Biển Caspi

Biển Caspi (cũng được phiên âm là: Caxpi, Hán Việt: Lý Hải 裏海) là hồ nước lớn nhất trên thế giới tính về cả diện tíchthể tích[1]. Diện tích mặt nước là 371.000 km² và thể tích 78.200 km³[2]. Vì không thông với đại dương nên đây đúng là một hồ nước tuy mang tên "biển". Hồ cũng được gọi là biển vì nước hồ có vị mặn của muối. Độ mặn của nước hồ là khoảng 1,2%, xấp xỉ 1/3 nồng độ muối của nước biển.

Biển Caspi nằm giữa Nga ở bờ phía bắc và Iran ở bờ phía nam. Đông tây giáp các nước Turkmenistan, KazakhstanAzerbaijan. Độ sâu tối đa của hồ là khoảng 1.025 m.

Sông Volga, con sông dài nhất châu Âu là nguồn nước chính đổ vào biển Caspi.

Biển Caspi
Caspian Sea from orbit
Chụp bởi MODIS từ quỹ đạo của vệ tinh Terra
Địa lý
Tọa độ40°B 51°Đ / 40°B 51°Đ
Kiểu hồHồ kín
Nước mặn
Vĩnh viễn
Tự nhiên
Nguồn cấp nước chínhSông Volga
Nguồn thoát đi chínhBay hơi
Lưu vực1.400.000 km²
Quốc gia lưu vựcAzerbaijan
Iran
Kazakhstan
Nga
Turkmenistan
Diện tích bề mặt371.000 km²
Độ sâu trung bình184 m
Độ sâu tối đa1.025 m
Dung tích78.200 km³
Thời gian giữ lại nước250 năm
Cao độ bề mặt-28 m
Caspianseamap
Bản đồ biển Caspi, khu màu vàng chỉ vùng trũng Caspi.

Địa lý

Biển Caspi được bao bọc bởi Liên bang Nga dọc theo khu vực được kiểm soát phía nam. (Dagestan, Kalmykia, tỉnh Astrakhan), Azerbaijan có gần 20 thành phố gần biển Caspi, Iran (tỉnh Gilan, Mazandaran và Golestan), TurkmenistanKazakhstan, với các thảo nguyên Trung Á ở phía bắc và đông. Ở bờ biển phía đông Turkmenistan là một vịnh lớn, vịnh Garabogazköl.

Vùng trũng Caspi nằm ở phía bắc vùng biển.

Biển được nối với Biển Azov bởi Kênh đào Manych và Kênh đào Volga-Don.

Độ mặn

Phụ thuộc vào lưu lượng nước ngọt chảy vào, biển Caspi là một hồ nước ngọt ở phần phía bắc. Ở bờ biển Iran, nó mặn hơn. Vịnh Garabogazköl còn mặn hơn độ mặn của nước biển.

Các thành phố gần biển Caspi

Các thành phố lớn gần biển Caspi:

Đảo

Surikov1906
Stenka Razin Biển Caspi (Vasily Surikov)
  • Ashuradeh
  • Bulla
  • Çikil
  • Çilov
  • Gil
  • Nargin
  • Pirallahı
  • Ogurchinskiy (Turkmenistan)
  • Qara Su
  • Qum
  • Səngi Muğan
  • Vulf
  • Zənbil

Lịch sử

Khoa học phỏng ước Biển Caspi hình thành cách đây 30 triệu năm, nguyên thủy là Biển Tethys, sau hình thành Biển Đen, Biển Aral và Biển Caspi. Khoảng 5,5 triệu năm trước, vùng lòng chảo Caspi mất lối thông ra đại dương khi mực nước rút xuống thấp và Biển Caspi hoàn toàn tách biệt với các vùng biển lân cận.

