Budapest

Budapest (tiếng Hungary: [ˈbudɒpɛʃt]  ( nghe))[11]thủ đôthành phố đông dân nhất của Hungary, và một trong những thành phố lớn nhất trong Liên minh Châu Âu.[12][13][14] Với dân số ước tính năm 2016 là 1.752.704 phân bố trên một diện tích khoảng 525 kilômét vuông (203 dặm vuông Anh), Budapest cũng là một trong những thành phố lớn có mật độ dân số cao nhất tại EU.[5][15] Budapest vừa là một thành phố và vừa là một hạt, và tạo thành trung tâm của vùng đô thị Budapest, nó có diện tích 7.626 kilômét vuông (2.944 dặm vuông Anh) và dân số 3.303.786, chiếm 33 phần trăm dân số Hungary.[16][17] Vùng đô thị Budapest có GDP 141,0 tỷ đô la Mỹ (129,4 tỷ euro) năm 2016, chiếm 49,6 phần trăm GDP của Hungary.[9][18] GDP trên đầu người của thành phố là 64.283 đô la Mỹ, bằng 148% trung bình của EU tính theo sức mua tương đương.[10] Do đó thành phố này năm trong danh sách 100 thành phố theo GDP trên thế giới[19] và khiến nó trở thành một trong những nền kinh tế khu vực lớn nhất Liên minh Châu Âu.[20]

Budapest là một thành phố toàn cầu dẫn đầu với thế mạnh về thương mại, tài chính, truyền thông, nghệ thuật, thời trang, nghiên cứu, công nghệ, giáo dục và giải trí.[21][22] Nó là một R&D và trung tâm tài chính dẫn đầu[23] và là thành phố Trung và Đông Âu được xếp hạng cao nhất về Chỉ số 100 Thành phố Sáng tạo,[24][25][26] nó cũng được xếp hạng là nền kinh tế đô thị phát triển nhanh thứ hai tại châu Âu.[27] Thành phố là nơi có sàn giao dịch chứng khoán lớn thứ hai về giá trị vốn hóa thị trường tại Trung và Đông Âu,[28] sàn giao dịch chứng khoán Budapest và quận kinh doanh của nó có trụ sở của những ngân hàng quốc gia lớn nhất và quốc tế và các công ty.[29][30][31] Budapest còn là nơi có văn phòng khu vực chính của nhiều tổ chức quốc tế, bao gồm Liên Hợp Quốc và ICDT,[32] ngoài gia nó còn có trụ sở của Viện sáng tạo và Công nghệ Châu Âu,[33] cao đẳng Cảnh sát Châu Âu[34] và văn phòng nước ngoài đầu tiên của Cơ quan Thúc đẩy Đầu tư Trung Quốc.[35] Có hơn 40 trường cao đẳng và đại học ở Budapest, bao gồm đại học Eötvös Loránd, đại học Semmelweis và đại học Công nghệ và Kinh tế Budapest là những trường trong tốp 500 trên thế giới.[36][37] Mở cửa năm 1896,[38] hệ thống tàu điện ngầm Budapest phục vụ 1,27 triệu hành khách còn hệ thống xe điện Budapest phục vụ 1,08 triệu hành khách mỗi ngày.[39] Budapest được xếp hạng là thành phố Trung và Đông Âu đáng sống nhất theo chỉ số chất lượng cuộc sống của EIU.[40][41][42]

Lịch sử của Budapest bắt đầu với Aquincum, ban đầu là một khu định cư của người Celt,[43][44] đã trở thành kinh đô La Mã của Hạ Pannonia.[43] Người Magyar đã đến lãnh thổ này vào thế kỷ thứ 9[45] vào thế kỷ 9. Khu định cư đầu tiên của họ đã bị cướp bóc bởi quân Mông Cổ giai đoạn năm 1241-42.[46] Thị trấn được tái thiết lập đã trở thành một trong những trung tâm của văn hoá Phục hưng nhân bản[47] vào thế kỷ 15.[48] Sau trận Mohács và 150 năm sau khi thuộc Ottoman,[49] sự phát triển khu vực đã chuyển sang một giai đoạn mới thịnh vượng vào các thế kỷ 18 và 19, và Budapest đã trở thành một thành phố toàn cầu sau khi hợp nhất vào năm 1873.[50] Thành phố cũng đã trở thành thủ đô lớn thứ nhì của Đế quốc Áo-Hung, một cường quốc bị giải thể vào năm 1918. Budapest đã là trung điểm của cách mạng Hungaria năm 1848[note 1], Cộng hoà Xô Viết Hungary năm 1919, chiến dịch Panzerfaust năm 1944, chiến dịch Budapest năm 1945, và cách mạng Hungary năm 1956.

Được xem là một trong những thành phố đẹp nhất ở châu Âu,[45][51][52][53] di sản thế giới UNESCO nằm ở thành phố này gồm hai bờ sông Donau, khu phố lâu đài Buda, đại lộ Andrássy, quảng trường các anh hùng và tuyến đường tàu điện ngầm Thiên niên kỷ, tuyến cổ thứ nhì thế giới.[52][54] Các địa điểm nổi bật khác gồm tổng cộng 80 suối địa nhiệt,[55] hệ thống hang động nước nóng lớn nhất thế giới,[56] Hội đường Do Thái giáo Lớn lớn thứ nhì, và toà nhà Quốc hội Hungary.

Budapest
—  Thành phố  —
Thủ đô của Hungary
Budapest főváros
The building of the Hungarian Parliament (10890208584)

Views from Fisherman's Bastion toward south. - Budapest, Hungary. - 62 365² Observador (8262965486)
Budapest (agost 2012) - panoramio (49)

Seven chieftains of the Magyars and Statue of Gabriel. Millennium Monument. Budapest 029
Hungarian National Theater Budapest
HUN-2015-Budapest-St. Stephen's Basilica

Széchenyi Chain Bridge in Budapest at night
Từ phía trên, trái sang phải: Toà nhà Nghị viện Hungary, Fisherman's Bastion, Tượng Tự do trên Đồi Gellért, Hősök tere tại Công viên Thành phố, Nhà hát Quốc gia, Vương cung thánh đường Thánh Stephen và trung tâm thành phố với cầu Széchenyi buổi tối
Hiệu kỳ của Budapest
Hiệu kỳ
Phù hiệu của Budapest
Huy hiệu
Tên hiệu: Trái tim của châu Âu, Nữ hoàng của Danube, Hòn ngọc của Danube, Thủ đô của Sự tự do, Thủ đô của Spa và Tắm hơi, Thủ đô của Sự kiện
Budapest trên bản đồ Hungary
Budapest
Budapest
Budapest trên bản đồ Châu Âu
Budapest
Budapest
Budapest tại Hungary
Quốc gia Hungary
VùngTrung Hungary
Sự thống nhất của Buda, Pest và ÓbudaNgày 17 tháng 11 năm 1873
Thành phố
Chính quyền[1]
 • KiểuThị trưởng – Hội đồng
 • Thành phầnQuốc hội của Budapest
 • Thị trưởngIstván Tarlós (Độc lập, được ủng hộ bởi Fidesz)
Diện tích[2]
 • Thành phố525,2 km2 (2,028 mi2)
 • Đô thị2.538 km2 (980 mi2)
 • Vùng đô thị7.626 km2 (2,944 mi2)
Độ cao[4]Thấp nhất (Danube) 96 m
Cao nhất (đồi János) 527 m (315 đến 1.729 ft)
Dân số (2017)[6][7]
 • Thành phố1.752.704[5]
 • Thứ hạngThứ nhất (thứ 10 tại EU)
 • Mật độ3.351/km2 (8,680/mi2)
 • Đô thị2.947.722[3]
 • Vùng đô thị3.303.786
Tên cư dânNgười Budapest(người Hungary)
GDP/GVA PPP (2016)
 • Tổng113,1 tỷ đô la Mỹ / 103,8 tỷ euro[8][9]
 • Trên đầu người64.283 đô la Mỹ / 58.975 euro[10]
GDP/GVA PPP (Metro) (2016)
 • Tổng141 tỷ đô la Mỹ / 129,4 tỷ euro
 • Trên đầu người42.678 đô la Mỹ / 39.169 euro
Múi giờCET (UTC+1)
 • Mùa hè (DST)CEST (UTC+2)
Mã bưu chính1011–1239
Mã vùng1
Mã ISO 3166HU-BU
Thành phố kết nghĩaBerlin, Frankfurt am Main, Fort Worth, Thành phố New York, Tel Aviv, Viên, Sarajevo, Lisboa, Bắc Kinh, Zagreb, Vilnius, Napoli, Kraków, Firenze, Lecce, Istanbul, San Vito al Tagliamento, Warszawa, Mondragone, São Paulo, Dublin, Bangkok, Kiev, Madrid, Damas, Bucharest, Daejeon, Košice, Thành phố Ōsaka, Kielce, Subotica, Târgu Mureș, Lviv, Ankara, Thượng Hải, Odorheiu Secuiesc, Tehran, Trùng Khánh
NUTSHU101
Trang webBudapestInfo Official
Government Official
Tên chínhBudapest, bao gồm bờ sông Danube, Khu vực Lâu đài BudaĐại lộ Andrássy
Tiêu chuẩnCultural: ii, iv
Tham khảo400
Công nhận1987 (Kỳ họp 11)
Mở rộng2002
Diện tích473.3 ha
Vùng đệm493.8 ha

Từ nguyên học

"Budapest" là sự kết hợp của các thành phố Buda và Pest, hai thành phố này cùng với Óbuda, thống nhất vào năm 1873.[57] Sự xuất hiện có tài liệu ban đầu về sự kết hợp của tên “Buda-Pest” là năm 1831 trong sách Világ (Thế giới/Ánh sáng) bởi Bá tước István Széchenyi.[58]

Nguồn gốc của tên "Buda" và "Pest" không rõ ràng. "Buda" có thể đến từ:

  • một phái sinh của Bod hoặc Bud, một tên người có gốc Turk, nghĩa là 'cành nhỏ'.[59]
  • một tên người Slav, Buda, dạng ngắn của Budimír, Budivoj.[60]

Tuy nhiên, về mặt ngôn ngữ, một nguồn gốc từ Đức thông qua phái sinh tiếng Slav вода (voda, nước) là không thể, và không chắc chắn rằng một từ Turk thực sự xuất phát từ từ buta ~ buda 'cành, nhánh'.[61]

Theo một truyền thuyết ghi lại trong biên niên sử từ thời Trung Cổ, Buda xuất phát từ tên của người sáng lập của nó, Bleda, anh trai của người cai trị Hunnic Attila.

Có một số giả thuyết về Pest. Có người[62] cho rằng tên này bắt nguồn từ thời La Mã, vì có một pháo đài địa phương (Contra-Aquincum) gọi là Ptolemaios "Pession" ("Πέσσιον", iii.7.§ 2).[63] Một người khác cho rằng Pest bắt nguồn từ từ tiếng Slav cho hang động, пещера, hoặc peștera. Một trích dẫn thứ ba пещ, hay peșt, nhắc đến một hang động nơi hỏa hoạn bị đốt cháy.[64]

Lịch sử

Lịch sử ban đầu

Nuremberg chronicles - BVJA
Buda trong thời Trung Cổ, bản khắc gỗ từ Nuremberg Chronicle (1493)

Khu định cư đầu tiên tại lãnh thổ Budapest được xây bởi người Celt[43] trước năm 1 SCN. Sau đó nó bị chiếm bởi người La Mã. Khu định cư La Mã – Aquincum – trở thành thành phố chính của Pannonia Inferior năm 106 SCN.[43] Ban đầu nó là một khu định cư quân sự, và dần dần thành phố phát triển xung quanh đó, khiến nó trở thành trung tâm của cuộc sống thương mại của thành phố. Ngày nay khu vực này tương ứng với quận Óbuda tại Budapest.[65] Người La Mã xây đường, đài vòng, nhà tắm và nhà với sàn được sưởi trong khu quân sự được thành bao quanh này.[66] Thành phố La Mã Aquincum là địa điểm La Mã được bảo tồn tốt nhất tại Hungary. Khu khảo cổ học được biến thành một bảo tàng với các khu vực trong nhà và ngoài trời.[67]

Tộc Magyar dẫn đầu bởi Árpád, bị ép ra khỏi quê hương ban đầu của họ ở phía bắc Bulgaria bởi Tsar Simeon sau Trận Nam Buh, định cư tại vùng lãnh thổ này vào cuối thế kỷ thứ 9 thế chỗ cho những người định cư Bulgaria thành lập ra các thị trấn Buda và Pest,[45][68] và một thế kỷ sau đó chính thức thành lập Vương quốc Hungary.[45] Nghiên cứu đặt nơi cư trú có thể xảy ra của Árpáds là một nơi đầu tiên của quyền lực trung tâm gần những gì sau này trở thành Budapest.[69] Sự xâm lược của người Tatar trong thế kỷ 13 nhanh chóng chứng minh rằng rất khó để xây dựng phòng thủ trên một đồng bằng.[15][45] Vua Béla IV của Hungary do đó ra lệnh xây dựng các bức tường đá gia cố xung quanh các thị trấn[45] và thiết lập cung điện hoàng gia của riêng mình trên đỉnh của những ngọn đồi bảo vệ của Buda. Năm 1361, nó trở thành thủ đô của Hungary.[15][46]

Vai trò văn hóa của Buda đặc biệt quan trọng trong thời kỳ trị vì của Vua Matthias Corvinus. Phục Hưng của Ý có ảnh hưởng lớn đến thành phố. Thư viện của nó, Bibliotheca Corviniana, là bộ sưu tập lịch sử và các công trình khoa học và triết học vĩ đại nhất châu Âu trong thế kỷ 15, và chỉ đứng thứ hai về kích thước sau Thư viện Vatican.[15] Sau sự thành lập của trường đại học Hungary đầu tiên tại Pécs năm 1367 (Đại học Pécs), đại học thứ hai được thành lập tại Óbuda năm 1395 (Đại học Óbuda).[70] Cuốn sách Hungary đầu tiên được in tại Buda năm 1473.[71] Buda có khoảng 5.000 người định cư vào khoảng năm 1500.[72]

Siege of Buda 1686 Frans Geffels
Chiếm lại Buda từ Đế quốc Ottoman, 1686 (tranh vẽ thế kỷ 17)

Người Ottoman xâm lược Buda năm 1526, cũng như năm 1529, và cuối cùng chiếm được nó năm 1541.[73] Sự đô hộ của Thổ Nhĩ Kỳ kéo dài hơn 140 năm.[15] Người Ottoman gốc Turk xây dựng nhiều phòng tắm nổi bật trong thành phố.[45] Một số phòng tắm được xây dựng bởi người Turk trong thời gian cai trị của họ vẫn được sử dụng trong 500 năm sau (Nhà tắm Rudas và Nhà tắm Király). Năm 1547 số lượng Kitô hữu giảm xuống còn khoảng 1000, và tới năm 1647 nó giảm xuống chỉ còn khoảng 70.[72] Phần phía tây bị chiếm của quốc gia này trờ thành một phần của Đế quốc Habsburg được gọi là Hungary Hoàng gia.

Năm 1686, hai năm sau cuộc vây hãm Buda không thành công, một chiến dịch mới được bắt đầu để tiến vào chủ đô Hungary. Lần này, quân đội của Liên minh thần thánh lớn gấp đôi, bao gồm hơn 74.000 nghìn người, gồm có lính người Đức, người Croatia, người Hà Lan, người Hungary, người Anh, người Tây Ban Nha, người Séc, người Ý, người Pháp, người Burgundi, người Đan Mạchngười Thụy Điển, cùng với những người châu Âu khác với vai trò tình nguyện viên, pháo thủ và các sĩ quan. Quân Kitô bao vây Buda, và trong một số năm sau đó, tất cả những vùng đất trước đây thuộc về Hungary, trừ vùng gần Timișoara (Temesvár), bị lấy đi khỏi người Turk. Trong Hiệp ước Karlowitz năm 1699, những sự thay đổi về vùng lãnh thổ này được công nhận chính thức để cho thấy sự kết thúc sự cai trị của người Turk, và năm 1718 toàn bộ Vương quốc Hungary được giải phóng khỏi sự đô hộ của Ottoman.

