Cộng hòa Nhân dân Tuva

Cộng hòa Nhân dân Tuva (hay Cộng hòa Nhân dân Tannu Tuva; tiếng Tuva: Tьвa Arat Respuвlik, Тыва Арат Республик, Tyva Arat Respublik; 1921-1944) là một nhà nước độc lập được hai nước Liên Xô và Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ công nhận[2][3], nằm trên lãnh thổ xứ bảo hộ Tuva trước đây của Đế quốc Nga- cũng được gọi là Uryankhaisky Krai (tiếng Nga: Урянхайский край). Đây là một quốc gia vệ tinh của Liên Xô và hậu thân của nó là nước Cộng hòa Tuva trong thành phần Liên bang Nga hiện nay.

Cộng hòa Nhân dân Tuva
Tьвa Arat Respuвlik
Quốc gia chư hầu của Liên bang Xô Viết

1921–1944
Quốc kỳ Quốc huy
Quốc kỳ Quốc huy
Quốc ca
Tôruuktug Dolgay Tangdym[1]
Vị trí của Tuva
Thủ đô Kyzyl
Ngôn ngữ tiếng Tuva
tiếng Nga
tiếng Mông Cổ
Tôn giáo Phật giáo Tây Tạng
Shaman giáo
Chính quyền Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa
Chủ tịch Khertek Anchimaa-Toka
Thủ tướng Salchak Toka
Giai đoạn lịch sử Thời kỳ giữa hai thế chiến
 •  Thành lập 14 tháng 8 1921
 •  bị sáp nhập 11 tháng 10 1944
Diện tích
 •  1944 170.500 km² (65.830 sq mi)
Dân số
 •  1944 (ước tính) 95.400 
      Mật độ 0,6 /km²  (1,4 /sq mi)
Tiền tệ Akşa Tuva
Tuva map
Vị trí Cộng hòa Nhân dân Tuva

Lịch sử

Sau Cách mạng Nga 1917,Hồng Quân chiếm được Tuva vào tháng 1 năm 1920. Sự hỗn loạn trong giai đoạn này đã tạo điều kiện để người Tuva một lần nữa tuyên bố nền độc lập của họ. Ngày 14 tháng 8 năm 1921, những người Bolshevik (được Nga ủng hộ) đã thành lập Cộng hòa Nhân dân Tuva, được gọi là Tannu Tuva cho đến năm 1926. Thủ đô Khem-Beldir cuối cùng được đổi tên thành Kyzyl ('Đỏ' trong tiếng Tuva; trong tiếng Tuva và tiếng Nga: Кызыл; trong giai đoạn 1922-26 được đổi tên thành "Красный", Krasnyy, 'Đỏ' trong tiếng Nga). Một hiệp định giữa Liên XôCộng hòa Nhân dân Mông Cổ trong năm 1926 đã khẳng định nền độc lập của quốc gia này. Không có quốc gia nào khác chính thức công nhận Cộng hòa Nhân dân Tuva, song nó đã xuất hiện trên một số bản đồ và quả địa cầu sản xuất tại Hoa Kỳ.

Thủ tướng đầu tiên của Cộng hòa Nhân dân Tuva là Donduk Kuular thuộc Đảng Cách mạng Nhân dân Tuva. Kuular chọn Phật giáo làm quốc giáo và cố gắng giới hạn số người định cư và sự tuyên truyền đến từ Nga. Ông cũng cố gắng thiết lập các mối quan hệ với Mông Cổ. Liên Xô ngày càng trở nên lo lắng trước những hành động này và đến năm 1929, Thủ tướng Kuular đã bị bắt giữ và sau đó bị hành quyết. Trong lúc ấy (năm 1930), tại Liên Xô, năm thành viên của Trường Đại học Lao động Cộng sản Phương Đông (KUTV), cũng chính là nhóm đã hành quyết Kuular, đã được bổ nhiệm "các chính ủy đặc mệnh" của Tuva. Những người này đặc biệt trung thành với chính phủ Joseph Stalin, họ đã tiến hành thanh trừng một phần ba số thành viên trong Đảng Cách mạng Nhân dân Tuva và thúc đẩy tập thể hóa tại một quốc gia có kinh tế dựa vào chăn nuôi gia súc du mục truyền thống. Chính phủ mới bắt đầu các hành động nhằm tiêu diệt Phật giáo và Shaman giáo tại Tuva, một chính sách được Stalin khuyến khích. Bằng chứng về sự thành công của các hành động này thể hiện trong việc suy giảm số lượng các vị Lạt-ma tại quốc gia này: vào năm 1929 có 25 tu viện Lạt-ma với khoảng 4.000 lạt-ma và pháp sư; vào năm 1931 chỉ còn 1 tu viện Lạt-ma, 15 lạt-ma, và khoảng 725 pháp sư. Những nỗ lực xóa bỏ chăn nuôi du mục thì khó khăn hơn. Một cuộc điều tra dân số vào năm 1931 cho thấy 82,2% người Tuva vẫn tham gia chăn nuôi gia súc du mục. Salchak Toka, một trong số các chính ủy đặc mệnh đã đề cập ở trên, đã được lập làm Tổng bí thư của Đảng Cách mạng Nhân dân Tuva vào năm 1932. Ông vẫn nắm giữ quyền lực tại Tuva cho đến khi qua đời vào năm 1973.