Về phía nhân chủng học thì khai quật ở động Huto gần thị trấn Behshahr, Mazandaran (vùng phía nam biển Caspi) cho thấy con người đã có mặt ở đây này khoảng 75.000 năm trước.[2]

Thời cổ đại, người Hy LạpBa Tư gọi nó là đại dương Hyrcania. Thời Ba Tư cổ đại, cũng như ngày nay ở Iran, nó được biết đến như là biển Khazar hay biển Mazandaran. Tại các quốc gia nói tiếng Turk, nó được gọi là biển Khazar. Các nguồn sử liệu Nga cổ gọi nó là biển Khvalyn theo Khvalis, tên gọi những cư dân của Khwarezmia (Hoa Thích Tử Mô). Các nguồn sử liệu Ả Rập gọi nó là Bahr-e-Qazvinbiển Qazvin.

Từ biển Caspi có nguồn gốc từ Caspi, tên gọi một dân tộc cổ đại đã sống ở phía tây biển này, trong khu vực Transkavkaz.[3] Strabo đã viết rằng "thuộc về quốc gia của người Albania còn có lãnh thổ gọi là Caspiane, được đặt tên theo bộ tộc Caspi, cũng là tên gọi của biển; nhưng bộ tộc này hiện nay đã biến mất"[4]. Ngoài ra, cổng Caspi, là tên gọi của một khu vực tại tỉnh Tehran của Iran, là một mảng chứng cứ có thể khác cho rằng họ đã di cư tới phía nam của biển này.

View of Baku, 2004 (2)
Biển Caspi, nhìn từ Baku, Cộng hòa Azerbaijan

Các thành phố lịch sử ven biển bao gồm

  • Hyrcania, thành bang cổ đại ở miền bắc Iran
  • Tamisheh, (tỉnh Mazandaran của Iran)
  • Anzali, (tỉnh Gilan của Iran)
  • Atil, Khazaria
  • Khazaran
  • Baku, Azerbaijan
  • Sumgait, Azerbaijan
  • Astara, Iran, Azerbaijan

Động vật bản địa

Caspian sea from namak abrood
Phong cảnh bờ biển phía nam biển Caspi, nhìn từ đỉnh dãy núi Alborz ở Mazandaran, Iran.

Biển Caspi có một lượng lớn cá tầm, với trứng của nó được chế biến thành món trứng cá muối. Trong những năm gần đây việc đánh bắt thái quá đã đe dọa quần thể cá tầm tới mức các nhà bảo vệ môi trường chủ trương ngăn cản việc đánh bắt cá tầm hoàn toàn cho đến khi quần thể này được phục hồi. Tuy nhiên, do giá của trứng cá tầm là đủ cao để các ngư dân có thể hối lộ nhiều cho các quan chức tham nhũng, làm cho các quy định tại nhiều khu vực là không hiệu quả. Việc thu hoạch trứng cá tầm còn đe dọa trầm trọng thêm quần thể cá, do nó nhắm tới những cá cái sinh sản.

Hải cẩu Caspi (Phoca caspica/Pusa caspica) là loài đặc hữu của biển Caspi, một trong số rất ít các loài hải cẩu sinh sống trong các vùng nước nội địa (xem thêm hải cẩu Baikal).

Tên gọi của một vài loài chim, như mòng biển Caspi (Larus cachinnans) hay nhạn biển Caspi (Hydroprogne caspia) lấy theo tên gọi của biển này.

Có một vài loài cá đặc hữu của biển Caspi, bao gồm cá kutum (Rutilus frisii kutum), cá dầy (Rutilus rutilus), cá vền (Abramis brama), và một vài loài cá hồi. Cá hồi Caspi hiện trong tình trạng cực kỳ nguy cấp.

Giao thông vận tải

Trên biển Caspi có một số dịch vụ phà chuyên tuyến, đó là:

  • tuyến phà nối giữa Turkmenbashi, Turkmenistan (trước đây là Krasnovodsk) và Baku
  • tuyến phà nối giữa Baku và Aktau

Đóng băng

Về mùa đông, phần phía Bắc của biển Caspi bị đóng băng. Trong những mùa đông giá lạnh nhất thì ở phía nam của biển Caspi cũng có băng.

