bazan khá bằng phẳng màu xanh đặt trên mấy hòn đá dài tựa như những chiếc chân bàn, nên gọi nôm na là bàn đá. Các nhà khảo cổ đã xác định đây là 2 cự thạch loại hình Trác thạch (Dolmen). Di tích cự thạch ở Minh Tân dài 5m, khoảng rộng nhất 2,2m, có 3 chân nhưng một chân đã đổ.

Cho đến nay, việc xác định ý nghĩa của các kiến trúc này còn nhiều ý kiến khác nhau. Theo đánh giá, di tích này có thể liên quan đến tục thờ Thần Đá của các cư dân tiền sử nơi đây.

Hiện tại người dân địa phương tiếp tục thờ cúng tại đây, hy vọng di tích cự thạch tiếp tục được nghiên cứu và bảo vệ.

Di tích cự thạch 2000 năm tuổi tương tự cũng được phát hiện ở châ núi tam đảo năm 2009.

Menorca

Menorca (tiếng Catalunya: Menorca, IPA: [məˈnɔrkə]; tiếng Tây Ban Nha: Menorca, IPA: [meˈnorka]; từ tiếng Latinh: Insula Minor, sau này Minorica "đảo nhỏ") là một đảo của quần đảo Baleares thuộc Tây Ban Nha, nằm trong Địa Trung Hải. Tên "đảo nhỏ" xuất phát từ kích cỡ đảo, đối lập với "đảo lớn" Mallorca gần đó.

Menorca có dân số khoảng 94.383 (2010). Đảo nằm ở tọa độ 39°47' đến 40°00'B, 3°52' đến 4°24'Đ. Điểm cao nhất trên đảo là El Toro hay Monte Toro, cao 358 m so với mực nước biển. Đảo này được biết đến với bộ sưu tập của tượng đài đá cự thạch: navetes, taules và talaiots, cho thấy từ rất sớm đã có hoạt động của người tiền sử tại đây. Một số nền văn hóa xưa nhất trên đảo Menorca bị ảnh hưởng bởi các nền văn hóa khác trong vùng Địa Trung Hải, gồm cả văn hóa Minoa Hy Lạp từ đảo Crete. Chẳng hạn, việc sử dụng các cột gỗ dựng ngược tại cung điện Knossos được cho là đã ảnh hưởng đến các tộc người đầu tiên của Menorca - những người đã bắt chước cách làm này.

Máy bắn đá

Máy bắn đá là loại vũ khí lạnh thời cổ. Các nhà nghiên cứu cho là được phát minh năm 399 trước công nguyên. Còn có tên gọi là Sảo pháo hay Cự thạch pháo.

Mặt Trời

Mặt Trời là ngôi sao ở trung tâm Hệ Mặt Trời, chiếm khoảng 99,86% khối lượng của Hệ Mặt Trời. Trái Đất và các thiên thể khác như các hành tinh, tiểu hành tinh, thiên thạch, sao chổi, và bụi quay quanh Mặt Trời. Khoảng cách trung bình giữa Mặt Trời và Trái Đất xấp xỉ 149,6 triệu kilômét (1 Đơn vị thiên văn AU) nên ánh sáng Mặt Trời cần 8 phút 19 giây mới đến được Trái Đất. Trong một năm, khoảng cách này thay đổi từ 147,1 triệu kilômét (0,9833 AU) ở điểm cận nhật (khoảng ngày 3 tháng 1), tới xa nhất là 152,1 triệu kilômét (1,017 AU) ở điểm viễn nhật (khoảng ngày 4 tháng 7). Năng lượng Mặt Trời ở dạng ánh sáng hỗ trợ cho hầu hết sự sống trên Trái Đất thông qua quá trình quang hợp, và điều khiển khí hậu cũng như thời tiết trên Trái Đất. Thành phần của Mặt Trời gồm hydro (khoảng 74% khối lượng, hay 92% thể tích), heli (khoảng 24% khối lượng, 7% thể tích), và một lượng nhỏ các nguyên tố khác, gồm sắt, nickel, oxy, silic, lưu huỳnh, magiê, carbon, neon, canxi, và crom.