Tuva bước vào Thế chiến II cùng với Liên Xô vào ngày 25 tháng 6 năm 1941, ba ngày sau khi Đức tấn công vào Liên Xô. Ngày 11 tháng 10 năm 1944, theo yêu cầu của Tiểu Khural Nhân dân Tuva (nghị viện), Tuva trở thành một phần của Liên Xô và được tổ chức thành tỉnh tự trị Tuva của CHXHCNXV Liên bang Nga theo quyết định của Đoàn chủ tịch Xô viết Tối cao Liên Xô. Tiểu Khural Nhân dân đã chính thức hóa việc sáp nhập tại phiên họp cuối cùng của nó vào ngày 1 tháng 11 năm 1944. Salchak Toka trở thành Bí thư thứ nhất của Đảng Cộng sản Tuva. Tuva duy trì vị thế là cộng hòa tự trị (CHXHCNXVTT Tuva trong thành phần CHXHCNXV Liên bang Nga) từ ngày 10 tháng 10 năm 1961 cho đến năm 1992.

Lãnh đạo

Flag of the Tuvan People's Republic (1926-1930)
Quốc kỳ của Cộng hòa Nhân dân Tuva từ ngày 24 tháng 11 năm 1926 đến 28 tháng 6 năm 1930. Văn bản viết bằng tiếng Mông Cổ, chuyển tự Latinh là
Bügüde Nayiramdaqu Tuva Arad Ulus
"Cộng hòa Nhân dân Tuva".

Nguyên thủ quốc gia

  • Chủ tịch Khural Lập hiến
    • Mongush Buyan-Badyrgy (14 tháng 8 năm 1921 - 15 tháng 8 năm 1921)
  • Chủ tịch Đoàn chủ tịch Tiểu Khural
    • Nimachyan (Nimazhav) (18 tháng 9 năm 1924 - 4 tháng 2 năm 1929)
    • Chuldum Lopsakovi (5 tháng 2 năm 1929 - 5 tháng 11 năm 1936)
    • Adyg-Tulush Khemchik-ool (6 tháng 11 năm 1936 - tháng 2 năm 1938)
    • Oyun Polat (2 tháng 3 năm 1938 - 4 tháng 4 năm 1940)
    • Khertek Anchimaa-Toka (6 tháng 4 năm 1940 - 11 tháng 10 năm 1944)

Đứng đầu chính phủ

  • Chủ tịch Hội đồng Trung ương
    • Sodnam Balchir Ambyn-noyon (15 tháng 8 năm 1921 - 28 tháng 2 năm 1922)
  • Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng
    • Lobsang-Osur (1 tháng 3 năm 1922 - 15 tháng 8 năm 1922)
    • Idam-Syurun (Sürun) (15 tháng 8 năm 1922 - 19 tháng 9 năm 1923)
    • Mongush Buyan-Badyrgy (20 tháng 9 năm 1923 - 18 tháng 9 năm 1924)
    • Soyan Oruygu (18 tháng 9 năm 1924 - 1925)
    • Donduk Kuular (1925 - tháng 1 năm 1929)
    • Adyg-Tulush Khemchik-ool (tháng 1 năm 1929 - 6 tháng 11 năm 1936)
    • Sat Churmit-Dazhi (6 tháng 11 năm 1936 - tháng 2 năm 1938)
    • Bair Ondar (Aleksey Shirinmeyevich Bair) (1938 - 1940)
    • Saryg-Dongak Chymba (Aleksandr Mangeyevich Chimba) (6 tháng 4 năm 1940 - 11 tháng 10 năm 1944)

Đứng đầu đảng

  • Tổng bí thư
    • Nimachyan (Nimazhav, Nimazhap) (1921 - 1923)
    • Lobsang-Osur (1923)
  • Chủ tịch
    • Oyun Kursedy (9 tháng 7 năm 1923 - 15 tháng 3 năm 1924)
  • Tổng bí thư
    • Shagdyr (thấng 4 năm 1924 - tháng 1 năm 1926)
  • Bí thư thứ nhất
    • Mongush Buyan-Badyrgy (tháng 1 năm 1926 - tháng 2 năm 1927)
    • Sodnam Balchir Ambyn-noyon (tháng 2 năm 1927 - tháng 1 năm 1929)
    • Irgit Shagdyrzhap (tháng 1 năm 1929 - tháng 3 năm 1932)
  • Tổng bí thư
    • Salchak Toka (6 tháng 3 năm 1932 - 11 tháng 10 năm 1944)

Dân số

Dân số Tuva[4]
1918 1931 1944 1958
Người Tuva 48.000 64.900 81.100 98.000
Người Nga và các dân tộc khác 12.000 17.300 14.300a 73.900
Tổng 60.000 82.200 95.400 171.900

a. Số người Nga suy giảm do cưỡng bách tòng quân vào Hồng Quân trong Thế chiến II.

Tham khảo

  1. ^ Minahan, James (2009). The Complete Guide to National Symbols and Emblems. ABC-CLIO. tr. 193. ISBN 0313344973.
  2. ^ Dallin, David J. Soviet Russia and the Far East, Yale University Press, 1948, p. 87
  3. ^ Paine, S.C.M. Imperial Rivals: China, Russia, and Their Disputed Frontier, M.E. Sharpe, 1996, p. 329.
  4. ^ (tiếng Nga) V. A. Grebneva, "Geography of Tuva", Kyzyl, 1968.

