Biển Aegea

Biển Aegea (theo tiếng Anh) hoặc Biển Égée (Ê giê) (theo tiếng Pháp) là một vùng vịnh nối dài của Địa Trung Hải nằm giữa nam Balkan và bán đảo Anatolie, giữa Hy LạpThổ Nhĩ Kỳ. Nó nối liền với biển MarmaraBiển Đen về phía bắc thông qua eo DardanellesBosphore. Quần đảo Égée nằm trong biển này. Vùng Égée bao gồm chín tỉnh ở tây nam Thổ Nhĩ Kỳ, trong những phần giáp với biển Égée.[2]

Biển Aegean
Aegean Sea map
Bản đồ biển Aegean
World
World
Biển Aegean
Vị tríChâu Âu
Tọa độ39°B 25°Đ / 39°B 25°Đ
LoạiBiển
Dòng thoát nướcĐịa Trung Hải
Lưu vực quốc giaHy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ[1]
Chiều dài tối đa700 km (430 mi)
Chiều rộng tối đa400 km (250 mi)
Diện tích bề mặt214.000 km2 (83.000 sq mi)
Locatie Egeische Zee
Bản đồ vị trí biển Égée ở Địa Trung Hải
Aegean Sea map bathymetry-fr
Bản đồ địa hình

Địa lý

Biển Égée bao phủ diện tích khoảng 214.000 km2. Độ sâu tối đa của biển là 3.543 m, ở phía đông Crete. Cáo đảo ở biển Égée phân định ranh giới phía nam của nó (từ đông sang tây): Kythera, Antikythera, Crete, Kasos, KarpathosRhodes.

SantoriniPartialPano
Ảnh toàn cảnh đảo Santorini, chụp từ Oia.

Tham khảo

  1. ^ DRAINAGE BASIN OF THE MEDITERRANEAN SEA, UNECE
  2. ^ Ege Denizinin Orijinal Adı Nedir?, Turkish Naval Force web site (in Turkish)

Liên kết ngoài

Tọa độ: 39°B 25°Đ / 39°B 25°Đ

Attica

Attica (tiếng Hy Lạp: Αττική, Attikí; [atiˈci]) là một vùng lịch sử của Hy Lạp, bao gồm cả thủ đô Athens. Vùng lịch sử này tập trung tại bán đảo Attica nhô ra biển Aegea. Vùng Attica hiện tại của Hy Lạp có phạm vi rộng lớn hơn vùng lịch sử, bao gồm một số hòn đảo và một phần của Peloponnesos. Lịch sử Attika liên kết chặt chẽ với Athens, đây là một trong những thành phố quan trọng nhất của thế giới trung cổ.

Biển Crete

Biển Crete là một biển nằm ở phía nam của biển Aegea và phía bắc đảo Crete, phía nam Cyclades. Biền này trải dài từ Kythera ở phía đông tới quần đảo Dodecanese của Karpathos và Kassos. Những biển liền kề là biển Ionia ở phía tây cũng như phần còn lại của Địa Trung Hải.

Biển Marmara

Biển Marmara (tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: Marmara Denizi), còn gọi là biển Marmora, trong văn kiện cổ đại Hy-La mang tên Propontis, là một biển nội địa, nằm hoàn toàn trong biên giới Thổ Nhĩ Kỳ, là biển tiếp nối giữa biển Đen và biển Aegea. Eo biển Bosphorus nối nó với biển Đen còn eo Dardanelles nối ra biển Aegea. Eo Bosphorus còn tách Istanbul ra phần châu Âu và châu Á. Biển Marmara là biển nhỏ nhất thế giới. Nó có diện tích bề mặt 11.350 km2 (4.380 sq mi), kích thước 280 km × 80 km (174 mi × 50 mi). Biển này đạt độ sâu tối đa 1.370 m (4.490 ft).

Biển Myrtoa

Biển Myrtoa (Mirtoa) (tiếng Hy Lạp: Mυρτώο Πέλαγος, Myrtöo Pelagos) là một nhánh của Địa Trung Hải nằm giữa Cyclades và Peloponnesos. Biển được xem là một phần của biển Aegea, là phía Nam của Euboea, Attica, và Argolis. [1] Nước ở Biển Đen đã thông với biển Myrtoan thông qua biển Aegean. (Saundry, Hogan & Baum. 2011) Vịnh Saronic, một vịnh ở Athen, có địa lý nằm giữa kênh Corith và biển Myrtoa.