Mặt Trời có hạng quang phổ G2V. G2 có nghĩa nó có nhiệt độ bề mặt xấp xỉ 5.778 K (5.505 °C) khiến nó có màu trắng, và thường có màu vàng khi nhìn từ bề mặt Trái Đất bởi sự tán xạ khí quyển. Chính sự tán xạ này của ánh sáng ở giới hạn cuối màu xanh của quang phổ khiến bầu trời có màu xanh. Quang phổ Mặt Trời có chứa các vạch ion hoá và kim loại trung tính cũng như các đường hydro rất yếu. V (số 5 La Mã) trong lớp quang phổ thể hiện rằng Mặt Trời, như hầu hết các ngôi sao khác, là một ngôi sao thuộc dãy chính. Điều này có nghĩa nó tạo ra năng lượng bằng tổng hợp hạt nhân của hạt nhân hydro thành heli. Có hơn 100 triệu ngôi sao lớp G2 trong Ngân Hà của chúng ta. Từng bị coi là một ngôi sao nhỏ và khá tầm thường nhưng thực tế theo hiểu biết hiện tại, Mặt Trời sáng hơn 85% các ngôi sao trong Ngân Hà với đa số là các sao lùn đỏ.Quầng nóng của Mặt Trời liên tục mở rộng trong không gian và tạo ra gió Mặt Trời là các dòng hạt có vận tốc gấp 5 lần âm thanh - mở rộng nhật mãn (Heliopause) tới khoảng cách xấp xỉ 100 AU. Bong bóng trong môi trường liên sao được hình thành bởi gió mặt trời, nhật quyển (heliosphere) là cấu trúc liên tục lớn nhất trong Hệ Mặt Trời.Mặt Trời hiện đang đi xuyên qua đám mây Liên sao Địa phương (Local Interstellar Cloud) trong vùng Bóng Địa phương (Local Bubble) mật độ thấp của khí khuếch tán nhiệt độ cao, ở vành trong của Nhánh Orion của Ngân Hà, giữa nhánh Perseus và nhánh Sagittarius của ngân hà. Trong 50 hệ sao gần nhất bên trong 17 năm ánh sáng từ Trái Đất, Mặt Trời xếp hạng 4 về khối lượng như một ngôi sao cấp bốn (M = +4,83), dù có một số giá trị cấp hơi khác biệt đã được đưa ra, ví dụ 4,85 và 4,81. Mặt Trời quay quanh trung tâm của Ngân Hà ở khoảng cách xấp xỉ 24.000–26.000 năm ánh sáng từ trung tâm Ngân Hà, nói chung di chuyển theo hướng chùm sao Cygnus và hoàn thành một vòng trong khoảng 225–250 triệu năm (một năm ngân hà). Tốc độ trên quỹ đạo của nó được cho khoảng 250 ± 20, km/s nhưng một ước tính mới đưa ra con số 251 km/s.

Bởi Ngân Hà của chúng ta đang di chuyển so với Màn bức xạ vi sóng vũ trụ (CMB) theo hướng chòm sao Hydra với tốc độ 550 km/s, nên tốc độ chuyển động của nó so với CMB là khoảng 370 km/s theo hướng chòm sao Crater hay Leo.

Mộ đá

Mộ đá (Dolmen) là loại mộ làm từ cự thạch (đá lớn) chỉ có một gian, thường bao gồm ít nhất ba tảng đá dựng đứng đỡ một phiến đá lớn, phẳng, nằm ngang. Phần lớn mộ đá xuất hiện đầu thời đại đồ đá mới (4000-3000 năm TCN). Mộ đá thường được phủ bằng đất hoặc những viên đá nhỏ hơn để tạo thành một gò đất (barrow), dù rằng nhiều khi lớp phủ đó bị tự nhiên bào mòn đi, chỉ còn trơ lại "bộ xương" đá hàu như nguyên vẹn.

Người ta vẫn còn đang phân vân không biết khi nào, tại sao và ai đã tạo nên những mộ đá đầu tiên. Những mộ đá có niên đại sớm nhất đã được tìm thấy ở Tây Âu. Chúng đã được xây dưng 7000 năm trước, cùng thời với các nền văn minh cổ đại như Ai Cập, Ấn Độ và Trung Đông. Các nhà khảo cổ học vẫn không biết ai đã dựng nên những mộ đá đó. Càng khó để biết tại sao họ làm thế. Quan điểm được chấp nhận rộng rãi nhất là tất cả các mộ đá là những phòng đá dùng vào mục đích an táng người chết.

Mộ đá Menga

Mộ đá Menga (tiếng Tây Ban Nha: Dolmen de Menga) là một gò chôn cự thạch dạng mộ đá dài có niên đại từ thế kỷ thứ 3 TCN. Di chỉ này nằm gần Antequera, tỉnh Málaga, Tây Ban Nha.

