Cải bắp

Bắp cải hay cải bắp (Brassica oleracea nhóm Capitata) là một loại rau chủ lực trong họ Cải (còn gọi là họ Thập tự - Brassicaceae/Cruciferae), phát sinh từ vùng Địa Trung Hải. Nó là cây thân thảo, sống hai năm, và là một thực vật có hoa thuộc nhóm hai lá mầm với các lá tạo thành một cụm đặc hình gần như hình cầu đặc trưng.

Nó đã được biết tới từ thời Hy LạpLa Mã cổ đại; Cato Già đánh giá cao loại cây này vì các tính chất y học của nó, ông tuyên bố rằng "nó là loại rau thứ nhất".[1]. Tiếng Anh gọi nó là cabbage (phát âm: /ˈkabɪdʒ/) và từ này có nguồn gốc từ Normanno-Picard caboche ("đầu"). Cải bắp được phát triển từ lựa chọn nhân tạo diễn ra liên tục để ngăn chặn chiều dài các gióng.

Cải bắp có chỉ số diện tích lá cao, hệ số sử dụng nước rất lớn nhưng có bộ rễ chùm phát triển nên chịu hạn và chịu nước hơn su hàosúp lơ.

Cải bắp ngoài là món ăn ngon ra còn có tác dụng chữa được nhiều bệnh như: phòng bệnh ung thư vú ở phụ nữ,nước cải bắp tươi chữa bệnh loét da.

Cải bắp
Cải bắp, nguyên quả và cắt ngang

Cải bắp, nguyên quả và cắt ngang
Loài
Brassica oleracea
Nhóm giống cây trồng
Nhóm Capitata
Xuất xứ
Địa Trung Hải, thế kỷ 1
Thành viên trong nhóm giống cây trồng
Nhiều; xem văn bản.
Cải bắp, tươi
Giá trị dinh dưỡng cho mỗi 100 g (3,5 oz)
Năng lượng102 kJ (24 kcal)
5.6 g
Đường3.6 g
Chất xơ2.3 g
0.1 g
1.4 g
Vitamin
Vitamin C
(39%)
32 mg
Tỷ lệ phần trăm xấp xỉ gần đúng sử dụng lượng hấp thụ thực phẩm tham chiếu (Khuyến cáo của Hoa Kỳ) cho người trưởng thành.
Nguồn: CSDL Dinh dưỡng của USDA
Cabbage
Cải bắp, chưa nở rõ giống

Việt Nam

Cải bắp được trồng trong vụ đông xuân ở các tỉnh phía bắc, miền trung và Tây Nguyên. Cải bắp thuộc nhóm rau có nguồn gốc ôn đới, nhiệt độ xuân hóa (nhiệt độ cần thiết để phân hoá mầm hoa) là 1-10 °C trong khoảng 15-30 ngày tùy thời gian sinh trưởng của giống.

Các thứ của Brassica oleracea

Bên cạnh cải bắp, loài Brassica oleracea còn có nhiều giống cây trồng khác biệt về hình dáng và tên gọi khác, ví dụ: cải bông xanh hay súp lơ xanh (nhóm Italica), súp lơ (nhóm Botrytis), cải xoăn, borekale? (nhóm Acephala), su hào (nhóm Gongylodes), cải brussels (nhóm Gemmifera), cải làn hay giới lan/cải bông xanh Trung Hoa (nhóm Alboglabra), các cây lai ghép broccolini? (lai ghép Italica × Alboglabra) và broccoflower? (lai ghép Italica × Botrytis).

Giá trị dinh dưỡng của bắp cải

Bắp cải có chứa nhiều vitamin C (44%) và vitamin K (72%). Bắp cải cũng chứa một lượng vừa phải (10-19%) vitamin B6 và B9 (axit Folic hay còn gọi là folate).

Những lưu ý khi ăn bắp cải

Gây chướng bụng

Tiêu thụ một lương lớn bắp cải có thể dẫn đến việc làm tăng lượng khí ga trong dạ dày, dẫn đến tình trạng đầy hơi, chướng bụng và khó tiêu.

