Biển Aral

Biển Aral (tiếng Kazakh: Арал Теңізі (Aral Tengizi), tiếng Uzbek: Orol dengizi, tiếng Nga: Аральскοе мοре (Aral'skoye more), tiếng Tajik: Баҳри Арал Bakhri Aral; tiếng Ba Tư: دریای خوارزمDaryâ-ye Khârazm) là một vùng bồn địa trũng gồm một vài hồ nước mặn nằm ở Trung Á mà trước kia liên kết thành một biển kín (không thông thủy với các biển hay đại dương khác); phía bắc là Kazakhstan và phía nam là Cộng hòa tự trị Qaraqalpaqstan của Uzbekistan. Aral có thể gọi là hồ vì nó không thông với biển khác, tuy vậy hồ duy trì được nồng độ muối khá cao, tương đương với nồng độ của đại dương. Đến tháng 8 năm 2009, biển Aral hầu như đã bị bốc hơi hết. Tên gọi Aral có thể dịch thành "biển của các hòn đảo", chỉ tới trên 1.534 đảo một thời từng nhô lên trên mặt nước của nó; trong tiếng Turk cổ "aral" là đảobụi cây.[1].

Tiếng Việt còn gọi biển Aral là Hàm Hải

Biển Aral
Aral Sea 1989-2008
Biển Aral năm 1989 và 2008
Địa lý
Khu vựcKazakhstan, Uzbekistan (Trung Á)
Tọa độ45°B 60°Đ / 45°B 60°ĐTọa độ: 45°B 60°Đ / 45°B 60°Đ
Kiểu hồHồ nội lưu
Nguồn cấp nước chínhAmu Darya, Syr Darya
Quốc gia lưu vựcKazakhstan, Uzbekistan, Turkmenistan, Tajikistan, Afghanistan
Diện tích bề mặt17.160 km² (2004, ba hồ)
28.687 km² (1998, hai hồ)
68.000 km² (1960, một hồ)
Độ sâu tối đa31 m năm 1989
Khu dân cư(Aral)

Lịch sử

Từ năm 1918, chính quyền Liên Xô đã quyết định sẽ lấy nước từ hai con sông Amu Darya ở phía nam và Syr Darya ở phía đông bắc phục vụ tưới tiêu sa mạc trong vùng, biến vùng đất khô cằn quanh biển Aral thành những đồng lúa, dưa, ngũ cốc, và bông. Ngày nay Uzbekistan là một trong các quốc gia xuất khẩu bông hàng đầu thế giới.

Công việc đào kênh bắt đầu ở quy mô lớn những năm 1930. Nhiều kênh được đào đắp với chất lượng kém, gây thất thoát và bốc hơi nước; ước tính, có từ 30% dến 70% nước lãng phí từ kênh Qaraqum, kênh lớn nhất vùng Trung Á. Ngày nay, mới có 12% chiều dài kênh tưới tiêu ở Uzbekistan có khả năng ngăn nước thất thoát.

Vào những năm 1960 Liên Xô dưới thời Khruschev đã quyết định thay đổi hướng chảy của hai con sông chủ yếu cấu thành nên hồ Aral đó là Syr Darya và Amu Darya và xây nhiều đập tới tiêu để trồng bông cung cấp áo quần cho quân đội (vì bông vào những năm 60 của thế kỉ trước vô cùng đắt đỏ và nhu cầu từ nó rất lớn, nó còn được mệnh danh là "vàng trắng" trong thời kì đó) nên Liên Xô đã quyết định "tự cung tự cấp" dẫn đến quyết định thay đổi hiện trạng của hai con sông lớn nhằm cung cấp nước để cho người dân trong liên bang có thể trồng trọt được trên sa mạc, vì lẻ đó từ năm bắt đầu đến nay biển Aral liên tục bốc hơi mà không có nước bổ sung là biển hồ này ngày càng sa mạc hóa và chỉ còn 1 phần nhỏ so với trước đây.

Cho đến năm 1960, một lượng nước từ 20 đến 50 tỷ mét khối nước hàng năm được dẫn đến các cánh đồng thay vì chảy vào biển Aral. Mất một lượng nước bổ sung lớn, biển Aral bắt đầu co rút từ thập niên 1960. Từ 1961 đến 1970, mực nước biến Aral hạ thấp trung bình 20 cm mỗi năm. Đến những năm 1970, tốc độ tụt là 50–60 cm hàng năm, những năm 1980 là 80–90 cm. Việc sử dụng nước cho sản xuất, dù vậy, vẫn được ưu tiên, từ 1960 đến 1980, sản lượng bông tăng gần gấp đôi nhờ lượng nước đưa vào đồng tăng hai lần.

Từ thập niên 1960, biển Aral bắt đầu thu hẹp bởi các sông tiếp nước cho nó là Amu DaryaSyr Darya bị chuyển hướng cho mục đích tưới tiêu. Ngày nay, Aral bị ô nhiễm nặng nề, chủ yếu là hậu quả các vụ thử vũ khí, các dự án công nghiệpphân bón hóa học dư thừa từ trước và sau khi Liên Xô sụp đổ.

Vấn đề sinh thái chủ yếu của biển Aral là nguồn nước tiếp cho nó bị sử dụng vào mục đích tưới tiêu. Từ 40 năm nay, biển Aral không ngừng co hẹp, từ một biển kín lớn thứ 4 thế giới, nó sẽ bốc hơi hoàn toàn trong vòng 10 năm. Điều này gây ra thảm họa sinh thái và kinh tế cho khu vực và chính môi trường biển.