Nó là một trong những cấu trúc cự thạch cổ xưa lớn nhất châu Âu. Với chiều cao 25 mét, rộng 4 mét, nó được xây dựng từ 32 khối cự thạch, lớn nhất trong đó có khối lượng lên tới 180 tấn. Sau khi hoàn thành hầm mộ đựoc chia thành các buồng và con đường dẫn vào trung tâm hầm mộ, cấu trúc này được lấp lại thành gò đất như ngày hôm nay. Ngôi mộ được phát hiện vào thế kỷ 19 và các nhà khảo cổ học đã phát hiện được hàng trăm bộ xương.

Cách không xa mộ đá Mộ đá Menga là hai cấu trúc Mộ đá Viera và El Romeral, một bãi chôn lấp cự thạch nó niên đại từ năm 1800 TCN.Năm 2016, quần thể các mộ đá Menga, Viera và El Romeral đã được UNESCO công nhận là Di sản thế giới tại kỳ họp lần thứ 40 diễn ra ở Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ dưới tên gọi "Di chỉ mộ đá Antequera".

Người Nias

Nias là một dân tộc bản địa đảo Nias, một hòn đảo nằm ngoài khơi bờ tây Bắc Sumatra, Indonesia. Trong tiếng Nias, họ tự gọi mình là Ono Niha; nghĩa là 'con cháu loài người'. còn đảo Nias mang tên Tanö Niha, trong đó Tanö nghĩa là "đất, xứ" trong tiếng Nias.

Người Nias vẫn gìn giữ nếp sống và tập quán cũng như nền văn hóa riêng. Tục lệ thường được gọi là fondrakö, gắn với mọi mặt đời sống từ lúc mới sinh ra đến khi chết. Kiến trúc từ đá tảng và những bức chạm khắc đá ở trung tâm đảo cho thấy người Nias cổ đã điêu khắc cự thạch. Hệ thống cấp bậc cũng hiện diện trong xã hội Nias, trong đó cấp cao nhất trong 12 cấp là Balugu (người trong cấp bậc này phải giàu có đến nỗi mổ được ngàn heo để đãi ngàn người).

Sumba

Sumba là một hòn đảo tại Indonesia, một trong các đảo thuộc nhóm đảo gọi chung là quần đảo Nusa Tenggara (quần đảo Sunda Nhỏ). Đảo này có chiều dài theo hướng tây-đông khoảng 220 km và chiều rộng theo hướng bắc-nam khoảng 70 kn, diện tích khoảng 11.153 km², dân số theo số liệu chính thức là 611.422 người năm 2005. Tại đây có mùa khô từ tháng 5 tới tháng 11 và mùa mưa từ tháng 12 tới tháng 4 năm sau. Về mặt lịch sử, đảo này là nơi xuất khẩu nhiều gỗ đàn hương và vì thế được biết đến như là đảo gỗ đàn hương.

Phía tây bắc đảo này là đảo Sumbawa. Về phía bắc và đông bắc, vượt qua eo biển Sumba (Selat Sumba), là đảo Flores. Về phía đông, vượt qua biển Savu, là đảo Timor. Về phía nam, di qua một phần của Ấn Độ Dương, là vùng đất tây bắc Australia. Về mặt hành chính, đảo này thuộc tỉnh Đông Nusa Tenggara. Thị trấn lớn nhất trên đảo là Waingapu với dân số khoảng 10.700 người.

Trước khi bị thực dân hóa, Sumba là nơi sinh sống của một vài nhóm nhỏ sắc tộc-ngôn ngữ, một vài trong số này có thể có quan hệ chư hầu đối với đế quốc Majapahit. Năm 1522, những chiếc tàu thuyền đầu tiên từ châu Âu đã tới đây, và tới năm 1866 thì Sumba thuộc về Công ty Đông Ấn Hà Lan, mặc dù đảo này không thực sự thuộc quyền quản lý hành chính của Hà Lan cho tới tận đầu thế kỷ 20.

Người Sumba nói bằng một loạt các thứ tiếng gần gũi với các thứ tiếng thuộc ngữ hệ Nam Đảo và có huyết thống hỗn hợp giữa người Mã Lai và người Melanesia. Khoảng 25-30% dân cư trên đảo theo tín ngưỡng vật linh Marapu. Phần còn lại là những người theo Kitô giáo, với phần lớn theo thuyết Calvin Hà Lan, nhưng một thiểu số đáng kể thì theo Công giáo La Mã. Một lượng nhỏ theo Hồi giáo dòng Sunni, sinh sống dọc theo vùng duyên hải.