Xem thêm

Ghi chú

  1. ^ [1]
  2. ^ Lake Profile: Caspian Sea. LakeNet.
  3. ^ Caspian Sea. (2006). In Encyclopædia Britannica. Truy cập ngày 13-8-2006, từ Encyclopædia Britannica Premium Service: http://www.britannica.com/eb/article-9110540
  4. ^ Strabo. Geography. 11.3.1

Tham khảo

  • Caspian Sea Biodiversity Project
  • Gurbanov, Turab. Le pétrole de la Caspienne et la politique extérieure de l'Azerbaïdjan: tome 1- Questions économiques et juridiques, l’Harmattan, 2007, 304 pages.
  • Gurbanov, Turab. Le pétrole de la Caspienne et la politique extérieure de l'Azerbaïdjan: tome 2- Questions géopolitiques, l’Harmattan, 2007, 297 pages.
  • Shiryayev, Boris (2008). Großmaechte auf dem Weg zur neuen Konfrontation?. Das „Great Game" am Kaspischen Meer: eine Untersuchung der neuen Konfliktlage am Beispiel Kasachstan. Hamburg: Verlag Dr. Kovac.

Liên kết ngoài

Atyrau

Atyrau (các chuyển ngữ khác: Aterau, Atirau, Atyraw, Atirav, Atiraw, tiếng kazakh: Атырау, tên cũ từ 1708 tới 1992: Guryev hoặc Guriev) là một thành phố ở Kazakhstan và là tỉnh lỵ của tỉnh Atyrau, cách Almaty 2.700 km về phía tây và cách thành phố Astrakhan (của Nga) 350 km về phía đông. Atyrau có 154.100 cư dân (thống kê vào 1 tháng 1 năm 2007) trong đó 90% là người Kazakhs, số còn lại phần lớn là người Nga và các nhóm dân tộc thiểu số khác như người Tatar, người Ukraina.

Baku

Baku (tiếng Azerbaijan: Bakı, IPA: [bɑˈcɯ]), đôi khi cũng viết Baki hay Bakou, là thủ đô và thành phố lớn nhất của Azerbaijan, cũng như thành phố lớn nhất nằm bên bờ biển Caspi và vùng Kavkaz. Baku tọa lạc tại nơi có độ cao 28 mét (92 ft) dưới mực nước biển, khiến nó trở thành thủ đô thấp nhất thế giới và cũng là thành phố lớn nhất nằm dưới mực nước biển. Baku nằm bên bờ năm của bán đảo Absheron, dọc theo vịnh Baku. Năm 2009, dân số Baku được ước tính là hơn hai triệu người. Khoảng 25% dân số đất nước sống trong vùng đô thị Baku.

Baku được chia thành 7 quận hành chính (raion) và 48 thị trấn. Trong số này, có những thị trấn trên các đảo ở quần đảo Baku và thị xã Neft Daşları xây trên cọc ở biển Caspi, 60 km (37 mi) so với Baku. Trung tâm phố cổ Baku với cung điện của Shirvanshah và tháp Maiden đã được đưa vào di sản thế giới UNESCO năm 2000. Theo xếp hạng Lonely Planet thị Baku thuộc nhóm 10 điểm đến hàng đầu về cuộc sống về đêm.Thành phố là trung tâm khoa học, văn hóa và công nghiệp của Azerbaijan. Nhiều cơ quan quy mô của quốc gia nằm ở đây, bao gồm Công ty dầu khí quốc gia Azerbaijan, nằm trong nhóm 100 công ty hàng đầu thế giới. Hải cảng thương mại quốc tế Baku nằm trên các đảo của về phía đông quần đảo Baku và phía bắc bán đảo Absheron có thể xử lý 2 tấn hàng rời và hàng khô mỗi năm.Bởi những cơn gió mạnh và thô ráp, thành phố có biệt danh "Thành phố của gió" (Küləklər şəhəri).