Địa lý

Khí hậu

Khí hậu của Budapest nằm ở Khí hậu lục địa ẩm, Dfb/Cfb. Mùa đông lạnh, mùa hè nóng và ẩm. Lượng mưa lớn và giảm dần từ Tây sang Đông. Khí hậu của Budapest có khí hậu lục địa ẩm (Köppen Dfb), với mùa đông khá lạnh và mùa hè ấm theo tiêu chuẩn khí hậu 1971-2000 khi sử dụng đẳng nhiệt 0 °C.[74] Mùa đông (tháng 11 đến đầu tháng 3) có thể lạnh và ít ánh nắng. Tuyết rơi khá thường xuyên trong hầu hết các năm, và nhiệt độ buổi tối là −10 °C (14 °F) không phải không phổ biến giữa tháng 12 và tháng 2. Những tháng mùa xuân (tháng 3 và tháng 4) có thời tiết thay đổi, với nhiệt độ trung bình tăng nhanh. Thời tiết vào cuối tháng 3 và tháng 4 thường rất dễ chịu vào ban ngày và trong lành vào ban đêm. Mùa hè dài của Budapest - kéo dài từ tháng 5 đến giữa tháng 9 - ấm áp hoặc rất ấm. Budapest có nhiều ánh nắng mùa hè giống như nhiều khu nghỉ dưỡng Địa Trung Hải. Các cơn mưa lớn bất ngờ cũng xảy ra, đặc biệt là vào tháng Năm và tháng Sáu. Mùa thu ở Budapest (giữa tháng 9 đến cuối tháng 10) được đặc trưng bởi mưa nhỏ và những ngày nắng dài với nhiệt độ vừa phải. Nhiệt độ thường trở nên lạnh hơn vào cuối tháng 10. Mùa xuân và mùa thu thường ôn hòa.

Các quận

23 quận của Budapest
Hành chính Dân số Diện tích và mật độ
Quận Tên chính thức Chính thức năm 2013 km² Người/km²
I Várkerület 24,528 3.41 7,233
II Rózsadomb 88,011 36.34 2,426
III Óbuda-Békásmegyer 123,889 39.69 3,117
IV Újpest 99,050 18.82 5,227
V Belváros-Lipótváros 27,342 2.59 10,534
VI Terézváros 43,377 2.38 18,226
VII Erzsébetváros 64,767 2.09 30,989
VIII Józsefváros 85,173 6.85 11,890
IX Ferencváros 63,697 12.53 4,859
X Kőbánya 81,475 32.5 2,414
XI Újbuda 145,510 33.47 4,313
XII Hegyvidék 55,776 26.67 2,109
XIII (không có tên chính thức) 118,320 13.44 8,804
XIV Zugló 123,786 18.15 6,820
XV Rákospalota, Pestújhely, Újpalota 79,779 26.95 2,988
XVI Árpádföld, Cinkota, Mátyásföld,

Sashalom, Rákosszentmihály

68,235 33.52 2,037
XVII Rákosmente 78,537 54.83 1,418
XVIII Pestszentlőrinc-Pestszentimre 94,663 38.61 2,414
XIX Kispest 62,210 9.38 6,551
XX Pesterzsébet 63,887 12.18 5,198
XXI Csepel 76,976 25.75 2,963
XXII Budafok-Tétény 51,071 34.25 1,473
XXIII Soroksár 19,982 40.78 501
Coa Hungary Town Budapest big.svg Thành phố Budapest
1,740,041 525.2 3,314.9
9,937,628 93,030 107.2
Nguồn: Eurostat,[76] HSCO[6]

Hầu hết Budapest ngày nay là kết quả của sự đổi mới tỏng thế kỷ 19, nhưng đại lộ rộng khi đó chỉ bao quanh và chia đôi nhiều khu vực hoạt động cũ hơn được tạo ra bởi nhiều thế kỷ trong sự phát triển của thành phố Budapest. Đô thị rộng lớn của Budapest thường được mô tả bằng cách sử dụng một bộ các tên quận. Đây là một trong hai chỉ định không chính thức, phản ánh tên của các làng đã được nhập vào các khu, hoặc được thay thế các đơn vị hành chính của các quận cũ.[77] Một số tên vẫn được sử dụng theo truyền thống, mỗi tên đề cập tới một vùng với đặc trưng riêng, nhưng không có ranh giới chính thức.[78] Ban đầu, Budapest có 10 quận sau khi thành lập bằng cách thống nhất ba thành phố năm 1873. Kể từ năm 1950, vùng Đại Budapest được chia thành 22 khu (và 23 từ năm 1994). Vào thời điểm đó đã có những thay đổi cả về thứ tự của các quận và về kích cỡ của chúng. Thành phố hiện nay bao gồm 23 quận, 6 ở Buda, 16 ở Pest và 1 trên Đảo Csepel ở giữa chúng. Trung tâm thành phố theo nghĩa rộng hơn bao gồm Quận V, VI, VII, VIII, IX[79]XIII ở phía Pest, và I, II, XIXII ở phía Buda của thành phố.[80]

Quận I là một khu vực nhỏ ở trung tâm Buda, bao gồm lâu đài Buda. Quận II cũng ở Buda, ở phía tât bắc, và Quận III trải dài theo phía rìa bắc của Buda. Muốn tới Quận IV phải đi qua sông Danube để đến Pest (ở phía đông), và cũng ở phía bắc. Với Quận V, một vòng tròn khác bắt đầu, nó nằm ngay ở trung tâm của Pest. Quận VI, VII, VIII và IX là những quận nằm cạnh về phía đông, đi xuống phía nam, lần lượt nằm cạnh nhau. Quận X nằm ở một vòng tròn khác xa hơn cũng ở Pest, nhưng sang lại phía Buda nếu muốn đến Quận XI và XII, đi về phía bắc. Không còn quận nào khác ở vòng tròn này, phải quay lại về phía Pest để đến quận XIII, XIV, XV, XVI, XVII, XVIII, XIX và XX (phần xa nhất của thành phố), gần thành hình bán nguyệt, quay lại về phía nam. Quận XXI là mở rộng của tuyến đường trên về phía một nhánh của Danube, ở đầu phía bắc của đảo dài phía nam Budapest. Quận XXII vẫn ở trên tuyến đó về phía tây nam Buda, và cuối cùng là Quận XXIII ở rìa phía nam của Pest, không theo quy luật chỉ vì nó là một phần của Quận XX tới năm 1994.[81]

Hungary budapest districts

Nhân khẩu học

Budapest so với HungaryEU
Budapest Hungary Liên minh Châu Âu
Tổng dân số 1.740.041 9.937.628 507.890.191
Thay đổi dân số, 2004 tới 2014 +2,7%[82] −1,6%[82] +2,2%[83]
Mật độ dân số 3.314 /km² 107 /km² 116 /km²
GDP trên đầu người PPP 52.770 $[84] 28.965 $[85] 33.084 $[86]
Bằng cử nhân hoặc cao hơn 34,1%[87] 19,0%[87] 27,1%[88]
Người sinh ra ở nước ngoài 7,3%[89] 1,7%[90] 6,3%[91]
Nhóm người định cư nước ngoài lớn nhất[92]
Quốc tịch Dân số (2011)
 Đức 28.818
 România 8.480
 Nga 6.158
 Trung Quốc 4.982
 Slovakia 3.257
 Ba Lan 2.758
 Việt Nam 2.723
 Hy Lạp 2.311
 Thụy Điển 2.000
Lịch sử dân số
NămSố dân±%
1784[93] 57.100—    
1850 206.339+261.4%
1870 302.086+46.4%
1880 402.706+33.3%
1890 560.079+39.1%
1900 861.434+53.8%
1910 1.110.453+28.9%
1920 1.232.026+10.9%
1930 1.442.869+17.1%
1940 1.712.791+18.7%
1950 1.590.316−7.2%
1960 1.804.606+13.5%
1970 1.945.083+7.8%
1980 2.059.226+5.9%
1990 2.016.681−2.1%
2001 1.777.921−11.8%
2011 1.729.040−2.7%
2017 1.752.704+1.4%
Dân số 2001 đến 2014[82]
Lãnh thổ hiện tại của Budapest

Budapest là thành phố đông dân nhất Hungary và một trong những thành phố lớn nhất trong Liên minh Châu Âu, với số người định cư tăng dần, ước tính 1.742.000 người năm 2014, với số người di cư vào bên trong nhiều hơn số người di cư ra bên ngoài.[12] Những xu hướng này có thể được nhìn thấy khắp vùng đô thị Budapest, là nơi sống của 3,3 triệu người.[94][95] Con số ngày chiếm 34% dân số Hungary. Năm 2014, thành phố này có mật độ dân số 3.314 người trên kilômét vuông (8.580/dặm vuông), nó là khu tự quản đông dân nhất Hungary. Mật độ dân số của Elisabethtown-Quận VII là 30.989/km² (80.260/dặm vuông), là mật độ dân số cao nhất tại Hungary và là một trong những nơi có mật độ dân số cao nhất thế giới, có thẻ so sánh với mật độ dân số của Manhattan là 25.846/km².[96]

Budapest là "thành phố phát triển năng động" thứ tư theo dân số tại châu Âu,[97] và Euromonitor dự đoán dân số sẽ tăng lên gần 10% giữa năm 2005 và 2030.[98] Mạng lưới Quan sát Châu Âu về Phát triển Lãnh thổ và Sự gắn kết nói rằng dân số Budapest sẽ tăng từ 10% đến 30% chỉ do nhập cư cho tới năm 2050.[99] Một dòng chảy liên tục của người nhập cư trong những năm gần đây đã thúc đẩy tăng trưởng dân số ở Budapest. Lợi ích về năng suất và tỷ trọng dân số hoạt động kinh tế tương đối lớn giải thích tại sao thu nhập gia đình ở Budapest đã tăng đến một mức độ lớn hơn so với các khu vực khác của Hungary. Thu nhập cao hơn ở Budapest được phản ánh trong phần chi tiêu thấp hơn mà cư dân của thành phố phân bổ cho chi tiêu cần thiết như thức ăn và đồ uống không cồn.[94]

Trong cuộc thống kê dân số năm 2011, có 1.729.040 người với 906.782 hộ gia đình sống tại Budapest.[100] Khoảng 1,6 triệu người từ vùng đô thị này có thể ở trong Budapest vào giờ làm việc, cà trung những sự kiện đặc biệt. Sự biến động số lượng người này là do hàng trăm ngàn cư dân ngoại thành đến thành phố với mục đích làm việc, giáo dục, chăm sóc sức khỏe và các sự kiện đặc biệt. Theo sắc tộc có 1.397.851 (80,8%) người Hungary, 19.530 (1,1%) người Di-gan, 18.278 (1,0%) người Đức, 6.189 (0,4%) người Romania, 4.692 (0,3%) người Trung Quốc và 2.581 (0,1%) người Slovakia. 301.943 người (17,5%) không tuyên bố sắc tộc của họ. Tại Hungary mọi người có thể tuyên bố nhiều hơn một sắc tộc, nên tổng số người theo các sắc tộc nhiều hơn tổng dân số.[89][101] Thành phố này là nơi ở một trong những cộng đồng người Do Thái lớn nhất tại châu Âu.[102]

Cũng theo thống kê đó, 1.600.585 người (92,6%) sinh ra tại Hungary, 126.036 người (7,3%) sinh ra bên ngoài Hungary trong khi có 2.419 người (0,1%) không rõ nơi sinh.[89] Mặc dù chỉ 1,7% dân số Hungary năm 2009 là người nước ngoài, 43% trong số họ sống tại Budapest, chiếm 4,4% dân số thành phố (tăng lên từ 2% năm 2001).[90] Gần hai phần ba người nước ngoài sống ở Hungary dưới 40 tuổi. Động lực chính cho nhóm tuổi này sống ở Hungary là việc làm.[90] Theo thống kê dân số năm 2011, 1.712.153 người (99,0%) nói tiếng Hungary, trong đó 1.692.815 người (97,9%) coi nó là ngôn ngữ đầu tiên, trong khi 19.338 người (1,1%) coi nó là ngôn ngữ thứ hai. Các tiếng (nước ngoài) được nói khác là: tiếng Anh (536.855 người nói, 31,0%), tiếng Đức (266.249 người nói, 15.4%), tiếng Pháp (56.208 người nói, 3,3%) và tiếng Nga (54.613 người nói, 3,2%).[89]

Budapest là nơi ở của cộng đồng Công giáo đông dân nhất tại Trung Âu, gồm có 698.521 người (40,4%) năm 2011.[89] Theo cuộc thống kê năm 2011, có 501.117 (29,0%) người theo Công giáo Rôma, 146.756 (8,5%) người theo Thần học Calvin, 30.293 (1,8%) người theo Giáo hội Luther, 16.192 (0,9%) người theo Công giáo Hy Lạp, 7.925 (0,5%) người theo Do Thái giáo và 3.710 (0,2%) người theo Chính thống giáo tại Budapest. 395.964 người (22,9%) không tôn giáo trong khi 585.475 người (33,9%) không công bố tôn giáo.[89] Một báo cáo của Cơ quan Thống kê Trung Hungary cho thấy rằng số lượng người Di-gan tại Budapest tăng từ 2% năm 1990 đến 4,6% năm 2009.[90][103]

Các địa điểm chính và du lịch

Café Gerbeaud Budapest
Bên trong Café Gerbeaud
Budapešť, hotel Boscolo v noci II
Khách sạn Boscolo, quán cà phê tại tầng một, một khách sạn 107 phòng ở trên

Nhà quốc hội kiến trúc Gothic thời Phục Hưng, tòa nhà lớn nhất tại Hungary với chiều dài 268 mét (879 ft), trong đó có Vương miện Thần thánh Hungary. Ẩm thực Hungary và văn hóa cà phê: ví dụ, Gerbeaud Café, Cafe New York, và Százéves, Biarritz, Fortuna, Alabárdos, Arany Szarvas, Kárpátia và nhà hàng nổi tiếng thế giới Mátyás Pince. Có các di tích La Mã tại bảo tàng Aquincum, và những dụng cụ lịch sử tại bảo tàng Lâu đài Nagytétény, chỉ là 2 trong số 223 bảo tàng tại Budapest. Một bảo tàng lịch sử khác là House of Terror, bên trong tòa nhà là nơi gặp gỡ của tổng hành dinh Nazi. Đồi Lâu đài, bờ sông Danube và toàn bộ Andrássy út đã được công nhận là di sản văn hóa thế giới UNESCO.

Đồi Lâu đài và Quận Lâu đài; có 3 nhà thờ ở đây, sáu bảo tàng, và một nhóm nhà, đường, quảng trường thú vị. Cung điện hoàng gia trước đây là một trong những biểu tượng của Hungary – và đã là nơi nhiều trận chiến xảy ra kể từ thế kỷ 13. Ngày nay nó chứa hai bảo tàng ấn tượng và Bảo tàng Széchenyi Quốc gia. Cung điện Sándor gần đó gồm có các văn phòng và nơi ở chính thức của Tổng thống Hungary. Nhà thờ Matthias bảy trăm tuổi là một trong những báu vật của Budapest, nó có phong cách neo-Gothic, được trang trí với đá cuội màu sắc và những đỉnh nhọn tinh tế. Cạnh đó là tượng cưỡi ngựa của vị vua đầu tiên của Hungary, Vua Saint Stephen, và đằng sau đó là Fisherman's Bastion, được xây năm 1905 bởi kiến trúc sư Frigyes Schulek, Fishermen's Bastions được đặt tên theo liên đoàn cùng tên mà trong thời Trung Cổ có nhiệm vụ bảo vệ phần này của thành lũy, từ đây có thể nhìn toàn cảnh thành phố. Tượng của Turul, con chim bảo hộ thần thoại của Hungary, có thể được tìm thấy ở cả Quận Lâu đài và Quận 12.

Hội đường Do Thái giáo Đường Dohány là Hội đường Do Thái giáo lớn nhất châu âu, và là Hội đường Do Thái giáo lớn thứ hai còn hoạt động trên thế giới.[104] Hội đường Do Thái giáo này nằm ở quận Do Thái và gồm một số khu đất tại trung tâm Budapest được tiếp giáp bởi đường Király utca, Wesselényi utca, Grand Boulevard và Bajcsy Zsilinszky. Nó được xây theo phong cách Marốc phục hưng năm 1859 và có sức chứa chỗ ngồi là 3.000 chỗ. Cạnh đó là một bức điêu khắc mô phỏng một cây liễu rủ bằng thép để tưởng nhớ tạn nhân người Hungary của Holocaust.