Nhà nước Xô viết đã nhận biết thực tế trên từ rất sớm, ít ra là trước năm 1968 và chấp nhận việc biến mất của biển Aral như là một việc không tránh khỏi để đánh đổi lấy thành công trong lĩnh vực nông nghiệp và công nghiệp.

Hiện tại

Biển Aral hiện này đã mất 60% diện tích mặt nước và 80% lượng nước. Năm 1960, nó là hồ lớn thứ tư thế giới với khoảng 68 nghìn km² và 1.100 tỷ mét khối nước (1.100 km^3 khối). Đến năm 1998, hồ chỉ còn đứng thứ 8 với diện tích 28.687 km². Trong cùng khoảng thời gian trên, nồng độ muối của hồ tăng từ 10g/lít lên 45g/lít. Năm 2004, diện tích hồ còn 17.160 km vuông, tương đương 25% diện tích ban đầu và vẫn thu hẹp.

Việc phát hiện nguồn nước ngầm đổ vào hồ gần đây cũng không bù đắp nổi lượng nước cần thiết để ngăn chặn sự mất nước. Nguồn bổ sung 4 tỷ m³ hàng năm này lớn hơn ước đoán trước đây. Đó là dòng nước từ các dãy núi PamirThiên Sơn đổ vào qua các lớp địa tầng có cấu trúc đứt gãy ở đáy hồ.

Năm 1987, biển Aral bị phân cách thành hai bởi mực nước tụt xuống. Một kênh đào được hình thành để nối hai phần hồ nhưng đến năm 1999, kênh này đã không còn tác dụng khi nước tiếp tục hạ thấp. Năm 2003, phần hồ phía nam (Aral Nam) tiếp tục bị phân chia thành phần phía đông và phía tây. Cũng từ năm này, lượng nước mất mát khỏi phần hồ phía bắc (Aral Bắc) đã phần nào bị hạn chế.

Công việc khôi phục biển được thực hiện ở phần Aral Bắc. Các công trình tưới tiêu trên sông Syr Darya đã được cải thiện nhằm tăng lượng nước đổ vào biển. Tháng 10 năm 2003, chính phủ Kazakhstan thông báo kế hoạch xây con đập bê tông (đập Kokaral) ngăn cách hai nửa biển Aral (Bắc và Nam). Kể từ khi con đập hoàn thành tháng 08 năm 2005, mực nước ở Aral Bắc đã dâng lên, nồng độ muối giảm xuống. Tới năm 2006, mực nước biển Aral tăng lên đáng kể, sớm hơn cả dự kiến. Như trong một báo cáo, "chiếc đập đã nhanh chóng nâng mực nước ở biển Aral nhỏ (Aral Bắc) lên 125 foot từ mức 98 foot và có khả năng lên 138 foot". Nguồn cá đã trở lại, nhiều nhà quan sát, từng cho rằng Aral Bắc là một thảm họa môi trường, đã thật ngạc nhiên bởi những báo cáo năm 2006 về công nghiệp đánh bắt đã phục hồi nhờ đủ nước và những mẻ cá được xuất tới tận Ukraina. Sự khôi phục mang lại những đám mây tạo mưa vốn từ lâu vắng bóng cùng những thay đổi khí hậu nhỏ, dấy lên hi vọng cho khu vực nông nghiệp vốn bị cát lấn và hi vọng mở rộng trở lại của biển. Biển Aral trước đây cách thành phố từng là cảng Aralsk chừng 100 km về phía nam, giờ chỉ còn cách 25 km.

Phần biển Nam Aral - phần lớn nằm ở Uzbekistan vốn nghèo hơn, bị bỏ mặc cho số phận, song dự án ở phần Aral Bắc đã mang lại đôi chút hi vọng. Với việc có con đập ở Aral Bắc, nước tháo từ đây định kỳ bổ sung cho phần phía nam. Các cuộc thảo luận đang diễn ra về khả năng nối lại con kênh giữa phần bắc và nam. Aral Nam vẫn đang co ngót, để lại những vùng đất nhiễm muối, gây ra các trận bão cát, mùa đông trở nên lạnh hơn và mùa hè nóng hơn. Những nỗ lực hạn chế ảnh hưởng này là phủ xanh những vùng biển vừa rút. Cho đến mùa hè 2003, phần biển Aral Nam mất đi nhanh hơn dự đoán. Ở những vùng nước sâu nhất của biển này, lớp nước dưới đáy mặn hơn lớp nước mặt và không hòa tan với nhau nữa. Vì thế chỉ phần nước mặt bị đốt nóng dưới ánh mặt trời và nó bay hơi nhanh hơn tính toán. Theo những số liệu gần đây, phần phía tây của biển Aral Nam sẽ biến mất trong vòng 15 năm, phần phía đông sẽ tiếp tục tồn tại nhưng cũng không chắc về số phận của nó nữa.

Hệ sinh thái của biển Aral và những châu thổ sông đổ nước vào nó gần như bị hủy diệt, không chỉ bởi nồng độ muối rất cao. Biển rút đi để lại những vùng đất mênh mông bị phủ bởi muối và hóa chất độc, những thứ này rồi bị gió đưa đi quanh vùng dưới dạng bụi. Đất đai quanh biển Aral đã bị ô nhiễm nặng nề và người dân sống trong vùng thiếu nước sạch, gánh chịu các vấn đề sức khỏe như một số dạng ung thư và các bệnh phổi. Mùa màng bị tàn phá bởi muối xâm nhập vào đất. Thị trấn Moynaq ở Uzbekistan đã từng có cầu cảng và công nghiệp đánh bắt cá tấp nập sử dụng 60.000 lao động, nay nằm cách biển nhiều dặm đường. Các thuyền đánh bắt cá nằm rải rác trên bờ, có nhiều cái đã ở đây 20 năm. Chỉ còn một công ty đánh bắt sống sót nhờ nguồn cá từ biển Baltic cách đó hàng ngàn km.