Tham khảo

  1. ^ "Brassica est quae omnibus holeribus antistat" (De Agri Cultura, ch. 156)

Xem thêm

  • Bạch thái một loại cây tương tự như cải bắp, nhưng có nguồn gốc từ loài Brassica campestris
  • Cải bắp Kerguelen (Pringlea antiscorbutica) là loài có họ hàng xa.
  • Dưa cải Đức: Cải bắp để lên men

Liên kết ngoài

Bông cải xanh

Bông cải xanh (hoặc súp lơ xanh, cải bông xanh, Broccoli) là một loại cây thuộc loài Cải bắp dại, có hoa lớn ở đầu, thường được dùng như rau. Bông cải xanh thường được chế biến bằng cách luộc hoặc hấp, nhưng cũng có thể được ăn sống như là rau sống trong những đĩa đồ nguội khai vị.

Bộ Cải

Bộ Cải hay bộ Mù tạc (danh pháp khoa học: Brassicales) là một bộ thực vật có hoa, thuộc về phân nhóm Hoa hồng (rosids) của thực vật hai lá mầm. Theo website của APG II thì bộ này chứa khoảng 17 họ với 398 chi và khoảng 4.450 loài.

Bộ Cải chiếm khoảng 2,2% sự đa dạng của thực vật hai lá mầm thật sự (Magallön và ctv. 1999); các hóa thạch sớm nhất đã biết có từ tầng Turon, khoảng 89,5 triệu năm trước (Ma); trong cây phát sinh loài của bộ này thì nhóm thân cây có niên đại vào khoảng 90-85 Ma, còn nhóm chỏm cây có niên đại khoảng 71-69 Ma (Wikström và ctv. 2001). Các loài sâu bướm của họ Pieridae (phân họ Pierinae), khoảng 360 loài đã được ghi nhận, trên tổng số 33+ chi, 840 loài của nhánh côn trùng này) được tìm thấy khá phổ biến trên các thành viên của bộ Cải (Fraenkel 1959; Ehrlich & Raven 1964; Braby & Trueman 2006; Braby và ctv. 2006); đặc biệt nhiều trên nhánh chứa các họ Capparaceae-Cleomaceae-Brassicaceae. Các loài sâu bướm này có lẽ đã di chuyển sang bộ Cải từ cây chủ ban đầu trong họ Đậu (Fabaceae) (Braby & Trueman 2006).

Gần như tất cả các họ thực vật có hoa và sản sinh ra glucosinolat đều thuộc về bộ này (Kjær 1974; Dahlgren 1975); các họ không liên quan cũng sản sinh ra glucosinolat chỉ có 3 là Putranjivaceae (bộ Malpighiales) và có lẽ là cả Phytolaccaceae (bộ Caryophyllales) và Pittosporaceae (bộ Apiales, xem Fahey và ctv. 2001).

Chi Cải

Chi Cải (Brassica) là chi thực vật có hoa trong họ Cải.

Cải Brussels

Cải bi xen (bi xen bắt nguồn từ từ Bruxelles /brysεl/ trong tên gọi tiếng Pháp chou de Bruxelles) là một giống cây trồng trong nhóm Gemmifera của cải bắp (loài Cải bắp dại), được trồng để ăn những mầm của nó. Các loại rau sống thường có đường kính 2,5–4 cm (0,98-1,6 in) và trông giống như cải bắp thu nhỏ. Mầm cải Brussels từ lâu đã phổ biến ở Brussels, Bỉ, và có thể có nguồn gốc ở đó.

Cải bắp cuốn

Cải bắp cuốn là một món ăn bao gồm bắp cải nấu chín lá quấn quanh một số loại nhân. Nó là món ăn phổ biến với các món ăn dân tộc ở Balkan và các khu vực của châu Âu và Trung Đông cũng như Phần Lan và Thụy Điển.

Tại châu Âu, nhân để cuốn theo truyền thống là thịt, thường là thịt bò, thịt cừu, hoặc thịt lợn và được ướp với tỏi, hành tây và gia vị. Ngũ cốc như gạo và lúa mạch, trứng, nấm, và các loại rau thường cũng được làm nhân. Lá cải bắp ngâm thường được sử dụng làm lớp vỏ cuốn, đặc biệt là ở Đông Nam Âu. Ở châu Á, nấm hải sản, đậu phụ và nấm hương (shiitake) cũng có thể được sử dụng và bắp cải Trung Quốc thường được sử dụng làm vỏ cuốn.