Suối khoáng

Budapest Széchenyi Baths R02
Nhà tắm nước nóng Széchenyi tại Công viên Thành phố

Một trong những lý do người La Mã quyết định định cư ở khu vực ngay phía tây sông Danube và thành lập thủ đô vùng miền tại Aquincum (bây giờ là một phần của Óbuda, ở phía bắc Budapest) là để họ có thể sử dụng và tận hưởng suối nước nóng. Cũng có những tàn tích có thể thấy ngày nay của rất nhiều nhà tắm được xây trong khoảng thời gian này. Những nhà tắm mới được tây trong thời kỳ Thổ Nhĩ Kỳ (1541–1686) có mục đích để tắm và cũng dùng để chữa bệnh, và một số trong đó vẫn được sử dụng tới ngày nay.[105][106]

Budapest đã có được danh tiếng là một thành phố của suối khoáng trong những năm 1920, sau khi lần đầu nhận ra tiềm năng kinh tế nước nóng trong việc thu hút du khách. Thật vậy, năm 1934, Budapest được chính thức xếp hạng là "Thành phố của suối khoáng". Ngày nay, các phòng tắm chủ yếu được sử dụng thường xuyên bởi thế hệ lớn tuổi, như, với ngoại lệ là vũ trường nước "Magic Bath" và "Cinetrip", những người trẻ tuổi có xu hướng thích bể bơi ngoài trời được mở trong mùa hè.

Việc xây dựng các phòng tắm Király bắt đầu vào năm 1565, và hầu hết các tòa nhà ngày nay có niên đại từ thời kỳ Thổ Nhĩ Kỳ, đáng chú ý nhất là hồ bơi có mái vòm đẹp.

Cơ sở hạ tầng và giao thông vận tải

Sân bay

Liszt Ferenc Repuloter 2-es terminal varocsarnok 06
Phòng chờ chất và hạ cánh giữa ga 2A và 2B, gọi là SkyCourt tại sân bay quốc tế Budapest

Budapest có Sân bay quốc tế Ferenc Liszt Budapest (BUD) (được đặt tên theo Franz Liszt, nhà soạn nhạc Hungary nổi tiếng), một trong những sân bay đông đúc nhất tại Trung và Đông Âu, nằm ở 16 kilômét (9,9 mi) về phía đông nam trung tâm Budapest, tại Quận XVIII. Sân bay này giúp kết nối quốc tế với hầu hết các thành phố lớn tại châu Âu, và cũng kết nối tới Bắc Mỹ, châu PhiTrung Đông. Vì là sân bay đông đúc nhất của Hungary, quản lý gần như tất cả giao thông hàng không của quốc gia. Budapest Liszt Ferenc quản lý khoảng 250 chuyến bay có kế hoạch mỗi ngày năm 2013, và ngày càng nhiều chuyến bay thuê bao. Luân Đôn, Brussels, Frankfurt, Munich, Paris, và Amsterdam lần lượt là những kết nối quốc tế đông đúc nhất, trong khi Toronto, Montreal, Dubai, DohaAlicante là những điểm đến ít chuyến nhất.[107] Ngày nay sân bay là trụ sở của Ryanair, Wizz Air, Budapest Aircraft Service, CityLine Hungary, Farnair Hungary và Travel Service Hungary. Sân bay này có thể được tiếp cận bằng các phương tiện giao thông công cộng từ trung tâm bởi tuyến Metro số 3 và sau đó là xe buýt sân bay số 200E.[108]

Là một phần của kế hoạch phát triển chiến lược, 561 triệu euro đã được sử dụng vào việc mở rộng và hiện đại hóa cơ sở hạ tầng sân bay cho tới tháng 12 năm 2012. Hầu hết những sự phát triển ngày đã được hoàn thiện,[109] những phần được hoãn lại là khu vực hàng hóa mới và cảng mới cho ga 2A và 2B, nhưng những sự phát triển này hiện chỉ để dự phòng, và sẽ được bắt đầu ngay khi lưu lượng của sân bay đạt mức độ thích hợp. SkyCourt, tòa nhà mới nhất có kiến trúc nghệ thuật giữa ga 2A và 2B gồm có 5 tầng. Kiểm tra an toàn của hành khách được chuyển tới đây cùng với khu phân loại hàng hóa mới, khu phòng chờ thương gia mới của Malév và SkyTeam, cũng là phòng chờ thẻ Master đầu tiên tại châu Âu.[110]

Giao thông công cộng

Budapest-metro
Hệ thống tàu điện ngầm của Budapest trong thành phố và ngoại ô
Metro 4, M4, Line 4 (Budapest Metro), Kálvin tér
Tuyến Xanh lục 4, một tuyến tàu điện ngầm không người lái với hệ thống PIDS tại quảng trường Kálvin, di chuyển từ ga tới Tuyến Xanh lam 3
BudapestAlstom
Alstom Metropolis trên Red Line 2 tại ga đường sắt Keleti, một trung tâm vận tải đa phương tới tuyến xanh lục 4 và đường sắt

Giao thông công cộng tại Budapest được cung cấp bởi Trung tâm Vận tải Budapest (BKK, Budapesti Közlekedési Központ), một trong những thẩm quyền vận tải lớn nhất tại châu Âu.[111] BKK vận hành 4 tuyến tàu điện ngầm (bao gồm Tuyến 1, đường sắt ngầm đầu tiên tại lục địa châu Âu), 5 tuyến đường sắt ngoại ô, 33 tuyến xe điện, 15 tuyến xe điện bánh hơi, 264 tuyến xe buýt (bao gồm 40 tuyến đêm), 4 tàu thủy, và BuBi, một hệ thống chia sẻ xe đạp thông minh. Trong một ngày trong tuần trung bình, các tuyến của BKK vận tải 3,9 triệu người; năm 2011, nó vận hành tổng cộng 1,4 tỷ hành khách.[112] Năm 2014, 65% lượng người tham gia giao thông tại Budapest sử dụng phương tiện giao thông công cộng và 35% bằng ô tô. Mục tiêu là 80%–20% năm 2030 theo chiến lược của BKK.

Sự phát triển của complex hệ thống giao thông thông minh phức tạp trong thành phố tiến triển nhanh chóng; việc áp dụng đèn giao thông thông minh rất phổ biến, chúng được quản lý bằng GPS và máy tính và tự động ưu tiên các phương tiện giao thông được kết nối GPS, cũng như giao thông được đo và phân tích trên đường và người lái xe được thông báo về thời gian di chuyển và giao thông dự kiến bởi màn hình thông minh (dự án EasyWay).[113] Người sử dụng phương tiện giao thông công cộng ngay lập tức được thông báo về bất cứ thay đổi nào về giao thông công cộng trực tuyến, trên màn hình điện thoại thông minh và hệ thống thông tin hành khách (PIDS), người lái xe cũng nhận biết được thay đổi về giao thông và quản lý đường xá trong thời gian thực trực tuyến và trên điện thoại thông minh qua BKK Info.[114][115] Tất cả các phương tiện cũng có thể được theo dõi trực tuyến và trên điện thoại thông minh với hệ thống PIDS Futár,[116] cùng với đó việc đưa ra hệ thống vé tích hợp trực tuyến sẽ hỗ trợ việc đo số lượng hành khách trên mỗi tuyến và quản lý thông minh tần suất dịch vụ.

Đường và đường sắt

Civertanmegyeri5
Cầu Megyeri trên đường vành đai quốc lộ M0 xung quanh Budapest

Budapest là nơi trung chuyển đường xá quan trọng nhất, với tất cả các xa lộđường sắt chính kết thúc tại phạm vi thành phố. Hệ thống đường trong thành phố được thiết kế theo cách tương tự như của Paris, với một số đường vành đai và các con đường tỏa ra từ trung tâm. Đường vành đai M0 xung quanh Budapest sắp hoàn thành, chỉ có một phần bị thiếu ở phía tây do các tranh chấp địa phương. Hiện tại đường vành đai dài 80 kilômét (50 dặm), và sau khi hoàn thành, nó sẽ có chiều dài là 107 kilômét (66 mi).

Thành phố là một trung tâm giao thông quan trọng vì tất cả các tuyến đường chính của châu Âu và các tuyến đường sắt châu Âu đều dẫn đến Budapest.[117] Sông Danube đã và vẫn là một tuyến đường thủy quan trọng và khu vực này ở trung tâm lưu vực Karpat nằm ở đường giao nhau của các tuyến đường thương mại.[118] Đường sắt chính của Hungary được điều hành bởi Đường sắt Nhà nước Hungary. Có ba ga đường sắt chính ở Budapest, ga Đông Budapest, ga Tây Budapest và ga Nam Budapest, vận hành cả các dịch vụ đường sắt trong nước và quốc tế. Budapest là một trong những điểm dừng chính của tuyến đường Trung và Đông Âu.[119] Ngoài ra còn có dịch vụ đường sắt đi ngoại ô trong và xung quanh Budapest, ba tuyến được vận hành với tên HÉV.

Cảng, tàu thủy và các loại khác

Sông Danube chảy qua Budapest trên đường từ Đức đến Biển Đen. Con sông có thể dễ dàng điều hướng và vì vậy Budapest trong lịch sử có cảng thương mại lớn tại CsepelÚjpest. Phía Pest cũng là một cảng nổi tiếng với các cảng hàng hải quốc tế cho hàng hóa[120] và cho tàu khách.[121] Trong những tháng mùa hè, một dịch vụ tàu cánh ngầm hoạt động trên sông Danube kết nối thành phố với Viên.

BKK (qua nhà vận hành BKV) cũng cung cấp phương tiện giao thông công cộng với dịch vụ thuyền trong phạm vi của thành phố. Bốn tuyến, được đánh dấu D11-14, kết nối hai bờ với Đảo Margaret và đảo Hajógyári, từ Római fürdő (phía Bắc Buda, đến đảo Óbudai) hoặc Cầu Árpád (phía Pest) đến Cầu Rákóczi, với tổng cộng 15 điểm dừng. Ngoài ra, một số công ty cung cấp các chuyến đi thuyền tham quan và cũng là một phương tiện vừa ở dưới nước vừa ở trên cạn (xe buýt và thuyền) hoạt động liên tục.

Chất lượng nước ở các bến cảng Budapest được cải thiện đáng kể trong những năm gần đây, các cơ sở xử lý xử lý 100% lượng nước thải được tạo ra vào năm 2010. Người Budapest thường xuyên đi kayak, xuồng, mô tô nướcthuyền buồm trên sông Danube, nơi đã liên tục trở thành một địa điểm giải trí lớn cho thành phố.

Các phương tiện giao thông đặc biệt ở Budapest, bên cạnh các tàu điện ngầm, bao gồm đường sắt ngoại ô, xe điện và thuyền. Có một vài loại phương tiện ít phổ biến hơn ở Budapest, giống như xe điện bánh hơi trên một số tuyến trong Pest, Đường sắt leo núi Đồi Lâu đài giữa cầu Dây xích và lâu đài Buda, xe ô tô nhỏ cho thuê ở đảo Margaret, cáp treo ghế, đường sắt răng cưa Budapest và đường sắt trẻ em. Ba loại sau cùng chạy giữa những ngọn đồi Buda.

Giáo dục

Budapesti Műszaki Egyetem K épület
Tòa nhà chính của Đại học Công nghệ và Kinh tế Budapest, nó là Viện Công nghệ lâu đời nhất thế giới, được thành lập năm 1782
Iskola-Lotz3
Trường Kinh doanh Budapest, trường kinh doanh công lập đầu tiên trên thế giới, được thành lập năm 1857
Liszt Ferenc Zeneművészeti Egyetem 2013-ban felújított homlokzata
Nhà chính của Học viện Âm nhạc Liszt Ferenc, được thành lập năm 1875

Budapest là nơi có hơn 35 cơ sở giáo dục bậc cao, nhiều trong số đó là trường đại học. Theo Quy trình Bologna, nhiều bằng cấp được cung cấp được công nhận ở các quốc gia trên khắp châu Âu. Y học, nha khoa, dược phẩm, thú y, và kỹ thuật là một số trong những lĩnh vực phổ biến nhất cho người nước ngoài học tại Budapest. Hầu hết các trường đại học ở Budapest cung cấp các khóa học bằng tiếng Anh, cũng như trong các ngôn ngữ khác như tiếng Đức, tiếng Pháp và tiếng Hà Lan, nhằm vào người nước ngoài. Nhiều sinh viên từ các quốc gia châu Âu khác dành một hoặc hai học kỳ tại Budapest thông qua Chương trình Erasmus.[122]

Đại học tại Budapest
Tên Thành lập Thành phố Loại Học sinh Nhân viên
Trường Kinh doanh Budapest 1857 Budapest Trường kinh doanh Công lập 16.905 987
Đại học Szent István 1787 Budapest Đại học cổ điển Công lập 12.583 1.313
Đại học Công nghệ và Kinh tế Budapest 1782 Budapest Công lập Viện công nghệ 21.171 961
Đại học Corvinus 1920 Budapest Trường kinh doanh công lập 14.522 867
Đại học Eötvös Loránd 1635 Budapest Đại học cổ điển công lập 26.006 1.800
Đại học Mỹ thuật Hungary 1871 Budapest Trường mỹ thuật công lập 652 232
Học viện âm nhạc Liszt Ferenc 1875 Budapest Trường âm nhạc công lập 831 168
Đại học Mỹ thuật và Thiết kế Moholy-Nagy 1870 Budapest Trường mỹ thuật công lập 894 122
Đại học Dịch vụ Công cộng Quốc gia 1808 Budapest Đại học cổ điển công lập 10.800 465
Đại học Óbuda 1879 Budapest Viện công nghệ công lập 12.888 421
Semmelweis University 1769 Budapest Trường y công lập 10.880 1.230
Đại học Thể dục 1925 Budapest Đại học cổ điển Công lập 2.500 220
Học viện Kịch và Phim tại Budapest 1865 Budapest Trường nghệ thuật Công lập 455 111
Đại học Andrássy Budapest 2002 Budapest Đại học cổ điển tư thục 210 51
Aquincum Institute of Technology 2011 Budapest Viện công nghệ tư thục 50 41
Cao đẳng Truyền thông và Kinh doanh Budapest 2001 Budapest Đại học cổ điển tư thục 8.000 350
Đại học Nghiên cứu Do Thái Budapest 1877 Budapest Đại học thần học tư thục 200 60
Đại học Trung Âu 1991 Budapest Đại học cổ điển tư thục 1,380 399
Trường Kinh doanh Quốc tế 1991 Budapest Trường kinh doanh tư thục 800 155
Đại học Nhà thờ Cải cách Károli Gáspár 1855 Budapest Đại học cổ điển tư thục 4.301 342
Đại học Công giáo Pázmány Péter 1635 Budapest Đại học cổ điển tư thục 9.469 736
Đại học thần học Lutheran 1557 Budapest Đại học thần học tư thục 220 36

Quan hệ quốc tế

Budapest có khá nhiều thành phố kết nghĩa và cộng tác trên thế giới.[123] Giống như Budapest, nhiều trong số đó là thành phố có tầm ảnh hưởng nhất của các quốc gia, đa số là thủ đô văn hóa, kinh tế, chính trị của quốc gia đó. Thị trưởng của Budapest nói rằng mục đích của việc cải thiện quan hệ với thành phố kết nghĩa là cho phép và thúc đẩy sự trao đổi thông tin và kinh nghiệm, cũng như phối hợp trong việc quản lý thành phố, giáo dục, văn hóa, du lịch, truyền thông, thương mại và kinh doanh.[124]

Thành phố kết nghĩa

Thành phố cộng tác

Một số quận của thành phố cũng kết nghĩa với các thành phố nhỏ và quận của các thành phố lớn khác; xem bài Danh sách quận tại Budapest để biết thêm thông tin.