Châu Âu lục địa

Châu Âu lục địa là phần lục địa châu Âu.

Các định nghĩa chung nhất của lục địa châu Âu không bao gồm các quần đảo Hy Lạp, Malta, Sicily, Sardinia, Corsica, quần đảo Balearic, Iceland, Ireland, và Vương quốc Anh và các lãnh thổ phụ thuộc. Hầu hết các định nghĩa mở rộng ranh giới của lục địa giới tiêu chuẩn của nó: các dãy núi Ural, sông Ural, Biển Caspi, và dãy Caucasus.

Cá tầm Ba Tư

Cá tầm Ba Tư (danh pháp hai phần: Acipenser persicus) là một loài cá tầm. Cá tầm Ba Tư có một cơ thể thon dài, cồng kềnh với màu hơi xanh biển. Đây là loại cá tầm là đặc hữu của vùng biển Caspi và Biển Đen, nhưng chủ yếu cư trú ở vùng phía nam biển Caspi. Các quần thể cá này cũng có thể hiện diện trong các nhánh sông vào biển Caspi. Cá tầm này là loài cá thương mại quan trọng có giá trị để lấy thịt nhưng chủ yếu là cho trứng của chúng. Trước đây mặt ở khắp nơi trong khu vực, đánh bắt cá của cá tầm cho trứng cá nặng đã khiến nó rơi vào tình trạng loài cực kỳ nguy cấp..

Cá tầm Beluga

Cá tầm Beluga (danh pháp hai phần: Huso huso) là một loài cá có hành vi ngược dòng sông để đẻ trứng trong họ Acipenseridae của bộ Acipenseriformes. Nó được tìm thấy chủ yếu trong lưu vực biển Caspi và biển Đen, đôi khi cũng tìm thấy ở biển Adriatic. Việc đánh bắt thái quá để lấy trứng cá có giá trị cao—được biết đến như là trứng cá tầm Beluga— đã dẫn đến nguy cơ đe dọa tuyệt chủng của loài này. Cá tầm Beluga có kích thước lớn, tối đa dài 6 mét (19 ft), nhưng lớn khá chậm và muộn phát dục. Chúng có thể sống tới 150 năm. Số lượng của loài này đang suy giảm mạnh do đánh bắt thái quá hay đánh bắt trộm, điều này làm cho nhiều quốc gia thực hiện việc nghiêm cấm hoạt động thương mại các sản phẩm từ loài cá này.

IUCN phân loại cá tầm Beluga thuộc loại nguy cấp. Nó là loài được bảo vệ được liệt kê trong danh sách của phụ lục III của Công ước Bern và việc buôn bán sản phẩm từ nó bị cấm theo phụ lục II của CITES. Quần thể Địa Trung Hải được bảo vệ mạnh mẽ theo phụ lục II của công ước Bern này, trong đó người ta ngăn cấm bất kỳ việc đánh bắt quốc tế nào đối với chúng.

Cục cá và động vật hoang dã Hoa Kỳ đã cấm nhập khẩu trứng cá tầm Beluga và các sản phẩm khác từ loài cá này có nguồn gốc từ biển Caspi kể từ ngày 7 tháng 10 năm 2005.

Cá tầm sao

Cá tầm sao (Acipenser stellatus), trong tiếng Nga gọi là "sevruga" (cеврюга), là một loài cá tầm có nhiều tại các con sông chảy ra biển Đen và biển Azov. Chúng có mõm dài và nhọn, tương tự như ở sterlet (xem dưới đây), nhưng chỉ có một râu không tua. Mặc dù có kích thước chỉ cỡ một nửa các loài trên đây, nhưng giá trị của nó thì không thua kém, thịt của nó được đánh giá cao hơn và trứng cũng như thạch từ loài này có giá cao hơn. Năm 1850 người ta thông báo rằng mỗi năm có trên 1 triệu cá tầm này được đánh bắt.