Biển Thrace

Biển Thrace (tiếng Hy Lạp: Θρακικό Πέλαγος, Thrakiko Pelagos; tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: Trakya Denizi) là một phần của biển Aegea và hình thành các điểm phía bắc của biển. Các vùng bao quanh biển là Macedonia (Hy Lạp) và Thrace cũng như phía tây bắc Thổ Nhĩ Kỳ. Toàn bộ vùng biển nằm phía bắc của đường vĩ độ 40.Chiều dài từ đông sang tây từ 23°E đến 25.8°E hoặc từ phía đông vịnh Strymonia đến phần phía bắc của bán đảo Gallipoli và chiều rộng từ bắc tới nam khoảng từ 40.25°N đến 41°N hay từ phía bắc Dardanelles đến biên giới giữa Xanthi và tỉnh Rhodope.Quần đảo bao gồm Thasos và Samothrace ở Hy Lạp và Gökçeada (Imvros ở Hy Lạp) và Bozcaada (Tenedos ở Hy Lạp) ở Thổ Nhĩ Kỳ. Các vịnh bao gồm vịnh Ierissian đến phía tây nam, vịnh Strymonian là nơi có sông Struma chảy ra, vịnh Kavala và vịnh Saros ở Thổ Nhĩ Kỳ. Các dòng sông chảy vào các vịnh bao gồm sông Nestos và sông Maritsa.

Bodrum

Bodrum (phát âm tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: [bodɾum]) là một thành phố cảng ở tỉnh Muğla, trong khu vực phía tây nam Aegean của Thổ Nhĩ Kỳ. Nó nằm trên bờ biển phía nam của bán đảo Bodrum, tại một điểm kiểm tra nhập cảnh vào vịnh Gökova. Thành phố được gọi là Halicarnassus của Caria trong thời cổ đại và nổi tiếng với Lăng mộ của Mausolus, một trong Bảy kỳ quan thế giới cổ đại. Lâu đài Bodrum, được xây dựng bởi Crusaders trong thế kỷ 15, nhìn ra bến cảng và bến du thuyền. Các căn cứ lâu đài bao gồm Bảo tàng Khảo cổ học dưới nước và một số tổ chức lễ hội văn hóa trong suốt cả năm.

Thành phố có dân số 118.237 trong năm 2009 so với 105.474 người năm 2007. Thành phố có diện tích 656 km²i, mật độ 161 người/km².

Denizli (tỉnh)

Denizli là một tỉnh của Thổ Nhĩ Kỳ, ở phía tây Anatolia, trên khu vực bờ biển Aegea. Các tỉnh giáp ranh là: Uşak về phía bắc, Burdur, Isparta, Afyon về hướng đông, Aydın, Manisa về hướng tây và Muğla về hướng bắc. Diện tích tỉnh này là 11.868 km², dân số 882.938 người. Tỉnh lỵ là thành phố Denizli.

Hy Lạp

Hy Lạp (tiếng Hy Lạp: Ελλάδα, chuyển tự Ellada hay Ελλάς, chuyển tự Ellas), tên chính thức là Cộng hòa Hy Lạp (tiếng Hy Lạp: Ελληνική Δημοκρατία, chuyển tự Elliniki Dimokratia), là một quốc gia thuộc khu vực châu Âu, nằm phía nam bán đảo Balkan. Hy Lạp giáp với các nước Albania, Cộng hòa Macedonia và Bulgaria về phía bắc, giáp với Thổ Nhĩ Kỳ về phía đông. Biển Aegea bao bọc phía đông và phía nam Hy Lạp, còn biển Ionia nằm ở phía tây. Phần lớn địa hình của đất nước này là núi non hiểm trở. Hy Lạp có rất nhiều những hòn đảo lớn nhỏ thuộc khu vực Địa Trung Hải. Dân số Hy Lạp năm 2015 xấp xỉ 10,955 triệu người.

Hy Lạp là một trong những nền văn minh rực rỡ nhất thời cổ đại, có ảnh hưởng sâu rộng đến nền văn minh quanh khu vực Địa Trung Hải. Đây là nơi ra đời của nền dân chủ, triết học phương Tây và Thế vận hội Olympic. Đến thời trung cổ, Hy Lạp trở thành một bộ phận của Đế chế Byzantine, rồi sau đó lại nằm trong Đế chế Ottoman trong gần bốn thế kỉ. Năm 1821, nhân dân Hy Lạp đã nổi dậy khởi nghĩa và giành lại độc lập cho dân tộc.