Hình ảnh

Matthias Church, Budapest, 2017

Nhà thờ Matthias

Basilique Saint-Étienne de Pest

Vương cung thánh đường Thánh Stephen

Sunset over the Danube - Budapest - joiseyshowaa

Széchenyi Chain Bridge

The Millennium Monument in Heroes' Square, Budapest, Hungary

Quảng trường Anh hùng

Budai Vigadó (12221. számú műemlék) 6

Budai Vigadó

Castle of Vajdahunyad

Lâu đài Vajdahunyad

Magyar Nemzeti Múzeum épülete

Bảo tàng Quốc gia Hungary

Szent Erzsebet-templom 01

Nhà thờ thánh Elisabeth

Synagogue-Budapest

The Great Synagogue

Museum of Applied Arts (Budapest)

Bảo tàng Nghệ thuật Ứng dụng

Fisherman's Bastion Budapest amk

Fisherman's Bastion

Drexler Palota, Budapest

Andrássy Avenue was recognised as a World Heritage Site

Budapest-var-szentistvan-fotografikus hu

King Saint Stephen's sculpture in Buda Castle

Burgtheater Budapest Varszinhaz 2009 august

Castle Theatre

Budapest National Theatre R01

National Theatre

Operett Színház - 2015.03.23

Operett Theatre

Bálna

Bálna

Budapest Szabadság híd 2012

Liberty Bridge

Budapest Gellért socha svobody 2

Liberty Statue

Brudern House

Nhà Brudern

Nyugati pályaudvar, Budapest

Ga tàu Budapest-Nyugati

AquincM4

Bảo tàng Aquincum (Aquincum là thủ phủ của tỉnh Pannonia của Đế quốc La Mã.)

Gül Babab Türbe

Tomb of Gül Baba

Budapest andrassy ut 1875

Đại lộ Andrássy (1875)

Zeppelin above Budapest in 1931

Zeppelin trên Budapest năm 1931

Budapest four seasons

Cung điện Gresham

Tham khảo

  1. ^ Lúc đó còn là Buda và Pest riêng biệt
  1. ^ “The Municipality of Budapest (official)”. Municipality of Budapest. 11 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2014.
  2. ^ “Budapest”. 2014 Encyclopædia Britannica, Inc. 11 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2014.
  3. ^ “Functional Urban Areas – Population on 1 January by age groups and sex”. Eurostat. 1 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2016.
  4. ^ “Best view in Budapest from the city's highest hilltop”. stay.com – Budapest. 11 tháng 9 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2014.
  5. ^ a ă “Population by type of settlement – annually”. Hungarian Central Statistical Office. 12 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2016.
  6. ^ a ă “Gazetteer of Hungary, Hungarian Central Statistical Office, 2012” (PDF). Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2013.
  7. ^ “Budapest City Review”. Euromonitor International. Tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2014.
  8. ^ “English: 39,8% of the country's GDP produced in Budapest. Hungary's GDP PPP in 2017 is $284.266 billion (IMF) x 39,8% = $113.1 billion”. portfolio.hu / Hungarian Central Statistical Office. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2017.
  9. ^ a ă Ed F. Nozeman; Arno J. Van der Vlist (2014). European Metropolitan Commercial Real Estate Markets. Springer. tr. 169. ISBN 978-3-642-37852-2.
  10. ^ a ă “English: 39,8% of the country's GDP produced in Budapest. Hungary's GDP PPP in 2017 is $284.266 billion (IMF) x 39,8% = $113.1 billion / Budapest pop. 2016 (1.759.407) = $64,283”. portfolio.hu / Hungarian Central Statistical Office. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2017.
  11. ^ UK: /ˌbjdəˈpɛst/, /ˌbʊd-/, /-ʃt/, /ˈbjdəpɛst/, /ˈbʊd-/, /-ʃt/
    US: /ˈbdəpɛst/
    Nguồn: Wells, John C. (2008), Longman Pronunciation Dictionary (ấn bản 3), Longman, ISBN 978-1-4058-8118-0
  12. ^ a ă Bachmann, Helena (18 tháng 3 năm 2002). “Beauty and the Feast”. Time. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2008.
  13. ^ Taşan-Kok, Tuna (2004). Budapest, Istanbul and Warsaw: Institutional and spatial change. Eburon Uitgeverij. tr. 41. ISBN 978-90-5972-041-1. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2013.
  14. ^ Meer, Dr Jan van der; Carvalho, Dr Luis; Berg, Professor Leo van den (28 tháng 5 năm 2014). Cities as Engines of Sustainable Competitiveness: European Urban Policy in Practice. Ashgate Publishing, Ltd. ISBN 978-1-4724-2704-5.
  15. ^ a ă â b c Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Encarta
  16. ^ “About Budapest Transport Association”. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2016. Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp) “About Budapest Transport Association”. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2016.
  17. ^ “telep lista” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 25 tháng 11 năm 2006. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2016. Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp) “telep lista” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 25 tháng 11 năm 2006. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2016.
  18. ^ “English: 49,6% of the country's GDP produced in Budapest metropolitan area, in Central Hungary (Budapest and Pest county). Hungary's GDP PPP in 2017 is $284.266 billion (IMF) x 49,6% = $141.0 billion”. portfolio.hu / Hungarian Central Statistical Office. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2017.
  19. ^ “ukmediacentre.pwc.com”. PricewaterhouseCoopers. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2014.
  20. ^ Istrate, Emilia. “Global MetroMonitor | Brookings Institution”. Brookings.edu. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2013.
  21. ^ “Hungary: Emerging Economic Power In Central And Eastern Europe”. Thomas White International. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2017.
  22. ^ “Globalization and World Cities (GaWC) Research Network, Loughborough University”. www.lboro.ac.uk. 24 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2017.
  23. ^ “The Global Financial Centres Index 21” (PDF). Long Finance. Tháng 3 năm 2017.
  24. ^ “Innovation Cities Top 100 Index » Innovation Cities Index & Program – City data training events from 2THINKNOW for USA Canada America Europe Asia Mid-East Australia”. Innovation-cities.com. 1 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2011.
  25. ^ “CEE City Ranking puts capitals under the spotlight | Local and regional publications”. Rolandberger.at. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2011.
  26. ^ “Doing Business: Budapest, the soul of Central Europe”. International Herald Tribune. 4 tháng 8 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2008.
  27. ^ “Budapest Europe’s Second Fastest-Developing Urban Economy, Study Reveals – The study examines the development of the world's 300 largest urban economies, ranking them according to the pace of development.”. Brookings Institution. 23 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2016.
  28. ^ “Originally established in 1864, today it is the second most liquid stock market in the Central and Eastern European region, with the total market capitalisation of listed firms standing at approximately US $33.8 billion.”.
  29. ^ “Regional Headquarters Central and Eastern Europe” (PDF). investinaustria.at. 23 tháng 9 năm 2011. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 21 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2014.
  30. ^ “Magyarországon működő bankok - BankRáció.hu”. www.bankracio.hu.
  31. ^ “Market Overview – BET shares capitalization: 7,170 billion HUF”. Budapest Stock Exchange. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2017.
  32. ^ “International organizations in Hungary”. Ministry of Foreign Affairs. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2016.
  33. ^ “EU nations pick Budapest for technology institute”. Sydney Morning Herald. 18 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2014.
  34. ^ European Union Document Nos. 2013/0812 (COD), ENFOPOL 395 CODEC 2773 PARLNAT 307
  35. ^ “Budapesten nyílik az első kínai befektetési támaszpont külföldön” [First Chinese investment base abroad opens in Budapest]. Heti Világgazdaság (bằng tiếng Hungarian). Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2018.
  36. ^ “Academic Ranking of World Universities 2015”. ShanghaiRanking Consultancy. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2015.
  37. ^ “CWUR 2015 – World University Rankings”. Center for World University Rankings. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2015.
  38. ^ Electric Railway Society (2003). https://books.google.com/books?id=9DdeAAAAIAAJ&redir_esc=y. Doppler Press. p. 61. Retrieved 29 August 2012.
  39. ^ Mátyás Jangel (tháng 9 năm 2010). “Közszolgáltatási szerződés, utasjogok, a szolgáltatástervezés és ellenőrzés folyamata a kötöttpályás helyi- és elővárosi közforgalmú közlekedésben” [Public service contract, passenger rights, service planning and monitoring process of local and suburban public transport rail] (bằng tiếng Hungarian). BKV Zrt. Közlekedési Igazgatóság [Directorate of Public Office. Transport]. tr. 10 (and 3). Bản gốc (pdf) lưu trữ ngày 28 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2015. Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp) Metro usage per day – Line 1: 120,000; Line 2: 405,000; Line 3: 630,000. (Line 4 began operations in 2014, with a 110,000 ridership estimated by Centre for Budapest Transport (BKK) based on the latest year.)
  40. ^ “Budapest is the most liveable Eastern European city”. Index.hu. 8 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2018.
  41. ^ “Gazdaság: EIU: Budapest, London és New York között a legjobban élhető városok listáján (Budapest between London and New York on the most liveable cities list)”. HVG.hu. 11 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2018.
  42. ^ “Budapest is the 50th Most Liveable City in the World”. Tower International. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2017.
  43. ^ a ă â b “Aquincum”. Encyclopædia Britannica. Encyclopædia Britannica, Inc. 2008. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2008.
  44. ^ Sugar, Peter F.; Péter Hanák, Tibor Frank (1990). “Hungary before the Hungarian Conquest”. A History of Hungary. Đại học Indiana Press. tr. 3. ISBN 025320867X. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2008.
  45. ^ a ă â b c d đ “Budapest”. Travel Channel. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2008.
  46. ^ a ă “Budapest”. 1911 Encyclopædia Britannica Eleventh Edition. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2008.
  47. ^ Drake, Miriam A. (2003). “Eastern Europe, England and Spain”. Encyclopedia of Library and Information Science. CRC Press. tr. 2498. ISBN 0824720806. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2008.
  48. ^ Casmir, Fred L. (1995). “Hungarian culture in communication”. Communication in Eastern Europe: The Role of History, Culture, and media in contemporary conflicts. Lawrence Erlbaum Associates. tr. 122. ISBN 0805816259. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2008.
  49. ^ Molnar, A Concise History of Hungary, Chronology pp. 15
  50. ^ Beaverstock, J. V. (1999). "A Roster of World Cities". Loughborough University. Truy cập ngày ngày 22 tháng 5 năm 2008.
  51. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên TIME
  52. ^ a ă “Nomination of the banks of the Danube and the district of the Buda Castle” (PDF). International Council on Monuments and Sites. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2008.
  53. ^ “Budapest Is Stealing Some of Prague’s Spotlight”. The New York Times. Ngày 3 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2008.
  54. ^ “World Heritage Committee Inscribes 9 New Sites on the World Heritage List”. Unesco World Heritage Centre. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2008.
  55. ^ “Hungary's, Budapest's and Balaton's Guide: Budapest's spas: Gellért, Király, Rác, Rudas, Széchenyi, Lukács”. Guideviaggi.net. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2009.
  56. ^ Published: 10:25AM Wednesday 19 tháng 11 năm 2008 (ngày 19 tháng 11 năm 2008). “Big underground thermal lake unveiled in Budapest, Hungary | WORLD News”. Tvnz.co.nz. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2009.
  57. ^ Meusburger, Peter; Jöns, Heike biên tập (2001). Transformations in Hungary: Essays in Economy and Society. Springer Verlag. ISBN 3-7908-1412-1. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2014.
  58. ^ Bácskai Vera: Széchenyi tervei Pest-Buda felemelésére és szépítésére Lưu trữ 15 June 2009 tại Wayback Machine.
  59. ^ "Dictionary of American Family Names"(Volume A–F), by Patrick Hanks, Oxford University Press, 2003, pages 179, 245.
  60. ^ Kiss, Lajos (1978). Földrajzi nevek etimológiai szótára [Etymological Dictionary of Geographic Names]. Budapest: Akadémiai. tr. 131–132.
  61. ^ Györffy, György (1997). Pest-Buda kialakulása: Budapest története a honfoglalástól az Árpád-kor végi székvárossá alakulásig [The Development of Pest and Buda: History of Budapest from the Great Migration until the End of the Árpád Dynasty]. Budapest: Akadémiai. tr. 62. ISBN 978-963-05-7338-2. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2016.
  62. ^ Schütte, Gudmund (1917). Ptolemy's Maps of Northern Europe. Copenhagen: Royal Danish Geographical Society. tr. 101. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2016.
  63. ^ Smith, William biên tập (2 tháng 3 năm 2006). A Dictionary of Greek and Roman Geography. London: I.B. Tauris. ISBN 978-1-84511-001-7. Facsim. of ed. published: London: John Murray, 1872.
  64. ^ Adrian Room (2006). Placenames of the World. McFarland. tr. 70. ISBN 978-0-7864-2248-7. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2016.
  65. ^ “Association of professional tour guides”. Lovely Budapest. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2013.
  66. ^ Sugar, Peter F. (1990). “Hungary before the Hungarian Conquest”. A History of Hungary. Indiana University Press. tr. 5. ISBN 978-0-253-20867-5. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2008.
  67. ^ “Aquincum - Aquincum Múzeum”. www.aquincum.hu.
  68. ^ Molnar, A Concise History of Hungary, Chronology pp. 12
  69. ^ Molnar, A Concise of Hungary, p. 14
  70. ^ Sugar, Peter F. (1990). “The Angevine State”. A History of Hungary. Indiana University Press. tr. 48. ISBN 978-0-253-20867-5. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2008.
  71. ^ Mona, Ilona (1974). “Hungarian Music Publication 1774–1867”. Studia Musicologica Academiae Scientiarum Hungaricae (Akadémiai Kiadó) 16 (1/4): 261–275. JSTOR 901850. doi:10.2307/901850.
  72. ^ a ă Southeastern Europe under Ottoman rule, 1354–1804, Peter F. Sugar, page 88
  73. ^ UNESCO World Heritage Centre. “Budapest, including the Banks of the Danube, the Buda Castle Quarter and Andrássy Avenue”. unesco.org. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2016.
  74. ^ Peel, M. C.; Finlayson, B. L.; McMahon, T. A. “World Map of Köppen-Geiger climate classification”. The University of Melbourne. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2013 – qua WikiMedia commons.
  75. ^ “Monthly Averages for Budapest, Hungary (based on data from 1970–2010)”. Hungarian Meteorological Service.
  76. ^ “Eurostat regional yearbook 2011” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 8 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2014.
  77. ^ “Neighborhoods in Brief”. Frommer's Budapest. 2011. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2014.
  78. ^ “Budapest district by district”. budapestbydistrict.com. 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2014.
  79. ^ “Urbandivercities.eu, Case study Budapest and Budapest's 8th district”. 2013. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2014.
  80. ^ Berényi, Eszter B. (2010), The transformation of historical city districts in inner city of Budapest (PhD dissertation) (PDF), Budapest, truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2014
  81. ^ After a local referendum, Soroksár became an independent district. (Egy helyi népszavazást követően Soroksár 1994-ben vált önálló kerületté.) (PDF), Budapest, truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2017
  82. ^ a ă â “Population of Budapest and Hungary from 2001, Hungarian Statistical Office”. HSCO. 2014. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2014.
  83. ^ “Eurostat, Population on 1 January (EU27 2004 to 2014)”. Eurostat. 2014. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2014.
  84. ^ “Budapest – HU101 – Employment Institute”. Iz.sk. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2013.
  85. ^ “IMF World Economic Outlook (Hungary), 2017 April”. IMF. 2014. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2014.
  86. ^ “IMF World Economic Outlook, 2014 April”. IMF. 2014. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2014.
  87. ^ a ă “Hungarian Census 2011” (PDF). Hungarian Statistical Office. 2013. tr. 17, table 1.4.1. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2014.
  88. ^ “The European Higher Education Area in 2012, page 104 (average of age groups ((33,2+26,5+21,5)/3))” (PDF). European Commission. 2012. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2014.
  89. ^ a ă â b c d “Népszámlálás 2011: Területi adatok – Budapest” [Hungarian census 2011: Spatial Data – Budapest] (bằng tiếng Hungary). Central Statistical Office. Table 1.1.1.1. A népesség számának alakulása, népsűrűség, népszaporodás (Total number of population, population density, natural growth), 1.1.4.2 A népesség nyelvismeret és nemek szerint (population by spoken language), 1.1.6.1 A népesség anyanyelv, nemzetiség és nemek szerint (population by mother tongue and ethnicity), 1.1.7.1 A népesség vallás, felekezet és nemek szerint (population by religion), 2.1.2.2 A népesség születési hely, korcsoport és nemek szerint (population by place of birth)
  90. ^ a ă â b “Budapest's population is increasing (Növekszik Budapest népessége)”. Index.hu. 2010. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2010.
  91. ^ “Population and Social conditions (31,4 million (6,3%) born outside of the EU)” (PDF). Eurostat. 2011. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2014.
  92. ^ “Population by nationality, 2011”. Hungary. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2011.
  93. ^ Dezső Danyi-Zoltán Dávid: Az első magyarországi népszámlálás (1784–1787) / The first census in Hungary (1784–1787), Hungarian Central Statistical Office, Budapest, 1960, pp. 30
  94. ^ a ă “Budapest City Review”. Euromonitor International. Tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2014.
  95. ^ “Members of EMTA”. European Metropolitan Transport Authorities (EMTA). Tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2014.
  96. ^ "Population Density" Lưu trữ 10 February 2007 tại Wayback Machine., Geographic Information Systems – GIS of Interest. Accessed 17 May 2007.
  97. ^ “Cities and Green Growth, page 3” (PDF). OECD. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2014.
  98. ^ “Eastern Europe in 2030: The future demographic, Population by City” (PDF). Euromonitor. Tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2014.
  99. ^ “IMPACT OF MIGRATION ON POPULATION CHANGE, Results from the Demographic and Migratory flows Affecting European Regions and Cities Project” (PDF). European Observation Network for Territorial Development and Cohesion. 2013. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 12 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2014. Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  100. ^ “The housing stock and the housing density”. Hungarian Central Statistical Office. 2014. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2014.
  101. ^ “Hungarian census 2011 – final data and methodology” (PDF).
  102. ^ “World Jewish Population”. SimpleToRemember.com – Judaism Online. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2012.
  103. ^ Zoltán, Dövényi; Zoltán, Kovács (1999). “A szuburbanizáció térbeni-társadalmi jellemzői Budapest környékén (Spatial and societal parameters of the suburbanization in Budapest)” (PDF) (bằng tiếng Hungarian). Földrajzi Értesítő (Geographical Report). Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2013.
  104. ^ Kulish, Nicholas (30 tháng 12 năm 2007). “Out of Darkness, New Life”. The New York Times. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2008.
  105. ^ “Mini guide to Budapest's spas”. BBC. 26 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2017.
  106. ^ Fallon, Steve. “A guide to Budapest’s thermal baths”. Lonely Planet. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2017.
  107. ^ “Air Transat unveils its new Europe program for 2015”. 15 tháng 10 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2014.
  108. ^ “From the Airport to the City centre by public transport” (PDF). Centre for Budapest Transport. 2014. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2014.
  109. ^ “Budapest Airport Property development”. Budapest Airport. 17 tháng 3 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2014. Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  110. ^ “Budapest Airport unveils Europe's first MasterCard lounge”. Future Travel Experience. 15 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2014.
  111. ^ “Centre for Budapest Transport in brief”. Centre for Budapest Transport. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2014.
  112. ^ “Annual Report 2011” (PDF). BKV Zrt. Tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2014.
  113. ^ “Easyway project – Digital information”. BKK Zrt. 23 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2014.
  114. ^ “BKK Info online (public transport)”. BKK Zrt. 28 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2014.
  115. ^ “BKK Info online (roads and road transport)”. BKK Zrt. 28 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2014.
  116. ^ “BKK Futár PIDS system online”. BKK Zrt. 28 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2014.
  117. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên budapest.com
  118. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên budpocketguide.com
  119. ^ [http: //www.belmond.com/venice-simplon -orient-express / search_results? station = Budapest “Venice Simplon-Orient-Express Điểm đến”]. Truy cập 23 tháng 9 năm 2014.
  120. ^ “Budapest Freeport”. danubeports.info. 6 tháng 5 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2014.
  121. ^ “Budapest cruise terminal”. cruise-profi.com. 2014. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2014.
  122. ^ “Study in Hungary – a guide for international students in Budapest”. Blog for expats & International students in Budapest, Hungary. 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2018. Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  123. ^ “Budapest – Testvérvárosok” [Budapest – Twin Cities]. Budapest Főváros Önkormányzatának hivatalos oldala [Official site of the Municipality of Budapest] (bằng tiếng Hungarian). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2013. Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  124. ^ “Budapest to Sign Sister City Agreement with Beijing”. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2014.
  125. ^ “NYC's Sister Cities”. Sister City Program of the City of New York. 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2008.
  126. ^ “NYC's Partner Cities”. The City of New York. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2012.
  127. ^ “Sister City – Budapest”. Official website of New York City. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2008.
  128. ^ “Budapest, Hungary”. fwsistercities.org. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2016.
  129. ^ “Sanghaj is Budapest testvérvárosa let”. Origo.hu. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2013.
  130. ^ “Sister Cities”. Beijing Municipal Government. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2009.
  131. ^ “Budapest To Sign Twin-City Agreement With Tehran”. Hungary Today. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2016.
  132. ^ “Berlin – City Partnerships”. Der Regierende Bürgermeister Berlin. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2013.
  133. ^ “Berlin's international city relations”. Berlin Mayor's Office. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2009.
  134. ^ https://www.frankfurt.de/sixcms/detail.php?id=317589&_ffmpar%5b_id_inhalt%5d=54766
  135. ^ “These World Cities Are Filled With History”. 21 tháng 11 năm 2013.
  136. ^ “Lisboa – Geminações de Cidades e Vilas” [Lisbon – Twinning of Cities and Towns]. Associação Nacional de Municípios Portugueses [National Association of Portuguese Municipalities] (bằng tiếng Portuguese). Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2013.
  137. ^ “Acordos de Geminação, de Cooperação e/ou Amizade da Cidade de Lisboa” [Lisbon – Twinning Agreements, Cooperation and Friendship]. Camara Municipal de Lisboa (bằng tiếng Portuguese). Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2013.
  138. ^ “Maharashtra Tourism”. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2018. Budapest and Nashik to be sister cities as collaboration between Hungary and Maharashtra to have a roadmap ahead for mutual synergies!Shri Jaykumar Rawal, Hon Minister Tourism, Shri Vijay Gautam IAS PS,Shri Aashutosh Rathod JtMD,interacting with the Hungary delegation at Sahyadri
  139. ^ “Tel Aviv sister cities” (bằng tiếng Hebrew). Tel Aviv-Yafo Municipality. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2009. Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  140. ^ “Intercity and International Cooperation of the City of Zagre b”. 2006–2009 City of Zagreb. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2009.
  141. ^ daenet d.o.o. “Sarajevo Official Web Site: Fraternity cities”. sarajevo.ba. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2016.
  142. ^ “City Partnerships and Projects of cooperation”. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2014.
  143. ^ “Partnerská města HMP” [Prague – Twin Cities HMP]. Portál "Zahraniční vztahy" [Portal "Foreign Affairs"] (bằng tiếng Czech). 18 tháng 7 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2013.
  144. ^ “Archived copy” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2014. Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  145. ^ “Cities: Sister Cities (How many?) (rates, places, America, Los Angeles) – City vs. City – City-Data Forum”. city-data.com. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2016.
  146. ^ “Kraków – Miasta Partnerskie” [Kraków -Partnership Cities]. Miejska Platforma Internetowa Magiczny Kraków (bằng tiếng Polish). Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2013.
  147. ^ Sister Cities Week in Bangkok mfa.gov.hu/kulkepviselet
  148. ^ “Dr. Gábor Bagdy, Vice Mayor of Budapest”. gov.hu.
  149. ^ Daejeon.kr Lưu trữ 19 November 2009 tại Wayback Machine.
  150. ^ Vacca, Maria Luisa. “Comune di Napoli-Gemellaggi” [Naples – Twin Towns]. Comune di Napoli (bằng tiếng Italian). Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2013.
  151. ^ Burak Sansal. “Sister Cities of Istanbul – All About Istanbul”. greatistanbul.com. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2016.
  152. ^ “Ankara’nın yeni kardeşi Budapeşte”. Hürriyet (bằng tiếng Turkish). 26 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2015.
  153. ^ “Welcome to Vilnius”. vilnius.com. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2016. Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  154. ^ “Twin cities of the City of Kosice”. Magistrát mesta Košice, Tr. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2013.
  155. ^ “Новини ЛМР” (bằng tiếng Nga). Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2010.