Cá vền

Cá vền hay cá vền thông thường, cá vền nước ngọt (Danh pháp khoa học: Abramis brama) là một loại cá nước ngọt ở châu Âu thuộc họ Cá chép (Cyprinidae). Nó được coi là loài duy nhất trong chi Abramis.

Gilan (tỉnh)

Tỉnh Gilan (tiếng Ba Tư: گيلان Gilan) là một trong những tỉnh của Iran. Tỉnh nằm dọc theo biển Caspi, ở phía tây của tỉnh Mazandaran, phía đông của tỉnh Ardabil, phía bắc các tỉnh Zanjan và tỉnh Qazvin. Khu vực phía bắc của tỉnh là một phần lãnh thổ của Nam (Iran) Talysh. Tại trung tâm của tỉnh là thành phố chính Rasht. Các thị xã khác trên địa bàn tỉnh bao gồm Astara, Astaneh-e Ashrafiyyeh, Fuman, Lahijan, Langrud, Masouleh, Manjil, Rudbar, Roudsar, Shaft, Talesh, và Soumahe Sara.

Cảng chính của tỉnh là Bandar-e Anzali (trước đây Bandar-e Pahlavi).

Hạm đội Caspi

Tiểu Hạm đội Caspi (tiếng Nga: Каспийская флотилия, hay Đội tàu Caspi là một đơn vị của Hải quân Nga hoạt động tại các vùng biển Caspi chịu trách nhiệm phòng thủ cho nước Nga tại đây.

Hạm đội có đại bản doanh tại Astrakhan. Căn cứ chính và các trung tâm điều hành đóng trong biển Caspian. Được thành lập năm 1722, là đội tàu hình thành lâu đời nhất của Hải quân Nga.

Hải cẩu Caspi

Pusa caspica là một loài động vật có vú trong họ Hải cẩu thật sự, bộ Ăn thịt. Loài này được Gmelin mô tả năm 1788.

Hải cẩu Caspi độc đáo ở chỗ chúng chỉ được tìm thấy trong nước lợ biển Caspi. Chúng có thể được tìm thấy không chỉ dọc theo bờ biển, mà còn trên các đảo đá và nhiều khối băng nằm rải rác ở biển Caspi.

Lòng chảo nội lục

Lòng chảo nội lục còn gọi là lòng chảo nội lưu là một loại địa hình có dạng trũng nơi các nguồn nước chảy vào mà không có dòng thoát ra biển cả. Thủy văn trong khu vực này gần như bị giam hãm và chỉ có hai lối thoát duy nhất là thấm nhập vào lòng đất hoặc bốc hơi lên không trung. Hậu quả là thổ diêm tích tụ và tăng dần, tạo ra hồ nước mặn. Nếu tốc độ bốc hơi cao hơn lượng nước chảy vào hồ thì lòng hồ cạn dần và sau sẽ biến thành bãi muối.

Vì yếu tố của thời tiết góp phần lớn vào việc cấu tạo lòng chảo nội lục nên địa hình này thường tìm thấy ở những khu vực sa mạc nóng. Ngoài ra những ao hồ có mực nước thấp hơn mực nước biển (như biển Caspi và biển Chết) nhất thể đều là lòng chảo nội lục.

Makhachkala

Makhachkala (tiếng Nga: Махачкала, IPA [məxətɕkɐˈɫa]; tiếng Kumyk: Анжи-кала; tiếng Lak: Гьанжи; tiếng Avar: МахӀачхъала; tiếng Lezgi: Магьачкъала; tiếng Rutul: МахаӀчкала) là thủ đô của nước Cộng hòa Dagestan, Nga. Nó nằm cạnh bờ biển phía tây của biển Caspi. Nhà thờ Hồi giáo Makhachkala, một trong những công trình Hồi giáo lớn nhất tại Nga, tọa lạc nơi đây. Theo thống kê 2010, thành phố có dân số 572.076 người, khiến nó trở thành thành phố lớn nhất vùng liên bang Bắc Kavkaz. Makhachkala (và cả Dagestan nói chung) có tính đa dân tộc, trong đó người Avar và người Lak chiếm số đông nhất.