Nguồn

Liên kết ngoài

Tọa độ: 51°41′53″B 94°23′24″Đ / 51,698°B 94,39°Đ

11 tháng 10

Ngày 11 tháng 10 là ngày thứ 284 (285 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 81 ngày trong năm.

14 tháng 8

Ngày 14 tháng 8 là ngày thứ 226 (227 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 139 ngày trong năm.

Chiến trường châu Âu (Thế chiến thứ hai)

Chiến trường châu Âu là cuộc tranh chấp vũ trang rộng lớn, trải khắp châu Âu trong Chiến tranh thế giới thứ hai giữa hai phe: quân đội phe Trục (phần lớn là Đức Quốc xã, Phát xít Ý) và quân đội Đồng Minh (phần lớn là Anh Quốc, Hoa Kỳ, Pháp và Liên Xô) - khởi đầu từ khi Đức tấn công Ba Lan ngày 1 tháng 9 năm 1939 cho đến khi Đức đầu hàng vô điều kiện ngày 8 tháng 5 năm 1945.

Chiến trường châu Âu được chia làm ba mặt trận: Mặt trận phía đông - giữa Đức và Liên Xô; Mặt trận phía tây - giữa Đức và Anh, Pháp, và Hoa Kỳ; và Mặt trận Địa Trung Hải - giữa Đức, Ý và Anh, Úc, New Zealand.

Các nước cộng hòa của Liên bang Xô viết

Các nước cộng hòa của Liên bang Xô viết được quy định theo Điều 76 của Hiến pháp Xô viết 1977 là những nhà nước Xã hội chủ nghĩa Xô viết có chủ quyền hợp nhất với những nước Cộng hòa Xô viết khác để trở thành Liên bang Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Xô viết hay Liên bang Xô viết. Điều 81 của Hiến pháp nói rõ "những quyền lợi tối cao của các Nước cộng hòa Liên bang sẽ được bảo vệ bởi Liên bang Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Xô viết".Theo Tòa án Nhân quyền châu Âu, Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc, các chính phủ của các quốc gia Baltic (Estonia, Latvia, Litva), Hoa Kỳ, và Châu Âu, 3 nước cộng hòa Baltic Xô viết (CHXHCNXV Estonia, CHXHCNXV Latvia và CHXHCNXV Litva - CHXHCNXV Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết) bị Liên bang Xô viết xâm chiếm vào năm 1940 theo những điều khoản của Hiệp ước Molotov-Ribbentrop. Chính phủ Nga và những quốc gia chính thức ủng hộ sự sáp nhập vào Xô viết của những quốc gia Baltic là hợp pháp.Vào những thập niên cuối cùng khi Liên Xô còn tồn tại, Liên bang Xô viết gồm 15 Các nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết (SSR), thường được gọi đơn giản là Các nước Cộng hòa Xô viết. Trong Liên bang Xô viết những nước cộng hòa Xô viết cũng được gọi là Các nước cộng hòa liên bang (tiếng Nga: союзные республики, soyuznye respubliki). Tất cả các nước cộng hòa này đều được xem như những nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa, ngoài ngoại lệ là CHXHCNXV Liên bang Nga (SFSR Liên bang Nga), tất cả các nước cộng hòa đều có những đảng cộng sản của riêng mình, những đảng cộng sản này là 1 phần của Đảng Cộng sản Liên Xô. Tất cả những nước cộng hòa cũ hiện nay đã trở thành các quốc gia độc lập, 12 quốc gia trong số 15 nước cộng hòa cũ (trừ 3 nước Baltic) đều tham gia vào 1 tổ chức sau khi Liên Xô tan rã có tên là Cộng đồng các Quốc gia Độc lập (tiếng Nga: SNG, tiếng Anh: CIS).

Căn cứ vào hiến pháp, Liên Xô là một liên bang. Theo Điều 72 của Hiến pháp năm 1977, mỗi nước cộng hòa đều có quyền ly khai khỏi Liên Xô. Dù trong Chiến tranh Lạnh, quyền này được xem xét rộng rãi là vô nghĩa, tuy nhiên, Điều 72 đã được sử dụng vào tháng 12/1991 và khiến Liên Xô tan rã, khi Nga, Ukraina và Belarus ly khai khỏi Liên bang.

Trong thực tế, Liên Xô là 1 thực thể tập trung quyền lực ở mức độ cao từ khi thành lập vào năm 1922 cho đến giữa thập niên 1980 khi những lực lượng chính trị khác được phép hoạt động từ những cải cách của Mikhail Gorbachev, dẫn đến việc buông lỏng quyền lực quản lý của trung ương và cuối cùng là sự sụp đổ của Liên Xô. Theo Hiến pháp thông qua năm 1936, và được sửa đổi nhiều lần cho đến tháng 10/1977, nền tảng chính trị của Liên Xô được hình thành từ Xô viết địa phương do nhân dân bầu. Các Xô viết địa phương này tồn tại ở mọi cấp hành chính, và phải chịu sự điều khiển của "Cơ quan quyền lực cao nhất" của Liên Xô là Xô viết Tối cao (Верховный Совет) ở Moskva.