Thảm họa của biển Aral đã được đưa lên phim ảnh.

Những giải pháp khả dĩ

Nhiều giải pháp khác nhau đối phó với các vấn đề khác nhau của biển Aral được đề xuất trong các năm qua:

  • cải thiện chất lượng các kênh tưới tiêu
  • xây dựng các nhà máy khử muối
  • thu phí nông dân sử dụng nước lấy từ sông
  • thay thế các giống bông cần ít nước hơn[2].
  • làm chảy băng tuyết trên dãy núi Pamir và đưa nước về biển Aral – giải pháp ngắn hạn với cái giá của hậu quả dài hạn
  • hạn chế sử dụng hóa chất trong nghề trồng bông
  • xây dựng các đập nước để đưa nước về biển Aral
  • dẫn nước từ sông Volga, Ob, Irtysh về. Giải pháp này khôi phục biển Aral chỉ trong 20-30 năm với chi phí 30-50 tỷ đô la Mỹ[3].
  • Bơm và khử mặn nước biển từ biển Caspi vào biển Aral thông qua hệ thống đường ống[4]

Tháng 01 năm 1994, các nước Kazakhstan, Uzbekistan, Turkmenistan, TajikistanKyrgyzstan đã ký một hiệp ước cam kết dành 1% ngân sách để khôi phục biển Aral. Đến 2006, các dự án khôi phục của Ngân hàng Thế giới dành cho Aral Bắc đã mang lại mực nước dâng hơn dự kiến, mang lại cả niềm tin mong manh mà trước đó chỉ là bức tranh tuyệt vọng.

Cơ sở sản xuất, thử nghiệm vũ khí sinh học trên đảo giữa biển Aral

Năm 1948, phòng thí nghiệm vũ khí sinh học tối mật của Liên Xô đã được xây dựng trên hòn đảo giữa biển Aral (ngày nay là vùng tranh chấp giữa KazakhstanUzbekistan). Nguồn gốc, chức năng, và tình trạng của phòng thí nghiệm này vẫn chưa được tiết lộ. Cơ sở này bị bỏ năm 1992 sau sự chia cắt quân đội Liên Xô. Các nhà khảo sát (bao gồm cả người Mỹ) đã chứng minh rằng đây là cơ sở sản xuất, thử nghiệm và chôn vùi vũ khí sinh học. Năm 2002, qua một dự án tổ chức bởi Hoa Kỳ có sự hỗ trợ của Uzbekistan, 10 điểm chôn hóa chất bệnh than đã được khử độc. Theo nguồn của Trung tâm khoa học Kazakhstan về kiểm dịch và lây nhiễm động vật, toàn bộ các điểm chôn vi khuẩn bệnh than đã được khử độc.

Hình ảnh

Aral map

Bản đồ biển Aral khoảng 1960, màu vàng là những quốc gia nhận nước lấy từ các sông đổ về Aral

Aral Sea

Quá trình thu hẹp của biển Aral

Aral sea 1985 from STS

Biển Aral năm 1985

AralSea ComparisonApr2005-06

Biển Aral được cải thiện nhờ đập Kokaral, ảnh trên chụp tháng 04/2006, ảnh dưới chụp 04/2005

Aralship2

Tàu thuyền mắc cạn trên biển Aral

AralShip

Tàu thuyền mắc cạn trên biển Aral

Ghi chú

  1. ^ Old Turkic Dictionary, Leningrad, Science, 1969, tr.50
  2. ^ www.adb.org
  3. ^ Ed Ring (ngày 27 tháng 9 năm 2004). “Release the Rivers: Let the Volga & Ob Refill the Aral Sea”. Ecoworld. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2008.
  4. ^ “Aral Sea Refill: Seawater Importation Macroproject”. The Internet Encyclopedia of Science. Ngày 26 tháng 9 năm 2008.

Liên kết ngoài

Amu Darya

Sông Amu Darya (còn gọi là Amudarya, Amudar'ya, tiếng Tajik: Омударё hay дарёи Ому - Omudaryo hay daryoi Omu; tiếng Ba Tư: آمودریا‎ - Âmudaryâ; tiếng Uzbek: Amudaryo, tiếng Turkmen: Amyderýa, với darya (Pahlavi) nghĩa là biển hay sông rất lớn) là một con sông ở Trung Á. Chiều dài đường giao thông thủy khoảng 1.450 km (800 dặm). Tổng chiều dài của nó là 2.400 km (1.500 dặm).

Trong thời Cổ đại, con sông này có tên gọi là Oxus theo tiếng Hy Lạp.

Lịch sử Phật giáo chép bằng chữ Hán thì phiên âm sông Amu là Ô-hử, có lẽ do tiếng cổ Hy Lạp.