Makhachkala được thành lập như một thành trì cho Đế quốc Nga năm 1844 và trở thành một thành phố 13 năm sau đó. Sau sự sụp đổ của Liên bang Xô Viết, Makhachkala đã bị ảnh hưởng bởi hoạt động của các lực lượng quân sự Hồi giáo tràn ra trong cuộc chiến tranh Chechnya lần thứ hai.

Mazandaran (tỉnh)

Tỉnh Mazandaran (tiếng Ba Tư: اُستان مازندران‎, Ostān-e Māzandarān) là một tỉnh ven biển Caspi ở miền bắc của Iran. Nằm ở bờ nam của biển Caspi, tỉnh này giáp ranh các tỉnh (theo chiều kim đồng hồ) Golestan, Semnan, Tehran, Alborz, Qazvin, và Gilan. Tỉnh lỵ đóng ở Sari. Tỉnh có diện tích 23.701 km², dân số năm 2005 là 2.818.831 người, mật độ dân số 118,9 người/km2. Tỉnh có 15 huyện.

Mazandaran là một trong các tỉnh có mật độ dân cư dày đặc nhất ở Iran và tài nguyên thiên nhiên đa dạng, đặc biệt trữ lượng lớn dầu mỏ và khí thiên nhiên. Năm huyện lớn nhất tỉnh là Sari, Behshahr, Babol, Amol và Qaemshahr. Được lập năm 1937, Mazandaran đã được tuyên bố là một tỉnh hiện đại thứ nhì sau tỉnh láng giềng Gilan.

Mòng biển Caspi

Larus cachinnans là một loài chim trong họ Laridae.Mòng biển Caspi là loài mòng biển lớn tại có thân dài 56–68 cm (22–27 in), với sải cánh dài 137–155 cm (54–61 in) và cân nặng cơ thể của 680-1590 g (1,50-3,51 lb). Mòng biển Caspi sinh sản xung quanh vùng biển Đen và biển Caspi, mở rộng về phía đông qua Trung Á tới phía tây bắc Trung Quốc. Ở châu Âu nó đã lan rộng về phía bắc và phía tây và bây hiện nay sinh sản ở Ba Lan và Đức.

Sao Thổ

Sao Thổ tức Thổ tinh (chữ Hán: 土星) là hành tinh thứ sáu tính theo khoảng cách trung bình từ Mặt Trời và là hành tinh lớn thứ hai về đường kính cũng như khối lượng, sau Sao Mộc trong Hệ Mặt Trời. Tên tiếng Anh của hành tinh mang tên thần Saturn trong thần thoại La Mã, ký hiệu thiên văn của hành tinh là (♄) thể hiện cái liềm của thần. Sao Thổ là hành tinh khí khổng lồ với bán kính trung bình bằng 9 lần của Trái Đất. Tuy khối lượng của hành tinh cao gấp 95 lần khối lượng của Trái Đất nhưng với thể tích lớn hơn 763 lần, khối lượng riêng trung bình của Sao Thổ chỉ bằng một phần tám so với của Trái Đất.Cấu trúc bên trong của Sao Thổ có lẽ bao gồm một lõi sắt, nikel và đá (hợp chất silic và ôxy), bao quanh bởi một lớp dày hiđrô kim loại, một lớp trung gian giữa hiđrô lỏng với heli lỏng và bầu khí quyển bên trên cùng. Hình ảnh hành tinh có màu sắc vàng nhạt là do sự có mặt của các tinh thể amoniac trong tầng thượng quyển. Dòng điện bên trong lớp hiđrô kim loại là nguyên nhân Sao Thổ có một từ trường hành tinh với cường độ hơi yếu hơn so với từ trường của Trái Đất và bằng một phần mười hai so với cường độ từ trường của Sao Mộc. Lớp khí quyển bên trên cùng hành tinh có những màu đồng nhất và hiện lên dường như yên ả so với bầu khí quyển hỗn loạn của Sao Mộc, mặc dù nó cũng có những cơn bão mạnh. Tốc độ gió trên Sao Thổ có thể đạt tới 1.800 km/h, nhanh hơn trên Sao Mộc, nhưng không nhanh bằng tốc độ gió trên Sao Hải Vương.Sao Thổ có một hệ thống vành đai bao gồm chín vành chính liên tục và ba cung đứt đoạn, chúng chứa chủ yếu hạt băng với lượng nhỏ bụi và đá. Sao Thổ có 82 vệ tinh tự nhiên đã biết; trong đó 53 vệ tinh đã được đặt tên. Số lượng vệ tinh này không bao gồm hàng trăm tiểu vệ tinh ("moonlet") bên trong vành đai. Titan là vệ tinh lớn nhất của Sao Thổ và là vệ tinh lớn thứ hai trong Hệ Mặt Trời, nó cũng lớn hơn cả Sao Thủy và là vệ tinh tự nhiên duy nhất trong Hệ Mặt Trời có bầu khí quyển dày đặc.