Danh sách tham khảo

  • Budapest: Eyewitness Travel Guildes. DK Travel. 2007. ISBN 978-0-7566-2435-4.
  • Barber, Annabel (2004). Visible Cities Budapest: A City Guide. Somerset. ISBN 978-963-212-986-0.
  • Ungvary, Krisztian (2006). The Siege of Budapest: One Hundred Days in World War II. Yale University Press. ISBN 978-0-300-11985-5.
  • Molnar, Miklos (2001). A Concise History of Hungary. Cambridge Concise Histories. Cambridge University Press. ISBN 978-0-521-66736-4.
  • Fallon, Steve (2016), Boston, Massachusetts, https://www.lonelyplanet.com/hungary/budapest

Liên kết ngoài

Berlin

Berlin (phát âm tiếng Đức: [bɛɐ̯ˈliːn] ( nghe), cũng còn gọi với tên tiếng Việt là Bá Lâm hoặc Béc-lin) là thủ đô, và cũng là một trong 16 bang của Cộng hòa Liên bang Đức. Với hơn 3.7 triệu người dân, đây là thành phố lớn nhất của Đức. Nếu so với cả Liên minh châu Âu, Berlin là thành phố lớn thứ nhì chỉ sau Luân Đôn. Nằm ở miền Đông Bắc nước Đức, Berlin là trung tâm của khu vực đô thị Berlin-Brandenburg, trong đó có khoảng 6 triệu người đến từ hơn 180 quốc gia trên thế giới. Nằm trong vùng Đồng bằng châu Âu, Berlin bị ảnh hưởng bởi khí hậu ôn đới theo mùa. Khoảng 1/3 diện tích của thành phố là rừng, công viên, vườn, sông và hồ, do đó thành phố này luôn có một bầu không khí trong lành.Được ghi nhận lần đầu tiên vào thế kỷ 13, Berlin từng là thủ đô của Vương quốc Phổ (1701–1918), Đế chế Đức (1871–1918), Cộng hòa Weimar (1919–1933) và Đức Quốc Xã (1933–1945). Vào những năm 1920, Berlin là thành phố lớn thứ ba trên thế giới. Sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, thành phố đã bị liên quân bốn nước chiếm đóng, và sau đó các khu vực do Anh, Pháp, Hoa Kỳ chiếm đóng được hợp nhất và trở thành Tây Berlin, được bao quanh bởi Bức tường Berlin và phần còn lại do Liên Xô chiếm đóng trở thành Đông Berlin (thủ đô của Cộng hòa Dân chủ Đức). Sau khi nước Đức tái thống nhất ngày 3 tháng 10 năm 1990, Berlin trở thành thủ đô của toàn liên bang Đức, lưu trữ 147 đại sứ quán nước ngoài. Sau Quyết nghị Thủ đô của Quốc hội Liên bang Đức (Deutsche Bundestag) vào năm 1991 thành phố cũng thực thi chức năng của mình là trụ sở của chính phủ và quốc hội từ năm 1999.Berlin là một trung tâm chính trị, văn hóa, khoa học quan trọng của châu Âu. Đô thị lớn này là một điểm nút giao thông và một trong những thành phố thu hút được nhiều khách du lịch nhất của lục địa già này. Nhiều trường đại học, viện nghiên cứu, nhà hát và viện bảo tàng tại Berlin có danh tiếng quốc tế.

Casablanca (phim)

Casablanca là một bộ phim chính kịch lãng mạn của Hoa Kỳ năm 1942. Phim do đạo diễn Michael Curtiz dàn dựng, dựa trên kịch bản sân khấu Everybody Comes to Rick's của Murray Burnett và Joan Alison. Phim có diễn xuất của Humphrey Bogart, Ingrid Bergman, Paul Henreid, Claude Rains, Conrad Veidt, Sydney Greenstreet, Peter Lorre và Dooley Wilson. Lấy bối cảnh giai đoạn đầu Chiến tranh thế giới thứ hai, Casablanca đề cập tới một người đàn ông bị giằng xé bởi lựa chọn khó khăn giữa tình yêu dành cho một người phụ nữ và trách nhiệm giúp cô cùng chồng—là một lãnh tụ kháng chiến người Tiệp Khắc—thoát khỏi Maroc, lúc này thuộc quyền quản lý của chính quyền Vichy Pháp thân Đức Quốc xã.

Nhà dựng phim Irene Diamond đã thuyết phục nhà sản xuất Hal B. Wallis mua lại tác quyền vở kịch vào tháng 1 năm 1942. Hai anh em Julius và Philip G. Epstein ban đầu được chỉ định viết kịch bản cho bộ phim. Đầu năm 1942, họ rời bỏ dự án để hợp tác trong Why We Fight của Frank Capra. Howard E. Koch đảm nhận kịch bản này cho tới khi anh em nhà Epsteins trở lại một tháng sau đó. Casey Robinson viết lại kịch bản trong ba tuần, nhưng không được ghi nhận. Curtiz trở thành đạo diễn của bộ phim sau khi William Wyler, lựa chọn đầu tiên của Wallis, không thể tham gia. Quá trình ghi hình chính bắt đầu từ ngày 25 tháng 5 năm 1942, kết thúc ngày 3 tháng 8; hầu hết bộ phim quay tại Warner Bros. Studios, Burbank, với chỉ một cảnh quay ở Sân bay Van Nuys, Los Angeles.

Mặc dù là một bộ phim hạng A với dàn diễn viên nhiều ngôi sao cùng đội ngũ sản xuất tên tuổi, không ai trong đoàn làm phim tin rằng nó sẽ trở thành một sản phẩm vượt trội so với hàng chục bộ phim Hollywood khác được sản xuất cùng năm. Được đưa ra rạp công chiếu sớm nhằm tận dụng sự kiện quân Đồng minh tấn công Bắc Phi, phim công chiếu lần đầu tiên vào ngày 26 tháng 11 năm 1942 tại Thành phố New York và ra mắt tại Mỹ vào ngày 23 tháng 1 năm 1943.

Tại phòng vé, phim thu về 3.7 triệu USD trong lần phát hành gốc, là phim có doanh thu cao thứ 7 của năm 1943. Tại giải Oscar lần thứ 16, phim chiến thắng 3 hạng mục: "Phim hay nhất", "Đạo diễn xuất sắc nhất" (Curtiz) và "Kịch bản chuyển thể xuất sắc nhất" (anh em nhà Epsteins và Koch). Trải qua thời gian, bộ phim tiếp tục được đánh giá cao và nó được coi là một trong những tác phẩm kinh điển của điện ảnh Hollywood với nhiều câu thoại, hình tượng nhân vật và phần nhạc phim đã trở thành mẫu mực trong lịch sử điện ảnh. Hơn 60 năm sau ngày công chiếu đầu tiên, Casablanca vẫn thường xuyên đứng ở nhóm đầu trong các bảng xếp hạng những bộ phim hay nhất trong lịch sử.

Chiến dịch Barbarossa

Barbarossa (tiếng Đức: Unternehmen Barbarossa) là mật danh của chiến dịch xâm lược Liên bang Xô viết do Quân đội Đức Quốc xã tiến hành trong chiến tranh thế giới thứ hai. Với tên ban đầu là kế hoạch Otto và được đích thân Hitler đổi thành "Barbarossa" theo biệt hiệu của vị Hoàng đế La Mã Thần thánh Friedrich I ở thế kỷ XII vào ngày 18 tháng 12 năm 1940, chiến dịch có mục tiêu nhanh chóng chiếm đóng phần lãnh thổ phía Tây đường ranh giới nối liền giữa hai thành phố Arkhangelsk và Astrakhan (thường gọi là tuyến A-A) của Liên Xô, được mở màn vào sáng ngày 22 tháng 6 năm 1941 trên toàn bộ tuyến biên giới phía Tây của Liên Xô và thực tế kết thúc vào đầu tháng 2 năm 1942 trước cửa ngõ Moskva.