Đất nước Hy Lạp ngày nay là một quốc gia phát triển. Hy Lạp là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế như Liên Hiệp Quốc, NATO, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế - OECD, Tổ chức Thương mại Thế giới - WTO. Năm 1981, Hy Lạp trở thành một thành viên của Liên minh châu Âu.

Istanbul

Istanbul ( hoặc ; tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: İstanbul [isˈtanbuɫ] ( nghe)), là thành phố lớn nhất, đồng thời là trung tâm kinh tế, văn hóa và lịch sử của Thổ Nhĩ Kỳ. Với dân số hơn 14 triệu người (2014), Istanbul là một trong số các vùng đô thị lớn nhất châu Âu và xếp vào một trong những thành phố đông dân nhất thế giới xét về dân cư trong địa phận thành phố.

Istanbul là một thành phố liên lục địa, bắc ngang qua eo biển Bosphorus - một trong những tuyến đường biển nhộn nhịp nhất thế giới - ở tây bắc Thổ Nhĩ Kỳ, nối biển Marmara và biển Đen. Trung tâm lịch sử và thương mại của Istanbul nằm ở phần thuộc châu Âu, và chỉ có 1/3 dân số cư trú ở phần thuộc châu Á.

Kiến tạo trên mũi đất Sarayburnu khoảng năm 660 trước Công nguyên với tên gọi Byzantium, thành phố mà nay được gọi là Istanbul đã phát triển trở thành một trong những đô thành huy hoàng nhất trong lịch sử. Trong gần mười sáu thế kỉ sau sự tái thiết thành Constantinopolis năm 330 Công nguyên, nó từng là kinh đô của bốn đế quốc: Đế quốc La Mã (330-395); Đế quốc Byzantine (395-1204 và 1261-1453), Đế quốc Latin (1204-1261) và Đế quốc Ottoman (1453-1922). Thành phố đã đóng vai trò quan trọng trong sự lớn mạnh của Cơ đốc giáo dưới các thời đại La Mã và Byzantine, trước khi người Ottoman chinh phục vào năm 1453 và biến nó thành một pháo đài Hồi giáo, nơi trị vì của triều đại khalip cuối cùng. Mặc dù Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ đã chọn Ankara làm thủ đô của mình, ngày nay những cung điện và thánh đường vẫn ngự trên các ngọn đồi của Istanbul như để nhắc nhở về vai trò trung tâm trước đây của thành phố.

Vị trí chiến lược của Istanbul nằm trên Con đường tơ lụa, các mạng lưới đường sắt tới châu Âu và Trung Đông, và tuyến hải lộ duy nhất giữa biển Đen và Địa Trung Hải đã giúp phát triển lượng dân số hỗn tạp , mặc dầu ít nhiều suy giảm kể từ khi nền Cộng hòa thiết lập năm 1923. Mặc dù bị coi nhẹ do không còn là thủ đô trong thời kì giữa hai cuộc Thế chiến, song về sau thành phố đã dần lấy lại phần lớn vị thế của nó. Dân số thành phố đã tăng mười lần kể từ những năm 1950, phần lớn do dòng người nhập cư vượt qua miền Anatolia tập trung lại siêu đô thị này và quy mô thành phố mở rộng ra để dành cho họ. Các lễ hội nghệ thuật được hình thành vào cuối thế kỷ XX, trong khi sự cải thiện cơ sở hạ tầng tạo nên một mạng lưới giao thông dày đặc.

12.56 triệu du khách nước ngoài đến Istanbul năm 2015, 5 năm sau khi thành phố nhận danh hiệu Thủ đô Văn hóa châu Âu, đưa thành phố này trở thành điểm đến du lịch thu hút khách nhiều thứ năm trên thế giới . Sức hút lớn nhất của thành phố nằm ở khu phố lịch sử, đượcUNESCO xếp hạng là Di sản thế giới, tuy nhiên trung tâm văn hóa và giải trí của nó nằm vắt qua cảng tự nhiên của thành phố, cảng Sừng Vàng ở quận Beyoğlu. Được xem là một thành phố toàn cầu, Istanbul là nơi đóng trụ sở của rất nhiều công ty cũng như cơ quan truyền thông Thổ Nhĩ Kỳ, và chiếm hơn một phần tư tổng sản phẩm nội địa của đất nước này. Hy vọng tận dụng sự hồi sinh và phát triển nhanh chóng của mình, Istanbul cũng đã tích cực chạy đua giành quyền đăng cai Thế vận hội Mùa hè 2020, nhưng thất bại trước Tokyo.