Nó bắt nguồn từ dãy núi Pamir trên lãnh thổ Afghanistan như là sông Pamir, nổi rõ lên tại hồ Zorkul, chảy theo hướng đông-tây cho tới Ishtragh, tại đây nó quay trở lại theo hướng bắc và sau đó chảy theo hướng đông bắc-tây nam tới Hindu Kush như là sông Panj, sau đó gần như là theo hướng đông-tây và tạo ra biên giới tự nhiên giữa Afghanistan và Tajikistan, sau đó tạo ra biên giới giữa Afghanistan và Uzbekistan trong khoảng 200 km, vượt qua Termez và cầu hữu nghị Afghanistan-Uzbekistan. Nó chảy theo biên giới của Afghanistan và Turkmenistan trong khoảng 100 km nữa trước khi chảy vào lãnh thổ Turkmenistan tại Kerki. Từ đây nó có tên gọi Amu Darya, nó chảy ngang qua Turkmenistan theo hướng đông nam-tây bắc, vượt qua Turkmenabat và tạo ra biên giới của Turkmenistan và Uzbekistan tại Khalkabad. Sau đó nó phân ra thành nhiều sông nhánh (đã từng có thời gian tạo ra các đồng bằng châu thổ và đổ vào biển Aral), vượt qua Urgench, Dashoguz và các thành phố khác, nhưng ngày nay nó không chảy nổi tới biển Aral nữa và biến mất trong sa mạc.

Việc sử dụng nước từ sông Amu Darya để tưới tiêu đã là yếu tố chính tạo ra sự thu nhỏ lại của biển Aral kể từ những năm cuối thập niên 1950.

Các ghi chép lịch sử đã chứng tỏ rằng trong các thời kỳ khác nhau thì con sông này đã từng chảy vào biển Aral (từ phía nam), biển Caspi (từ phía đông) hoặc cả hai, tương tự như sông Syr Darya (Jaxartes, trong tiếng Hy Lạp cổ đại).

Aral

Aral hay Aralsk hoặc Aral'sk, (tiếng Kazakh: Арал, tiếng Nga: Аральск) 46°47′B 61°40′Đ là một thành phố nhỏ ở tây nam Kazakhstan, nằm trong oblysy (tỉnh) Kyzylorda. Nó là trung tâm hành chính của huyện Aral. Dân số khoảng 31.000 người (số liệu năm 1999). Aral trước đây là một cảng cá và đồng thời là một thành phố cảng trên bờ phía bắc đông bắc biển Aral. Đây là nơi cung cấp chính về cá cho khu vực cận kề.

Tiếng Việt còn gọi biển Aral là Hàm Hải.

Biển Caspi

Biển Caspi (cũng được phiên âm là: Caxpi, Hán Việt: Lý Hải 裏海) là hồ nước lớn nhất trên thế giới tính về cả diện tích và thể tích. Diện tích mặt nước là 371.000 km² và thể tích 78.200 km³. Vì không thông với đại dương nên đây đúng là một hồ nước tuy mang tên "biển". Hồ cũng được gọi là biển vì nước hồ có vị mặn của muối. Độ mặn của nước hồ là khoảng 1,2%, xấp xỉ 1/3 nồng độ muối của nước biển.

Biển Caspi nằm giữa Nga ở bờ phía bắc và Iran ở bờ phía nam. Đông tây giáp các nước Turkmenistan, Kazakhstan và Azerbaijan. Độ sâu tối đa của hồ là khoảng 1.025 m.

Sông Volga, con sông dài nhất châu Âu là nguồn nước chính đổ vào biển Caspi.

Danh sách các sông ở Turkmenistan

Đây là danh sách các sông ở Turkmenistan

Hồ Balkhash

Hồ Balkhash (tiếng Kazakh: Балқаш көлі, phát âm tiếng Kazakh: [bɑɫqɑʃ kyʉlɘ]; tiếng Nga: Озеро Балхаш, Ozero Balhaš) là một trong những hồ lớn nhất châu Á và là hồ rộng thứ 15 thế giới. Hồ tọa lạc ở Trung Á, trong một lòng chảo nội lục thuộc địa phận Kazakhstan và Trung Quốc. Nước trong bồn địa đổ vào hồ qua bảy con sông, trong đó, sông Ili, là nguồn cấp nước chính; số khác, như sông Karatal, cấp cả nước bề mặt và dưới bề mặt. Sông Ili lấy nước từ tuyết tan trên những ngọn núi vùng Tân Cương, Trung Quốc.

Hồ hiện rộng chừng 16.400 km2 (6.300 sq mi). Tuy vậy, như biển Aral, nó đang bấp bênh do sự đổi hướng của các con sông cấp nước. Một eo nước chia hồ làm hai phần. Phần tây nước ngọt, còn phần đông nước mặn. Phần đông nói chung sâu hơn phần tây 1,7 lần. Thành phố gần nhất gần hồ cũng mang tên Balkhash và có chừng 66.000 dân. Những hoạt động kinh tế chính quanh hồ là khai mỏ, chế biến quặng và đánh bắt cá.

Kazakhstania

Kazakhstania hay còn gọi là Khối Kazakhstan là một khu vực lục địa nhỏ nằm bên trong của châu Á ngày nay. Nó bao gồm các khu vực ở phía bắc và đông biển Aral, phía nam của nền cổ Siberi và phía tây của dãy núi Altai và hồ Balkhash. Về mặt chính trị, nó bao gồm phần lớn Kazakhstan và có tổng diện tích khoảng 1,3 triệu km². Bồn địa Junggar (Chuẩn Cát Nhĩ) ở Tân Cương, Trung Quốc cũng là một phần của Kazahstania, mặc dù đôi khi được nói tới như là Khối Junggar.