Lá bắp cải nhồi với nhồi nhân sau đó được nướng, nấu hoặc hấp trong một nồi được kín và thường ăn nóng, thường đi kèm với sốt. Nước sốt rất khác nhau của các món ăn. Luôn luôn ở Thụy Điển và đôi khi ở Phần Lan, món cuốn cải bắp được ăn với mứt việt quất, có vị ngọt và chua. Ở Đông Âu, nước sốt cà chua hoặc kem chua không là điển hình. Tại Liban, nó là một món phổ biến, cải bắp nhồi với cơm và thịt băm nhỏ và chỉ có cuộn nhỏ bằng điếu xì gà. Nó thường được ăn với sữa chua và một loại dấm dầu ôliu và chanh ướp với tỏi và bạc hà khô.

Cải bắp dại

Cải bắp dại (danh pháp hai phần: Brassica oleracea), là một loài thuộc chi Cải (Brassica) có nguồn gốc ở vùng bờ biển phía nam và tây châu Âu, tại đây nó chịu đựng được muối và đá vôi nhưng không chịu được sự cạnh tranh từ các loài thực vật khác và thông thường chỉ hạn chế trong khu vực xuất hiện tự nhiên của nó tại các vách núi đá vôi ven biển.

B. olearacea dại là một loài cây thân cao, sống hai năm, tạo ra một chiếc nơ mập gồm nhiều lá to trong năm đầu tiên, các lá này dày và nhiều thịt hơn lá của các loài khác trong chi Brassica, thích hợp với việc lưu trữ nước và chất dinh dưỡng trong điều kiện môi trường sống khó khăn của nó. Trong năm thứ hai, các chất dinh dưỡng đã lưu trữ được dùng để sinh ra một cành hoa cao 1–2 m mang nhiều hoa màu vàng.

Cải bắp lai cải củ

Cải bắp lai cải củ có danh pháp khoa học: Brassicoraphanus là loài thực vật do nhà di truyền học Nga Georgi Karperchenko tạo ra. Tên khoa học này là tên ghép giữa chi Brassica (cải bắp) và chi Raphanus (cải củ) thành Brassicoraphanus, cũng còn có tên khác là Raphanobrassica. Đây là loài thực vật đầu tiên trên thế giới do con người tạo ra.

Cải bắp xôi

Tránh nhầm lẫn với loài khác có phát âm tên gần giống, xin đọc thêm Cải bó xôiCải bắp xôi (danh pháp khoa học: Tetragonia tetragonioides) là một loài thực vật có hoa trong họ Phiên hạnh. Loài này được (Pall.) Kuntze miêu tả khoa học đầu tiên năm 1891.

Cải củ Thụy Điển

Cải củ Thụy Điển (tên khoa học: Brassica napus var. napobrassica, hoặc Brassica napus subsp. rapifera hoặc Brassica napobrassica) là loại rau củ có nguồn gốc lai giữa cải bắp và cải củ turnip.

Cải thảo

Cải thảo còn được gọi là cải bao, cải cuốn, bắp cải tây (danh pháp ba phần: Brassica rapa subsp. pekinensis), là phân loài thực vật thuộc họ Cải ăn được có nguồn gốc từ Trung Quốc, được sử dụng rộng rãi trong các món ăn ở Đông Nam Á và Đông Á. Loài thực vật này trồng nhiều ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam... nhưng cũng có thể bắt gặp ở Bắc Mỹ, châu Âu, Úc, New Zealand.

Cải thảo có màu sắc khá giống với cải bắp, phần lá bao ngoài của màu xanh đậm, còn lá cuộn ở bên trong (gọi là lá non) có màu xanh nhạt, trong khi phần cuống lá có màu trắng.

Ở Hàn Quốc, cải thảo được gọi là sui choy và là nguyên liệu chính làm món kim chi.