Muğla

Muğla là một thành phố tự trị (büyük şehir) đồng thời cũng là một tỉnh (il) thuộc Thổ Nhĩ Kỳ. Thành phố nằm ở góc tây nam của Thổ Nhĩ Kỳ, bên bờ Biển Aegea. Các đô thị nghỉ mát lớn nhất Thổ Nhĩ Kỳ như Bodrum, Oludeniz, Marmaris và Fethiye nằm ở bên bờ biển ở Muğla.

Với chiều dài bờ biển 1.100 km, Muğla có bờ biển dài nhất trong các tỉnh của Thổ Nhĩ Kỳ. Thành phố cũng có hai hồ lớn, hồ Bafa ở huyện Milas và hồ Köyceğiz. Kinh tế của Muğla chủ yếu dựa vào ngành du lịch, nông nghiệp và lâm nghiệp.

Thành phố có 2 sân bay ở Dalaman và Milas-Bodrum, với các tuyến bay nội địa và quốc tế.

Muğla (tỉnh)

Muğla là một tỉnh của Thổ Nhĩ Kỳ. Tỉnh này nằm ở gốc tây nam của Thổ Nhĩ Kỳ, bên bờ Biển Aegea. Tỉnh lỵ là Muğla nằm sâu 20 km trong nội địa còn các đô thị nghỉ mát lớn nhất Thổ Nhĩ Kỳ như Bodrum, Oludeniz, Marmaris và Fethiye nằm ở bên bờ biển ở Muğla.

Với chiều dài bờ biển 1.100 km, Muğla là tỉnh có bờ biển dài nhất trong các tỉnh của Thổ Nhĩ Kỳ. Tỉnh cũng có hai hồ lớn, hồ Bafa ở huyện Milas và hồ Köyceğiz.

Kinh tế tỉnh này chủ yếu dựa vào ngành du lịch, nông nghiệp và lâm nghiệp.

Có 2 sân bay ở Dalaman và Milas-Bodrum, với các tuyến bay nội địa và quốc tế.

Quần đảo Aegea

Quần đảo Aegea (tiếng Hy Lạp: Νησιά Αιγαίου, chuyển tự: Nisiá Aigaíou; tiếng Thổ Nhĩ Kỳ: Ege Adaları) là một nhóm các đảo tại biển Aegea, phía tây và bắc là Hy Lạp đại lục còn phía đông là Thổ Nhĩ Kỳ; đảo Crete phân định ranh giới của biển ở phía nam, cònRhodes, Karpathos và Kasos ở phía đông nam. Tên tiếng Hy Lạp cổ đại của quần đảo Biển Aegea, Archipelago (ἀρχιπέλαγος) về sau được áp dụng cho các quần đảo mà nó bao gồm và hiện được sử dụng để chỉ bất kỳ nhóm đảo nào trong các ngôn ngữ châu Âu.

Quần đảo Aegea thuộc chủ quyền của Hy Lạp. Các đảo tương đối lớn thuộc chủ quyền của Thổ Nhĩ Kỳ trên biển Aegea là Imbros (Gökçeada) và Tenedos (Bozcaada) ở cực đông bắc của biển. Ngoài ra, Thổ Nhĩ Kỳ cũng sở hữu một số đảo nhỏ ở ngoài khơi bờ biển phía tây của mình.

Quần đảo Aegea về mặt truyền thống được chia thành bảy nhóm, từ bắc xuống nam:

Quần đảo Đông Bắc Aegea

Sporades

Euboea

Quần đảo Argo-Saronic

Cyclades

Dodecanese (Nam Sporades)

CreteThuật ngữ Quần đảo Aegea thuộc Ý (tiếng Ý: Isole Italiane dell-’Egeo) đôi khi được sử dụng để chỉ phần của quần đảo Aegean bị Ý chinh phục trong chiến tranh Ý-Thổ Nhĩ Kỳ năm 1912 và bị thôn tính (thông qua Hiệp ước Lausanne) từ năm 1923 cho đến 1947: Dodecanese, bao gồm Rhodes và Kastelorizo.