Cùng với hệ thống phân cấp hành chính nhà nước, còn tồn tại song song các tổ chức của đảng cộng sản, điều này cho phép Bộ chính trị sử dụng quyền lực điều khiển lớn hơn trên các nước cộng hòa. Các cơ quan hành chính nhà nước chịu sự điều khiển từ các cơ quan song song của đảng cộng sản, và việc bổ nhiệm của mọi đảng và các công chức nhà nước phụ thuộc vào sự tán thành của cơ quan trung ương của đảng cộng sản. Thường thì Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Xô viết của mỗi nước cộng hòa là người của nước cộng hòa đó trừ Nga, trong khi tổng bí thư đảng của mỗi nước cộng hòa phải là người của nước cộng hòa khác.

Mỗi nước cộng hòa có biểu tượng của quốc gia trên: quốc kỳ, quốc huy, quốc ca, và 1 ngoại lệ với CHXHCNXV Liên bang Nga có quốc ca là quốc ca của Liên Xô. Mỗi nước cộng hòa của Liên Xô cũng được tặng thưởng Huân chương Lenin.

Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga

Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga (tiếng Nga: Российская Советская Федеративная Социалистическая Республика, chuyển tự. Rossiyskaya Sovetskaya Federativnaya Sotsialisticheskaya Respublika IPA: [rɐˈsʲijskəjə sɐˈvʲɛtskəjə fʲɪdʲɪrɐˈtʲivnəjə sətsɨəlʲɪˈsʲtʲitɕɪskəjə rʲɪˈspublʲɪkə] ( nghe)) hoặc gọi tắt là Nga Xô viết là nước cộng hòa Xô viết lớn nhất và đông dân nhất trong số mười lăm nước cộng hòa của Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết (gọi tắt là Liên Xô). Sau khi Liên Xô sụp đổ, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga đổi thành Liên bang Nga. Cho đến nay, nó vẫn là một thực thể phụ thuộc có diện tích lớn nhất trên thế giới và thứ hai về dân số, sau Uttar Pradesh thuộc Ấn Độ. Sau sự tan rã của Liên Xô, Tứ Xuyên ở Trung Quốc trở thành thực thể phụ thuộc đông dân thứ hai, nhưng cũng chỉ đến năm 1997 khi tỉnh này được chính phủ Trung Quốc thay đổi về mặt hành chính.

Danh sách quốc gia xã hội chủ nghĩa

Đây là danh sách các nước, trong quá khứ và hiện tại, tự tuyên bố trong tên gọi hoặc hiến pháp là nước Xã hội chủ nghĩa. Không có tiêu chuẩn nào được đưa ra, vì thế, một vài hoặc tất cả các quốc gia này có thể không hợp với 1 định nghĩa cụ thể nào về chủ nghĩa xã hội. Điểm chung của những nước này là sử dụng tên "xã hội chủ nghĩa" dưới bất kỳ ý nghĩa nào. Có ít định nghĩa về chủ nghĩa xã hội có thể phù hợp với tất cả các nước trong danh sách này. Tuy nhiên hầu hết các định nghĩa về chủ nghĩa xã hội phù hợp với ít nhất một vài nước ở vào một vài thời điểm trong lịch sử.

Có nhiều nước đã từng được điều hành bởi đảng xã hội chủ nghĩa trong một thời gian dài mà không tiếp nhận chủ nghĩa xã hội như là hệ tư tưởng chính thức trong tên gọi hay hiến pháp. Những nước như vậy không được liệt kê ở đây.

Ngược lại, có một số nước vẫn duy trì chủ nghĩa xã hội trong hiến pháp nhưng không được điều hành bởi một đảng xã hội chủ nghĩa. Những nước này cũng bao gồm trong danh sách.

Trong quá khứ đã từng có gần 100 quốc gia (tính cả Các nước Cộng hòa của Liên bang Xô viết trực thuộc trực tiếp vào Liên Xô) tự nhận là theo Xã hội chủ nghĩa. Nhưng hầu hết Đảng Cộng sản trong các quốc gia này đều không còn cầm quyền, mặc dù vẫn hoạt động tích cực. Hiện nay chỉ có 4 quốc gia là CHND Trung Hoa, CH Cuba, CHDCND Lào và CHXHCNViệt Nam được công nhận là nước xã hội chủ nghĩa do các Đảng Cộng sản lãnh đạo theo chủ nghĩa Marx - Engels - Lenin; Triều Tiên cũng là Nhà nước đơn nhất 1 đảng nhưng theo Tư tưởng Chủ thể và chính sách Sogun (Tiên quân). Ngoài ra Campuchia, Myanmar, Sri Lanka, Đông Timor,... có các nhóm lãnh đạo cánh tả theo xu hướng xã hội chủ nghĩa tạm thời lãnh đạo theo nhiệm kỳ.

Khertek Anchimaa-Toka

Khertek Amyrbitovna Anchimaa-Toka (tiếng Nga: Хертек Амырбитовна Анчимаа-Тока, 1 tháng 1 năm 1912 – 4 tháng 11 năm 2008) là một chính trị gia Tuva/Liên Xô, trong giai đoạn 1940–44 bà giữ chức chủ tịch Tiểu Khural (quốc hội) của Cộng hòa Nhân dân Tuva, và là nữ nguyên thủ quốc gia được bầu hay bổ nhiệm đầu tiên trong lịch sử thế giới hiện đại.