Cải xoăn

Cải xoăn hoặc borecole (loài Cải bắp dại Acephala Group) là một loại rau với lá xanh hoặc tím, trong đó lá ở giữa không tạo thành đầu. Nó được xem như có họ gần với bắp cải hơn hầu hết các loại rau trồng khác.

Các loài Cải bắp dại chứa một lượng lớn loại rau, bao gồm bông cải xanh, súp lơ, collard greens, và mầm brussels. Các nhóm cây trồng Acephala cũng gồm spring greens và collard greens, tương tự về gen. Pieris rapae là một trong những loài gây hại nổi tiếng nhất của cây trồng.

Dưa cải Đức

Dưa cải Đức hay còn gọi là Sauerkraut ( /ˈsaʊərkraʊt/; phát âm tiếng Đức: [ˈzaʊ.ɐˌkʁaʊt] ( nghe); tiếng Yiddish: זויערקרויט‎ zoyerkroyt [ˈzɔjərˌkrɔjt], tiếng Pháp choucroute, tiếng Ba Lan kiszona kapusta và tiếng Nga: квашеная капуста kváshenaya kapústa) (có nghĩa là "cải bắp chua") là món cải bắp thái nhỏ và được lên men bởi các vi khuẩn axít lactic, gồm có Leuconostoc, Lactobacillus, và Pediococcus.

Họ Cải

Họ Cải (danh pháp khoa học: Brassicaceae), còn gọi là họ Thập tự (Cruciferae), là một họ thực vật có hoa. Các loại cây trồng trong họ này gần như đều có chứa chữ cải trong tên gọi.

Họ này chứa một số loài có tầm quan trọng kinh tế lớn, cung cấp nhiều loại rau về mùa đông trên khắp thế giới. Chúng bao gồm cải bắp, cải bông xanh, súp lơ, cải brussels, cải xoăn (tất cả đều là các giống cây trồng từ một loài là Brassica oleracea), cải làn, cải củ Thụy Điển, cải xoăn nước mặn, cải củ, cải thìa và su hào. Các thành viên được biết đến nhiều khác của họ Brassicaceae còn có cải dầu (gồm cải dầu Canola và các loại khác), mù tạc, cải ngựa, cải canh, mù tạc Nhật,xà lách và cải xoong.

Thành viên được nghiên cứu nhiều và kỹ nhất của họ Cải là sinh vật mẫu Arabidopsis thaliana.

Họ này trước đây được gọi là Cruciferae ("thập tự"), do bốn cánh hoa trên hoa của chúng trông tương tự như hình thập tự. Nhiều nhà thực vật học vẫn còn gọi các thành viên của họ này là các loài "hoa thập tự". Theo điều 18.5 của ICBN (Quy tắc St Louis) thì Cruciferae được coi là tên gọi hợp lệ và vì thế nó là tên gọi khác của họ Cải được chấp nhận. Tên gọi Brassicaceae có nguồn gốc từ chi điển hình của họ là chi Brassica.

Quan hệ gần gũi giữa họ Brassicaceae và họ Bạch hoa (Capparaceae), một phần là do các thành viên trong cả hai nhóm này đều sản sinh ra các hợp chất glucosinolat (dầu cải). Nghiên cứu gần đây (Hall và ctv. 2002) cho rằng Capparaceae theo định nghĩa truyền thống là cận ngành trong tương quan với họ Brassicaceae, với chi Cleome và một số chi họ hàng khác là có quan hệ họ hàng gần gũi với họ Brassicaceae hơn là so với các chi còn lại trong họ Capparaceae. Hệ thống APG II vì thế đã trộn cả hai họ này thành một họ lớn dưới tên gọi Brassicaceae. Các hệ thống phân loại khác vẫn tiếp tục công nhận họ Capparaceae nhưng với định nghĩa chặt chẽ hơn, hoặc là đưa cả chi Cleome và các họ hàng gần của nó vào trong họ Brassicaceae hoặc là công nhận chúng như một họ riêng dưới tên gọi Cleomaceae. Trên website của APG, truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2007 thì APG tách chúng thành 3 họ riêng biệt.