Người ta tin rằng Kazakhstania ngày nay chủ yếu là sự cắt dán của các vòng cung đảo núi lửa Tiền Cổ sinh và một vài địa thể lục địa nhỏ. Các kiểu địa hình này đã kết nối lại cùng nhau trong kỷ Ordovic để tạo thành một lục địa cô lập vào thời gian đó. Trong kỷ Than đá và kỷ Permi, lục địa Siberi đã va chạm với Kazakhstania để tạo thành dãy núi Altai, sau đó lục địa Baltica cũng va chạm với khối này trong kiến tạo sơn Ural, tạo ra nền tảng cho phần lớn đại lục Á-Âu ngày nay.

Kazakhstania là tương đối phẳng: chỉ có ở phía đông gần Karaganda là địa hình vùng núi và các ngọn núi tại đó cũng chỉ nổi cao không quá 1.565 m (5.130 ft) trong khu vực dãy núi Tarbagatay. Mặc dù phần lớn lãnh thổ của Kazakhstania là khô cằn và trên thực tế không có nước chảy từ khu vực ra biển cả, nhưng ở đây có một lượng lớn trâu, bò, cừu và lạc đà hai bướu gặm cỏ trên các vùng đồng cỏ che phủ phần lớn khu vực này ngày nay. Kazakhstania là quá khô cằn để có thể có sự băng hà hóa lớn trong kỷ đệ Tứ. Kazakhstania chứa khoảng một phần tư trữ lượng đã được khẳng định về urani của thế giới và cũng là một trong số các nguồn hàng đầu thế giới về quặng chì, kẽm, antimon. Ở ranh giới phía nam, trong khu vực vùng trũng Turan là các trầm tích lớn chứa hơi đốt hình thành từ kết quả sự va chạm của nó với mảng Ấn Độ.

Kyzylorda (tỉnh)

Kyzylorda (Kazakhstan: Қызылорда облысы, Qızılorda oblısı; Nga: Кызылординская область, Kyzylordinskaya Oblast), là một tỉnh của nước cộng hòa Kazakhstan, thủ phủ là thành phố Kyzylorda với dân số 157.400 người trên 590.000 là dân số của toàn tỉnh. Các khu dân cư quan trọng khác gồm có Aral, Qazaly, (Kazalinsk) và Baikonur của Nga quản lý. Kyzylorda tiếp giáp với quốc gia láng giềng Uzbekistan về phía nam, ngoài ra còn có đường biên giới chung với 3 tỉnh của Kazakhstan: Aktobe tỉnh (phía tây), Karagandy tỉnh (phía bắc) và tỉnh Nam Kazakhstan (phía đông). Sông Syr Darya, chảy từ dãy núi Thiên Sơn ra biển Biển Aral, có chảy qua Kyzylorda. Tổng diện tích toàn tỉnh là 226.000 km2.

Lòng chảo nội lục

Lòng chảo nội lục còn gọi là lòng chảo nội lưu là một loại địa hình có dạng trũng nơi các nguồn nước chảy vào mà không có dòng thoát ra biển cả. Thủy văn trong khu vực này gần như bị giam hãm và chỉ có hai lối thoát duy nhất là thấm nhập vào lòng đất hoặc bốc hơi lên không trung. Hậu quả là thổ diêm tích tụ và tăng dần, tạo ra hồ nước mặn. Nếu tốc độ bốc hơi cao hơn lượng nước chảy vào hồ thì lòng hồ cạn dần và sau sẽ biến thành bãi muối.

Vì yếu tố của thời tiết góp phần lớn vào việc cấu tạo lòng chảo nội lục nên địa hình này thường tìm thấy ở những khu vực sa mạc nóng. Ngoài ra những ao hồ có mực nước thấp hơn mực nước biển (như biển Caspi và biển Chết) nhất thể đều là lòng chảo nội lục.

Nam Kazakhstan (tỉnh)

Nam Kazakhstan (tiếng Kazakh: Оңтүстік Қазақстан облысы, Oñtüstik Kazakhstan oblısı), là tỉnh cực nam của Kazakhstan, với dân số 2.282.500 người. Thủ phủ của tỉnh là thành phố Shymkent với dân số đạt 539.600 người. Các thành phố khác ở tỉnh Nam Kazakhstan bao gồm Turkestan, Sayram, Kentau, Arys, Shardara, Jetysu, ơSaryag'ash và Lenger. Nam Kazakhstan là tỉnh có diện tích nhỏ nhất nước cộng hoà Kazakhstan. Nam Kazakhstan giáp với nước láng giềng Uzbekistan (và rất gần thủ đô Uzbekistan Tashkent), ngoài ra còn giáp với 3 tỉnh khác của Kazakhstan: phía đông giáp với tỉnh Zhambyl, phía tây giáp với tỉnh Kyzylorda, phía bắc giáp với tỉnh Karagandy. Sông Syr Darya chảy qua địa bàn tỉnh, trên đường tới biển Aral. Ngoài ra, một đường ống dẫn dầu chạy từ Turkmenabat, Turkmenistan Omsk, Nga (nơi mà nó kết nối với đường ống dẫn dầu Siberia) ở phía Nam Kazakhstan. Dầu, chì và kẽm được tinh chế ở Shymkent.

Sa mạc Aralkum

Sa mạc Aralkum là một sa mạc mới xuất hiện từ năm 1960 trên khu vực đáy biển từng được phủ kín bởi biển Aral. Nó nằm ở phía nam và phía đông của những gì còn lại của Biển Aral ở Uzbekistan và Kazakhstan.