Liên Xô

Liên Xô, tên đầy đủ là Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết hoặc Liên bang Các nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết (tiếng Nga: Союз Советских Социалистических Республик, chuyển tự. Soyuz Sovietskikh Sotsialisticheskikh Respublik Phát âm tiếng Nga: [sɐˈjus sɐˈvʲetskʲɪx sətsɨəlʲɪˈstʲitɕɪskʲɪx rʲɪsˈpublʲɪk] ( nghe), viết tắt: СССР; tiếng Anh: Union of Soviet Socialist Republics, viết tắt: USSR) là một cựu quốc gia có lãnh thổ chiếm phần lớn châu Âu và châu Á, tồn tại từ 30 tháng 12 năm 1922 cho đến khi chính thức giải thể vào ngày 25 tháng 12 năm 1991.

Các tên gọi không chính thức: Liên bang Xô viết (tiếng Nga: Советский Союз, chuyển tự. Sovietsky Soyuz Phát âm tiếng Nga: [sɐˈvʲɛt͡skʲɪj sɐˈjus] ( nghe); tiếng Anh: Soviet Union), Liên Xô.Sự thành lập quốc gia này gắn liền với quá trình sụp đổ của Đế quốc Nga trong Chiến tranh thế giới thứ nhất: cuộc Cách mạng tháng Hai lật đổ chính quyền Sa hoàng và Cách mạng Tháng Mười năm 1917 lật đổ Chính phủ Lâm thời của Aleksandr Fyodorovich Kerensky sau đó. Liên Xô hình thành với chiến thắng của những người cộng sản Nga (Bolshevik) đứng đầu là Vladimir Ilyich Lenin trong cuộc cách mạng Tháng Mười và trong cuộc nội chiến Nga (1918 – 1922).

Liên Xô là nước đầu tiên trên thế giới xây dựng Chủ nghĩa cộng sản. Là quốc gia rộng nhất thế giới và sự xuất hiện của nhà nước Liên Xô xã hội chủ nghĩa đã ảnh hưởng rất lớn đến tiến trình lịch sử của thế giới. Trong thế kỷ XX, sau khi Liên Xô xuất hiện, mọi sự kiện lớn của thế giới – nhiều hay ít – đều có dấu ấn và chịu ảnh hưởng của Liên Xô.

Liên Xô thuộc phe Đồng Minh chiến thắng trong Chiến tranh thế giới thứ hai và mạnh lên thành một siêu cường của thế giới. Nửa sau thế kỷ XX là cuộc đấu tranh giữa hai phe Tư bản chủ nghĩa (tự gọi là Thế giới tự do) do Hoa Kỳ đứng đầu và phe Xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu mà cuộc Chiến tranh Lạnh là đỉnh cao. Sau đó là thời gian trì trệ kéo dài, dẫn đến sự cải tổ và tan rã trong năm 1991.

Lãnh thổ Liên Xô thay đổi theo thời gian. Gần đây nhất nó gần giống lãnh thổ Đế quốc Nga, ngoại trừ các nước Ba Lan và Phần Lan, ngoài ra còn có Alaska, Đế quốc Nga đã bán cho Hoa Kỳ trước đó vào năm 1867.

Quốc gia vệ tinh

Quốc gia vệ tinh (tiếng Anh: Satellite state) là một quốc gia độc lập chính thức trên thế giới, nhưng chịu ảnh hưởng hoặc kiểm soát chính trị, kinh tế và quân sự nặng nề từ một quốc gia khác. Thuật ngữ này được đặt ra bởi sự tương tự với các vật thể hành tinh quay quanh một vật thể lớn hơn, chẳng hạn như các mặt trăng nhỏ hơn xoay quanh các hành tinh lớn hơn, và được sử dụng chủ yếu để chỉ các quốc gia Trung và Đông Âu của Khối Warszawa và Đông Âu, nó ngụ ý rằng các quốc gia đang nghi vấn là "vệ tinh" dưới quyền bá chủ của Liên Xô. Trong một số bối cảnh, nó cũng đề cập đến các quốc gia khác trong phạm vi ảnh hưởng của Liên Xô trong Chiến tranh Lạnh là Triều Tiên (đặc biệt là trong những năm xung quanh Chiến tranh Triều Tiên 1950–1953) và Cuba (đặc biệt là sau khi gia nhập Hội đồng Tương trợ Kinh tế năm 1972). Theo cách sử dụng của phương Tây, thuật ngữ này hiếm khi được áp dụng cho các quốc gia khác ngoài các quốc gia trong quỹ đạo của Liên Xô. Theo cách sử dụng của Liên Xô, thuật ngữ này được áp dụng cho các quốc gia trên quỹ đạo của Đức Quốc Xã, Phát xít Ý và Đế quốc Nhật Bản.

Từ điển tiếng Anh Oxford dấu vết việc sử dụng các cụm từ quốc gia vệ tinh bằng tiếng Anh trở lại ít nhất là như xa như năm 1916.