Lưu Hương Giang

Lưu Hương Giang là một nữ ca sĩ kiêm nhạc sĩ nổi tiếng người Việt Nam. Cô được công chúng biết tới qua cuộc thi Sao Mai Điểm Hẹn năm 2004

với những ca khúc sôi động có âm hưởng alternative rock.

Mamestra

Mamestra là một chi bướm đêm thuộc họ Noctuidae. Có lẽ loài được biết đến nhiều nhất của chi này là loài Cabbage Moth (nhậy cải bắp), M. brassicae.

Pringlea antiscorbutica

Pringlea antiscorbutica, thường được gọi là cải bắp Kerguelen, là thành viên duy nhất của chi thực vật có hoa đơn loài Pringlea thuộc họ Cải (Brassicaceae). Tên thông thường bắt nguồn từ tên quần đảo mà ở đó chúng được phát hiện, quần đảo Kerguelen. Tên chi (Pringlea) được đặt để vinh danh Sir John Pringle, chủ tịch Hội Hoàng gia Luân Đôn vào thời điểm bác sĩ William Anderson của Thuyền trưởng James Cook phát hiện loài này năm 1776.

Su hào

Su hào hay xu hào (từ tiếng Pháp: chou-rave, danh pháp hai phần: Brassica oleracea nhóm Gongylodes) là một giống cây trồng thân thấp và mập của cải bắp dại, được chọn lựa vì thân mập, gần như có dạng hình cầu, chứa nhiều nước của nó. Su hào được tạo ra từ quá trình chọn lọc nhân tạo để lấy phần tăng trưởng của mô phân sinh ở thân, mà trong đời thường được gọi là củ. Nguồn gốc tự nhiên của nó là cải bắp dại.

Mùi vị và kết cấu của su hào là tương tự như của thân cải bông xanh hay phần lõi của cải bắp (cả hai loại này là cùng loài với su hào, nhưng khác nhóm giống cây trồng), nhưng nhẹ hơn và ngọt hơn, với tỷ lệ phần cùi thịt/vỏ cao hơn. Ngoại trừ nhóm giống Gigante, thì các giống su hào trồng vào mùa xuân ít khi có kích thước trên 5 cm, do chúng có xu hướng bị xơ hóa, trong khi đó các giống trồng vào mùa thu lại có thể có kích thước trên 10 cm; giống Gigante có thể có kích thước lớn hơn mà vẫn giữ được chất lượng tốt để ăn.

Su hào có thể ăn sống cũng như được đem luộc, nấu. Su hào chứa nhiều chất xơ tốt cho hệ tiêu hóa cũng như chứa các chất như selen, axít folic, vitamin C, kali, magiê và đồng.

Có một vài thứ khá phổ biến, bao gồm White Vienna (Viên trắng), Purple Vienna (Viên tía), Grand Duke (đại công tước), Gigante ("Superschmeltz"- Khổng lồ), Purple Danube (Danub tía), và White Danube (Danub trắng). Màu của giống vỏ tía chỉ là ở bề mặt, phần ăn được của nó có màu vàng nhạt.

Thị trấn Hamburg, Michigan còn có danh hiệu là "Kohlrabi Capital of the World" (Thủ đô su hào của thế giới) và đã từng có lễ hội su hào với 600 người tham dự vào lúc đông nhất, năm 1985 [1]

Tại một số khu vực của người Ấn Độ nói tiếng Hindi tại miền bắc nước này, người ta gọi nó là gaanth gobhi (trong đó ganth nghĩa là mấu, đốt và gobi nghĩa là cải bắp).

Đà Lạt

Thành phố Đà Lạt là tỉnh lỵ của tỉnh Lâm Đồng, nằm trên cao nguyên Lâm Viên, thuộc vùng Tây Nguyên, Việt Nam. Từ xa xưa, vùng đất này vốn là địa bàn cư trú của những cư dân người Lạch, người Chil và người Srê thuộc dân tộc Cơ Ho. Cuối thế kỷ 19, khi tìm kiếm một địa điểm để xây dựng trạm nghỉ dưỡng dành cho người Pháp ở Đông Dương, Toàn quyền Paul Doumer đã quyết định chọn cao nguyên Lâm Viên theo đề nghị của bác sĩ Alexandre Yersin, người từng thám hiểm tới nơi đây vào năm 1893. Trong nửa đầu thế kỷ 20, từ một địa điểm hoang vu, người Pháp đã quy hoạch và xây dựng lên một thành phố xinh đẹp với những biệt thự, công sở, khách sạn và trường học, một trung tâm du lịch và giáo dục của Đông Dương khi đó. Trải qua những khoảng thời gian thăng trầm của hai cuộc chiến tranh cùng giai đoạn khó khăn những thập niên 1970–1980, Đà Lạt ngày nay là một thành phố đông dân, đô thị loại I trực thuộc tỉnh, giữ vai trò trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của tỉnh Lâm Đồng.