Syr Darya

Syr Darya (tiếng Kazakh: Сырдария; tiếng Tajik: Сирдарё; tiếng Uzbek: Sirdaryo;

tiếng Ba Tư: سيردريا‎, chuyển tự Syrdarya hay Sirdaryo) là một sông ở Trung Á, đôi khi còn gọi là Jaxartes hay Yaxartes từ tên gọi theo tiếng Hy Lạp cổ đại ὁ Ιαξάρτης.

Con sông này bắt nguồn bằng hai đầu nguồn trong dãy Thiên Sơn ở Kyrgyzstan và đông Uzbekistan và chảy trong khoảng 2.212 km (1.380 dặm) theo hướng tây và tây bắc qua miền nam Kazakhstan tới phần còn lại của biển Aral. Dọc theo luồng chảy của mình, nó tưới tiêu cho phần lớn các khu vực đất màu mỡ trồng bông của toàn bộ khu vực Trung Á, cùng với việc cấp nước cho các thành phố như Kokand, Khujand, Kyzyl-Orda và Turkestan.

Nhiều hệ thống kênh đào, chủ yếu xây dựng trong thế kỷ 18 bởi Hãn quốc Kokand, mở rộng các khu vực mà con sông này chảy qua. Việc mở rộng đáng kể các kênh tưới tiêu trong thời kỳ Liên bang Xô viết để tưới tiêu cho các cánh đồng bông đã làm trầm trọng thêm các vấn đề sinh thái trong khu vực, làm cho con sông này cạn kiệt nhanh trước khi chảy tới biển Aral và làm cho con sông này nhỏ bé lại so với kích thước trước đây của nó. Cùng với hàng triệu người đang định cư trong các khu vực trồng bông thì những vấn đề này đối với con sông hiện nay vẫn chưa có lời giải đáp.

Tên gọi này có nguồn gốc từ tiếng Ba Tư và đã được sử dụng từ rất lâu ở phương Đông, nhưng lại là tương đối mới đối với người phương Tây; có lẽ chỉ mới có từ đầu thế kỷ 20, trước đây chủ yếu người ta biết đến nó theo các tên gọi của người Hy Lạp cổ đại. Hoàng đế Ba Tư là Cyrus Đại Đế đã thiết lập thành phố mới Cyropolis bên sông Jaxartes, nay là Takijistan. Gần đây, theo nhà sử học Herodotos, ông tiến đánh người Massagetae vào năm 530 TCN. Người Massagetae là một tộc người Scythia, do Nữ vương Tomyris trị vì. Đại quân Ba Tư vượt sông Jaxartes; và, trong một trận chiến giữa Nữ vương Tomyris và Hoàng đế Cyrus Đại Đế, ông tử trận. Nhưng nhà sử học Berossus lại ghi nhận khác, theo đó ông gây chiến với các cung thủ Dahae ở phía Tây Bắc thượng nguồn sông Syr Darya, và tử trận. Sử cũ của nhà sử học Ctesias lại cho hay, Hoàng đế Cyrus Đại Đế thảo phạt người Derbices ở Đông Bắc thượng nguồn sông Syr Darya, và bị trúng lao nên tử thương. Song, sau đó, viện binh kéo đến, người Derbices đại bại và vùng đất của họ bị sáp nhập vào Đế quốc Ba Tư.Sông Jaxartes là đường đánh dấu ranh giới xa nhất về phía bắc trong cuộc viễn chinh của vua Alexandros Đại Đế xứ Macedonia. Các nhà sử học Hy Lạp đã cho rằng tại đây vào năm 329 TCN, vua Alexandros Đại Đế đã lập ra thành phố Alexandria Eschate (một cách văn chương là "Alexandria-nơi xa nhất") như là một pháo đài vĩnh cửu. Thành phố này hiện nay có tên gọi là Khujand. Trước sự quấy nhiễu của người Scythia, ông cũng kéo quân vượt sông để đánh trận Jaxartes với họ vào năm 329 TCN, người Scythia thất bại nặng nề. Với việc vua Alexandros Đại Đế chiếm được các thành phố kiên cường và giành chiến thắng huy hoàng trước tộc người hùng mạnh, vua người Scythia phải thần phục ông. Chiến thắng oanh liệt trước tộc người bất khả chiến bại Scythia đã đem lại phấn khởi cho Vương quốc Macedonia hùng cường.

Sân bay vũ trụ

Sân bay vũ trụ là cơ sở phóng tàu không gian phục vụ cho các mục đích nghiên cứu, khám phá vũ trụ hoặc mục đích thương mại. Một số nước có sân bay vũ trụ riêng trên thế giới như: Liên Xô (cũ)/Nga, Hoa Kỳ, Pháp, Anh, Nhật, Ấn Độ, Trung Quốc, Israel, Triều Tiền, Hàn Quốc, Brasil.

Sân bay vũ trụ của Nga nằm trong sa mạc thảo nguyên của Kazakhstan, có diện tích 6.717 km², cự ly 200 km (124 dặm) về phía đông của biển Aral, phía bắc sông Syr Darya, gần ga tàu hỏa Tyuratam, 90 mét trên mực nước biển. Khu đất này chính phủ Kazakhstan cho Nga thuê (hiện nay cho đến năm 2050) và được quản lý phối hợp của Cơ quan Không gian Liên bang Nga và lực lượng Không gian Nga. Hình dạng của khu vực cho thuê là một hình elip, kích thước đông-tây dài 90 km và bắc-nam dài 85 km, với sân bay vũ trụ nằm ở trung tâm. Ban đầu nó được Liên Xô xây dựng vào cuối những năm 1950 để làm cơ sở hoạt động cho chương trình không gian của Liên Xô. Theo chương trình không gian của Nga hiện nay, Baikonur vẫn còn là một cổng không gian bận rộn, với nhiều thiết bị thương mại, quân sự và khoa học phóng hàng năm. Vostok 1, tàu vũ trụ có người lái đầu tiên trong lịch sử nhân loại, đã được đưa ra từ một trong bãi phóng Baikonur, mà hiện nay được biết đến như là Start Gagarin.