Trong toàn chiến dịch, mặc dù Quân đội Đức Quốc xã đã giành được một số chiến thắng vang dội ở cấp độ chiến thuật, chiếm được phân nửa lãnh thổ thuộc châu Âu của Liên Xô trong đó có một số vùng kinh tế quan trọng, nhưng không hoàn thành mục tiêu mà kế hoạch đề ra. Kể từ sau khi đợt tấn công Moskva bị bẻ gãy vào cuối tháng 1 năm 1942, Quân đội Đức Quốc xã không còn đủ sức tổ chức một đợt tổng tấn công nào khác trên toàn bộ mặt trận, khiến chiến lược đánh nhanh thắng nhanh trước mùa đông 1941-1942 của Hitler hoàn toàn phá sản.

Thất bại về mặt chiến lược của chiến dịch Barbarossa là một bước ngoặt quan trọng, buộc Hitler phải tham gia vào một cuộc chiến tranh tổng lực mà nước Đức Quốc xã và đồng minh phe Trục kém thế tương quan về năng lực sản xuất công nghiệp và khả năng tổng động viên so với Liên Xô và phe Đồng minh, dẫn tới sự suy yếu rồi thất bại hoàn toàn trong Chiến tranh thế giới thứ hai.

Về mặt lịch sử, thì chiến dịch Barbarossa được ghi nhận là chiến dịch quân sự có quy mô lớn nhất về quân số tham chiến và cũng là chiến dịch đẫm máu nhất với con số thương vong lớn chưa từng có trong lịch sử thế giới.

Chiến dịch Barvenkovo-Lozovaya

Chiến dịch Barvenkovo-Lozovaya (Lozova) (được Thống chế Đức Wilhelm Bodewin Gustav Keitel gọi là Trận Kharkov lần thứ hai) là một hoạt động quân sự lớn của quân đội Liên Xô và quân đội Đức Quốc xã tại sườn phía Nam mặt trận Xô-Đức, chiến trường chính của chiến dịch là khu vực tam giác Barvenkovo-Vovchansk-Krasnograd ở phía Đông Kharkov, trên khu vực nằm giữa hai con sông Bắc Donets và Oskol. Dựa vào ưu thế tương đối về binh lực tại khu vực mặt trận Tây Nam, Phương diện quân Tây Nam đã đệ trình kế hoạch chiến dịch từ cuối tháng 2 năm 1942 với ý đồ chiếm lại Kharkov bằng hai đòn vu hồi từ phía Bắc và phía Nam. Kế hoạch này bị Bộ Tổng tham mưu quân đội Liên Xô phản đối vì khi tính toán tại thì thấy không được bảo đảm về nhân lực và vật chất. Tuy nhiên, I. V. Stalin lại ủng hộ kế hoạch này và lệnh cho Bộ Tổng tham mưu phải tuân thủ do Tư lệnh Phương diện quân Tây Nam S. K. Timoshenko cam đoan sẽ thành công.Khởi đầu ngày 12 tháng 5, sau ba ngày tấn công, bốn tập đoàn quân bộ binh và hai quân đoàn xe tăng Liên Xô đã tiến công đến cách phía Bắc và phía Nam Kharkov khoảng 40 đến 60 km. Ngày 14 tháng 5, Cụm tập đoàn quân Nam (Đức) bắt đầu giai đoạn đệm của Chiến dịch Blau với mục đích chiếm một số bàn đạp chuẩn bị cho cuộc tổng tấn công lớn vào mùa hè tại phía Nam mặt trận Xô-Đức. Sự cố tình trì hoãn việc dừng chiến dịch khi hậu cứ các cánh quân tấn công bị uy hiếp của nguyên soái S. K. Timoshenko đã khiến Phương diện quân Tây Nam (Liên Xô) đã phải trả giá đắt. Hai tập đoàn quân và hai quân đoàn xe tăng bị bốn tập đoàn quân Đức và Tập đoàn quân 2 Hungary bao vây tiêu diệt và bị bắt làm tù binh. Hai tập đoàn quân và hai quân đoàn xe tăng khác bị thiệt hại nặng. Phương diện quân Tây Nam và Phương diện quân Nam (Liên Xô) phải rút lui về sông Oskol. Một tháng sau, với binh lực lên đến 102 sư đoàn, Cụm tập đoàn quân Nam (Đức) được tăng cường Tập đoàn quân xe tăng 4 từ Cụm tập đoàn quân Trung tâm tiếp tục tấn công, đánh chiếm tuyến đường sắt bên hữu ngạn sông Đông, chiếm một loạt các vị trí quan trọng trên bờ Tây sông Đông và mở các chiến dịch Braunschweig tấn công trực diện vào Stalingrad, chiến dịch Edelweiss tràn vào Bắc Kavkaz.Thất bại của quân đội Liên Xô trong Chiến dịch Barvenkovo-Lozovaya vô hình trung đã tạo đà cho quân Đức phát huy thế mạnh các lực lượng tăng - thiết giáp của họ còn đang sung sức để hoàn thành bước đầu Kế hoạch Xanh, bổ đôi mặt trận của Liên Xô, tiến ra sông Volga và tràn đến Bắc Kavkaz, uy hiếp vùng dầu mỏ Baku - Grozny cực kỳ quan trọng đối với Liên Xô. Sau thất bại này, Nguyên soái S. K. Timoshenko phải rời khỏi vị trí tư lệnh Phương diện quân Tây Nam và chỉ còn vài lần được cử ra mặt trận với tư cách đại diện của Đại bản doanh. Kết quả tai hại của chiến dịch này còn làm cho Bộ Tổng tư lệnh quân đội Liên Xô phải đưa đến Phương diện quân Tây Nam một phần lực lượng dự bị mà khó khăn lắm, họ mới dành dụm được trong mùa đông 1941-1942. Tất cả cũng chỉ đủ để cứu vãn cho bốn tập đoàn quân còn lại của Phương diện quân này khỏi bị hợp vây và lập được trận tuyến phòng ngự mới trên tả ngạn sông Đông.

Chiến dịch Blau

Chiến dịch Blau (tiếng Đức: Fall Blau) là mật danh của Kế hoạch tổng tấn công từ mùa hè năm 1942 của quân đội Đức Quốc xã trên toàn bộ cánh Nam của mặt trận Xô-Đức trong Chiến tranh thế giới thứ hai, (blau có nghĩa là "xanh" trong tiếng Đức). Ban đầu tên dự định của chiến dịch này là Siegfried, đặt theo tên của một người anh hùng trong thần thoại German. Tuy nhiên Adolf Hitler nhớ đến chiến dịch tấn công trước đó với cái tên hoành tráng, chiến dịch Barbarossa (tên của một hoàng đế nổi tiếng của Đức thế kỉ 12), với kết quả không như mong đợi của nó nên đã đặt một cái tên vừa phải hơn là Blau. Do đó "Chiến dịch Blau" thực chất là tổ hợp các chiến dịch mang tên Blau.

Trong lịch sử quân sự Liên Xô (trước đây) và Nga (hiện nay), nó còn được biết đến với tên gọi Chiến cục 1942-1943. Đây là một tổ hợp hoạt động quân sự rất lớn gồm hàng loạt chiến dịch song song và nối tiếp nhau tương tự như Chiến dịch Barbarossa một năm trước đó. Bắt đầu ngày 28 tháng 6 năm 1942 bằng Chiến dịch Voronezh, với thất bại cực kỳ nặng nề ngày 2 tháng 2 năm 1943 tại Trận Stalingrad và kết thúc bằng việc tạm giành được quyền chủ động mong manh trước Trận Kursk, Chiến dịch Blau thể hiện tham vọng rất lớn của nước Đức Quốc xã trong những cố gắng tiêu diệt nhà nước Xô Viết, đối thủ lớn nhất của nước Đức tại châu Âu; qua đó làm thất bại những nỗ lực tiếp tục chiến tranh của Liên Xô, đánh chiếm nốt phần phía đông còn lại của vùng công nghiệp Donbass và vựa lúa mỳ lớn nhất của Liên Xô khi đó ở hạ lưu hai con sông Đông và Volga, cắt đứt và đánh chiếm nguồn dầu mỏ quan trọng của Liên Xô tại Kavkaz, tiến ra Trung - Cận Đông và xa hơn nữa, đến Ấn Độ, thực hiện mưu đồ bá chủ toàn cầu của nước Đức Quốc xã cùng các đồng minh của nó là Nhật Bản và Ý tại các châu lục của "cựu thế giới".

Chiến dịch Budapest

Chiến dịch Budapest (Tiếng Nga:Будапештская операция) là hoạt động quân sự lớn nhất giữa quân đội Liên Xô với quân đội Đức Quốc xã và quân đội Hungary tại Mặt trận Hungary thuộc Chiến tranh Xô-Đức trong các năm 1944-1945. Cuộc chiến diễn ra chủ yếu trên địa bàn thủ đô Budapest của Hungary và một số vùng lân cận. Đây là một trong các chiến dịch phức tạp và khó khăn đối với quân đội Liên Xô tại Trung Âu. Chiến dịch này kéo dài qua gần 4 tháng kể từ ngày 29 tháng 10 năm 1944, khi STAVKA ra mệnh lệnh yêu cầu Phương diện quân Ukraina 2 tiến hành các cuộc tấn công trên hướng Budapest, cho đến lúc toàn bộ số quân Đức và Hungary còn sống sót tại Budapest hạ vũ khí đầu hàng ngày 13 tháng 2 năm 1945. Chiến thắng của Hồng Quân Liên Xô trước quân đội Hungary đã loại bỏ đồng minh cuối cùng của nước Đức Quốc xã ở châu Âu, mở ra khả năng kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai ở Trung và Đông Âu trong một tương lai gần.Chiến dịch Budapest bị ngắt quãng thành năm giai đoạn:

Giai đoạn thứ nhất diễn ra từ ngày 29 tháng 10 đến hết ngày 3 tháng 11 năm 1944. Trong giai đoạn này, các cuộc tấn công của quân đội Liên Xô trên toàn bộ mặt trận của Phương diện quân Ukraina 2 đã không đột phá được phòng tuyến của quân đội Đức Quốc xã trên tuyến sông Tisza. Tập đoàn quân 46 (Liên Xô) trên cánh trái chỉ tiến thêm được 4 đến 6 km/ngày và tiếp cận tuyến sông Danube ở Baja. Ở giữa mặt trận Tập đoàn quân cận vệ 7 hầu như dẫm chân tại chỗ trong bùn lầy đầu mùa đông. Các quân đoàn cơ giới cận vệ 2 và 4 cũng phải dừng lại khi còn cách ngoại ô Budapest 15 km về phía Đông Nam. Ở cánh phải, các tập đoàn quân 27, 40, 53 (Liên Xô), 4 (Romania) và Cụm kỵ binh cơ giới của tướng I. A. Pliyev chưa có cách gì để vượt qua phòng tuyến cứng rắn của quân Đức trên tuyến sông Tisza.

Giai đoạn thứ hai diễn từ ngày 7 tháng 11 đến hết ngày 24 tháng 11 năm 1944. Kết quả của giai đoạn này cũng như giai đoạn thứ nhất. Hai bên bất phân thắng bại với những tổn thất lớn về về người và vũ khí, phương tiện.

Giai đoạn thứ ba diễn ra từ ngày 3 tháng 12 đến hết ngày 26 tháng 12 năm 1944. Lần này, với sự tham gia của Phương diện quân Ukraina 3 phối hợp với Phương diện quân Ukraina 2 làm cho mật độ tấn công của quân đội Liên Xô dày đặc hơn. Quân đội Đức Quốc xã cũng tập trung một lực lượng xe tăng rất mạnh để phòng thủ Budapest. Kết thúc giai đoạn này, hai cánh quân xung kích của Phương diện quân Ukraina 2 (Tập đoàn quân xe tăng 6) và Phương diện quân Ukraina 3 (Quân đoàn xe tăng 18) gặp nhau tại khu vực Esztergom, bao vây gần 190.000 quân Đức và Hungary trong vòng vây tại Budapest. Vì để thất lợi trên hướng Budapest, ngày 28 tháng 12, tướng Johannes Frießner bị cách chức; tướng Otto Wöhler được Bộ Tổng tư lệnh Lục quân Đức chỉ định là Tư lệnh Cụm tập đoàn quân Nam.

Giai đoạn thứ tư diễn ra từ đêm ngày 1 rạng ngày 2 tháng 1 năm 1945 đến ngày 26 tháng 1 năm 1945. Với sự tham gia của 13 sư đoàn xe tăng và 2 sư đoàn cơ giới, quân đội Đức Quốc xã mở cuộc phản công nhằm giải vây cho Cụm quân Budapest của tướng Karl Pfeffer-Wildenbruch. Ngày 20 tháng 1 năm 1945, xe tăng Đức đã vọt tiến đến sông Danube tại khu vực Dunapentele, phía Nam Budapest 25 km, đe dọa chia cắt đội hình của Phương diện quân Ukraina 2 trên hướng Nam Budapest. Ngày hôm sau, các trung đoàn pháo tự hành của Quân đoàn cơ giới cận vệ 2 và 4 được điều đến bịt cửa đột phá. Đây là mũi phản công xa nhất mà quân đội Đức Quốc xã đạt được trong quá trình phản công giải vây Budapest.

Giai đoạn thứ năm diễn ra từ ngày 27 tháng 1 đến ngày 13 tháng 2 năm 1945. Cụm quân Đức bị vây tại khu vực Budapest còn cố gắng kháng cự thêm nửa tháng nữa trước khi hạ vũ khí đầu hàng.Xen giữa 5 giai đoạn này là những diễn biến chính trị, quân sự. Ngày 21 tháng 12 năm 1944, Mặt trận dân tộc độc lập Hungary đã họp tại thành phố Debrecen và lập ra Quốc hội lâm thời và Chính phủ lâm thời Hungary đối địch với Chính phủ của tướng Ferenc Szálasi. Thượng tướng Béla Miklós, nguyên tư lệnh Tập đoàn quân 1 (Hungary) được bầu làm Thủ tướng. Thượng tướng János Verijos, nguyên Tổng tham mưu trưởng quân đội Hungary dưới thời Horthy Miklós chạy sang phía quân đội Liên Xô sau vụ đảo chính ở Budapest được chỉ định làm Bộ trưởng chiến tranh trong chính phủ lâm thời. Chính phủ này đã ký hiệp định đình chiến với đồng minh Liên Xô, Anh và Mỹ.Chiến dịch Budapest hầu như đã đánh sập những binh đoàn chủ lực của Cụm tập đoàn quân Nam (Đức). Mặc dù đầu tháng 3, Quân đội Đức Quốc xã còn cố gắng mở một chiến dịch tấn công lớn bằng xe tăng tại khu vực hồ Balaton nhằm hất quân đội Liên Xô sang bên kia sông Danube nhưng không thành công. Quân đội Liên Xô và các đồng minh chống phát xít như Nam Tư, Romania, Bugaria đã rộng đường tấn công Viên, Tiệp Khắc và tiếp cận biên giới phía Nam nước Đức.

Chiến dịch Debrecen

Chiến dịch Debrecen (6 tháng 10 - 28 tháng 10 năm 1944) là một chiến dịch tấn công do Hồng quân Liên Xô và quân đội România tổ chức nhằm tấn công quân đội Đức Quốc xã và đồng minh của nó là vương quốc Hungary, diễn ra trên mặt trận Xô-Đức thuộc Chiến tranh thế giới thứ hai. Đây là một chiến dịch khó khăn của quân đội Liên Xô-Romania khi quân Đức và Hungary đã chống cự rất kịch liệt và suýt nữa đã bao vây tiêu diệt Cụm kỵ binh cơ giới hóa Pliyev tại khu vực Nyíregyháza trên bờ đông sông Tisza. Cả hai phe tham chiến đều chịu những tổn thất rất nặng nề. Cuối cùng, sau gần nửa tháng kịch chiến, quân đội Liên Xô-Romania đã giải phóng Debrecen và 1/3 lãnh thổ Hungary, tiến sâu 160 cây số, vượt các chướng ngại tự nhiên che chở Hungary ở vùng Nam Carpath để chuẩn bị cho chiến dịch tấn công giải phóng toàn bộ lãnh thổ Hungary.