Thessalía

Thessalía hay Thessaly (tiếng Hy Lạp: Θεσσαλία, Thessalía — tiếng Thessalia: Πετθαλία, Petthalia) là một vùng địa lý tuyền thống và một vùng hành chính của Hy Lạp, bao gồm phần lớn vùng Thessalía Cổ. Trước thời kỳ Hy Lạp tăm tối, Thessalía được gọi là Aeolia, và xuất hiện trong sử thi Odyssey của Hómēros.

Thessalía trở thành một phần của nhà nước Hy Lạp hiện đại vào năm 1881, sau bốn thế kỷ rưỡi nằm dưới quyền cai quản của đế quốc Osman. Từ năm 1987 nó là một trong 13 vùng và từ năm 2011 được chia tiếp thành 5 đơn vị cấp vùng và 25 khu tự quản. Thủ phủ của vùng là Larissa. Thessalía nằm ở phần trung tâm của Hy Lạp và giáp với các vùng Makedonía ở phía bắc, Ípeiros ở phía tây, Trung Hy Lạp ở phía nam và biển Aegea ở phía đông. Vùng Thessalía bao gồm cả quần đảo Sporades.

Tiểu Á

Tiểu Á (tiếng Hy Lạp: Μικρά Ασία Mikra Asia), hay Anatolia (Ανατολία, có nghĩa là "mặt trời mọc", "phía đông") là một bán đảo của châu Á mà ngày nay thuộc lãnh thổ Thổ Nhĩ Kỳ, bắc giáp với Biển Đen, nam giáp Địa Trung Hải, ngăn cách với châu Âu bởi biển Aegea và biển Marmara (đều thuộc Địa Trung Hải) ở phía tây và giáp với phần đất đai rộng lớn còn lại của châu Á ở phía đông.

Trung Cổ

Thời kỳ Trung Cổ (hay Trung Đại) là giai đoạn trong lịch sử châu Âu bắt đầu từ sự sụp đổ của Đế quốc Tây Rôma vào thế kỷ 5, kéo dài tới thế kỉ 15, hòa vào thời Phục hưng và Thời đại khám phá. Thời Trung Cổ (Trung đại) là thời đại thứ hai trong ba thời đại lịch sử theo cách phân kỳ truyền thống của lịch sử phương Tây, cùng với Cổ đại và Hiện đại. Thời kỳ Trung Cổ tự nó chia làm ba giai đoạn, Sơ kỳ Trung Cổ, Trung kỳ Trung Cổ và Hậu kỳ Trung Cổ.

Suy giảm dân số, sự đảo ngược đô thị hóa, xâm lược, và di dân, bắt đầu từ Hậu kỳ Cổ đại, tiếp diễn trong thời Sơ kỳ Trung Cổ. Những man tộc xâm lược, bao gồm các dân tộc German, lập nên những vương quốc mới trên tàn tích của Đế quốc Tây Rôma. Bắc Phi, Trung Đông và bán đảo Iberia rơi vào tay người Hồi giáo, tuy Đế quốc Đông Rôma (tức Byzantine) vẫn duy trì vai trò một cường quốc quan trọng ở phương Đông. Quá trình Kitô hóa vẫn tiếp tục, chế độ tu viện được thành lập. Người Frank, dưới triều đại Nhà Carolingien, đã thiết lập nên một đế chế ngắn ngủi bao phủ phần lớn Tây Âu, trước khi tàn lụi dưới áp lực của nội chiến cộng với ngoại xâm.

Trong thời Trung kỳ Trung Cổ, bắt đầu từ thế kỉ 11, dân số châu Âu tăng nhanh khi các tiến bộ kĩ thuật và thời tiết thuận lợi giúp sản xuất phát triển và theo đó là thương mại phát đạt. Chế độ trang viên và chế độ phong kiến xác lập nên cấu trúc kinh tế-chính trị của xã hội thời Trung kỳ Trung Cổ. Giáo hội Công giáo củng cố sức ảnh hưởng trong khi những cuộc thập tự chinh được kêu gọi để tái chiếm Đất Thánh từ tay người Hồi giáo. Các nhà quân chủ ở nhiều quốc gia củng cố nhà nước trung ương tập quyền, giảm bớt tình trạng cát cứ. Đời sống trí thức ghi nhận sự thống trị của chủ nghĩa kinh viện và sự thành lập những trường đại học, trong khi nghệ thuật chứng kiến phong cách Gothic lên đến đỉnh cao.