Sân bay vũ trụ Baykonur

Sân bay vũ trụ Baykonur (tiếng Kazakh: Байқоңыр ғарыш айлағы, Bayqoñır ğarısh aylağı; tiếng Nga: Космодром Байконур) - là sân bay vũ trụ đầu tiên và lớn nhất trên thế giới, nằm ở Kazakhstan, không xa làng Tyuratam. Có diện tích 6.717 km².

Sân bay vũ trụ này là cơ sở phóng tàu không gian đầu tiên và lớn nhất thế giới hoạt động. Nó nằm trong sa mạc thảo nguyên của Kazakhstan, cự ly 200 km (124 dặm) về phía đông của biển Aral, phía bắc sông Syr Darya, gần ga tàu hỏa Tyuratam, 90 mét trên mực nước biển. Khu đất này chính phủ Kazakhstan cho Nga thuê (hiện nay cho đến năm 2050) và được quản lý phối hợp của Cơ quan Không gian Liên bang Nga và lực lượng Không gian Nga. Hình dạng của khu vực cho thuê là một hình elip, kích thước đông-tây dài 90 km và bắc-nam dài 85 km, với sân bay vũ trụ nằm ở trung tâm. Ban đầu nó được Liên Xô xây dựng vào cuối những năm 1950 để làm cơ sở hoạt động cho chương trình không gian của Liên Xô. Theo chương trình không gian của Nga hiện nay, Baikonur vẫn còn là một cổng không gian bận rộn, với nhiều thiết bị thương mại, quân sự và khoa học phóng hàng năm.

Vostok 1, tàu vũ trụ có người lái đầu tiên trong lịch sử nhân loại, đã được đưa ra từ một trong bãi phóng Baikonur, mà hiện nay được biết đến là Gagarin's Start (bệ phóng Baikonur 1/5) (tọa độ bệ phóng:45,920278°B 63,342222°Đ / 45.920278; 63.342222)

Tự nhiên

Tự nhiên hay cũng được gọi thiên nhiên, thế giới vật chất, vũ trụ và thế giới tự nhiên (tiếng Anh: nature) là tất cả vật chất và năng lượng chủ yếu ở dạng bản chất. "Tự nhiên" nói đến các hiện tượng xảy ra trong thế giới vật chất, và cũng nhắc đến sự sống nói chung. Phạm vi bao quát của nó từ cấp hạ nguyên tử cho tới những khoảng cách lớn trong vũ trụ. Nghiên cứu về tự nhiên là một mảnh ghép lớn trong thế giới khoa học. Dù cho con người hiển nhiên là một phần của tự nhiên, nhưng những hoạt động của con người thường được phân biệt rạch ròi khỏi những hiện tượng tự nhiên.

Từ nature có nguồn gốc từ natura trong tiếng Latin, có nghĩa là "phẩm chất thuần khiết, thiên hướng bẩm sinh", và trong thời cổ đại nó có nghĩa đen là "sự sinh nở". Natura trong tiếng Latin là dịch từ physis (φύσις) trong tiếng Hy Lạp, một từ có nguồn gốc liên quan đến đặc tính nội tại của thực vật, động vật và những đặc trưng khác trong thế giới do chính người cổ đại nghĩ ra hoặc ghi chép lại.1 2 Khái niệm tự nhiên theo nghĩa tổng thể, hay vũ trụ vật chất, là một trong vài khái niệm mở rộng của khái niệm ban đầu; nó bắt đầu bằng những cách thông hiểu trọng tâm của từ φύσις bởi các triết gia trước Sokrates, và đã thu được sự chú ý dần dần theo thời gian kể từ đó. Cách sử dụng này dần được chấp nhận trong giai đoạn phát triển của phương pháp khoa học hiện đại trong vài thế kỷ qua.3 4Với nhiều cách sử dụng và ý hiểu ngày nay, "tự nhiên" cũng nhắc đến địa chất và thế giới hoang dã. Tự nhiên cũng bao gồm nhiều loại động thực vật sống khác nhau, và trong một số trường hợp liên quan tới tiến trình của những vật vô tri vô giác – cách mà những kiểu riêng biệt của sự vật tồn tại và làm biến đổi môi trường quanh nó, tỉ như thời tiết và hoạt động địa chất của Trái Đất, cũng như vật chất và năng lượng của tất cả mọi thứ mà chúng cấu thành lên. Khi hiểu theo nghĩa là "môi trường tự nhiên" hoặc vùng hoang dã – động vật hoang dã, đá, rừng, bờ biển, và nói chung những thứ không bị tác động của con người thay đổi hoặc phản kháng trước những tác động của con người. Ví dụ, các sản phẩm được sản xuất hoặc có tác động bởi con người nói chung sẽ không được coi là thuộc về tự nhiên, trừ khi được định nghĩa thành những lớp lang phù hợp, ví dụ, "bản chất con người" (nhân tính) hay "toàn thể tự nhiên". Khái niệm truyền thống này về các vật tự nhiên mà đôi khi ngày nay vẫn sử dụng hàm ý sự phân biệt giữa thế giới tự nhiên và nhân tạo, với những thứ nhân tạo được ngầm hiểu từ tâm thức hoặc tư duy của con người. Phụ thuộc vào từng ngữ cảnh, thuật ngữ "tự nhiên" cũng có thể khác hẳn với từ "không tự nhiên" hay "siêu nhiên".