Chiến dịch Debrecen là chiến dịch đầu tiên trong bốn chiến dịch quân sự lớn của Hồng quân Liên Xô tại mặt trận Hungary năm 1944. Đây cũng là một chiến dịch có diễn biến khá phức tạp. Đan xen giữa các hoạt động quân sự là các cuộc đàm phán để ngừng chiến, cuộc đảo chính ở Budapest và những thay đổi chính trị ở phía sau mặt trận của liên quân Đức - Hungary. Những hoạt động chính trị đó đã ảnh hưởng đến kế hoạch tác chiến của cả hai bên và đem lại những hậu quả kéo dài chiến tranh và tăng thêm thương vong. Khác với tình hình ở Romania và Bulgaria từ 1 đến 2 tháng trước, trong quá trình diễn ra chiến dịch Debrecen, quân đội Đức Quốc xã chủ động loại khỏi hàng ngũ đồng minh của họ tất cả những người có chủ trương nghị hòa với Liên Xô hoặc mở cửa biên giới phía Tây cho đồng minh Anh, Mỹ tiến vào Hungary, trong đó có cả những đồng minh thân cận như cha con Nhiếp chính vương Hungary Horthy Miklós và bá tước Géza von Teleki, rồi đưa những nhân vật thuộc phe phát xít ở Hungary lên nằm chính quyền ở Budapest. Ngược lại, phía Liên Xô cũng tranh thủ một số tướng lĩnh, sĩ quan trong hàng ngũ quân đội Hungary đang dao động, làm suy giảm một phần sức chiến đấu của quân đội Hungary vốn đã chịu nhiều tổn thất trên chiến trường Liên Xô từ 1943 và tại miền Đông Transilvania năm 1944.

George Andrew Olah

George Andrew Olah tên khai sinh là Oláh György, sinh ngày 22.5.1927 tại Budapest, là nhà hóa học người Mỹ gốc Hungary, đã đoạt giải Nobel Hóa học năm 1994.

Georgi Konstantinovich Zhukov

Georgi Konstantinovich Zhukov (tiếng Nga: Георгий Константинович Жуков, đọc là Ghê-oóc-ghi Can-xtan-chi-nô-vích Giu-cốp; 1 tháng 12 năm 1896 – 18 tháng 6 năm 1974) là danh tướng trong quân đội Liên Xô. Trong rất nhiều tướng lĩnh nổi danh thế giới trong Chiến tranh thế giới thứ hai, G.K. Zhukov được xếp đầu bảng về số lượng trận thắng nhiều và quy mô lớn, được nhiều người công nhận về tài năng chỉ đạo chiến dịch và chiến lược. Những chiến tích của ông đã trở thành những đóng góp rất lớn vào kho tàng di sản kiến thức quân sự nhân loại. Nó không những có ảnh hưởng lớn về lý luận quân sự của Liên Xô mà cũng có ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển của lý luận quân sự thế giới.Theo nhận định của Nguyên soái A. M. Vasilevsky, G. K. Zhukov là một trong những nhà cầm quân lỗi lạc của nền quân sự Xô Viết. Trong cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại của Liên bang Xô viết, ông đã giữ các chức vụ Tư lệnh Phương diện quân Dự bị, Tư lệnh Phương diện quân Tây, Tư lệnh Phương diện quân Beloussia 1, Tổng tham mưu trưởng quân đội Liên Xô, Thứ trưởng Bộ dân ủy Quốc phòng kiêm Phó Tổng tư lệnh tối cao quân đội Liên Xô, Ủy viên Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Hầu hết các nhà lãnh đạo quân sự nổi tiếng thế giới cùng thời với ông như Thống chế Anh Sir Bernard Law Montgomery, Thống tướng Hoa Kỳ Dwight David Eisenhower, Thống chế Pháp Jean de Lattre de Tassigny đều công nhận tên tuổi của ông đã gắn liền với hầu hết các chiến thắng lớn trong cuộc chiến như Trận Moskva (1941), Trận Stalingrad, Trận Kursk, Chiến dịch Bagration, Chiến dịch Visla-Oder và Chiến dịch Berlin. Trong giai đoạn sau chiến tranh, ông giữ các chức vụ Tổng tư lệnh quân đội Liên Xô tại nước Đức, tư lệnh các quân khu Odessa và Ural. Sau khi lãnh tụ tối cao I. V. Stalin qua đời, ông được gọi về Moskva và được bổ nhiệm chức vụ Thứ trưởng thứ nhất Bộ Quốc phòng Liên Xô. Trong thời gian từ năm 1955 đến năm 1957, ông giữ chức vụ Ủy viên trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Liên Xô. Năm 1957, trong thời gian đang đi thăm Nam Tư, ông bị đưa ra khỏi Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Năm 1958, ông bị miễn nhiệm tất cả các chức vụ trong quân đội.

Hungary

Hungary (tiếng Hungary: Magyarország) là một quốc gia không giáp biển thuộc khu vực Trung Âu. Nước này tiếp giáp với Slovakia về phía bắc, Áo về phía tây, Slovenia về phía tây nam, Croatia và Serbia về phía nam, România về phía đông và Ukraina về phía đông bắc. Thành phố Budapest là thủ đô của Hungary. Nước này là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế như OECD, NATO, Liên minh châu Âu và Hiệp ước Schengen. Ngôn ngữ chính thức tại Hungary là tiếng Hungary, hay còn gọi là tiếng Magyar - một ngôn ngữ thuộc nhóm Finn-Ugria có liên hệ gần với tiếng Phần Lan và tiếng Estonia. Tiếng Hungary là một trong bốn ngôn ngữ chính thức của Liên minh châu Âu không thuộc hệ ngôn ngữ Ấn-Âu.

Tiếp sau thời kỳ Celtic (sau năm 450 TCN) và thời kỳ La Mã (9 CN - thế kỷ IV), đất nước Hungary đã được thành lập dưới sự lãnh đạo của một thủ lĩnh người Magyar là Árpád. Năm 1000, cháu trai của Arpad là vua István I đăng quang với chiếc vương miện được gửi đến từ Giáo hoàng. Trong suốt 946 năm sau đó, Vương quốc Hungary đã tồn tại và phát triển qua nhiều thời kỳ và được coi là một trong những trung tâm kinh tế, văn hóa quan trọng của phương Tây. Đất nước này bước vào Thời kỳ Cộng sản từ năm 1946 với một số sự kiện lịch sử quan trọng: Cuộc chính biến Hungary 1956 và sự kiện Hungary mở cửa đường biên giới với Áo năm 1989, một biểu hiện của sự sụp đổ khối xã hội chủ nghĩa Đông Âu. Ngày nay Hungary là một quốc gia dân chủ theo thể chế cộng hòa nghị viện và có mức thu nhập cao. Đất nước này đang trong quá trình phát triển mạnh để trở thành một nước phát triển theo tiêu chuẩn của IMF.

Hungary hiện nay là một trong những địa điểm du lịch hấp dẫn nhất thế giới, thủ đô Budapest của đất nước này được mệnh danh là một trong những thành phố đẹp nhất châu Âu. Nước này cũng có nhiều thắng cảnh độc đáo như hồ nước nóng lớn thứ hai thế giới (hồ Hévíz), hồ nước ngọt lớn nhất Trung Âu (hồ Balaton) và vùng đồng cỏ tự nhiên lớn nhất châu Âu (Hortobagy).

Istanbul

Istanbul ( hoặc ; tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: İstanbul [isˈtanbuɫ] ( nghe)), là thành phố lớn nhất, đồng thời là trung tâm kinh tế, văn hóa và lịch sử của Thổ Nhĩ Kỳ. Với dân số hơn 14 triệu người (2014), Istanbul là một trong số các vùng đô thị lớn nhất châu Âu và xếp vào một trong những thành phố đông dân nhất thế giới xét về dân cư trong địa phận thành phố.

Istanbul là một thành phố liên lục địa, bắc ngang qua eo biển Bosphorus - một trong những tuyến đường biển nhộn nhịp nhất thế giới - ở tây bắc Thổ Nhĩ Kỳ, nối biển Marmara và biển Đen. Trung tâm lịch sử và thương mại của Istanbul nằm ở phần thuộc châu Âu, và chỉ có 1/3 dân số cư trú ở phần thuộc châu Á.

Kiến tạo trên mũi đất Sarayburnu khoảng năm 660 trước Công nguyên với tên gọi Byzantium, thành phố mà nay được gọi là Istanbul đã phát triển trở thành một trong những đô thành huy hoàng nhất trong lịch sử. Trong gần mười sáu thế kỉ sau sự tái thiết thành Constantinopolis năm 330 Công nguyên, nó từng là kinh đô của bốn đế quốc: Đế quốc La Mã (330-395); Đế quốc Byzantine (395-1204 và 1261-1453), Đế quốc Latin (1204-1261) và Đế quốc Ottoman (1453-1922). Thành phố đã đóng vai trò quan trọng trong sự lớn mạnh của Cơ đốc giáo dưới các thời đại La Mã và Byzantine, trước khi người Ottoman chinh phục vào năm 1453 và biến nó thành một pháo đài Hồi giáo, nơi trị vì của triều đại khalip cuối cùng. Mặc dù Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ đã chọn Ankara làm thủ đô của mình, ngày nay những cung điện và thánh đường vẫn ngự trên các ngọn đồi của Istanbul như để nhắc nhở về vai trò trung tâm trước đây của thành phố.

Vị trí chiến lược của Istanbul nằm trên Con đường tơ lụa, các mạng lưới đường sắt tới châu Âu và Trung Đông, và tuyến hải lộ duy nhất giữa biển Đen và Địa Trung Hải đã giúp phát triển lượng dân số hỗn tạp , mặc dầu ít nhiều suy giảm kể từ khi nền Cộng hòa thiết lập năm 1923. Mặc dù bị coi nhẹ do không còn là thủ đô trong thời kì giữa hai cuộc Thế chiến, song về sau thành phố đã dần lấy lại phần lớn vị thế của nó. Dân số thành phố đã tăng mười lần kể từ những năm 1950, phần lớn do dòng người nhập cư vượt qua miền Anatolia tập trung lại siêu đô thị này và quy mô thành phố mở rộng ra để dành cho họ. Các lễ hội nghệ thuật được hình thành vào cuối thế kỷ XX, trong khi sự cải thiện cơ sở hạ tầng tạo nên một mạng lưới giao thông dày đặc.

12.56 triệu du khách nước ngoài đến Istanbul năm 2015, 5 năm sau khi thành phố nhận danh hiệu Thủ đô Văn hóa châu Âu, đưa thành phố này trở thành điểm đến du lịch thu hút khách nhiều thứ năm trên thế giới . Sức hút lớn nhất của thành phố nằm ở khu phố lịch sử, đượcUNESCO xếp hạng là Di sản thế giới, tuy nhiên trung tâm văn hóa và giải trí của nó nằm vắt qua cảng tự nhiên của thành phố, cảng Sừng Vàng ở quận Beyoğlu. Được xem là một thành phố toàn cầu, Istanbul là nơi đóng trụ sở của rất nhiều công ty cũng như cơ quan truyền thông Thổ Nhĩ Kỳ, và chiếm hơn một phần tư tổng sản phẩm nội địa của đất nước này. Hy vọng tận dụng sự hồi sinh và phát triển nhanh chóng của mình, Istanbul cũng đã tích cực chạy đua giành quyền đăng cai Thế vận hội Mùa hè 2020, nhưng thất bại trước Tokyo.

John Harsanyi

John Charles Harsanyi (tiếng Hungary: Harsányi János Károly; 29 tháng 5 năm 1920 - 9 tháng 8 năm 2000) là một nhà kinh tế học

Hungary-Hoa Kỳ và là người đoạt giải giải Nobel kinh tế cùng với John Nash và Reinhard Selten năm 1994 cho các phát hiện của ông về lý thuyết trò chơi. Ông là giáo sư danh dự về quản trị kinh doanh và giáo sư danh dự về kinh tế học trường Đại học Tổng hợp California, Berkeley.

Harsayi đã đảm nhận nhiều chức vụ như: trợ lý trường Đại học Tổng hợp Budapest, Hungary (1947-1948); giảng viên kinh tế học trường Đại học Tổng hợp Queensland, Brisbane, Australia (1954-1956); chuyên viên nghiên cứu, quỹ Cowles tại trường Đại học Yale (1957); giáo sư thỉnh giảng, trường đại học Stanford (1958); thành viên cao cấp, trường đại học Quốc gia Australia tại Canberra (1959-1961); giáo sư kinh tế học, trường Đại học Tiểu bang Wayne (1961-1963); giáo sư trường đại học California, Berkeley (1964-1990). Harsayi là tiến sĩ triết học trường đại học Budapest (1947). Thạc sĩ trường đại học Sydney, Australia (1953). Tiến sĩ khoa học trường đại học Stanford (1959).

Lĩnh vực nghiên cứu chuyên sâu của ông là lý thuyết trò chơi, lý thuyết quyết định, toán kinh tế, việc sử dụng các mô hình lựa chọn hợp lý trong khoa học chính trị và trong xã hội học, đạo đức học vị lợi, triết học.

Métro Paris

Métro Paris (hay gọi là Métro de Paris hoặc Métro parisien) là hệ thống tàu điện ngầm phục vụ thành phố và vùng đô thị Paris. Tính cho đến năm 2007, hệ thống này có 16 tuyến, phần lớn chạy ngầm dưới đất, với tổng chiều dài 213 km. Métro Paris là một trong những biểu tượng của thủ đô nước Pháp, đặc trưng bởi mạng lưới các tuyến dày đặc, mật độ sử dụng cao và các bến tàu điện ngầm được trang trí theo phong cách Art nouveau.

Tuyến tàu điện ngầm đầu tiên của thành phố Paris được khánh thành nhân dịp Triển lãm thế giới 1900. Trong suốt những thập niên đầu thế kỷ 20, hệ thống Métro Paris phát triển mạnh mẽ, cho đến khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Sau một giai đoạn hoạt động trầm lắng trong "những thập niên của ô tô" (décennies voitures, 1950-1970), nhiều tuyến tàu điện ngầm đã tiếp tục được kéo dài ra vùng ngoại ô thành phố. Trong nội ô, các tuyến và trạm đã trở nên dày đặc đã khiến một thời gian dài Métro Paris không có thêm tuyến mới. Cho tới tận tháng 10 năm 1998, tuyến số 14, mới nhất của Métro Paris, được khánh thành. Khác với các tuyến trước đó, tuyến 14 được tự động hóa hoàn toàn.

Hiện nay hệ thống Métro Paris phục vụ việc đi lại cho khoảng 4,5 triệu lượt người mỗi ngày. Vào năm 2005, Métro Paris có tổng cộng 1,365 tỷ lượt hành khách. Tổng số Métro Paris có 298 bến, trong đó có 62 bến giao từ 2 tuyến trở lên. Về lượng hành khách vận chuyển, Métro Paris đứng thứ 4 thế giới sau các hệ thống tàu điện ngầm ở Moskva, Tokyo và Thành phố Mexico. Tính tổng chiều dài các tuyến, Métro Paris xếp thứ 7 thế giới sau các hệ thống Tàu điện ngầm Luân Đôn, New York, Seoul, Tokyo, Moskva và Madrid. Tuy vậy tính về tổng số bến tàu điện ngầm thì Métro Paris xếp thứ 3 thế giới, chỉ sau Hệ thống tàu điện ngầm Thành phố New York và Tàu điện ngầm Seoul.

Métro Paris là một phần của mạng lưới giao thông công cộng của Paris và vùng Île-de-France, gồm các hệ thống đường sắt RER, Transilien, tàu điện và các xe buýt. Công ty chịu trách nhiệm vận hành Métro Paris là RATP, Công ty quản lý giao thông công cộng Paris. RATP cũng là công ty quản lý một phần hệ thống RER cùng toàn bộ xe buýt Paris, một phần các xe buýt ngoại ô và 3 trên 4 tuyến tàu điện của Île-de-France. Tài chính của Métro Paris được STIF quản lý, cũng là đơn vị chịu trách nhiệm quy hoạch và phát triển hệ thống giao thông công cộng của vùng Île-de-France.

Phục Hưng

Phục Hưng (tiếng Pháp: Renaissance, phát âm tiếng Pháp: [ʁənɛsɑ̃ːs], tiếng Ý: Rinascimento, từ ri- "lần nữa" và nascere "được sinh ra") là một phong trào văn hóa thường được xem là bao gồm giai đoạn từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII, khởi đầu tại Firenze (Ý) vào Hậu kỳ Trung Đại, sau đó lan rộng ra phần còn lại của châu Âu trên những quy mô và mức độ khác nhau. Người ta cũng dùng từ Phục Hưng để chỉ, một cách không nhất quán, thời kỳ lịch sử diễn ra phong trào văn hóa nói trên.