Sân bay Narimanovo

Sân bay Narimanovo (tiếng Nga: Аэропорт Нариманово) (IATA: ASF, ICAO: URWA) là một sân bay quốc tế ở Astrakhan, một thành phố ở miền nam Nga gần Biển Caspi. Sân bay này do JSC "Aeroport Astrakhan" vận hành.

Sông Ural

Sông Ural (tiếng Nga: Урал, phát âm [ʊˈraɫ]) hay Jayıq/Zhayyq (tiếng Bashkir: Яйыҡ, Yayıq, يايئق, phát âm [jɑˈjɯq], tiếng Kazakh: Жайық, Jayıq, جايىق, phát âm [ʒɑjə́q]), còn gọi là Yaik (tiếng Nga: Яик) trước năm 1775, là một con sông chảy qua Nga và Kazakhstan. Nó bắt nguồn từ phía nam dãy núi Ural và đổ vào biển Caspi. Với chiều dài 2.428 kilômét (1.509 mi), đây là sông dài thứ ba châu Âu sau Volga và Danube, và sông dài thứ 18 của châu Á. Sông Ural thường được xem là biên giới giữa châu Âu và châu Á.

Sông Ural xuất phát từ một nơi gần núi Kruglaya trong dãy Ural, chảy về hướng nam, qua Magnitogorsk, tới Orsk nó chảy về hướng tây 300 kilômét (190 mi), đến Orenburg, sông này hợp với sông Sakmara. Từ Orenburg, nó chảy tiếp về phía tây, đến Kazakhstan, rồi lại chảy về phía nam ở Oral, chảy ngoằn nghèo qua một đồng bằng phẳng, rộng, trước khi đổ vào biển Caspi.

Sông Volga

Sông Volga (tiếng Nga: Волга река, phiên âm: Vôn-ga) nằm ở miền tây nước Nga là con sông dài nhất châu Âu, với độ dài 3.690 km (2.293 dặm), tạo thành nền tảng của hệ thống sông lớn nhất ở châu Âu.

Tên gọi của sông Volga trong ngôn ngữ của các dân tộc khác nhau sống dọc hai bên bờ sông là:

tiếng Nga: Вoлга

tiếng Tatar: İdel, Идел

tiếng Chuvash Атăл (Atăl)

tiếng Mordvin Рав (Rav)

tiếng Mari Юл (Jul)

tiếng Đức Wolga

Tên gọi cổ đại là Rha (tạo thành tên gọi trong tiếng Mordvin)

Zostera

Zostera là một chi thực vật có hoa trong họ Zosteraceae.

Bắc Băng Dương
Đại Tây Dương
Ấn Độ Dương
Thái Bình Dương
Nam Đại Dương
Biển kín

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.