Uzbekistan

Uzbekistan (phiên âm tiếng Việt: "U-zơ-bê-ki-xtan"), tên chính thức Cộng hòa Uzbekistan (tiếng Uzbek: O‘zbekiston Respublikasi), là một quốc gia nằm kín trong lục địa tại Trung Á, trước kia từng là một phần của Liên bang Xô viết. Nước này có chung biên giới với Kazakhstan ở phía tây và phía bắc, Kyrgyzstan và Tajikistan ở phía đông, và Afghanistan cùng Turkmenistan ở phía nam.

Lãnh thổ hiện tại của Uzbekistan trong thời cổ đại là một phần của vùng nói ngữ chi Iran của Transoxiana, với các thành phố như Samarkand, Bukhara, và Khiva mà đã trở nên thịnh vượng nhờ Con đường tơ lụa. Những người định cư đầu tiên đến lãnh thổ này được gọi là những người Scythia. Các nền văn minh sớm nhất bao gồm Khwarezm (thế kỷ VIII-VI TCN), Bactria (thế kỷ VIII-VI TCN), Sogdiana (thế kỷ VIII-VI TCN), Fergana (thế kỷ III TCN - thế kỷ VI), và Margiana (thế kỷ III TCN - thế kỷ VI), do những bộ lạc Tây Iran lập ra. Khu vực này được kết hợp vào Đế quốc Ba Tư, và sau đó sụp đổ với cuộc chinh phục của người Hồi giáo vào thế kỷ thứ VII, biến phần lớn dân số thành tín đồ Hồi giáo. Sau sự kế nhiệm của các vua địa phương nhà Khwarezm-Shah trong thế kỷ XI, vùng này đã thất thủ trước cuộc xâm lược của Mông Cổ vào thế kỷ XIII. Thành phố Shahrisabz là nơi sinh của Thiếp Mộc Nhi, người trong thế kỷ XIV thành lập nhà Timur và tự tuyên bố là Đế Chế Tối cao Turan. Vùng này sau đó bị quân Uzbek Shaybanids chinh phục trong thế kỷ XVI, di chuyển trung tâm quyền lực từ Samarkand tới Bukhara. Khu vực này được chia thành ba tiểu bang: Khanate Khiva, Khanate Kokand, và Emirate của Bukhara. Nó đã được dần dần kết hợp vào Đế quốc Nga trong thế kỷ XIX, với Tashkent trở thành trung tâm chính trị của Turkestan thuộc Nga. Năm 1924, sau khi phân định quốc gia, nước cộng hòa cấu thành Liên Xô được biết đến với cái tên Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Uzbekistan được thành lập. Sau khi Liên Xô tan rã, quốc gia này tuyên bố độc lập với tên mới Cộng hòa Uzbekistan vào ngày 31 tháng 8 năm 1991.

Đảo Vozrozhdeniya

Vozrozhdeniya (tiếng Nga:Остров Возрождения, Ostrov Vozrozhdeniya, có thể dịch là đảo Rebirth hay đảo Renaissance) là một hòn đảo nằm trên biển Aral, thuộc Liên bang Xô Viết trước đây và sau đó là của Uzbekistan và Kazakhstan (tính đến đầu những năm 1980). Năm 1954, một địa điểm thử nghiệm vũ khí sinh học gọi là Aralsk-7 đã được xây dựng tại đây và các đảo lân cận Komsomolskiy.

Đế quốc Seljuk

Đế quốc Seljuk hay Đế quốc Đại Seljuk (còn được đọc là Seljuq) (tiếng Ba Tư: آل سلجوق‎) là một đế quốc Turk-Ba Tư theo phái Sunni của đạo Islam, khởi nguồn từ nhánh Qynyq của người Thổ Oghuz. Đế quốc Seljuk kiểm soát một khu vực rộng lớn trải dài từ Hindu Kush đến miền đông Anatolia và từ Trung Á đến Vịnh Ba Tư. Từ quê hương của mình bên bờ biển Aral, các vua nhà Seljuk đầu tiên tiến vào Khorasan, rồi sau đó thâm nhập vào đất Ba Tư trước khi chinh phục miền đông Anatolia.

Đế quốc Seljuk được thành lập bởi hoàng đế Tughril Beg (1016–63) vào năm 1037. Tughril được nuôi lớn bởi ông nội là Seljuk-Beg, một nhân vật có quyền thế trong Nhà nước Oghuz Yabgu. Cả Đế quốc lẫn triều đại Seljuk đều được đặt tên theo ông tổ Seljuk. Đế quốc Seljuk tái thống nhất tình trạng chính trị bị đứt gãy ở phía đông của thế giới đạo Hồi và đóng một vai trò quan trọng trong cuộc Thập tự chinh thứ nhất và thứ hai. Được Ba Tư hoá trong văn hoá lẫn ngôn ngữ, Việc định cư các bộ tộc người Thổ ở ngoại vi vùng Tây bắc của đế quốc nhằm cho các mục đích chiến lược quân sự trong việc đỡ các cuộc xâm lược từ các quốc gia lân cận đã dẫn đến sự Thổ hoá trong khu vực này.

Bắc Băng Dương
Đại Tây Dương
Ấn Độ Dương
Thái Bình Dương
Nam Đại Dương
Biển kín

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.