Thời Hậu kỳ Trung Cổ đánh dấu một loạt những khó khăn và tai họa bao gồm nạn đói, dịch hạch, và chiến tranh, gây suy giảm nghiêm trọng dân số Tây Âu; chỉ riêng Cái chết Đen đã hủy diệt một phần ba dân số châu Âu. Tranh cãi giáo lý, dị giáo và ly giáo bên trong Giáo hội song hành với chiến tranh quy mô giữa các cường quốc, nội chiến, khởi nghĩa nông dân nổ ra trong khắp châu lục. Trong khi đó, những phát triển và văn hóa biến đổi xã hội châu Âu, khép lại thời Trung Cổ và bắt đầu thời kỳ Cận đại.

Vương quốc Macedonia

Macedonia ( ()) hoặc Macedon (; tiếng Hy Lạp: Μακεδονία, Makedonía), là một vương quốc cổ đại nằm ở ngoài rìa phía bắc của nền văn minh Hy Lạp Cổ xưa và Hy Lạp Cổ điển, và sau này trở thành quốc gia bá chủ ở Hy Lạp thời kỳ Hy Lạp hóa. Vương quốc được thành lập và ban đầu được cai trị bởi triều đại Argead, tiếp theo sau đó là nhà Antipatros và Antigonos. Vốn là quê nhà của người Macedonia cổ đại, phạm vi vương quốc ban đầu nằm tập trung ở khu vực tây bắc của bán đảo Hy Lạp, có biên giới với Ipiros về phía tây, Paeonia về phía bắc, Thrace về phía đông và Thessaly về phía nam.

Trước thế kỷ thứ 4 TCN, Macedonia là một vương quốc nhỏ nằm bên ngoài khu vực bị thống trị bởi các thành bang hùng mạnh là Athens, Sparta, và Thebes, và lệ thuộc nhà Achaemenes trong một thời gian ngắn. Dưới triều đại của vị vua nhà Argead là Philip II (359–336 TCN), Macedonia chinh phục khu vực đại lục Hy Lạp và Thrace thông qua chinh phạt và ngoại giao. Cùng với một đạo quân được cách tân với nòng cốt là đội hình chiến đấu phalanx sử dụng những ngọn giáo sarissa, Philippos II đã đánh bại các thế lực bá quyền cũ là Athens và Thebes trong Trận Chaeronea vào năm 338 TCN. Người con trai của Philippos II là Alexandros Đại đế, lãnh đạo một liên minh các thành bang Hy Lạp, đã hoàn thành mục tiêu thống trị toàn bộ thế giới Hy Lạp của cha mình khi ông hủy diệt Thebes sau khi thành phố này nổi loạn. Trong chiến dịch chinh phạt tiếp theo sau đó của mình, Alexandros đã lật đổ đế quốc Achaemenes và chinh phục một vùng lãnh thổ kéo dài tới tận sông Ấn. Trong một thời gian ngắn, đế quốc của ông trở thành vương quốc hùng mạnh nhất thế giới – một vương quốc Hy Lạp hóa hoàn toàn, mở đầu sự chuyển tiếp tới một thời kỳ mới của nền Văn minh Hy Lạp cổ đại. Nghệ thuật Hy Lạp và văn học phát triển rực rỡ ở những vùng đất mới bị chinh phục và những tiến bộ trong triết học, kỹ thuật và khoa học được truyền bá tới khắp mọi nơi trong thế giới cổ đại. Đặc biệt quan trọng là những đóng góp của Aristotle, người thầy của Alexandros, các tác phẩm của ông đã trở thành nguyên tắc cơ bản của triết học Phương Tây.