Trong thời kỳ chiến tranh hoặc căng thẳng chính trị, các quốc gia vệ tinh đôi khi đóng vai trò là bộ đệm giữa một quốc gia kẻ thù và quốc gia thực hiện quyền kiểm soát các vệ tinh. "Quốc gia vệ tinh" là một trong một số thuật ngữ gây tranh cãi được sử dụng để mô tả sự phụ thuộc (bị cáo buộc) của trạng thái này sang trạng thái khác. Các điều khoản khác bao gồm nhà nước bù nhìn và thuộc địa mới. Nói chung, thuật ngữ "nhà nước vệ tinh" ngụ ý trung thành về tư tưởng và quân sự sâu sắc đối với quyền lực bá quyền, trong khi "nhà nước bù nhìn" ngụ ý sự phụ thuộc về chính trị và quân sự, và "thuộc địa mới" ngụ ý (thường bãi bỏ) sự phụ thuộc về kinh tế. Tùy thuộc vào khía cạnh nào của sự phụ thuộc đang được nhấn mạnh, một trạng thái có thể rơi vào nhiều loại.

Quốc kỳ Cộng hòa Nhân dân Tuva

Trong thời kỳ tồn tại ngắn ngủi của mình, Cộng hòa Nhân dân Tuva có một số những quốc kỳ. Rất nhiều những biểu tượng của Xã hội Chủ nghĩa được sử dụng, như búa liềm và nền màu đỏ.

Quốc kỳ Tuva

Quốc kỳ Tuva, một nước cộng hòa của Liên bang Nga, có nền màu xanh dương với một hình chữ "Y" và một tam giác màu vàng ở bên trái.

Màu trắng tượng trưng cho bạc và đức hạnh; Ngoài ra, thông thường ở Tuva là các nữ tiếp viên chào đón khách với những người truyền phát bạc trong vòng tay của họ. Hình tam giác màu vàng tượng trưng cho vàng và Phật giáo. Màu xanh tượng trưng cho đạo đức của những người chăn du mục (những người thường được tôn trọng trong khu vực), cũng như bầu trời Tuvan. Pall xanh tượng trưng cho hợp lưu của sông Bii-Khem (Bolshoy Yenisei) và Kaa-Khem (Maly Yenisei) tại thủ đô Tuvan của Qızıl, nơi chúng tạo thành sông Yenisei, được người dân địa phương gọi là sông Ulug-Khem.

Lá cờ được tạo ra vào ngày 18 tháng 9 năm 1992, bởi Oyun-ool Sat, I. C. Salchak và O. I. Lazarev. Tỷ lệ là 2: 3.

Sükhbaataryn Yanjmaa

Sükhbaataryn Yanjmaa (tiếng Mông Cổ: Сүхбаатарын Янжмаа, nhũ danh Nemendeyen Yanjmaa, tiếng Mông Cổ: Нэмэндэен Янжмаа; 15 tháng 2 năm 1893–1963) là góa phụ của lãnh tụ cách mạng Mông Cổ Damdin Sükhbaatar, bà là Chủ tịch Đoàn chủ tịch Đại Khural Quốc gia từ tháng 9 năm 1953 đến tháng 7 năm 1954, trở thành người phụ nữ thứ hai trong lịch sử được bầu hay bổ nhiệm làm nguyên thủ quốc gia.Yanjmaa sinh ngày 15 tháng 2 năm 1893 trong một gia đình mục dân nghèo gần Ulaanbaatar ngày nay. Bà hoạt động trong nhóm cách mạng của Sükhbaatar với vai trò người đưa tin vào năm 1919. Khi phu quân của bà đến Liên Xô vào năm 1920 để giao thiệp với những nhà cách mạng Bolshevik, Yanjmaa đã ở lại Ulaanbaatar cùng con trai, trốn tránh lùng sục của các quan chức Trung Quốc. Năm 1921, Khorloogiin Choibalsan đã giúp bà và con trai chạy trốn đến Kyakhta để đoàn tụ với Sükhbaatar.

Sau khi phu quân của bà lãnh đạo quân du kích Mông Cổ giành chiến thắng trong Cách mạng Ngoại Mông 1921, Yanjmaa trở thành một thành viên của Liên hiệp Thanh niên Cách mạng Mông Cổ. Khi Sükhbaatar qua đời năm 1923, bà nhận "Sükhbaataryn" để thay thế phụ danh Nemedeyen và gia nhập Đảng Nhân dân Cách mạng Mông Cổ vào năm 1924. Với vai trò là một thành viên của Uỷ ban Trung ương Đảng và Đoàn chủ tịch Uỷ ban Trung ương, bà đã đại diện cho Đảng Nhân dân Cách mạng Mông Cổ trong Hội nghị Quốc tế lần thứ ba của Phụ nữ Cộng sản (nơi bà gặp Clara Zetkin và Nadezhda Krupskaya) và Đại hội Thế giới lần thứ năm của Quốc tế thứ ba ở Moskva, cả hai đều diễn ra vào năm 1924. Bà đã tham gia vào việc hình thành công đoàn đầu tiên của Mông Cổ vào năm 1925. Từ năm 1927 đến năm 1930, bà theo học tại Trường Đại học Lao động Cộng sản Phương Đông ở Moskva. Năm 1933, Yanjmaa đứng đầu phân nhóm phụ nữ mới được thành lập của Uỷ ban Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Mông Cổ và với vị trí này, bà tập trung vào việc phát triển giáo dục của phụ nữ.