Với độ cao 1.500 mét so với mực nước biển và được các dãy núi cùng quần hệ thực vật rừng bao quanh, Đà Lạt thừa hưởng một khí hậu miền núi ôn hòa và dịu mát quanh năm. Lịch sử hơn một thế kỷ cũng để lại cho thành phố một di sản kiến trúc giá trị, được ví như một bảo tàng kiến trúc châu Âu thế kỷ XX. Những tài nguyên thiên nhiên và nhân văn phong phú giúp Đà Lạt trở thành một trong những điểm du lịch nổi tiếng của Việt Nam, mỗi năm thu hút hàng triệu du khách tới thăm viếng và nghỉ dưỡng. Đà Lạt còn là một trung tâm giáo dục và nghiên cứu khoa học, một thành phố đa dạng về tôn giáo với sự hiện diện của hàng trăm ngôi chùa, nhà thờ, tu viện... một vùng nông nghiệp trù phú đặc biệt với những sản phẩm rau và hoa. Nhờ khí hậu ôn hòa, cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp và di sản kiến trúc phong phú, Đà Lạt còn được biết đến với nhiều tên gọi khác như "Thành phố mù sương", "Thành phố ngàn thông", "Thành phố ngàn hoa", "Xứ hoa Anh Đào" hay "Tiểu Paris".

Mặc dù là một đô thị du lịch nổi tiếng, nhưng Đà Lạt lại là một thành phố thiếu vắng các địa điểm văn hóa, giải trí đa dạng. Quá trình đô thị hóa ồ ạt khiến thành phố ngày nay phải chịu nhiều hệ lụy. Nhiều cánh rừng thông dần biến mất, thay thế bởi các công trình xây dựng hoặc những vùng canh tác nông nghiệp. Do không được bảo vệ tốt, không ít danh thắng và di tích của thành phố rơi vào tình trạng hoang tàn, đổ nát. Sự phát triển thiếu quy hoạch trong những thập niên gần đây khiến kiến trúc đô thị Đà Lạt chịu nhiều biến dạng và trở nên nhem nhuốc. Trong khắp thành phố, nhiều ngôi biệt thự cùng không ít những công trình kiến trúc chịu sự tàn phá của thời gian mà không được bảo tồn, gìn giữ.

Ẩm thực Ba Lan

Ẩm thực Ba Lan là một phong cách chế biến thực phẩm có nguồn gốc nhập hoặc phổ biến rộng rãi ở Ba Lan. Ẩm thực Ba Lan đã phát triển qua nhiều thế kỷ để trở nên đa dạng do lịch sử của Ba Lan. Ẩm thực Ba Lan có nhiều điểm tương đồng với ẩm thực các nước Slavơ khác, đặc biệt là ẩm thực Belarus, Ukraina và Nga. Nó cũng đã chịu ảnh hưởng rộng rãi bởi các nền ẩm thực Trung Âu, cụ thể là Đức, Áo, Hungary, cũng như truyền thống ẩm thực của người Do Thái, người Pháp, người Ý.

Các thành phần nổi bật trong nấu nướng của Ba Lan là thịt lợn, cải bắp, củ cải đường, dưa chuột, kem chua, su hào, nấm, xúc xích và xúc xích hun khói. Những loại rau thông dụng: kinh giới, thì là, hạt ca-rưm, rau mùi tây, hạt tiêu. Các món ăn tráng miệng phổ biến là bánh ngọt, kem. Đồ uống có cồn thông dụng là rượu vodka.

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.