Sau cái chết của Alexandros Đại đế vào năm 323 TCN, kế tiếp là các cuộc chiến tranh Diadochi, đế quốc tồn tại ngắn ngủi của Alexandros bắt đầu phân chia, Macedonia vẫn là một trung tâm chính trị và văn hóa của người Hy Lạp ở khu vực Địa Trung Hải cùng với triều đại Ptolemaios, đế quốc Seleukos và vương quốc Pergamon. Những thành phố quan trọng như Pella, Pydna và Amphipolis đã tham gia vào các cuộc chiến tranh giành quyền lực để kiếm soát vùng lãnh thổ này. Nhiều thành phố mới đã được thành lập chẳng hạn như Thessalonica bởi Kassandros (nó được đặt tên theo tên người vợ của ông ta là Thessalonike của Macedonia). Sự suy yếu của Macedonia bắt đầu với các cuộc chiến tranh Macedonia và sự trỗi dậy của Rome với tư cách là cường quốc số một ở Địa Trung Hải. Khi cuộc chiến tranh Macedonia lần thứ Ba kết thúc vào năm 168 TCN, chế độ quân chủ của Macedonia bị bãi bỏ và được thay thế bằng các chư hầu của La Mã. Một giai đoạn ngắn phục hồi của chế độ quân chủ trong cuộc chiến tranh Macedonia lần thứ Tư vào năm 150–148 TCN kết thúc bằng việc thiết lập tỉnh Macedonia của La Mã.

Các vị vua Macedonia là người nắm giữ quyền lực tuyệt đối và sở hữu mọi tài sản của quốc gia như vàng và bạc, họ đã thúc đẩy các hoạt động khai thác mỏ để đúc tiền trả lương cho quân đội của họ và dưới triều đại của Philippos II là duy trì một hạm đội Macedonia. Không giống như các quốc gia diadochi kế tục, sự thờ cúng hoàng đế được ấp ủ bởi Alexandros chưa bao giờ được chấp nhận ở Macedonia, tuy nhiên các vị vua Macedonia vẫn đảm nhận vai trò như là các tư tế tối cao của vương quốc và là người bảo trợ hàng đầu cho các giáo phái trong nước và ngoại quốc thuộc về tôn giáo thời kỳ Hy Lạp hóa. Quyền lực của các vị vua Macedonia trên lý thuyết được giới hạn bởi thể chế của quân đội, trong khi đó một vài cộng đồng nằm bên trong khối thịnh vượng chung Macedonia đã có được một quyền tự trị ở mức độ cao và thậm chí là có các chính quyền dân chủ với hội đồng nhân dân.

Çanakkale (tỉnh)

Çanakkale là một tỉnh của Thổ Nhĩ Kỳ. Tỉnh này nằm ở vùng tây bắc của quốc gia này. Tỉnh này lấy tên từ thị xã Çanakkale.

Giống như Istanbul, tỉnh Çanakkale nằm ở cả châu Âu và châu Á. Phía châu Âu do bán đảo Gallipoli (Gelibolu) tạo thành còn phía châu Á phần lớn tiếp giáp với vùng lịch sử Troad ở Anatolia. Hai khu vực này bị eo biển Dardanelles chia tách, nối Biển Marmara với Biển Aegea.

Địa điểm khảo cổ Troia nằm ở tỉnh Çanakkale.

Đế quốc Đông La Mã

Đế quốc Đông La Mã (tiếng Hy Lạp cổ đại: Βασιλεία Ῥωμαίων, phiên âm: Basileia Rhōmaiōn, tiếng Latinh: Imperium Romanum tạm dịch là "Đế quốc La Mã") còn được gọi Đế quốc Byzantium, Đế quốc Byzantine, Đế quốc Byzance hay Đế quốc Hy Lạp là một đế quốc tồn tại từ năm 330 đến năm 1453, đóng đô ở Constantinopolis. Trước khi thành lập, phạm vi của Đế quốc Đông La Mã trước đây nằm trong lãnh thổ của Đế quốc La Mã. Năm 330, khi Constantinus I, con của hoàng đế Constantius, nắm quyền trị vì và dời đô từ thành La Mã về Constantinopolis, được xem là thời điểm thành lập đế quốc Đông La Mã. Khi ông qua đời, đế quốc bị các con trai ông phân chia thành Đông và Tây. Sau khi vị hoàng đế cuối cùng của đế quốc phía tây là Romulus Augustus bị một thủ lĩnh người Giéc-man hạ bệ, đế quốc Tây La Mã sụp đổ. Nhưng đế quốc phía đông vẫn tiếp tục phát triển, trở thành một cường quốc có vai trò quan trọng ở châu Âu và được xem là một trong những trung tâm đạo Ki-tô lúc bấy giờ.