Từ năm 1940 cho đến năm 1954, Yanjmaa là một ủy viên trong Bộ chính trị của Đảng và là Bí thư của Uỷ ban Trung ương Đảng từ năm 1941 đến năm 1947. Bà là một thành viên của Đoàn chủ tịch Tiểu Khural (ủy ban hành pháp của Đại Khural Quốc gia, hay nghị viện) từ năm 1940 đến 1950. Trong Thế chiến II Yanjmaa đã giúp gây quỹ để hỗ trợ Liên Xô, vì thế bà đã được Liên Xô trao Huân chương Cờ đỏ Lao động vào năm 1946. Năm 1945, bà được bầu làm một thành viên của Liên đoàn Phụ nữ Dân chủ Quốc tế

Yanjmaa là một thành viên của Đại Khural Nhân dân từ năm 1950 đến 1962. Sau cái chết của Gonchigiin Bumtsend, bà trở thành quyèn Chủ tịch Mông Cổ trong giai đoạn chuyển giao, tại chức từ ngày 23 tháng 9 năm 1953 đến ngày 8 tháng 7 năm 1954. Điều này khiến bà trở thành người phụ nữ thứ hai nắm giữ vai trò nguyên thủ quốc gia chính thức của một nước cộng hòa, sau Khertek Anchimaa-Toka tại Cộng hòa Nhân dân Tuva.

Tannu Uriankhai

Tannu Uriankhai (tiếng Nga: Урянхайский край. giản thể: 唐努乌梁海; phồn thể: 唐努烏梁海; bính âm: Tángnǔ Wūliánghǎi, phiên âm Hán-Việt: Đường Nỗ Ô Lương Hải), là một khu vực thuộc Đế quốc Mông Cổ và sau này thuộc về nhà Thanh. Lãnh địa Tannu Uriankhai nay gần như trùng với lãnh thổ Cộng hòa Tuva thuộc Liên bang Nga, giáp giới với các vùng thuộc Nga và Mông Cổ.

Sau khi Ngoại Mông tuyên bố độc lập từ nhà Thanh, và Trung Hoa Dân Quốc đầu thế kỷ 20, khu vực Tannu Uriankhai ngày càng chịu ảnh hưởng từ phía Nga, và cuối cùng trở thành một quốc gia cộng sản độc lập, mang tên Cộng hòa Nhân dân Tuva, sáp nhập vào Liên bang Sô viết năm 1944.

Trung Hoa dân quốc (Đài Loan) chưa bao giờ chính thức tuyên bố từ bỏ chủ quyền trên vùng đất này, kể từ năm 1949.

Tooruktug Dolgay Tangdym

Tooruktug Dolgay Tangdym (Tuva: Тооруктуг долгай таңдым), là quốc ca của Cộng hòa Nhân dân Tuva, sau này là Cộng hòa Tuva, Nga. Vào ngày 11 tháng 8 năm 2011, nó đã được thay thế bằng một bài quốc ca mới có tên Men - Tyva Men.

Nó đề cập đến Tangdy, hoặc dãy núi Tannu-Ola, một dãy núi ở phía nam Tuva được người Tuva tôn kính. Tên của dãy núi được kết hợp thành "Tannu-Tuva", tên phổ biến của Cộng hòa Nhân dân Tuva.

Trung Hoa Dân quốc (1912–1949)

Trung Hoa Dân quốc (THDQ) là nhà nước thống trị Trung Quốc từ năm 1912 đến năm 1949. Năm 1911, Cách mạng Tân Hợi bùng phát khiến triều đại nhà Thanh sụp đổ. Ngày 1 tháng 1 năm 1912, Tôn Trung Sơn thành lập Chính phủ lâm thời tại Nam Kinh, tuyên bố kiến lập Trung Hoa Dân Quốc. Sau Nghị hòa Nam-Bắc, Chính phủ lâm thời dời đến Bắc Kinh. Tháng 10 năm 1913, Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc chính thức thành lập, song liền bị phân liệt không lâu sau đó. Trải qua Chiến dịch Bắc phạt của Quốc dân Cách mạng quân, Chính phủ Quốc dân Nam Kinh thay thế Chính phủ Bắc Dương vào năm 1928, thống nhất Trung Quốc trên danh nghĩa, song sau đó lại rơi vào xung đột với Đảng Cộng sản Trung Quốc, các thế lực quân phiệt vũ trang ở các địa phương và Đế quốc Nhật Bản. Từ sau sự kiện tháng 7 năm 1937, Nhật Bản tiến hành xâm lược toàn diện Trung Quốc, tháng 12 cùng năm thủ đô của Trung Hoa Dân quốc thất thủ, Chính phủ Quốc dân triệt thoái đến Trùng Khánh. Tháng 12 năm 1941, Chính phủ Quốc dân chính thức tuyên chiến với Nhật Bản, đến năm 1945 thì giành được thắng lợi. Năm 1947, Chính phủ Quốc dân ban bố hiến pháp, cải tổ thành Chính phủ Trung Hoa Dân quốc.

Năm 1949, Chính phủ Trung Hoa Dân quốc dưới quyền Trung Quốc Quốc dân Đảng bị lực lượng vũ trang của Đảng Cộng sản Trung Quốc đánh bại trong nội chiến, do đó để mất sự thống trị với Trung Quốc đại lục. Ngày 1 tháng 10 cùng năm, Đảng Cộng sản Trung Quốc kiến lập Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại Bắc Kinh, chính thức nắm giữ quyền thống trị đối với Trung Quốc đại lục, đến tháng 12 cùng năm thì Chính phủ Trung Hoa Dân quốc dời đến Đài Bắc, tiếp tục duy trì thống trị đối với khu vực Đài Loan, hình thành cục diện chia cắt hai bờ eo biển.