Mặc dù có sự tràn vào của các tôn giáo, tín ngưỡng phương Tây, nhưng Sumba lại là một trong số ít nơi trên thế giới mà trong đó việc chôn cất cự thạch được sử dụng như là 'truyền thống còn tồn tại' để chôn cất các cá nhân có danh tiếng khi họ chết. Việc chôn cất trong các ngôi mộ cự thạch từng là một thông lệ được sử dụng ở nhiều nơi trên thế giới trong thời kỳ đồ đá mới và thời kỳ đồ đồng, nhưng hiện nay gần như không còn được sử dụng nữa.

Tình trạng y tế và sức khỏe của cư dân trên đảo vẫn còn chưa được cải thiện. Một tỷ lệ cao dân cư vẫn bị mắc bệnh sốt rét. Tỷ lệ chết của trẻ sơ sinh vẫn rất cao. Hiện tại Pháp là quốc gia đang có các chương trình cung cấp vốn và hỗ trợ việc đào giếng cung cấp nước sinh hoạt đối với một số cộng đồng dân cư nhỏ đang bị quên lãng.

Vườn quốc gia Daintree

Vườn quốc gia Daintree là một vườn quốc gia ở miền cực bắc bang Queensland (Úc), cách thành phố Brisbane 1.502 km về phía tây bắc và cách thành phố Cairns 100 km về phía tây bắc. Vườn quốc gia này được thành lập năm 1981.Năm 1988 Vườn này là một trong các vườn nằm trong Vùng nhiệt đới ẩm ướt của Queensland, một di sản thế giới của UNESCO. Vườn quốc gia này chia thành 2 khu, với khu nông nghiệp ở giữa có các thành phố Mossman và làng Daintree. Vườn này là nơi sinh sống quan trọng của các loài chim hiếm quý.

Phần lớn diện tích vườn này là rừng nhiệt đới ưa mưa. Rừng nhiệt đới Đại Daintree đã tồn tại liên tục từ trên 110 triệu năm, có thể là rừng nhiệt đới lâu đời nhất. Sự tồn tại lâu đời của rừng nhiệt đới này được cho là do việc Trôi dạt lục địa ngẫu nhiên. Sau khi lìa khỏi lục địa chính, một mảng lục địa đã trôi về phía cực trở thành Nam Cực, gây trắc trở cho các dòng đại dương, rồi nguội lạnh dần, trong khi các mảng lục địa khác trôi về vùng nóng và khô hơn. Các loài cây xưa kia được cho là đã tuyệt chủng từ lâu, chỉ vừa mới khám phá thấy ở đây. Rặng núi Great Dividing Range ở sát bờ biển trong vùng này. Hẻm núi Mossman Gorge nổi tiếng nằm phần phía nam của vườn này. Mũi đất Tribulation cũng nằm trong vườn này.Vườn cũng là nơi có các cự thạch (đá lớn) ở bãi biển Thornton. Các phiến đá lớn ở đây có tỷ trọng cao do lưu hóa bởi núi lửa. Trong vườn cũng có các sông Daintree, sông Bloomfield và sông Mossman.

Giống chim câu Wompoo Fruit-dove là một trong 6 loài chim câu sống trong vườn cũng như loài đà điểu đầu mào của Úc đang có nguy cơ bị tuyệt chủng.

Đại giác

Đại giác hay hoàng thảo sừng, thạch hộc cựa dài, trường cự thạch hộc (danh pháp hai phần: Dendrobium longicornu) là một loài lan trong chi Lan hoàng thảo.

Cây phân bố ở Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam. Tại Việt Nam, cây có mặt ở các khu vực: Sa Pa, Tam Đảo, Đà Lạt.

Ġgantija

Ġgantija (phát âm tiếng Malta: [dʒɡanˈtiːja], "Giantess") là tổ hợp đền thờ cự thạch khổng lồ có từ thời đại đồ đá mới nằm trên đảo Gozo, thuộc Cộng hòa Malta. Đây là ngôi đền sớm nhất trong quần thể Các ngôi đền bằng cự thạch của Malta. Nó thậm chí còn lâu đời hơn cả các kim tự tháp Ai Cập. Với tuổi đời lên đến hơn 5.500 năm, nó là công trình tôn giáo nhân tạo lâu đời thứ hai thế giới chỉ sau Göbekli Tepe ở Thổ Nhĩ Kỳ. Cùng với các công trình kiến trúc tương tự bằng cự thạch khác của Malta, Ġgantija đã được UNESCO công nhận là Di sản thế giới.