Như một phong trào văn hóa, Phục Hưng bao hàm sự nở rộ các nền văn học tiếng Latin cũng như các tiếng dân tộc, bắt đầu từ sự phục hồi việc nghiên cứu các tư liệu cổ điển, sự phát triển của phép phối cảnh tuyến tính và các kỹ thuật nhằm biểu diễn hiện thực tự nhiên hơn trong mỹ thuật, và một cuộc cải cách giáo dục tiệm tiến nhưng phổ cập.Trong chính trị, Phục Hưng đã đóng góp vào sự phát triển những hiệp ước ngoại giao, và trong khoa học là một sự quan tâm lớn hơn tới quan sát thực nghiệm. Các sử gia thường lập luận những biến đổi về trí tuệ này là một cầu nối giữa Trung Cổ và thời hiện đại. Mặc dù Phục Hưng chứng kiến những cuộc cách mạng trong nhiều lĩnh vực, cũng như những thay đổi chính trị-xã hội, nó vẫn được biết đến nhiều nhất bởi những thành tựu lớn lao về mỹ thuật và những cống hiến của những vĩ nhân đa tài như Leonardo da Vinci hay Michelangelo đã làm xuất hiện thuật ngữ Vĩ nhân Phục Hưng ("Renaissance Great Man"). Có một cuộc tranh luận kéo dài trong giới sử học về quy mô, phân kì văn hóa thời đại Phục Hưng, cũng như giá trị và ý nghĩa của nó. Bản thân thuật ngữ Renaissance, do nhà sử học Pháp Jules Michelet đặt ra năm 1855 cũng là đối tượng của những chỉ trích, rằng nó ngụ ý một sự mô tả thái quá về giá trị tích cực của thời kỳ này.Có một sự đồng thuận rằng thời kỳ Phục hưng bắt đầu ở Firenze, Italia, trong thế kỷ XIV. Có nhiều giả thuyết khác nhau được đề xuất để giải thích cho nguồn gốc và đặc điểm của nó, tập trung vào một loạt các yếu tố bao gồm đặc thù xã hội và công dân của Firenze tại thời điểm đó, cấu trúc chính trị của nó, sự bảo trợ của dòng họ thống trị, nhà Medici, và sự di cư của các học giả và các bản văn Hy Lạp sang Ý sau sự thất thủ của Constantinopolis dưới tay người Thổ Ottoman.

Queen

Queen là một ban nhạc rock người Anh thành lập năm 1970 tại Luân Đôn. Đội hình trình diễn chính thức của họ bao gồm Freddie Mercury (hát chính, piano), Brian May (guitar, hát), Roger Taylor (trống, hát) và John Deacon (bass). Những sản phẩm đầu tay của Queen mang nhiều ảnh hưởng từ progressive rock, hard rock và heavy metal, nhưng sau này họ ngày càng phát triển theo phong cách gần gũi với công chúng hơn và kết hợp với nhiều thể loại khác, bao gồm cả arena rock và pop rock.

Trước khi lập nên Queen, May và Taylor đã cùng nhau chơi nhạc tại nhóm Smile. Mercury là người hâm mộ ban nhạc này và đề nghị họ thử chơi với nhiều phong cách và kỹ thuật mới. Mercury gia nhập nhóm vào năm 1970, đề xuất tên gọi "Queen" ("Nữ hoàng") và chọn đó là tên chính thức cho ban nhạc. Deacon được tuyển dụng làm tay bass sau khi hoàn tất việc thu âm album đầu tay của nhóm vào năm 1973. Queen xuất hiện tại các bảng xếp hạng của Anh với album thứ 2, Queen II (1974), nhưng phải tới Sheer Heart Attack phát hành cuối năm và A Night at the Opera (1975), họ mới có được thành công toàn cầu. Ca khúc kinh điển "Bohemian Rhapsody" có được vị trí quán quân tại Anh trong vòng 9 tuần, trực tiếp quảng bá hình thức giới thiệu video âm nhạc tới công chúng.

Album tiếp theo, News of the World, bao gồm 2 ca khúc "We Will Rock You" và "We Are the Champions" sau này trở thành nhạc hiệu cho rất nhiều sự kiện, đặc biệt là thể thao. Tới thập niên 1980, Queen đã là một trong những nhóm rock trình diễn nổi tiếng nhất thế giới. Buổi diễn của họ tại chương trình Live Aid năm 1985 được nhiều nguồn coi là buổi diễn xuất sắc nhất lịch sử nhạc rock, trong đó có một bảng xếp hạng chính thức vào năm 2005. Năm 1991, Mercury qua đời vì bị viêm cuống phổi, cộng hưởng từ căn bệnh AIDS; Deacon cũng giải nghệ vào năm 1997. Kể từ đó, May và Taylor đôi lúc vẫn đi diễn cùng nhau với sự tham gia của Paul Rodgers (2004–09) và Adam Lambert (kể từ năm 2011).

Ban nhạc có được tổng cộng 18 album, 18 đĩa đơn và 10 DVD đạt tới vị trí quán quân. Các thống kê ước tính họ bán được khoảng 150 tới 300 triệu đĩa nhạc trên toàn thế giới, trở thành một trong những nghệ sĩ bán đĩa chạy nhất lịch sử. Queen được trao giải thưởng Cống hiến cho nền công nghiệp âm nhạc từ Công nghiệp ghi âm Anh vào năm 1990. Họ cũng được vinh danh tại Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll vào năm 2001.

Sân bay quốc tế Ferenc Liszt Budapest

Sân bay quốc tế Budapest Ferihegy ([Ferihegyi Nemzetközi Repülőtér hay đơn giản là Ferihegy] ) (IATA: BUD, ICAO: LHBP) là sân bay quốc tế phục vụ thủ đô của Hungary Budapest, là sân bay lớn nhất trong 5 sân bay quốc tế của quốc gia này. Sân bay này đang có các tuyến bay kết nối với các tuyến bay ở châu Âu, châu Phi, châu Á, Bắc Mỹ. Trong năm 2007, sân bay này phục vụ 8,6 triệu lượt khách.

Sân bay này có cự ly 16 ki-lô-mét (10 dặm) về phía đoong nam của trung tâm thủ đô Budapest.

Ferihegy có thể phục vụ các loại máy bay như Boeing 747, Antonov An-124 và Antonov An-225.

Ngày 8 tháng 12 năm 2005, 75% cổ phần của sân bay Ferihegy đã được BAA plc mua với giá 464,5 triệu HUF (khoảng 2,1 tỷ USD), bao gồm cả quyền được vận hành trong 75 năm.

Ngày 6 tháng 6 năm 2007, BAA và một liên danh do HOCHTIEF AirPort (HTA) dẫn đầu đã hoàn thành việc bán cổ phần của BAA trong Budapest Airport (BA) cho HOCHTIEF AirPort Consortium.

The Grand Budapest Hotel

The Grand Budapest Hotel (Khách sạn Đế vương) là một bộ phim hài năm 2014 do Wes Anderson biên kịch và đạo điễn, lấy cảm hứng từ các tác phẩm của Stefan Zweig. Ralph Fiennes trong vai một người quản lý cùng hợp sức với cấp dưới của mình (Tony Revolori) để chứng minh mình vô tội sau khi anh bị quy kết vào tội giết người.

Trung Cổ

Thời kỳ Trung Cổ (hay Trung Đại) là giai đoạn trong lịch sử châu Âu bắt đầu từ sự sụp đổ của Đế quốc Tây Rôma vào thế kỷ 5, kéo dài tới thế kỉ 15, hòa vào thời Phục hưng và Thời đại khám phá. Thời Trung Cổ (Trung đại) là thời đại thứ hai trong ba thời đại lịch sử theo cách phân kỳ truyền thống của lịch sử phương Tây, cùng với Cổ đại và Hiện đại. Thời kỳ Trung Cổ tự nó chia làm ba giai đoạn, Sơ kỳ Trung Cổ, Trung kỳ Trung Cổ và Hậu kỳ Trung Cổ.

Suy giảm dân số, sự đảo ngược đô thị hóa, xâm lược, và di dân, bắt đầu từ Hậu kỳ Cổ đại, tiếp diễn trong thời Sơ kỳ Trung Cổ. Những man tộc xâm lược, bao gồm các dân tộc German, lập nên những vương quốc mới trên tàn tích của Đế quốc Tây Rôma. Bắc Phi, Trung Đông và bán đảo Iberia rơi vào tay người Hồi giáo, tuy Đế quốc Đông Rôma (tức Byzantine) vẫn duy trì vai trò một cường quốc quan trọng ở phương Đông. Quá trình Kitô hóa vẫn tiếp tục, chế độ tu viện được thành lập. Người Frank, dưới triều đại Nhà Carolingien, đã thiết lập nên một đế chế ngắn ngủi bao phủ phần lớn Tây Âu, trước khi tàn lụi dưới áp lực của nội chiến cộng với ngoại xâm.

Trong thời Trung kỳ Trung Cổ, bắt đầu từ thế kỉ 11, dân số châu Âu tăng nhanh khi các tiến bộ kĩ thuật và thời tiết thuận lợi giúp sản xuất phát triển và theo đó là thương mại phát đạt. Chế độ trang viên và chế độ phong kiến xác lập nên cấu trúc kinh tế-chính trị của xã hội thời Trung kỳ Trung Cổ. Giáo hội Công giáo củng cố sức ảnh hưởng trong khi những cuộc thập tự chinh được kêu gọi để tái chiếm Đất Thánh từ tay người Hồi giáo. Các nhà quân chủ ở nhiều quốc gia củng cố nhà nước trung ương tập quyền, giảm bớt tình trạng cát cứ. Đời sống trí thức ghi nhận sự thống trị của chủ nghĩa kinh viện và sự thành lập những trường đại học, trong khi nghệ thuật chứng kiến phong cách Gothic lên đến đỉnh cao.

Thời Hậu kỳ Trung Cổ đánh dấu một loạt những khó khăn và tai họa bao gồm nạn đói, dịch hạch, và chiến tranh, gây suy giảm nghiêm trọng dân số Tây Âu; chỉ riêng Cái chết Đen đã hủy diệt một phần ba dân số châu Âu. Tranh cãi giáo lý, dị giáo và ly giáo bên trong Giáo hội song hành với chiến tranh quy mô giữa các cường quốc, nội chiến, khởi nghĩa nông dân nổ ra trong khắp châu lục. Trong khi đó, những phát triển và văn hóa biến đổi xã hội châu Âu, khép lại thời Trung Cổ và bắt đầu thời kỳ Cận đại.

Vincent van Gogh

Vincent Willem van Gogh (Tiếng Hà Lan: [ˈvɪnsɛnt ˈʋɪləm vɑn ˈɣɔx] ( nghe); 30 tháng 3 năm 1853 – 29 tháng 7 năm 1890) là một danh hoạ Hà Lan thuộc trường phái hậu ấn tượng. Nhiều bức tranh của ông nằm trong số những tác phẩm nổi tiếng nhất, được yêu thích nhất và cũng đắt nhất trên thế giới. Van Gogh là nghệ sĩ tiên phong của trường phái biểu hiện và có ảnh hưởng rất lớn tới mỹ thuật hiện đại, đặc biệt là tới trường phái dã thú (Fauvism) và trường phái biểu hiện tại Đức.

Thời thanh niên, Van Gogh làm việc trong một công ty buôn bán tranh, sau đó là giáo viên và nhà truyền giáo tại một vùng mỏ nghèo. Ông thực sự trở thành họa sĩ từ năm 1880 khi đã 27 tuổi. Thoạt đầu, Van Gogh chỉ sử dụng các gam màu tối, chỉ đến khi được tiếp xúc với trường phái ấn tượng (Impressionism) và Tân ấn tượng (Neo-Impressionism) ở Paris, ông mới bắt đầu thay đổi phong cách vẽ của mình. Trong thời gian ở Arles miền Nam nước Pháp, Van Gogh kết hợp các màu sắc tươi sáng của hai chủ nghĩa này với phong cách vẽ của mình để tạo nên các bức tranh có phong cách rất riêng. Chỉ trong 10 năm cuối đời, họa sĩ đã sáng tác hơn 2000 tác phẩm, trong đó có khoảng 900 bức họa hoàn chỉnh và 1100 bức vẽ hoặc phác thảo. Phần lớn các tác phẩm nổi tiếng nhất của Van Gogh được sáng tác vào hai năm cuối đời, thời gian ông lâm vào khủng hoảng tinh thần tới mức tự cắt bên tai trái vì tình bạn tan vỡ với họa sĩ Paul Gauguin. Sau đó Van Gogh liên tục phải chịu đựng các cơn suy nhược thần kinh và cuối cùng ông đã tự kết liễu đời mình. Ngày 27 tháng 7, trên một cánh đồng hoa hướng dương, ông tự bắn vào ngực bằng một khẩu súng lục. Ông mất 2 ngày sau đó vì vết thương quá nặng.

Người quan trọng nhất trong cuộc đời Van Gogh là em trai ông, Theodorus van Gogh, người đã luôn lo lắng và hỗ trợ tài chính cho Van Gogh. Tình anh em giữa Vincent và Theo đã được ghi lại qua rất nhiều lá thư họ trao đổi kể từ tháng 8 năm 1872.

Sinh thời, Van Gogh không đạt được thành công, và bị coi là một kẻ điên và thất bại. Ông trở nên nổi tiếng sau khi tự tử. Ông hiện lên trong trí tưởng tượng công chúng như một thiên tài vĩ đại bị hiểu lầm, họa sĩ là "nơi mà các bài tranh luận về điên cuồng và sáng tạo giao nhau". Danh tiếng của ông tiếp tục lan rộng vào đầu thế kỷ 20 khi các yếu tố của phong cách vẽ của ông được kết hợp bởi các nhà họa sĩ theo trường phái dã thú và trường phái biểu hiện. Ông đã đạt được thành công lớn trên trường tranh luận, thương mại và phổ biến trong những thập niên tiếp theo. Ông được nhớ đến như là một họa sĩ tài hoa mà bạc mệnh, với một tâm can bị giằng xé, tiêu biểu cho lý tưởng lãng mạn về người nghệ sĩ bị giày vò.

Dữ liệu khí hậu của Budapest, 1971–2000
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Cao kỉ lục °C (°F) 18.1 19.7 25.4 30.2 34.0 39.5 40.7 39.4 35.2 30.8 22.6 19.3 40,7
Trung bình cao °C (°F) 2.9 5.5 10.6 16.4 21.9 24.6 26.7 26.6 21.6 15.4 7.7 4.0 15,3
Trung bình ngày, °C (°F) 0.4 2.3 6.1 12.0 16.6 19.7 21.5 21.2 16.9 11.8 5.4 1.8 11,3
Trung bình thấp, °C (°F) −1.6 0.0 3.5 7.6 12.1 15.1 16.8 16.5 12.8 7.85 2.9 0.0 7,8
Thấp kỉ lục, °C (°F) −25.6 −23.4 −15.1 −4.6 −1.6 3.0 5.9 5.0 −3.1 −9.5 −16.4 −20.8 −25,6
Giáng thủy mm (inch) 37
(1.46)
29
(1.14)
30
(1.18)
42
(1.65)
62
(2.44)
63
(2.48)
45
(1.77)
49
(1.93)
40
(1.57)
39
(1.54)
53
(2.09)
43
(1.69)
532
(20,94)
độ ẩm 79 74 66 59 61 61 59 61 67 72 78 80 68,1
Số ngày giáng thủy TB 7 6 6 6 8 8 7 6 5 5 7 7 78
Số giờ nắng trung bình hàng tháng 62 93 137 177 234 250 271 255 187 141 69 52 1.988
Nguồn: Hungarian Meteorological Service[75]
Quốc gia
Thành phố
Các phụ lưu
Đảo
Bắc Âu
Đông Âu
Nam Âu
Tây Âu
1.000.000+
150.000+
100.000+
50.000+
Di sản thế giới tại Hungary
Văn hóa
Thiên nhiên

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.