Cách mạng Tân Hợi lật đổ chế độ quân chủ kéo dài hai nghìn năm tại Trung Quốc, kiến lập nước cộng hòa. Trung Hoa Dân quốc thời kỳ 1912-1949 là một thời đại phân liệt trong lịch sử Trung Quốc, từ Cách mạng Tân Hợi đến Cách mạng lần hai, Chiến tranh Hộ pháp, Chiến tranh Bắc phạt, Quân phiệt hỗn chiến, Chiến tranh kháng Nhật, Quốc-Cộng nội chiến, chưa thời gian nào có được hòa bình thực sự. Nhân dân Trung Quốc trong thời kỳ này chịu thương vong lớn do chiến tranh và thiên tai, chính phủ phát hành quá nhiều tiền gây nên lạm phát phi mã; Liên Xô xâm nhập khiến Ngoại Mông Cổ độc lập, Anh Quốc can thiệp khiến Tây Tạng độc lập trên thực tế; đối diện với Nhật Bản xâm nhập, Chính phủ Quốc dân liên tục triệt thoái, sau khi để mất quyền khống chế gần nửa lãnh thổ cuối cùng đánh bại Nhật Bản với trợ giúp từ Đồng Minh, đồng thời tiếp nhận Đài Loan và Bành Hồ từ Nhật Bản. Sau đại chiến, Trung Hoa Dân quốc tham gia sáng lập Liên Hiệp Quốc, là một trong năm thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, Trung Hoa Dân quốc trở thành một cường quốc lớn mạnh và tạo lập địa vị quốc tế vững chắc của mình sau đại chiến.

Trung Hoa Dân quốc chiếm đóng Mông Cổ

Sự chiếm đóng Mông Cổ bởi chính phủ Bắc Dương của Trung Hoa Dân quốc bắt đầu vào tháng 10 năm 1919 và kéo dài cho đến đầu năm 1921, khi quân đội Trung Quốc trong Urga bị đánh bại bởi lực lượng Bạch vệ dưới quyền Baron Ungern và lực lượng Mông Cổ. Đến lượt mình, những lực lượng này bị đánh bại bởi Hồng quân và các đồng minh Mông Cổ của họ vào tháng 6 năm 1921.

Mặc dù chính phủ Bắc Dương đã bãi bỏ quyền tự trị của Bogd Khan ở Mông Cổ và sau đó mở rộng sự chiếm đóng của mình bao gồm cả Tuva, nhưng họ không thể bảo vệ các yêu sách của mình đối với Ngoại Mông và Tannu Uriankhai (Tuva).

Tuva

Cộng hòa Tyva (tiếng Nga: Респу́блика Тыва́, chuyển tự. Respublika Tyva, IPA [rʲɪˈspublʲɪkə tɨˈva]; tiếng Tuva: Тыва Республика, Tyva Respublika), hay Tuva (tiếng Nga: Тува́), là một chủ thể liên bang của Nga (một cộng hòa). Cộng hòa về mặt địa lý nằm tại khu vực trung tâm của châu Á, thuộc miền nam Siberi. Tuva có biên giới với Cộng hòa Altai, Khakassia, Krasnoyarsk, Irkutsk, và Buryatia thuộc Nga và Mông Cổ ở phía nam. Một phần lớn diện tích của Tuva là các dãy núi, rừng cây và thảo nguyên.

Phần lớn cư dân tại nước cộng hòa là người Tuva, tuy nhiên tiếng Nga được sử dụng rộng rãi tại đây. Thành phố thủ đô là Kyzyl. Cơ quan quản lý tại Tuva là Đại Khural, cơ quan này bầu lên một chủ tịch có nhiệm kì bốn năm. Chủ tịch hiện nay là Sholban Kara-ool.

Tỉnh tự trị Tuva

Tỉnh tự trị Tuva (tiếng Nga: Туви́нская авто́номная о́бласть, chuyển tự Tuvinskaya avtonomnaya oblast) là một vùng tự trị của Liên Xô tạo ra vào ngày 11 Tháng 10 năm 1944 sau khi nhà nước Cộng hòa Nhân dân Tuva bị xáp nhập bởi Liên Xô. Vào ngày 10 tháng 10 năm 1961, nó được biến thành Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết tự trị Tuvan.

Đại Mông Cổ

Đại Mông Cổ là một khu vực địa lý, bao gồm các vùng lãnh thổ tiếp giáp nhau, chủ yếu là các sắc tộc người Mông Cổ sinh sống. Nó bao gồm gần đúng nhà nước Mông Cổ ngày nay, khu tự trị Nội Mông Cổ (Nội Mông) và một phần Khu tự trị dân tộc Duy Ngô Nhĩ Tân Cương của Trung Quốc và các tỉnh hay nước cộng hòa tự trị tại Nga như Cộng hòa Tyva (Tuva), Cộng hòa Buryatia và tỉnh Chita.

Các sắc tộc sinh sống trong khu vực này chia sẻ cùng một văn hóa Mông Cổ truyền thống ở các mức độ khác nhau và họ nói một trong số vài thứ tiếng của ngữ tộc Mông Cổ. Ngoại trừ tại đất nước Mông Cổ ngày nay, người Mông Cổ chỉ chiếm thiểu số tại các vùng lãnh thổ còn lại.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.