Không thấy một tư liệu chính xác nào về sự khởi đầu của đế quốc Đông La Mã. Một vài ý kiến cho rằng đế quốc này được thành lập dưới thời cai trị của Hoàng đế Diocletianus (284–305), người đã chia đế quốc La Mã thành hai nửa đông và tây. Một vài người lại nói rằng đế quốc bắt đầu vào thời của Constantinus I, vị hoàng đế đầu tiên đóng đô tại Constantinopolis. Những ý kiến khẳng định vào thời trị vì của Hoàng đế Theodosius I (379–395) hoặc theo sau cái chết của ông vào năm 395. Một vài người cho vào thời điểm xa hơn vào năm 476 khi đế quốc phía tây sụp đổ. Nhưng hiện nay tư liệu khá chính xác là vào năm 330, khi Constantinus I thành lập tân đô Constantinopolis dưới sự phát triển vượt bậc của văn hóa Ki-tô giáo và thời kỳ văn hóa chịu ảnh hưởng Hy Lạp (quá trình Hy Lạp hóa văn hóa). Đế quốc Đông La Mã đã tồn tại hơn một ngàn năm, từ thế kỷ thứ IV cho đến năm 1453. Trong thời gian tồn tại của nó, Đông La Mã vẫn là một trong những cường quốc kinh tế, văn hóa, và quân sự lớn mạnh nhất ở châu Âu, bất chấp những thất bại và mất mát lãnh thổ, đặc biệt là trong cuộc Chiến tranh La Mã-Ba Tư và Chiến tranh Ả Rập-Đông La Mã. Đế quốc sau đó đã phục hưng dưới triều đại Macedonia, một lần nữa Đông La Mã vươn lên thành liệt cường hàng đầu của vùng Đông Địa Trung Hải vào cuối thế kỷ thứ X, đối địch với Nhà Fatima của người Hồi giáo.Tuy nhiên, sau năm 1071, nhiều lãnh đổ ở Tiểu Á - trung tâm của đế quốc, bị người Thổ Nhĩ Kỳ Seljuk chiếm đoạt. Mặc dù Vương triều nhà Komnenos đã giành lại một số đất đai và hưng thịnh lại Đế quốc trong một thời gian ngắn trong thế kỷ thứ XII, sau khi Hoàng đế Andronikos I Komnenos qua đời và Vương triều Komnennos cáo chung ở cuối thế kỷ thứ XII, một lần nữa Đế quốc lâm vào suy vong. Đế quốc Đông La Mã bị cuộc Thập tự chinh lần thứ tư giáng một đòn chí mạng vào năm 1204, khiến Đế quốc bị giải thể và các lãnh thổ La Tinh và Hy Lạp thuộc Đông La Mã bị chia cắt.

Vào năm 1261, kinh đô Constantinopolis được giải phóng và Đế quốc Đông La Mã trung hưng, thế nhưng dưới triều các hoàng đế nhà Palaiologos, Đông La Mã chỉ còn là một trong nhiều quốc gia nhỏ đối địch nhau ở khu vực, trong suốt 200 năm tồn tại cuối cùng của nó. Tuy nhiên, trong giai đoạn này, nền văn hóa của Đế quốc sinh sôi nảy nở. Các cuộc biến loạn cung đình xảy ra liên tiếp trong thế kỷ XIV tiếp tục hủy hoại sự thịnh vượng của Đế quốc Đông La Mã, trong khi các lãnh thổ còn lại của Đông La Mã lần lượt bị lấy mất trong cuộc Chiến tranh Đông La Mã-Ottoman, mà đỉnh điểm là sự thất thủ của Constantinopolis và các vùng lãnh thổ còn lại bị Đế quốc Ottoman chinh phục vào thế kỷ thứ XV.

İzmir

İzmir, còn được gọi là Smyrna, là thành phố đông dân thứ ba của Thổ Nhĩ Kỳ, là thành phố cảng lớn thứ nhì sau Istanbul. Thành phố nằm ở phía đông Anatolia bên bờ Aegean, ở khu vực rìa của vịnh İzmir, bên Biển Aegea.

Bắc Băng Dương
Đại Tây Dương
Ấn Độ Dương
Thái Bình Dương
Nam Đại Dương
Biển kín

Ngôn ngữ khác

This page is based on a Wikipedia article written by authors (here).
Text is available under the CC BY-SA 3.0 license; additional terms may apply.
Images, videos and audio are available under their respective licenses.