Các ngôi đền là yếu tố của một địa điểm nghi lễ nghi thức sinh sản. Quá trình khai quật đã tìm thấy nhiều bức tượng liên quan đến nghi thức này. Theo văn hóa dân gian Gozitan địa phương, một người phụ nữ khổng lồ đã không ăn gì khác ngoài đậu tằm và mật ong đã sinh ra một đứa bé với một người đàn ông bình thường. Với đứa bé trên vai, cô đã xây dựng những ngôi đền này.

Ấn Độ

Ấn Độ (tiếng Hindi: भारत, chuyển tự Bhārata, tiếng Anh: India), tên gọi chính thức là Cộng hòa Ấn Độ (tiếng Hindi: भारत गणराज्य, chuyển tự Bhārat Gaṇarājya, tiếng Anh: Republic of India), là một quốc gia tại Nam Á. Đây là quốc gia lớn thứ bảy về diện tích, và đông dân thứ nhì trên thế giới với trên 1,33 tỷ người. Ấn Độ tiếp giáp với Ấn Độ Dương ở phía Nam, biển Ả Rập ở phía Tây – Nam và vịnh Bengal ở phía Đông – Nam; có biên giới trên bộ với Pakistan ở phía Tây; với Trung Quốc, Nepal, và Bhutan ở phía Đông – Bắc; và Myanmar cùng Bangladesh ở phía Đông. Trên Ấn Độ Dương, Ấn Độ lân cận với Sri Lanka và Maldives; thêm vào đó, Quần đảo Andaman và Nicobar của Ấn Độ có chung đường biên giới trên biển với Thái Lan và Indonesia.

Tiểu lục địa Ấn Độ là nơi xuất hiện văn minh lưu vực sông Ấn cổ đại, có các tuyến đường mậu dịch mang tính lịch sử cùng những đế quốc rộng lớn, và trở nên giàu có về thương mại và văn hóa trong hầu hết lịch sử lâu dài của mình. Đây cũng là nơi bắt nguồn của bốn tôn giáo lớn: Ấn Độ giáo, Phật giáo, Jaina giáo và Sikh giáo; trong khi Do Thái giáo, Hỏa giáo, Cơ Đốc giáo và Hồi giáo được truyền đến vào thiên niên kỷ thứ nhất sau Công nguyên và cũng giúp hình thành nền văn hóa đa dạng của khu vực. Khu vực dần bị thôn tính và chuyển sang nằm dưới quyền quản lý của Công ty Đông Ấn Anh từ đầu thế kỷ XVIII, rồi nằm dưới quyền quản lý trực tiếp của Anh Quốc từ giữa thế kỷ XIX. Ấn Độ trở thành một quốc gia độc lập vào năm 1947 sau một cuộc đấu tranh giành độc lập dưới hình thức đấu tranh bất bạo động do Mahatma Gandhi lãnh đạo.

Nền kinh tế Ấn Độ lớn thứ 5 thế giới xét theo GDP danh nghĩa (năm 2018), được dự báo trở thành nền kinh tế thứ 4 thế giới vào năm 2021, hiện tại là nền kinh tế lớn thứ ba thế giới xét theo sức mua tương đương (PPP). Sau các cải cách kinh tế dựa trên cơ sở thị trường vào năm 1991, Ấn Độ trở thành một trong số các nền kinh tế lớn có mức tăng trưởng nhanh; và được nhận định là một nước công nghiệp mới. Tuy nhiên, quốc gia này vẫn tiếp tục phải đối diện với những thách thức từ nghèo đói, nạn tham nhũng, tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ em nông thôn, giáo dục và y tế công thiếu thốn, và chủ nghĩa khủng bố. Ấn Độ là một quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân và là một cường quốc trong khu vực, có quân đội thường trực lớn thứ ba và xếp hạng tám về chi tiêu quân sự trên thế giới, đồng thời được đánh giá là một siêu cường tiềm năng. Ấn Độ là một nước cộng hòa lập hiến liên bang theo thể chế nghị viện, gồm có 29 bang và 7 lãnh thổ liên bang. Ấn Độ là một xã hội đa nguyên, đa ngôn ngữ và đa dân tộc. Đây cũng là nơi có sự đa dạng về loài hoang dã trong nhiều khu vực được bảo vệ.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.